1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn hướng dẫn học sinh lớp 3 học các tiết toán luyện tập theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

38 643 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 285 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sáng kiến tôi đã đưa ra được 5 biện pháp đã góp phầngiúp giáo viên dạy các tiết toán nói chung tiết Luyện tập toán 3 nói riêng pháthuy được tính tích cực của học sinh góp phần nâng

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến:

Hướng dẫn học sinh lớp 3 học các tiết toán luyện tập theo hướng “ Tích

cực hóa hoạt động học tập của học sinh”.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán

3 Tác giả: Phạm Thị Kết Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/ năm sinh: 25/10/1965

Trình độ chuyên môn : Cao đẳng

Chức vụ : Tổ trưởng tổ 2-3 Trường Tiểu học Bắc An

7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Giáo viên lớp 3 đều có thể áp dụng sáng kiến này

8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9/2013

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Phạm Thị Kết

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Sáng kiến của tôi trình bày về việc Hướng dẫn học sinh lớp 3 học các tiết

toán luyện tập theo hướng “ Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”.

Trong sáng kiến này tôi đã nêu rõ tổng quan Hướng dẫn học sinh lớp 3 học các

tiết toán luyện tập theo hướng “ Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”.đặc biệt là trong các tiết toán luyện tập ở lớp 3 Lý do chọn viết sáng kiến

này xuất phát từ thực trạng của việc dạy học môn môn toán lớp 3 đặc biệt làcác tiết Luyện tập Trong sáng kiến tôi đã đưa ra được 5 biện pháp đã góp phầngiúp giáo viên dạy các tiết toán nói chung tiết Luyện tập toán 3 nói riêng pháthuy được tính tích cực của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy họcTiểu học Đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện nay là đào tạo những conngười phát triển toàn diện, linh hoạt, năng động, chủ động, sáng tạo, có nănglực giải quyết vấn đề

Mục đích của sáng kiến là nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toánlớp 3 trong nhà trường Tiểu học Sau khi áp dụng các biện pháp giảng dạy này,các em học sinh sẽ cảm thấy yêu thích bộ môn Toán hơn, hào hứng học tậphơn Đặc biệt là kết quả học tập cũng như chất lượng đại trà và chất lượng mũinhọn trong nhà trường được nâng lên rõ rệt, các em mạnh dạn, tự tin hơn khihọc môn toán

2 Điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

+ Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9/2013

+ Đối tượng áp dụng sáng kiến : Giáo viên và học sinh lớp 3

Lớp 3C gồm 19 học sinh : lớp thực nghiệm

Lớp 3D gồm 12 học sinh: lớp đối chứng

3 Nội dung sáng kiến

+ Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến

Một trong những nhiệm vụ cơ bản khi dạy học môn toán nói chung và tiếttoán luyện tập nói riêng ở lớp 3 là cung cấp cho học sinh kiến thức sơ giản vềtoán học đồng thời giúp các em củng cố lại kiến thức vận dụng lí thuyết vàogiải các bài toán có liên quan một cách thuần thục và chủ động lĩnh hội kiến thức

2

Trang 3

Chính vì vậy khi chưa áp dụng kinh nghiệm này vào giảng dạy tôi thấy các

em nắm bài chưa chắc, trong tiết dạy giáo viên còn bỏ xót đối tượng học sinh,chưa quan tâm hết các đối tượng học sịnh, tạo sự nhàm chán cho các em, chưaphát huy được tính tích cực chủ động của học sinh

Nhưng khi áp dụng kinh nghiệm này vào giảng dạy các tiết luyện tập toán 3bản thân tôi thấy các em nắm bài rất tốt Học sinh chủ động nắm kiến thứcđược thực hành nhiều hơn Bài tập đưa ra cho các em cũng vừa sức không có

sự nhàm chán Giáo viên thì xác định được mục tiêu bài học sát với từng đốitượng học sinh từ đó lựa chọn cho mình một phương pháp phù hợp nhằm pháthuy tính tích cực của học sinh giúp học sinh chủ động nắm bắt kiến thức Họcsinh chưa đạt yêu cầu không còn tự ti, học sinh năng khiếu không nhàm chántrong học tập Tính tích cực tự giác trong học tập của học sinh được nâng lên.Tạo cho học sinh hứng thú học tập Giáo viên nói ít, quan tâm đến mọi đốitượng học sinh…

Đó cùng chính là những điểm mới của kinh nghiệm này mà tôi đã kiểmnghiệm khi áp dụng

+ Khả năng áp dụng sáng kiến :

- Kinh nghiệm được áp dụng cho tất cả học sinh lớp 3 có trí nhớ bình thường vàhọc chương trình 165 tuần có đủ sách vở

- Giáo viên có trình độ chuẩn trở lên, có đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn

và một số tài liệu tham khảo khác

+ Lợi ích thiết thực của sáng kiến

- Tìm ra những khó khăn và sai lầm của học sinh trong khi học tiết luyện tậpmôn Toán lớp 3

- Đề ra một số nội dung và biện pháp thực hiện để phát huy tính tích cực củahọc sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các tiết luyện tập môn Toán lớp 3

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Qua nghiên cứu và trực tiếp giảng dạy kết quả thu được của sáng kiến có thểnói là tương đối tốt đẹp song bên cạnh đó sáng kiến còn hạn chế sau:

- Thời gian nghiên cứu còn ít

- Đối tượng chỉ dùng ở lớp trực tiếp giảng dạy, chưa nghiên cứu được ở cáckhối lớp khác

Trang 4

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

1.1 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghịlần thứ 8, Ban Chấp hành T.Ư khóa XI với nội dung Đổi mới căn bản, toàndiện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đềlớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sựlãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ

sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bảnthân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổimới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếpthu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh nhữngnhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dàihạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ,khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp

Mục đích giáo dục hiện nay của chúng ta là đào tạo những con người pháttriển toàn diện, những con người có đủ năng lực cần thiết, đáp ứng sự đòi hỏicủa cuộc sống hiện đại Việc giáo dục một con người toàn diện không chỉ giáodục cho họ có đạo đức tốt, có trình độ hiểu biết, nắm chắc các kiên thức khoahọc và xã hội, có sức khoẻ, biết lao động, sẵn sàng lao động mà còn phải giáodục cho họ có năng lực tự lực, tự chủ, chủ động lĩnh hội kiến thức làm chủhành động của mình,… đó là một nhiệm vụ không thể thiếu được

Vì thế lý luận dạy học ngày nay rất coi trọng hoạt động tự giáo dục Chúng

ta không thể xem nhẹ hoạt động dạy của giáo viên, nhưng kết quả học tập cóđược lại chính là do hoạt động học của học sinh - “yếu tố bên trong quyết định” Một trong những con đường giáo dục tính chủ động sáng tạo và hiệu quảnhất là giáo dục thông qua tất cả các môn học Trong đó môn Toán có vị trí rấtquan trọng

4

Trang 5

Và để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán thì vấn đề dạy học phânhóa đối tượng học sinh là một vấn đề rất quan trọng và được rất nhiều giáo viênquan tâm từ lớp 1 đến lớp 5 Đặc biệt trong môn toán lớp 3 ở các tiết Luyện tậpthì vấn đề dạy phân hóa đối tượng học sinh nhằm phát huy tính tích cực chủđộng trong việc nắm bắt kiến thức là một vấn đề cục kì quan trọng nó góp phầnvào việc đào tạo ra những con nguời toàn diện để đáp ứng nhu cầu xã hội hiệnnay góp phần phát triển xã hội Chính vì vậy, Toán học là một môn học khôngthể thiếu trong chương trình học ở Tiểu học.

1.2.Mục tiêu giáo dục của bậc tiểu học

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho

sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩnăng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho họcsinh tiếp tục học trung học cơ sở Sản phẩm của GDTH có giá trị cơ bản, lâudài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi con người Bất kì ai cũng phải sửdụng các kĩ năng nghe, nói, đọc viết và tính toán được học ở tiểu học để sống

để làm việc.Trường tiểu học là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quêhương, đất nước và con người, biết đọc, biết viết biết làm tính, biết tìm hiểu tựnhiên, xã hội và con người

1.3.Thực hiện việc đổi mới theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT

Đánh giá học sinh tiểu học là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi,kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn,động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rènluyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học.Giáo viên bước đầu đã thực hiện được việc đánh giá “bằng lời” hầu hết họcsinh trong lớp, trong từng tiết dạy, và tổ chức cho học sinh biết tự đánh giá,tham gia đánh giá trong quá trình học tập trên lớp Sau đó, GV đã thực hiệnviệc ghi lời nhận xét thường xuyên, GV ghi vào vở; đặc biệt quan tâm nhận xétcác HS chưa đạt và trong lời nhận xét ấy, GV phải ghi rõ những cái được, chưa

Trang 6

được của HS, đưa ra lời tư vấn, giải pháp để HS khắc phục hạn chế đó; các HStiến bộ, có lời khen, động viên kịp thời

- Hiện tại, giáo viên đã tích cực và có trách nhiệm hơn trong việc chọn lựa lờinhận xét để thực hiện đánh giá “viết” vào vở HS và sổ Theo dõi chất lượnggiáo dục

- Để giảm áp lực học tập cho HS và GV, nhất là GV có thời gian để tập trungnghiên cứu và tăng cường tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện Thông tư30/2014/TT-BGDĐT,Khuyến khích GV luôn tự học tập, trau dồi sử dụng ngônngữ dùng trong đánh giá HS

2.Cơ sở lý luận của vấn đề

Trong nhà trường phổ thông nói chung và nhà trường Tiểu học nói riêng,

bộ môn Toán hiện diện là môn học độc lập, nó có vị trí quan trọng vì:

Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trongcuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các mônhọc khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở Trung học Môn Toán giúphọc sinh nhận biết được những mối quan hệ về số lượng và hình dạng khônggian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một

số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đờisống Đặc biệt qua các tiết Luyện tập toán giúp các em rèn luyện phương phápsuy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyếtvấn đề, giúp các em rèn luyện trí thông minh sáng tạo Đồng thời giúp các emtrau dồi đạo đức quí báu như: cần cù, nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý trí vượt khó,yêu thích chính xác, ham hiểu biết

2.1.Cơ sở lý luận dạy học:

Trên thực tế việc dạy - học Toán nói chung và dạy các tiết Luyện tập nóiriêng như thế nào để phát huy được tầm quan trọng của bộ môn và phát huytính tích cực của học sinh, giúp các em củng cố, khắc sâu mở rộng phần kiếnthức đã học, lại là một vấn đề mà nhiều giáo viên trăn trở Bởi vì học sinh chỉtích cực học tập khi các hoạt động dạy – học phù hợp với nhu cầu, hứng thú,thói quen và năng lực sở trường của các em

6

Trang 7

Trong chương trình toán 3 qua điều tra tôi thấy các tiết Luyện tập gồm có 69tiết trong 5 chương

- Chương 1: Ôn tập và bổ sung về đọc, viết so sánh các số, cộng, trừ các số

có 3 chữ số, ôn tập bảng nhân, chia, ôn về hình học, về giải toán, xem đồng hồgồm 6 /16 tiết

- Chương 2: Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 gồm 29 /71 tiết

- Chương 3: Các số đến 10 000 gồm 16/39 tiết

- Chương 4: Các số đến 100 000 gồm 15/30 tiết

- Chương 5: Ôn tập cuối năm 3/13 tiết

Như vậy số tiết luyện tập chiếm gần 1/2 tổng số tiết theo phân phối chươngtrình Toán 3

- Đối với chương trình môn Toán lớp 3 đặc biệt khi dạy các tiết Luyện tập

do trình độ của mỗi giáo viên khác nhau nên một số giáo viên chưa nhận thứcđược tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực của học sinh dẫn tới chưacủng cố, khắc sâu, mở rộng kiến thức và rèn kĩ năng cho học sinh Biểu hiện là

- Khi tổ chức dạy học các đồng chí giáo viên chưa thống nhất được cách tổchức tiết học theo hình thức dạy phân hoá đối tượng học sinh, hệ thống bài tập,câu hỏi đưa ra cho học sinh chưa có tác dụng phát huy khả năng của học sinh(có khi quá khó, hoặc quá dễ)

- Trong cùng một thời gian ngắn phải dạy ít nhất 3 trình độ học sinh :học sinh năng khiếu, HS đạt yêu cầu ,HS chưa đạt yêu cầu nên chất lượng chưa cao,

học sinh được luyện tập ít

- Chưa phân loại từng dạng bài khác nhau để có phương pháp giải riêng chotừng dạng bài

- Còn nhiều giáo viên chưa hiểu rõ dụng ý của các bài tập Họ cho rằng trongsách giáo khoa Toán chỉ có các bài tập cơ bản phổ cập, chưa có bài tập rèn tưduy sáng tạo của học sinh tức là giáo viên không chỉ ra được một số dạng bàitập có thể khai thác nhằm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh

- Còn nhiều giáo viên chưa chú ý ( nói đúng hơn là chưa thể phát hiện ) để sửalỗi cho học sinh trong khi các em trình bày bài giải và lập luận lô gic tìm kiếmcác kết quả mà thường chú trọng tới đáp số

Trang 8

- Việc giao nhiệm vụ học tập vẫn theo hướng đồng loạt, điều này chưa đạt yêucầu dạy học theo năng lực sở trường của học sinh Việc tìm nhiều cách giải chomột bài tập ở sách giáo khoa hầu như bỏ qua.

2.2 Cơ sở lý luận về tâm lý lứa tuổi.

- Học sinh chưa chú ý đến việc học, các em còn hay nói chuyện Một số em cảm thấy mỏi mệt khi tham gia học tập

- Một số phụ huynh chưa đầu tư cho các em Các em còn thiếu bút, hay quên

vở ghi,

- Khả năng tư duy sáng tạo của các em còn nhiều hạn chế

- Việc tự giác làm bài tập còn hạn chế, mới chỉ chú ý làm hết số bài màkhông biết đến chất lượng bài giải đó ra sao, còn phụ thuộc vào cách giải củathày cô đưa ra Chưa tìm nhiều cách giải để lựa chọn cách giải hay cho một bàitoán Dụng cụ học tập còn thiếu, nền nếp làm bài chưa nghiêm túc, một số họcsinh còn ỉ lại chờ chữa, coi chép Thế mà theo phân phối chương trình số tiếtLuyện tập chiếm gần 1/2 tổng số các tiết học

2.3 Lý do chọn viết sáng kiến.

Xuất phát từ yêu cầu của đổi mới giáo dục nước nhà, vấn đề nâng cao chấtlượng giáo dục Tiểu học Nhằm đào tạo một lớp người lao động mới phục vụcho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là đòi hỏi bức thiết của xã hội

Từ thực trạng trên yêu cầu đặt ra của các cán bộ quản lí và các nhà giáo tâmhuyết là phải tìm ra các giải pháp tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp vớinăng lực tư duy của học sinh, với phong tục tập quán của từng địa phương,từng dân tộc, hoàn cảnh, trình độ của học sinh là việc làm rất có ý nghĩa và hứahẹn mang lại hiệu quả thiết thực

Do đó việc dạy học các tiết Luyện tập phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh là hết sức quan trọng, nó quyết định lớn đến chất lượng học tập củahọc sinh Cũng chính vì lẽ đó năm học 2013- 2014 tôi quyết định đầu tư nghiêncứu đổi mới phương pháp dạy các tiết Luyện tập Toán 3 và năm học 2014 -

2015 tôi tiếp tục nghiên cứu để viết thành sáng kiến Hướng dẫn học sinh lớp

3 học các tiết toán luyện tập theo hướng “ Tích cực hóa hoạt động học tập

của học sinh”.

8

Trang 9

2.4 Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Toán 3 SGK mới.

- Tài liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài soạn, Toán nâng cao lớp 3,

tập sách Giáo dục thời đại, một số tài liệu khác

2.5 Phương pháp nghiên cứu:

Thông qua các tiết luyện tâp rèn kĩ năng trình bày, lập luận và nắm chắc cáckiến thức trọng tâm cơ bản một cách lôgic bằng phương pháp sau:

1 Phương pháp điều tra

- Được sự quan tâm của BGH, chỉ đạo sát các hoạt động chuyên môn

- Học sinh chăm ngoan đi học đều và đúng giờ; một số em có hứng thú tronghọc tập

- Phụ huynh có quan tâm đến việc học cuả học sinh

- Có đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề

- Trong cùng một thời gian ngắn phải dạy ít nhất 3 trình độ học sinh: học sinhnăng khiếu , HS đạt yêu cầu HS chưa đạt yêu cầu nên chất lượng chưa cao, họcsinh được luyện tập ít

Trang 10

- Học sinh chưa chú ý đến việc học, các em còn hay nói chuyện Một số emcảm thấy mỏi mệt khi tham gia học tập.

- Một số phụ huynh chưa đầu tư cho các em Các em còn thiếu bút, hay quên

vở ghi,

- Khả năng tư duy sáng tạo của các em còn nhiều hạn chế

3.1 Khảo sát sự hứng thú học tập và kết quả đầu năm.

Điểm9-10

Điểm 7-8

Điểm5- 6

ĐiểmDưới 5

3C 33 10 30.3 7 21.3 16 48,4 8 24.2 10 30.3 7 21.3 8 24.2

3.2 Nguyên nhân

- Nhận thức về môn học chưa tốt, nhiều em thích học môn Tiếng Việt hơn học toán

- Do ý thức học tập chưa tốt ( Chưa tập trung học tập, lười học, lười làm bài tập…)

- Do nhận thức chậm ( Trí tuệ chậm phát triển)

- Do hoàn cảnh gia đình hoặc môi trường bên ngoài tác động

Bên cạnh đó giáo viên phải xác định cụ thể học sinh chưa đạt yêu cầu vềmặt nào( tính toán, giải toán có lời văn, lập luận …)

4 Các giải pháp thực hiện

Từ việc điều tra thực trạng dạy và học các tiết Luyện tập Toán 3 của giáoviên và học sinh Và qua nhiều năm giảng dạy ở khối lớp 3, để nâng cao hiệuquả dạy – học các tiết Luyện tập Toán 3 tôi đã thực hiện tốt các biện pháp sau:

4.1 Điều tra tình hình học tập của học sinh.

Ngay từ đầu năm học giáo viên dựa vào kết quả cuối năm học trước, kết quảthi khảo sát học sinh đầu năm, kết hợp với việc dạy học hàng ngày trên lớp đểphân loại học sinh theo trình độ Hiện nay các lớp thường chia làm 3 đối tượng:

HS năng khiếu ; HS đạt yêu cầu ; HS chưa đạt yêu cầu

Sau khi đã chia học sinh theo nhóm đối tượng giáo viên chia học sinh ngồitheo nhóm đối tượng Từ đó giáo viên đặt tên cho các nhóm theo thẻ: HS năngkhiếu : thẻ màu xanh; HS đạt yêu cầu : Thẻ màu vàng; HS chưa đạt yêu cầu :

10

Trang 11

thẻ màu đỏ.( Lưu ý: Giáo viên tuyệt đối tránh nói đâu là học sinh HS năngkhiếu, học sinh chưa đạt yêu cầu vì như thế dễ gây tổn thương cho các em ) Dựa vào điểm tổng kết và nhận xét của giáo viên của năm học trước, quaviệc trực tiếp giảng dạy trên lớp, xem vở bài tập, vở ghi, bài kiểm tra, hoàncảnh gia đình của học sinh …giáo viên nắm được trình độ nhận thức của mỗihọc sinh Đặc biệt giáo viên phải chú ý đến đối tượng học sinh có tư duy pháttriển và học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng.

Đối với học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng, giáo viên phải xác địnhđược nguyên nhân tại sao?

Từ việc điều tra cụ thể đó giáo viên sẽ nắm được đặc điểm của từng chủ thểnhận thức để có biện pháp dạy – học phù hợp với khả năng, sở trường của các em

4.2 Nhận thức đúng đắn vai trò của người học.

Trong quá trình dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh là chủthể, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học Các em không phải là đối tượnghọc tập thụ động, chỉ biết nghe thầy giảng mà các em phải được học tập mộtcách tích cực bằng chính hành động của mình Qua hoạt động mà học tập, rènluyện và phát triển Chính vì vậy nhận thức đúng đắn về vai trò của người học

có ý nghĩa cực kì quan trọng Giúp giáo viên lựa chọn các phương pháp, biệnpháp, kĩ thuật dạy học, cách tác động phù hợp và đạt hiệu quả cao của quá trìnhdạy học Nhận thức vai trò của người học được coi là một trong những khâu độtphá để thay đổi cách dạy và cách học tự biện không sát đối tượng, không quantâm đến sở thích nguyện vọng và không phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi,hoàn cảnh cụ thể… của người học

4.3 Xây dựng nền nếp học tập cho học sinh.

Như trên đã nói học sinh là nhân vật trung tâm và chủ thể của quá trình dạyhọc Do đó học sinh chỉ có thể học tập đạt kết quả cao khi và chỉ khi học sinhchủ động quan tâm và hứng thú vào hoạt động học tập như:

- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, dụng cụ học tập như: SGK, vở ghi, vở nháp, vở BT,thước kẻ, com pa, ê-ke…

- Ý thức học tập phải nghiêm túc, tự giác, có thói quen tự học, chuẩn bị bài chuđáo ở nhà Chuẩn bị bài chu đáo ở nhà một cách tự giác, kĩ lưỡng sẽ giúp học

Trang 12

sinh tiếp thu bài một cách tự tin thoải mái, các em có khả năng tham gia trả lời,không bị động, lúng túng…do đó hứng thú học tập của học sinh được nâng caohơn; trước những tình huống có vấn đề được đặt ra ở lớp học sinh sẽ biết cách

lí giải với các phương án khác nhau, có thể đó là phương án khác của giáoviên…

- Biết phối hợp các động tác: nghe, nhìn, nghĩ, nói, ghi ( đây là một yếu điểmlớn nhất của học sinh tiểu học.)

4.4 Sắp xếp hợp lí chỗ ngồi cho học sinh.

Giáo viên cần bố trí , sắp xếp chỗ ngồi sao cho phù hợp để học sinh có thểhợp tác giúp đỡ nhau trong quá trình học tập và giáo viên cũng thuận lợi trongviệc kiểm soát, giúp đỡ học sinh trong quá trình diễn ra của tiết học cụ thể:

- Việc sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh đảm bảo sao cho hai học sinh ngồicạnh nhau phải là một học HS năng khiếu; HS đạt yêu cầu ; HS đạt yêu cầu ,với một học chưa đạt yêu cầu ( hoặc HS đạt yêu cầu )… không để hai học sinhchưa đạt yêu cầu ngồi cạnh nhau

- Việc sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh chưa đạt yêu cầu phải đảm bảo sao chokhông ngồi ở các chỗ giáp tường, giáo viên khó đi đến tận học sinh

Tại sao phải sắp xếp chỗ ngồi như vậy ? Tôi làm như vậy vì mục đích:

- Sắp xếp như vậy sẽ thuận tiện cho cho việc đi lại kiểm tra, giúp đỡ học sinhgặp khó khăn khi hoạt động cá nhân như khi tự làm bài tâp

- Sắp xếp như vậy sẽ thuận lợi cho các hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm.Vì: Trong một tiết học bao giờ cũng có những bài toán cơ bản vận dụng côngthức hoặc qui tắc nào đó, song còn có thêm bài tập tổng hợp kiến thức kháchoặc nâng cao mức độ

4.5 Chuẩn bị tốt trước khi lên lớp

4.5.1 Nghiên cứu nội dung chương trình bài dạy, xác định đúng mục đích yêu cầu của tiết dạy

Muốn dạy cho HS phát huy được tính tích cực thì giáo viên cần nghiên cứu

kĩ từ khâu soạn bài Bài soạn cần thể hiện rõ nội dung phân hoá đối tượng họcsinh Những nội dung này được được biểu hiện như sau:

12

Trang 13

- Hệ thống bài tập từ dễ đến khó và yêu cầu từng nhóm hoàn thành bài Bàitập dành cho học sinh chưa đạt yêu cầu ở dạng đơn giản Khuyến khích để các

em phấn đấu làm một phần bài tập của nhóm có trình độ cao hơn Học sinhnăng khiếu làm bài tập ở dạng phức tạp hơn phù hợp với khả năng phát triểncủa học sinh

+ Mục tiêu: *Học sinh chưa đạt yêu cầu , yêu cầu nắm được các kiến thức, kĩnăng cơ bản của môn học

*Học sinh năng khiếu ngoài những yêu cầu kiến thức, kĩ năng cơ bảnnhư hoàn thành + mở rộng, nâng cao theo chiều sâu trên nền kiến thức cơ bản.Lưu ý: Nguồn bài tập ở SGK( mà học sinh chưa làm hết), VBT, Vở LTT, =>Chú ý: học sinh chưa đạt yêu cầu không yêu cầu hoàn thành hết bài tập

- Linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học: Hỏi đáp( Học sinhchưa đạt yêu cầu ,câu hỏi dễ, đơn giản; HS nawnh khiếu câu hỏi khó, khái quáthơn), thảo luận nhóm, luyện tập thực hành, trò chơi, tạo hứng thú cho các emhọc tập

- Cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình để có hệ thống chuỗi kiến thức, xáclập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ, giữa kiến thức củamôn này với phân môn khác để lựa chọn nội dung cho phù hợp

- Nắm vững mục tiêu của bài dạy, nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để lựa chọnphương pháp, hình thức và đồ dùng dạy học cho phù hợp, hiệu quả

4.5.2 Thiết kế, xây dựng giáo án để dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Theo mục tiêu của giáo dục hiện nay là dạy học theo chuẩn kiến thức kĩnăng và dạy phân hoá đối tượng học sinh để làm được việc này thì ngay từbước soạn giáo án, giáo viên đã phải chú ý đến điều đó Từ thực tiễn của lớpmình giảng dạy, khi soạn giáo án giáo viên phải dự kiến các câu hỏi và bài tập,các tình huống, các yêu cầu ở từng mức độ khác nhau cho từng phần Muốnvậy trước tiên giáo viên phải nắm chắc, yêu cầu, kĩ năng cơ bản của từng bài

Cụ thể là:

a Cần phân loại bài tập để có phương pháp giải từng loại bài tập đó

Trang 14

b Phải xác định được bài tập nào yêu cầu mọi đối tượng học sinh cần phải

và bắt buộc phải làm để đảm bảo yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức kĩ năngcủa tiết học

Ví dụ: Dạy bài toán “Luyện tập chung ” SGK toán 3 trang 18

Mục tiêu đặt ra cho từng đối tượng học sinh như sau:

- Học sinh năng khiếu: Phải biết đọc, viết, so sánh số Biết tính nhanh bằng cách thuận tiện nhất -> học sinh làm cả 4 bài tập

- Học sinh đạt yêu cầu : Phải biết đọc, viết, so sánh số -> học sinh làm bài tập 1,2,3

( Học sinh chưa đạt yêu cầu thì chỉ cần đảm bảo 2 mục tiêu: đọc, viết số )

* Ví dụ: Tiết 104: Luyện tập chung ( SGK trang 106)

Học sinh bắt buộc làm bài tập 1 và bài tập 2

c Xác định được bài tập nào dành riêng cho học sinh năng khiếu

* Ví dụ: Tiết 117: Luyện tập chung (SGK trang 120)

Bài 4: Chỉ dành riêng cho học sinh năng khiếu

d Xác định được bài tập nào phát hiện học sinh có tư duy phát triển

(Thường là các bài tập có nhiều cách giải hay bài tập đòi hỏi tính tư duy cao)

* Ví dụ: Bài 4 ( Trang 105)

Một kho có 4720 kg muối, lần đầu chuyển đi 2000kg muối, lần sau chuyển

đi 1700kg muối Hỏi trong kho còn lại bao nhiêu ki- lô- gam muối? ( Giảibằng hai cách)

e Xác định được bài tập nào học sinh hay mắc sai lầm

- Bài toán có lời văn liên quan đến tính diện tích, chu vi, các hình đã học

* Ví dụ: Bài 3 ( SGK trang 153)

Một mảnh vườn hình chữ nhật có chiều rộng 5cm, chiều dài gấp đôi chiềurộng Tính chu vi và diện tích của mảnh vườn đó

=> V i b i t p d ng n y, h c sinh th ập dạng này, học sinh thường tìm được kết quả đúng nhưng câu ạng này, học sinh thường tìm được kết quả đúng nhưng câu ọc sinh thường tìm được kết quả đúng nhưng câu ường tìm được kết quả đúng nhưng câu ng tìm được kết quả đúng nhưng câu c k t qu úng nh ng câu ết quả đúng nhưng câu ả đúng nhưng câu đ ư

tr l i c a m t s em ch a chính xác nh : ả đúng nhưng câu ờng tìm được kết quả đúng nhưng câu ủa một số em chưa chính xác như: ột số em chưa chính xác như: ố em chưa chính xác như: ư ư

Bài giải của học sinh

Chiều dài hình chữ nhật là:

5 x 2 = 10 (cm)

Chu vi hình chữ nhật là:

Bài giải đúngChiều dài của mảnh vườn hình chữ nhật là:

5 x 2 = 10 (cm) Chu vi mảnh vườn hình chữ nhật là:

14

Trang 15

10 x 5 = 50(cm2)Đáp số: Chu vi: 30 cmDiện tích: 50 cm2

- Bài tập liên quan đến đổi đơn vị đo

Một số học sinh không chú ý đến việc đổi các số đo về cùng một đơn vị đotrước khi tính nên dẫn tới tìm kết quả sai

* Ví dụ: Bài 3 (SGK trang 67)

Cô Lan có 1kg đường, cô đã dùng làm bánh hết 400g sau đó cô chia đều sốđường vào 3 túi nhỏ Hỏi mỗi túi có bao niêu gam đường ?

- Bài toán có liên quan đến thời gian

Một số em chưa hiểu rõ khái niệm thời gian, nên khi làm bài tập còn lúng túng

*Ví dụ: Bài 3 (SGK trang 128)

Một người đi bộ mỗi giờ đi được 4km Hỏi đi 20km người đó đi hết mấy giờ?

g Bài tập nào cần phải mở rộng để HS năng khiếu thực hiện

*Ví dụ: Bài 4 ( Trang 83) Tính rồi so sánh kết quả tính:

a 142 – 42 : 2 b (142 – 42) : 2

Sau khi giải quyết xong yêu cầu của bài tập( tính giá trị của các biểu thức, sosánh kết quả tính và rút ra quy tắc nhẩm khi có dấu ngoặc đơn và khi không códấu ngoặc kết quả sẽ thay đổi Giáo viên đưa thêm ví dụ

Trang 16

=>Từ việc phân loại bài tập và xác định được mục đích của từng bài Giáoviên sẽ lựa chọn được phương pháp – hình thức dạy học phù hợp để phát huytính tích cực của học sinh.

4.6 Dạy trên lớp

Như chúng ta đã biết trong một lớp học có em nam, có em nữ, tâm lí củamỗi em khác nhau, sự phát triển khác nhau; có con em của những người laođộng chân tay, lao động trí óc…Do đó học sinh của cùng một lớp sẽ có trình độnhận thức khác nhau( HS năng khiếu , HS đạt yêu cầu và Hs chưa đạt yêu cầu).Chính vì vậy, để phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy toán nóichung và tiết Luyện tập toán nói riêng, trong quá trình dạy học giáo viên phảichú ý tác động đến 3 đối tượng học sinh để học sinh năng khiếu không cảmthấy tẻ nhạt, các em được phát huy năng lực học tập của mình Và HS chưa đạtyêu cầu không bị đứng bên lề mỗi tiết dạy, các em được bồi dưỡng, rèn luyện

để vươn tới sàn kiến thức kĩ năng cơ bản tối thiểu cần đạt được Do đó giáoviên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

4.6.1 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.

Sau khi chúng ta đã tiến hành phân loại học sinh ta tiến hành đi tìm hiểu tìnhhình của từng nhóm Đặc biệt giáo viên cần quan tâm đến đối tượng học sinhchưa hoàn thành hết bài Nguyên nhân của sự chưa hoàn thành có nhiều: Sựphát triển trí tuệ chậm, kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng,hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn Người giáo viên phải tìm đượcnguyên nhân chủ yếu đối với từng học sinh để có biện pháp thích hợp giảiquyết dần tình trạng chưa hoàn thành đó

Một số giáo viên không quan tâm đến tình trạng lớp có nhiều trình độ khácnhau nên tổ chức giờ dạy không đạt kết quả Cách giải quyết tốt nhất là coi lớpđang dạy như một “lớp ghép ” và vận dụng cách dạy của lớp ghép để phù hợpvới từng đối tượng học sinh trong lớp

Giáo viên cần điều chỉnh tốc độ giảng dạy để học sinh chưa đạt yêu cầu cóthể theo kịp Không nên chỉ chú ý đến học sinh năng khiếu để bài trôi chảy, sinhđộng Nhưng cũng không vì chú ý đến số học sinh chưa đạt yêu cầu mà hạ thấpgiờ học khiến học sinh đạt yêu cầu và HS năng khiếu chán nản Để mọi học

16

Trang 17

sinh trong lớp đều hứng thú, tự tin trong giờ học, giáo viên cần đưa ra nhữngyêu cầu, nhiệm vụ khác nhau để học sinh tự chọn Trong khi học sinh thựchiện, giáo viên theo dõi, kiểm tra từng cá nhân, từng nhóm Sau đó đánh giánhận xét kết quả theo yêu cầu đã đặt ra.

Công việc của giáo viên dạy “lớp ghép” khó khăn, phức tạp hơn nhiều sovới giáo viên dạy lớp đơn Từ công việc soạn bài, giảng dạy, quản lí học sinh,kiểm tra, đánh giá học sinh đều phải chuẩn bị chi tiết, khoa học

Tổ chức cho tiết dạy làm thế nào để học sinh tự học, tự làm việc một cách tựgiác và đầy hứng thú Giáo viên cho những bài tập phù hợp với trình độ họcsinh để các HS năng khiếu phát huy được khả năng tư duy, các em chưa đạt yêucầu tự tin Giáo viên cần thường xuyên ôn tập và hệ thống hoá kiến thức, kĩnăng, nhất là đối với học sinh chưa đạt yêu cầu và các em này chưa thực sựnắm được bản chất và mối liên hệ giữa các hiện tượng, hay ghi nhớ một cáchmáy móc

Đối với học sinh năng khiếu, trong chừng mực nhất định, giáo viên mở rộngkiến thức đã học để học sinh thấy được sự phát triển của kiến thức, nâng caotầm hiểu biết của các em Tuy nhiên không nên nâng cao, mở rộng kiến thứcmột cách tuỳ tiện mà phải có trọng tâm

Người giáo viên phải nắm vững những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng củatừng bài Khi dạy giáo viên phải biết nên dạy cái gì trong bài đó và nó liênquan đến bài trước bài sau như thế nào Phải gắn kiến thức đang dạy với chuỗikiến thức của toàn chương trình bậc học, chương trình của lớp mình phụ trách.Như thế, giáo viên mới có kế hoạch cụ thể hướng dẫn học sinh ôn lại kiến thức

cũ và tiếp nối chương trình mới một cách khoa học

Tuỳ từng đối tượng học sinh mỗi lớp , giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểubài

Mỗi một phương pháp dạy học đều có những ưu – nhược điểm riêng, không

có một phương pháp nào là vạn năng Vì vậy việc phối hợp một cách khéo léo

và hợp lí các phương pháp dạy học khác nhau sẽ góp phần làm cho giờ học trởnên sinh động, nhiều màu sắc, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tích cực từphía HS

Trang 18

Do đó những ý kiến riêng của mỗi người sẽ được hoàn chỉnh hơn trong sự giúp

đỡ của bạn bè Nhiều khi ngôn ngữ của học sinh sẽ gần gũi dễ hiểu với học sinhhơn, nên việc tiếp thu bài dễ dàng hơn vì “ Học thày không tày học bạn” Bêncạnh đó việc hoạt động nhóm còn rèn cho học sinh cách sử dụng ngôn ngữtrong cách trình bày, diễn đạt, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập

- Những ý kiến của các nhóm sẽ được đưa ra trao đổi, thảo luận rộng rãi hơn đểtìm ra những kết luận hợp lí nhất…Giáo viên nên tổ chức cho học sinh hoạtđộng cả lớp Tại thời điểm này người giáo viên sẽ thể hiện vai trò “Trọng tàikhoa học” giúp các em phân biệt đúng sai, hợp lí hoặc chưa hợp lí, nên làmtheo hay không nên, làm theo cách này hay cách kia…

Việc tổ chức các hình thức dạy học hợp lí sẽ làm cho không gian học cởi mởhơn, phát triển ở HS những kĩ năng quan trọng như: làm việc theo nhóm, kĩnăng giao tiếp, kĩ năng trình diễn…

Hoạt động 1: Ôn kiến thức cũ (5-7 phút)

- GV tổ chức cho học sinh ôn kiến thức cũ ( KTBC)

Hoạt động 2: Hoàn thành các bài tập củng cố kiến thức ( 10- 15 phút)

Lưu ý: - Hệ thống bài tập đi từ dễ đến khó: GV cần theo dõi và giúp đỡ các đốitượng HS theo cá nhân, nhóm, tổ Có thể tổ chức phong trào đôi bạn cùng tiến đểphát huy khả năng của các em HS năng khiếu trong việc giúp bạn học tập

18

Trang 19

Phần 1: Bài tập dành cho HS khuyết tật (nếu có) và HS chưa đạt yêu cầu

- Bài tập : Dành cho HS khuyết tật (nếu có)

- Bài tập : Dành cho HS chưa đạt yêu cầu ( Bài tập riêng cho HS củng cố kiếnthức)

Phần 2: Bài tập dành cho HS có trình độ đạt yêu cầu

- Bài tập : Dành cho tất cả HS có trình độ đạt yêu cầu trở lên

- Bài tập: Dành cho HS năng khiếu( Bài tập riêng cho HS phát triển tư duy;

có sự nâng cao nhưng phải đúng với nội dung của phần kiến thức, kĩ năng đangbồi dưỡng- phụ đạo chung Không dạy nội dung kiến thức ngoài chương trình,không dạy trước chương trình, không đưa bài tập từ lớp trên xuống lớp dưới.Điều quan trọng là đối với mỗi đơn vị kiến thức bồi dưỡng HS biết cách tự học,biết tư duy độc lập, biết liên hệ với thực tiễn cuộc sông xung quanh, biết cáchthực hành để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn những đối tượng HS khác trong lớp)Hoạt động 3: Dạy phân hoá đối tượng( 5- 7 phút)

Bài tập dành cho học sinh năng khiếu (1-2 bài) dựa vào kiến thức đã học cónâng cao

Hoạt động 4: Tổ chức chấm – chữa bài (5 phút)

Củng cố kiến thức

4.6.3 Sử dụng phương tiện trực quan một cách hợp lí.

Đối với HS tiểu học thiết bị dạy học đặc biệt quan trọng vì nó giúp các emquan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức sâuhơn nội dung bài học, hình thành tốt kĩ năng, kĩ xảo Song việc lựa chọn cácthiết bị dạy học phải tuỳ thuộc vào mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy họcđồng thời cần đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm Khi sử dụng phương tiệntrực quan, giáo viên phải chú ý là làm sao cho tất cả học sinh trong lớp đều cóthể quan sát, cảm nhận đồ dùng trực quan như nhau Tránh trường hợp chỉnhững học sinh ở bàn trên, hoặc những học sinh ở gần giáo viên mới “biết đến”phương tiện trực quan, còn những học sinh khác cảm nhận nó như ảo ảnh

4.6.4 Đặt câu hỏi cho học sinh

Cách đặt câu hỏi của giáo viên phải giúp học sinh phát triển tư duy, buộchọc sinh phải suy nghĩ trước khi đưa ra trả lời Ngoài ra giáo viên phải quan

Ngày đăng: 26/07/2016, 14:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- SGK, VBT, toán 3, bảng con  ( máy chiếu và đèn chiếu hắt ) - skkn hướng dẫn học sinh lớp 3 học các tiết toán luyện tập theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
to án 3, bảng con ( máy chiếu và đèn chiếu hắt ) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w