1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn luyện từ và câu lớp 4

34 553 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 534 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến Sáng kiến "Chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4" được tôi nghiên cứu và chỉ đạo áp dụng trong hơn một năm qua.. Sáng kiến ra

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH

PHÒNG GD &ĐT THỊ XÃ CHÍ LINH

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

CHỈ ĐẠO KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC BÀI DẠY

PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4

Lĩnh vực: Quản lý

NĂM HỌC 2014 - 2015

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến:

Chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý chuyên môn cấp Tiểu học

3 Tác giả:

Họ và tên: Đỗ Thị Huyền

Ngày tháng năm sinh: 15 tháng 12 năm 1975

Trình độ chuyên môn: Đại học

Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng - Tiểu học Sao Đỏ 2 - Sao Đỏ

- Chí Linh - Hải Dương

Điện thoại: 0986 891 764

4 Đồng tác giả: Không có

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Sao Đỏ 2 - Sao Đỏ - ChíLinh - Hải Dương

6 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Đỗ Thị Huyền - trường Tiểu học Sao Đỏ 2

7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Chỉ đạo áp dụng: Cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn hoặc tổ trưởngchuyên môn cấp tiểu học

- Thực hiện áp dụng: Giáo viên tiểu học có trình độ đạt Chuẩn trở lên

- Trường học đảm bảo 10 buổi/tuần Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ: vềphòng học/lớp; trang thiết bị dạy học đồng bộ đảm bảo đủ/ số lớp

8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 12năm 2015

Trang 3

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Sáng kiến "Chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn Luyện từ

và câu lớp 4" được tôi nghiên cứu và chỉ đạo áp dụng trong hơn một năm qua.

Sáng kiến ra đời xuất phát từ những trăn trở của tôi khi nghiên cứu chươngtrình, sách giáo khoa, khi dự giờ thăm lớp giáo viên, chứng kiến thực trạng việcdạy và học phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt lớp 4,5

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

Điều kiện để thực hiện sáng kiến đòi hỏi sự chỉ đạo bài bản, sát sao củacán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn; trực tiếp thực hiện là giáo viên cấp tiểuhọc có trình độ đạt chuẩn trở lên, nhà trường có điều kiện cơ sở vật chất tươngđối đảm bảo

3 Nội dung sáng kiến

Nội dung sáng kiến chỉ rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, thựctrạng việc dạy của thầy và việc học của trò đối với phân môn Luyện từ và câulớp 4, từ đó xây dựng 6 giải pháp chính gần gũi, thiết thực, để chỉ đạo thựchiện, đó là:

3.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho giáo viên

3.2 Bồi dưỡng nâng cao kiến thức Tiếng Việt phổ thông cho giáo viên

3.3 Bồi dưỡng nâng cao kĩ năng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4 3.4 Chuẩn bị kế hoạch bài dạy cụ thể, khoa học

3.5 Khai thác kiến thức bài dạy linh hoạt, sáng tạo

3.6 Đổi mới và tổ chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên đề tại tổ chuyênmôn

Các giải pháp mà sáng kiến nêu ra hoàn toàn mới, không có trong bất cứtài liệu nào Các giải pháp có tính khả thi cao Chỉ cần người cán bộ quản lý chỉđạo giáo viên thường xuyên nghiên cứu kĩ bài học, chuẩn kiến thức kĩ năng củatừng bài, từ đó lập kế hoạch cụ thể, khoa học, linh hoạt và sáng tạo, sắp xếp,điều chỉnh nội dung bài dạy sao cho đạt được mục tiêu đề ra, bằng con đườngngắn gọn nhất, nhẹ nhàng nhất, mang lại nhiều hứng thú cho học sinh Và chỉ

có như vậy, học sinh mới tiếp cận tốt nội dung bài học, nắm bài hiệu quả

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Trang 4

Sáng kiến có lợi ích thiết thực về xã hội, tạo điều kiện để các nhà quản lýchỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả, sát thực tếgiảng dạy của giáo viên, thực tế học tập của học sinh hiện nay

Mặc dù áp dụng lần đầu nhưng sáng kiến trên đã được tập thể giáo viên

hồ hởi đón nhận, khẳng định sự thiết thực của nó Đồng thời, học sinh đượctiếp nhận bài học tốt hơn, hiệu quả hơn, tạo hứng thú học tập cho các em

5 Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến

Sáng kiến sẽ có hiệu quả tốt hơn nếu được triển khai và tiếp cận trongnhiều nhà trường, áp dụng phương pháp chính cho các môn học khác nhau,thường xuyên được kiểm tra, rút kinh nghiệm; nhận được nhiều ý kiến phản hồi

từ giáo viên thực hiện

Trang 5

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:

Cùng với Toán, môn Tiếng Việt được xem là môn học đóng vai trò

"công cụ " trong trường tiểu học Hơn thế nữa, với kiến thức và 4 kĩ năng:

nghe, nói, đọc, viết mà môn học mang lại, Tiếng Việt trở thành công cụ số Một,quan trọng nhất ở bậc tiểu học, là chìa khóa mở cánh cửa tới các môn học khác

Môn Tiếng Việt ở lớp 4 bao gồm 5 phân môn: Tập đọc, Kể chuyện,Chính tả, Luyện từ và câu và Tập làm văn Trong đó, chiếm thời lượng khánhiều và đóng vai trò quan trọng, cung cấp kiến thức sơ giản về từ, rèn luyện kĩnăng: nói, viết và giao tiếp cho học sinh tiểu học là phân môn Luyện từ và câu.Đặc biệt, khác với lớp dưới, phân môn Luyện từ và câu lớp 4 có những tiết họcriêng để trang bị kiến thức cho học sinh, giúp học sinh:

- Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ theo chủ điểm, trang bị cho học sinh một

số hiểu biết sơ giản về từ và câu

- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng dấu câu

- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có

ý thức sử dụng Tiếng Việt trong văn hóa giao tiếp

Thực tiễn cho thấy, việc giảng dạy sao cho đạt được những mục tiêu trênqua các bài dạy phân môn Luyện từ và câu không phải là dễ Với khả năng củagiáo viên, trên cơ sở nội dung chương trình sách giáo khoa, giáo viên thực sựgặp nhiều lúng túng, hiệu quả giảng dạy không cao, không đạt được mục đích

mà phân môn đặt ra Cũng từ việc giảng dạy của giáo viên, việc nắm bắt kiếnthức luyện từ và câu của học sinh hời hợt, thiếu tính bền vững Do đó, việc vậndụng kiến thức của phân môn vào nói, viết, giao tiếp của học sinh gặp rất nhiềukhó khăn

Trước những hạn chế mà giáo viên, học sinh gặp phải khi dạy và họcphân môn Luyện từ và câu, đặc biệt đối với lớp 4, lớp học có lượng kiến thứcnhiều và nặng hơn cả trong cấp tiểu học, lớp học mà lứa tuổi, tâm lý học sinhtiểu học có nhiều thay đổi nhất là về nhận thức, tư duy, là một cán bộ quản lý,tôi mong muốn tìm ra giải pháp để giúp giáo viên thoát ra vòng luẩn quẩn,

khuôn mẫu bấy lâu nay Xuất phát từ lí do đó, tôi viết sáng kiến: " Chỉ đạo

khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4."

Trang 6

2 Cơ sở lý luận

2.1 Một số đặc điểm về tư duy, nhận thức của học sinh lớp 4, 5.

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Cũng ở gia đoạn này, các phẩm chất tư duycủa các em cũng chuyển dần sang tư duy trừu tượng khái quát Trẻ dần hìnhthành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình, chú ý có chủ định phát triểndần và chiếm ưu thế Ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập nhưhọc thuộc một bài thơ, một công thức toán, hay một quy tắc dài ( Trích lượctại tài liệu BDTX của GV tiểu học - TH1) Chính điều này là cơ sở để các nhàgiáo dục có những biên soạn nội dung chương trình phù hợp đặc điểm tư duy,nhận thức học sinh, khác hẳn với giai đoạn trước đó: giai đoạn lớp 1,2,3

2.2 Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu:

Ở lớp 4-5, môn Tiếng Việt chiếm thời lượng 8 tiết/tuần/ 35 tuần với các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Trong

đó, phân môn Luyện từ và câu chiếm 2 tiết/8 tiết/tuần ( khác với lớp 2,3, chỉ có

01 tiết/tuần)

Cũng như các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ

và câu được sắp xếp thành bài trong từng tuần, theo từng chủ điểm Cụ thể:Học kì 1: 5 chủ điểm với 32 tiết; học kì 2: 5 chủ điểm với 30 tiết, không kể cáctiết ôn tập, kiểm tra

Nội dung các tiết học được sắp xếp đan xen giữa các bài cung cấp kiếnthức về câu và từ với các bài mở rộng vốn từ theo chủ điểm với thời lượng: 3tuần/1 chủ điểm Mỗi chủ điểm có 2 tiết mở rộng vốn từ, còn lại là các tiết học

2.3.2 Trang bị kiến thức sơ giản về từ và câu:

Khác với các lớp dưới, đến lớp 4, học sinh được biết đến những kháiniệm sơ giản ban đầu về từ và câu, bao gồm:

Trang 7

2.3.2.1 Về từ: Học sinh nắm được những khái niệm sơ giản về:

+ Cấu tạo từ: Từ đơn, từ phức ( từ ghép, từ láy)

+ Từ loại: Danh từ, Động từ, Tính từ

+ Bước đầu làm quen với 1 số lớp nghĩa của từ ( đồng nghĩa, trái nghĩa)

2.3.2.2 Về câu: Học sinh nắm được những khái niệm sơ giản ban đầu về câu:

+ Các mẫu câu xét theo cấu tạo: Câu kiểu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào?+ Các mẫu câu xét theo mục đích nói: Câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến+ Các thành phần câu: Chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ

+ Dấu câu: dấu gạch ngang, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép

Tất cả các kiến thức trên đều được chương trình sắp xếp hợp lí từ dễ đếnkhó, từ đơn giản đến phức tạp, trong mối quan hệ với các phân môn khác củamôn Tiếng Việt Học sinh đều đã được tiếp cận với các kiến thức trên từ lớpdưới song chỉ mang tính chất giới thiệu, chưa khái quát hóa thành khái niệm cụthể Ví dụ:

- Kiến thức về từ đơn, từ phức: lớp 2,3 học sinh đã được làm quen với từ

1 tiếng, từ nhiều tiếng

- Kiến thức về từ loại: danh từ, động từ, tính từ: lớp 2,3 học sinh đã đượclàm quen với từ chỉ sự vật, từ chỉ đặc điểm, từ chỉ hoạt động

2.4 Yêu cầu về kĩ năng đối với phân môn Luyện từ và câu lớp 4

Theo quyết định 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông

và Chuẩn KTKN, thông qua phân môn Luyện từ và câu, học sinh lớp 4 cần đạtđược các kĩ năng cụ thể với từng đơn vị kiến thức như sau:

Nội dung kiến thức Kĩ năng cần đạt

2.4.1 Ngữ âm và chữ viết:

- Sơ giản về cấu tạo của tiếng

- Cách viết tên người, tên địa lí Việt

Nam

- Nhận biết cấu tạo 3 phần của tiếng

- Biết quy tắc viết hoa tên người, tênđịa lí Việt Nam và nước ngoài: nhớquy tắc viết hoa và biết vận dụng quytắc đó

2.4.2 Từ vựng

- Từ ngữ ( gồm cả thành ngữ, tục ngữ, - Biết thêm các từ ngữ (gồm cả thành

Trang 8

- Biết tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa với

từ đã cho; kết hợp từ đã cho với từkhác; tìm thêm từ cùng cấu tạo; tìmthành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm

- Kiểu câu theo mục đích nói: câu kể,

câu hỏi, câu cảm, câu khiến

- Dấu hai chấm; dấu ngoặc kép; dấu

gạch ngang

- Hiểu thế nào là danh từ, động từ, tínhtừ; 3 mẫu câu đơn thường dùng và các

bộ phận chính của câu, thành phầntrạng ngữ…

- Nhận biết được các từ loại đã học,các mẫu câu cùng các thành phần câu:

CN, VN, TN

- Nhận biết các kiểu câu theo mục đíchnói dựa vào các từ ngữ, dấu câu đikèm và nghĩa của câu

- Biết xưng hô, lựa chọn từ ngữ khigiao tiếp ở trường, ở nhà, ở nơi cộngcộng

- Biết đặt và trả lời câu hỏi trong traođổi, thảo luận

2.4.4 Phong cách ngôn ngữ và biện

- Biết nói, biết viết câu có dùng phépsánh, nhân hóa (mục đích chính dạngbài này là để luyện văn)

Có thể nói, lên lớp 4, học sinh được tiếp cận với hàng loạt kiến thứcmang tính trừu tượng hơn, khái quát hơn, đòi hỏi sự tư duy hơn Không chỉ

Trang 9

môn Tiếng Việt hay phân môn Luyện từ và câu mà môn Toán cũng vậy Đâycũng là điểm mới, là sự khó khăn đối với cả việc dạy của thầy và việc học củatrò.

3 Thực trạng dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 4 hiện nay:

Là một cán bộ quản lý được tham gia công tác nghiệp vụ của phòng Giáodục, có điều kiện dự giờ thăm lớp không chỉ giáo viên nhà trường mà cả giáoviên nhiều trường bạn, tôi nhận thấy một số thực trạng khi dạy và học phânmôn Luyện từ và câu lớp 4 như sau:

3.1 Thực trạng việc dạy:

3.1.1 Sự thiếu hụt kiến thức phổ thông về Tiếng Việt

+ Phải khẳng định rằng 40-50% giáo viên trong các trường tiểu học hiệnnay thiếu hụt kiến thức phổ thông về Tiếng Việt, thể hiện đó là:

- Vốn từ hạn chế, hiểu các kiến thức về từ và câu còn hời hợt, thiếu chắcchắn, kĩ năng phân tích ngôn ngữ, phân tích ngữ liệu chỉ đạt mức bình thường

- Kiến thức về từ vựng, ngữ nghĩa học có nhiều hạn chế, bộc lộ những sơsuất khi giảng dạy đặc biệt với các tiết dạy về mở rộng vốn từ

- Kiến thức về phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ hầu như không

Thực tiễn cho thấy, những vấn đề giáo viên mắc nhiều nhất khi dạyLuyện từ và câu lớp 4 là mảng kiến thức về Ngữ pháp Tiếng Việt, trong đó tậptrung là:

+ Kĩ năng xác định từ đơn với từ phức, từ ghép với từ láy trong các đoạnvăn, đoạn thơ

+ Kĩ năng xác định từ loại danh từ, động từ, tính từ trường hợp danh từchỉ khái niệm và động từ chỉ trạng thái

+ Kĩ năng xác định các mẫu câu kể Ai làm gì? với câu kể Ai thế nào?trường hợp vị ngữ là động từ chỉ trạng thái

+ Kĩ năng xác định thành phần câu

Những hạn chế này của giáo viên tác động trực tiếp lên học sinh Thựctiễn, đây cũng là vấn đề học sinh hay mắc trong khi học tập, thực hành phân môn Luyện từ và câu

Trang 10

3.1.2 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thiếu chủ động, thiếu linh hoạt, chưa hiệu quả.

Vấn đề trở thành lối mòn khó sửa của giáo viên bấy nay là:

- Phương pháp giảng dạy đơn điệu, chủ yếu dựa vào sách giáo viên, sáchthiết kế bài dạy, chỉ hướng dẫn học sinh giải quyết lần lượt các nhận xét, bàitập theo đáp án mà sách giáo viên hoặc sách thiết kế nêu ra; sợ sai, không tự tinđưa ra các ví dụ, các trường hợp khác để mở rộng, khắc sâu cho học sinh

- Hướng dẫn học sinh luyện tập, khai thác nội dung bài chưa tốt, sửa saicho học sinh chưa hiệu quả, không giúp học sinh thấy được cái sai và cách sửachữa mà chỉ nêu ngay đáp án đúng

3.1.3 Nhận thức chưa đầy đủ của giáo viên

- Qua dự giờ, thăm lớp, qua phỏng vấn cho thấy, một bộ phận không nhỏgiáo viên chưa xác định đầy đủ tầm quan trọng của việc giảng dạy phân mônLuyện từ và câu nói riêng, của môn Tiếng Việt nói chung

- Xuất phát từ nhận thức trên mà việc giảng dạy phần lớn hời hợt, thiếutrọng tâm, ngại tìm hiểu nội dung, đổi mới phương pháp để có những tiết dạyhiệu quả dẫn đến tình trạng soạn cho xong, dạy cho xong

+ Hệ thống kiến thức phân môn Luyện từ và câu được sắp xếp xen kẽ:Kiến thức về từ - Mở rộng vốn từ - Kiến thức về dấu câu Tư duy logic của họcsinh hạn chế, giáo viên dạy lại không khéo củng cố kiến thức cũ trong bài mới;không tích hợp thường xuyên trong các phân môn, học sinh lại chưa tích cực ônluyện nên khi quay trở lại bài học có liên quan sau 1-2 tuần hoặc sau thời gianvài tuần thì nhiều em lại bỡ ngỡ như mới

Để kiểm tra việc nắm bắt kiến thức phân môn luyện từ và câu lớp 4 của

Trang 11

học sinh 2 lớp 4 A, 4C của trường tôi, tháng 11 năm học 2013 - 2014 - vào cuốituần 10, tôi đã tiến hành khảo sát ( Đề khảo sát nằm trong phần Phụ lục) và thuđược kết quả như sau:

Lớp Số HS Đạt 5 điểm trở lênSL % SLĐạt dưới 5 %

Kết quả trên cho thấy, tỉ lệ học sinh chưa đạt còn nhiều, các em khôngxác định đúng trọng tâm yêu cầu bài, lẫn lộn giữa từ và cụm từ Lớp 4C là lớp

có chất lượng tốt hơn cũng còn số học sinh làm bài chưa đạt cao

Thực trạng diễn ra và kết quả dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp

4 đã thôi thúc tôi nghiên cứu với mong muốn tìm ra giải pháp gần gũi nhất,hiệu quả nhất, thúc đẩy chất lượng dạy và học của thầy và trò nhà trường ngàymột cao hơn

4 Một số giải pháp, biện pháp thực hiện

4.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho giáo viên

Muốn chỉ đạo đổi mới hiệu quả việc đầu tiên cần làm phải làm thay đổinhận thức chưa đầy đủ của bộ phận giáo viên Có thể thực hiện những việc làmsau:

- Xác định rõ và nhấn mạnh tầm quan trọng khi giảng dạy phân mônLuyện từ và câu lớp 4 nói riêng, môn Tiếng Việt lớp 4 nói chung

- Chỉ ra những điểm còn thiếu, còn yếu của giáo viên về việc nắm bắtkiến thức chuyên sâu Tiếng Việt cũng như việc thiếu hụt các kĩ năng giảng dạycần thiết khi dạy về các mảng kiến thức của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 vàhậu quả của nó Việc chỉ ra những điểm thiếu, điểm yếu này thông qua nhữnglỗi mà giáo viên mắc phải khi giảng dạy, cán bộ quản lý nắm được qua quátrình dự giờ thăm lớp, qua phỏng vấn, trao đổi hay qua chính kết quả học tậpcủa học sinh, qua những lỗi mà học sinh mắc phải khi làm bài trên lớp cũngnhư qua các bài kiểm tra định kì

Ví dụ: Khi dạy mảng kiến thức về Từ ghép và từ láy, giáo viên có

chuyên môn không chắc chắn sẽ hướng dẫn học sinh phân tích nhận xét rồinhanh chóng rút ra ghi nhớ theo hướng dẫn tại sách giáo viên hoặc sách thiết kế

Trang 12

bài giảng một cách trung thành, sau đó đến phần luyện tập, gặp các bài tập yêucầu xác định từ ghép, từ láy thì giáo viên yêu cầu đọc đầu bài rồi gạch chân xácđịnh dưới các từ ghép, từ láy sau đó báo cáo kết quả Đến khi học sinh xác địnhchưa đúng, giáo viên chỉ biết nói em xác định chưa đúng đáp án phải là từ Ahay từ B hoặc chỉ biết bám vào ghi nhớ để nhắc nhở học sinh, vì vậy mới xảy

ra lỗi học sinh cho rằng cụm từ " học giỏi" là từ ghép trong câu:

Minh nổi tiếng là một lớp trưởng học giỏi và chăm chỉ trong trường em.

Đáng lẽ ra trong bài tập trên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh làm lầnlượt 2 bước:

+ Bước 1: Tách rõ các từ trong câu bằng chì và dấu gạch chéo:

Minh/ nổi tiếng/ là /một/ lớp trưởng/ học /giỏi/ và/ chăm chỉ/ trong/ trường/ em.

Với bước này, sau dần quen thành kĩ xảo, học sinh có thể chỉ cần xácđịnh bằng mắt mà không cần dùng chì gạch chéo

+ Bước 2: Xác định từ ghép, từ láy theo đề bài yêu cầu:

Dựa vào kết quả của bước 1, học sinh dễ dàng xác định được từ ghép là:

nổi tiếng, lớp trưởng; còn từ láy là: chăm chỉ.

Trường hợp học sinh tiếp tục còn nhầm lẫn xác định cụm từ " học giỏi" hay " trường em" là từ ghép ( vì nghĩ rằng cụm từ này đã diễn đạt 1 nội dung,

chỉ 1 sự vật) thì giáo viên cần tiếp tục sử dụng các phép xác định kết hợp 2 từđơn hay 1 từ ghép để hướng dẫn học sinh ( các phép xác định này sẽ được trìnhbày cụ thể trong mục 4.3, trang 13)

Nếu cán bộ quản lý chỉ ra được các lỗi càng cụ thể, giáo viên càng nhậnthấy những lỗi riêng của mình, của đồng nghiệp cùng tác hại của nó tới quátrình học tập của học sinh, từ đó mới thay đổi nhận thức, nảy sinh nhu cầu,mong muốn được bồi dưỡng, khắc phục

4.2 Bồi dưỡng nâng cao kiến thức Tiếng Việt phổ thông cho giáo viên

Đây là vấn đề cơ bản đầu tiên cần quan tâm trong mỗi nhà trường vì chỉkhi giáo viên có vững kiến thức thì mới có thể chủ động đứng trên bục giảnghướng dẫn học sinh khám phá tri thức Với giáo viên tiểu học, nội dung bồidưỡng phục vụ phân môn Luyện từ và câu lớp 4 nên lựa chọn sát với nội dunggiảng dạy, tập trung vào các vấn đề sau:

Trang 13

4.2.1 Kiến thức về từ:

- Từ Tiếng Việt: đặc điểm, ngữ âm và ngữ pháp của từ Tiếng Việt

- Cấu tạo từ Tiếng Việt: đơn vị, phương thức cấu tạo từ

- Các kiểu từ xét theo cấu tạo, xét theo ngữ nghĩa

- Ý nghĩa của từ Tiếng Việt

- Hiện tượng nhiều nghĩa của từ, sự chuyển biến ý nghĩa của từ

4.2.2 Các lớp từ Tiếng Việt

- Từ thuần Việt

- Từ vay mượn

- Tạo lập từ, sử dụng từ trong giao tiếp

4.2.3 Kiến thức về câu và thành phần câu, dấu câu

- Các kiểu câu Tiếng Việt phân loại theo cấu tạo hoặc theo mục đích nói

- Dấu câu và tác dụng của 1 số dấu câu

- Chức năng ngữ pháp

4.2.4 Phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ

- Nội dung này tập trung về các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, điệp từ,điệp ngữ, sử dụng từ ngữ,

4.3 Bồi dưỡng nâng cao kĩ năng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4.

Ngoài kiến thức chuyên sâu của Tiếng Việt phổ thông, người cán bộquản lý cần tập trung bồi dưỡng giáo viên nắm chắc các kĩ năng sau khi giảngdạy:

* Một số quy tắc chính tả cơ bản:

+ Viết hoa tên người VN và tên người nước ngoài phiên âm Hán Việt

+ Viết hoa tên địa lí Việt Nam và tên địa lí nước ngoài phiên âm Hán Việt+ Viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài

+ Viết hoa tên riêng các tổ chức chính trị xã hội

+ Viết hoa bày tỏ phép lịch sự, tôn trọng

+ Viết hoa khi nhân hóa

+ Viết hoa trong phép đặt câu

* Xác định yêu cầu trọng tâm khi dạy các bài tập về từ:

* Các dạng bài tập chính:

+ Xác định từ ( dạng bài chủ yếu)

Trang 14

+ Dựa vào định nghĩa về từ đơn, từ ghép Chú ý nhấn mạnh kết cấu chặt

chẽ của từ ghép:"hai hay nhiều tiếng ghép lại với nhau mà có một nghĩa chung"

+ Dựa vào văn cảnh: Một số kết hợp từ trong văn cảnh này là từ ghépnhưng trong văn cảnh khác là từ đơn Ví dụ:

a) Em rất thích ăn cánh gà rán.

2 từ đơn ( ý là: cánh của con gà)

b) Bên cánh gà sân khấu, Mai đang chuẩn bị cho tiết mục của mình.

1 từ ghép ( chỉ khoảng trống bên cạnh sân khấu)

+ Dùng thao tác thêm xen: Nghĩa là thêm xen 1 tiếng vào giữa kết hợp từcòn chưa chắc chắn Nếu thấy nghĩa của kết hợp từ không thay đổi thì đó là 2

từ đơn; nếu nghĩa của kết hợp từ bị thay đổi thì đó là từ ghép

* Ví dụ: Bông hoa hồng này là hoa hồng (1) (2)

2 từ đơn 1 từ ghép

Từ " hoa hồng(1)" là 2 từ đơn bởi xét nghĩa của nó trong ngữ cảnh trên có

nghĩa là chỉ " bông hoa có màu hồng" còn " hoa hồng(2)" là 1 từ ghép bởi từ này

chỉ tên 1 loài hoa Kể cả dùng thao tác thêm xen thì kết hợp từ " hoa hồng" (1)

cũng thêm xen được theo cách trên, còn " hoa hồng"(2) thì kết cấu rất chặt chẽ,không thể thêm xen được

* Dạng bài tập tạo lập từ:

+ Đưa ra nhiều dạng bài khác nhau, có thể cho từ gốc hoặc không

+ Tạo lập từ để được từ theo cấu tạo hoặc theo từ loại yêu cầu

Trang 15

+ Tạo lập từ để được từ ngữ theo chủ điểm

*Dạng bài tập sử dụng từ: để đặt câu hoặc viết đoạn

+ Đơn giản: Đặt câu có từ ngữ yêu cầu

+ Khó hơn: Đặt câu có từ ngữ yêu cầu kèm theo chủ đề

* Lưu ý: Khi đặt câu, từ yêu cầu không chuyển loại hay bị đổi cấu tạo

*Một số dạng bài cơ bản về từ loại : Như đối với dạng từ theo cấu tạo Gồm 3

* Ví dụ: từ " mập, chắc" thông thường ta nghĩ rằng nó là tính từ, nhưng

trong trường hợp sau nó là động từ chỉ trạng thái của những bắp ngô đã đến kì

thu hoạch:

Những bắp ngô đã mập và chắc chỉ còn chờ tay người đến bẻ mang về.

Đây là điểm khó mà nhiều giáo viên dễ mắc khi hướng dẫn học sinh.Khắc phục điểm khó này, giáo viên cần làm tốt bài dạy giới thiệu các từ kết

hợp với động từ: " đã, đang, sắp" - Tiết Luyện từ và câu " Luyện tập về động

từ " (Tiếng Việt 4, tập 1, trang 106) Cũng tương tự vây, giáo viên cần nắm

được và khắc sâu cho học sinh một số kĩ năng xác định danh từ qua các từ kếthợp đứng trước là từ chỉ số lượng ( một, hai, ba ; vài, dăm, các ), từ kết hợpđứng sau là từ chỉ trỏ (ấy, đó, ) v v

* Đảm bảo tính đồng tâm, liên kết kiến thức liên tục qua các bài học cùng

hoặc khác phân môn của môn Tiếng Việt

*Ví dụ: Luyện từ và câu tiết 1 - Tuần 3: Từ đơn và từ phức thì đến tiết 2 tuần 3, bài "Mở rộng vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kết", sau khi làm xong bài tập 1: Bài tập tìm từ có chứa tiếng " hiền", chứa tiếng "ác", giáo viên cần cho học

sinh củng cố kiến thức đã học bằng cách thêm câu hỏi ở phần củng cố, mởrộng:

+ Trong các từ em tìm được ở bài tập 1, từ nào là từ đơn, từ nào là từ

phức?

Trang 16

+ Hãy tìm thêm từ đơn chứa tiếng ác? hoặc từ phức chứa tiếng hiền?

Bằng cách đào xới liên tục như vậy, học sinh sẽ nhớ lâu và nhớ có hệthống hơn để học tiếp bài sau: "Từ ghép và từ láy" mà không bị bỡ ngỡ

* Dạy về các mẫu câu và thành phần câu:

Hướng dẫn học sinh nắm chắc bảng ghi nhớ mẫu câu sau:

Tên mẫu câu Đặc điểm chủ ngữ Đặc điểm vị ngữ

Ai là gì?

- Thường là DT chỉ: Người, sự vật, sự việc

- Có thể là ĐT, TT

- thường là danh từ, cụm DT

Ai làm gì?

- Thường là DT chỉ: Người, sự vật, sự việc

- Có thể là ĐT, TT

- động từ, cụm động từ chỉ hoạt động

Ai thế nào?

- Thường là DT chỉ: Người, sự vật, sự việc

- Có thể là ĐT, TT

- Tính từ, cụm tính từ

- động từ, cụm động từ chỉ trạng thái

* Trường hợp còn băn khoăn về 2 kiểu câu Ai làm gì? Ai thế nào? thìgiáo viên cần nắm được:

+ Câu Ai làm gì? có vị ngữ phải là động từ chỉ hoạt động và bản thân của

sự vật được nói đến trong câu ( chủ ngữ) phải là chủ thể của hoạt động đó, cóthể hoạt động được

Khi dạy học sinh các bài tập xác định thành phần câu, giáo viên cần hướngdẫn xác định tốt chủ ngữ chính, vị ngữ chính, số lượng chủ ngữ, vị ngữ trongcâu, từ câu ngắn đến câu dài, từ đơn giản đến phức tạp trong mối liên hệ củacác câu với nhau để từ đó giúp học sinh hiểu bản chất vấn đề

*Ví dụ:

Câu Tình huống hướng dẫn học sinh

a) Em bé //cười HS xác định được ngay: Chủ ngữ: Em

bé; Vị ngữ: cười

b) Em bé //đang toét miệng cười HS cùng dễ dàng xác định được chủ

ngữ, vị ngữ của câu trên mặc dù kháccâu a GV nhấn mạnh: các từ làm rõ

nghĩa cho vị ngữ chính "cười" thì cũng

thuộc bộ phận vị ngữ

Trang 17

c) Em bé nằm trong nôi// đang toét

miệng cười

Bằng cách suy luận của phần b, HS sẽxác định được Chủ ngữ, vị ngữ của câutheo phân chia như cột bên

Cứ tiếp tục thêm dần như vậy rồi thay đổi mẫu câu, giáo viên sẽ dầnhướng dẫn học sinh xác định tốt thành phần câu và ghi nhớ bền vững cách xácđịnh.Việc xác định tốt thành phần câu còn giúp học sinh xác định tốt mẫu câutheo cấu tạo

*Dạy về các biện pháp nghệ thuật:

- Hướng dẫn HS nhận biết 2 biện pháp chính: so sánh, nhân hóa Đặcbiệt cần lưu ý trường hợp so sánh mà dấu hiệu so sánh là dấu câu ( hai chấm,gạch ngang) như: Trường Sơn: chí lớn ông cha

Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào

hoặc chẳng hề có dấu câu nào như kết hợp: Mắt bồ câu; Lông mày lá liễu,

- HS khá, giỏi: trong các tiết tập đọc, ngoài nhận biết tên gọi còn pháthiện được tác dụng của biện pháp trong câu văn, câu thơ

Mặc dù không được giới thiệu trong chương trình học, song giáo viêncũng nên giới thiệu biện pháp nghệ thuật khác như: điệp từ, điệp ngữ; cáchdùng từ đặt câu, đảo ngữ vì học sinh sẽ được gặp tất cả các biện pháp này cùngvới so sánh, nhân hóa trong các bài tập đọc ở chương trình học cấp tiểu học

Giải pháp 4.2 và 4.3 cho thấy lượng kiến thức chuyên sâu và kĩ năng

giảng dạy từng mảng kiến thức cần bồi dưỡng tương đối nhiều, đòi hỏi độchuẩn xác cao, sát với thực tiễn giảng dạy của giáo viên nên nhà trường cầnquan tâm chỉ đạo xây dựng kế hoạch bồi dưỡng một cách cụ thể, hiệu quả.Phương án hữu hiệu nhất là:

- Ngay từ cuối năm học trước, chỉ đạo cá nhân giáo viên tự đăng kí nhucầu bồi dưỡng nội dung cụ thể kiến thức chuyên sâu hoặc kĩ năng, sau đó Bangiám hiệu cùng tổ trưởng chuyên môn tập hợp Dựa trên nhu cầu bồi dưỡng của

số đông, xây dựng phương án bồi dưỡng, đưa vào nội dung bồi dưỡng thườngxuyên hằng năm, xác định nội dung bồi dưỡng theo tổ chuyên môn, nội dungbồi dưỡng theo khối chuyên môn, cá nhân bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng theođơn vị trường; đề xuất Phòng giáo dục tổ chức nội dung liên trường, nếu thấy

Ngày đăng: 26/07/2016, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w