Với sự say mê dạy Toán và mong muốn giúp học sinh có kỹ năng nhậndạng hình, giải các bài toán có liên quan đến yếu tố hình học, biết vẽ hình, xácđịnh góc… Để giúp học sinh nắ
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
SÁNG KIẾN DẠY MỘT SỐ DẠNG TOÁN
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN YẾU TỐ HÌNH HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4
Bộ môn: TOÁN
Năm học 2014 - 2015
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Sáng kiến dạy một số dạng Toán có liên quan đến yếu tố hình
học cho học sinh lớp 4
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Toán tiểu học
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Anh Nữ
Ngày tháng năm sinh: 15 – 11 – 1975
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Nhân Huệ
Điện thoại: 0912687075
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
Trường Tiểu học Nhân Huệ
Nhân Huệ - Chí Linh – Hải Dương
Điện thoại: 03203881028
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu : Trường Tiểu học Nhân Huệ
Nhân Huệ - Chí Linh – Hải Dương
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Nhà trường tạo điều kiện về cơ
sở vật chất để GV áp dụng sáng kiến được thuận lợi GV tích cực, hăng say trong công tác chuyên môn
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÍ TÊN)
Nguyễn Thị Kim Anh
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trang 3TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán chiếm số giờ rất lớn Việc nângcao hiệu quả của dạy và học môn Toán nói chung và các yếu tố hình học trongmôn Toán nói riêng là một chuyên đề được rất nhiều người quan tâm và tìm hiểu
Yếu tố hình học bậc tiểu học là một dạng toán hay và khó nhằm phát triển
tư duy và sáng tạo cho học sinh năng khiếu Đây là mạch kiến thức gắn với đờisống thực tế, giúp các em có biểu tượng hình học cơ bản, từ đó, phát huy tối đatính tích cực, chủ động sáng tạo
Với sự say mê dạy Toán và mong muốn giúp học sinh có kỹ năng nhậndạng hình, giải các bài toán có liên quan đến yếu tố hình học, biết vẽ hình, xácđịnh góc… Để giúp học sinh nắm chắc các kiến thức hình học trong chương trìnhhình học lớp 4, tôi đã đưa ra một số giải pháp thiết thực có thể áp dụng trong cáctiết dạy liên quan để nâng cao chất lượng bộ môn Qua việc nghiên cứu chươngtrình môn Toán của cả bậc học và của các lớp 4-5, đồng thời nghiên cứu các dạngbài hình học thường gặp, nghiên cứu thực trạng dạy và học hiện nay, tôi đã đưa ranhững giải pháp để áp dụng giảng dạy theo từng nội dung hình học, các dạng bàicó liên quan đến yếu tố hình học Sáng kiến đã góp phần nâng cao chất lượng mônhọc, đồng thời giúp HS: tiếp tục học phần hình học ở lớp trên, biết vận dụng vàocuộc sống thực tế
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
- Điều kiện: Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung, chương trình sách giáo khoa vàphương pháp dạy học phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp
- Thời gian: Năm học 2014 - 2015
- Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 4 của trường tôi
3 Nội dung sáng kiến:
- Trong sáng kiến này tôi đã đi sâu vào việc dạy kiến thức mới thông qua kiến
Trang 4thức cũ đồng thời kết hợp thực hành, mở rộng, nâng cao phù hợp với nhậnthức của học sinh cũng như phù hợp với địa phương.
- Với sáng kiến này, tôi đã áp dụng và thấy sự tiến bộ rõ rệt của học sinh trườngtôi công tác Chính vì vậy tôi nghĩ sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả cácđối tượng học sinh đang học chương trình sách giáo khoa hiện hành
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
- Sáng kiến góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn, đồng thời giúp họcsinh phát triển toàn diện
- Học sinh tự tìm hiểu khám phá kiến thức và áp dụng được kiến thức đã học vàocuộc sống
5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
- Sáng kiến đã mang lại cho học sinh sự say mê, tìm tòi và sáng tạo Nó giúp họcsinh biết tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức Sáng kiến nên được phổ biến rộng rãiđể cho tất cả học sinh học chương trình hình học lớp 4 đều được học tập và pháthuy
Trang 5MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1 Vị trí của môn Toán 4:
Toán 4 kế thừa và phát huy những ưu điểm của các phương pháp dạy họctoán đã sử dụng ở các lớp trước, đặc biệt là kiến thức toán ở lớp 3 nhằm tiếp tụcvận dụng phương pháp dạy học giúp học sinh tự nêu các nhận xét các quy tắc, cáccông thức ,…ở dạng khái quát hơn (so với các lớp trước ); đặc biệt bước đầu biết
hệ thống hóa các kiến thức đã học, nhận ra một số quan hệ giữa một số nội dung
đã học …Đây là cơ hội để các em tiếp tục phát triển năng lực trừu tượng hóa, kháiquát hóa trong học tập môn Toán ở lớp 4 của cấp Tiểu học; tiếp tục phát triển khảnăng diễn đạt và tập suy luận của học sinh theo mục tiêu của môn Toán lớp 4
1.2 Nội dung hình học 4:
Hình học là nội dung cơ bản, các bài toán hình học ở tiểu học giúp các emphát triển tư duy về hình dạng không gian Trong chương trình toán tiểu học, cácyếu tố hình học được sắp xếp từ dễ đến khó, từ trực quan cụ thể đến tư duy trừutượng, rồi đến khái quát vấn đề Qua các lớp học, kiến thức hình học được nângdần lên và cuối cấp (lớp 5) có biểu tượng về tính chu vi diện tích, thể tích Lớp 4giới thiệu thêm cho các em các khái niệm về các góc: nhọn, bẹt, tù; về hai đườngthẳng vuông góc, hai đường thẳng song song; bổ sung 3 đơn vị tính diện tích: đề-xi-mét vuông, mét vuông, ki-lô-mét vuông Hình thành công thức tính chu vi vàdiện tích của hình chữ nhật và hình vuông qua các bài tập Giới thiệu thêm hìnhbình hành, hình thoi và cách tính diện tích của 2 hình này Thông qua bộ môn hìnhhọc các em được làm quen với tên gọi, công thức, ký hiệu, mối liên quan giữa cácđơn vị Biết biến đổi các đơn vị đo Qua đó biết tự phát hiện các sai lầm khi giảitoán hình học
1.3 Những hạn chế của học sinh khi học nội dung hình học.
Môn toán ở bậc tiểu học cung cấp cho các em nền tảng ban đầu về số học,
đo lường, mối quan hệ về các đại lượng, một số dạng toán điển hình, … giúp các
Trang 6em nâng dần mức độ tư duy vận dụng tốt vào thực tế cuộc sống Trong đó yếu tốhình học đóng một vai trò không nhỏ giúp các em làm quen với những hình hìnhhọc có quan hệ gần gũi với cuộc sống một cách thực tế hơn Tuy nhiên trong thực
tế các em thường chú tâm đến những hình ảnh đơn lẻ trên lí thuyết với những hìnhtròn, hình tam giác, hình vuông,… chứ các em chưa nắm được những tinh túy củavấn đề để hiểu một cách cụ thể với cuộc sống đời thường Nói đến miếng vườnhình chữ nhật với các em cũng chẳng khác gì một miếng bìa hình chữ nhật Các
em chỉ biết vận dụng những công thức đã được học ở lớp để tìm ra kết quả bàitoán chứ các em chưa có hình dung đến đối tượng là một miếng vườn trên thực tế.Với những lí thuyết suông như thế, đa số các em thường không nắm bắt vấn đềmột cách rõ ràng, dẫn đến sự nhầm lẫn trong tính toán một cách không đáng có.Trong chương trình môn toán ở bậc Tiểu học các em được làm quen về yếu tốhình học từ lớp 1 đến lớp 5, nhưng về cấu tạo chương tình đôi khi khá rời rạcthường thì chỉ giới thiệu qua một khái niệm nào đó rồi các em không được tiếpxúc thường xuyên, thiếu thực hành khiến các em chóng quên, nếu còn chăng chỉ
mơ hồ những công thức mà thầy cô đã dạy trên lớp Những điều này được biểuhiện qua các em bằng những sai sót khá phổ biến như : Tìm diện tích một hình lại
ghi nhầm đơn vị đo độ dài mà không hay không biết (ví dụ như các em ghi diện tích hình chữ nhật là 100m) hay khi thực hiện những phép tính cộng, trừ lại dùng
những số liệu không cùng đơn vị đo với nhau, điều này chứng tỏ các em khônghiểu được vấn đề
Từ những lý do trên, thông qua việc " Dạy các yếu tố hình học ở tiểu học"giúp các em nắm được kiến thức đầy đủ, tổng hợp về môn Toán Qua đó các emthấy được giá trị thực tiễn của toán trong cuộc sống, làm cho các em càng yêuthích học toán hơn Từ đó góp phần phát triển tư duy cho các em một cách nhẹnhàng, có hiệu quả, trang bị cho các em vốn kiến thức cơ bản về hình học phẳng,hình học không gian để làm cơ sở cho việc học hình học ở cấp học trên
Trang 7Với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học các yếu tố hình học nói
riêng, môn Toán ở lớp 4 nói chung, tôi đã tiến hành viết sáng kiến: "Sáng kiến
dạy một số dạng Toán có liên quan đến yếu tố hình học cho học sinh lớp 4"
2 Cơ sở lý luận của vấn đề
Như chúng ta được biết tiểu học là học phổ cập, tạo tiền để nâng cao dântrí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những côngdân tốt mang trong mình những phẩm chất tạo thành cốt lõi của một nhân cáchViệt Nam trong giai đoạn mới: Những phẩm chất đó là: Trí tuệ phát triển, ý chícao, tình cảm đẹp
Xuất phát từ yêu cầu trên, việc giảng dạy môn Toán ở bậc tiểu học có vai tròquan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của học sinh Trong chương trìnhmôn Toán bậc tiểu học, việc dạy các yếu tố hình học giữ một trí tuệ, rèn luyệnđược nhiều đức tính và phẩm chất tốt như cẩn thận, cần cù, chu đáo, khéo léo, ưathích sự chính xác, làm việc có kế hoạch, đồng thời giúp học sinh hình thànhnhững biểu tượng về hình học và đại lượng hình học Đó là một điều hết sức quantrọng Nó giúp các em định hướng trong không gian, gắn liền việc học với cuộcsống xung quanh, là tiền đề để hỗ trợ các môn khoa học khác là mảng kiến thứcquan trọng cho các cấp học trên Đồng thời có thể giải quyết những bài toán thực
tế xung quanh mình
Chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả giảng dạy các yếu tố hình học ở bậctiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng là một việc rất cần thiết của mỗi giáo viêngiảng dạy trong nhà trường để nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
Trang 8- Đồ dùng giảng dạy về các yếu tố hình học được nhà trường trang bị tươngđối đầy đủ.
- Các yếu tố hình học không xây dựng thành chương trình riêng, đây làđiều kiện thuận lợi cho việc dạy học của giáo viên và học sinh
- Các yếu tố hình học ở lớp 4 có sự kế thừa bổ sung và phát triển các kiếnthức toán đã học ở các lớp 1,2,3
- Tuy đã được trang bị đồ dùng giảng dạy, song đồ dùng còn nhỏ Giáo viên
sử dụng đồ dùng chưa được triệt để Vì vậy mà việc dẫn dắt học sinh nắm kiếnthức mới chưa cao
-Thời gian hướng dẫn thực hành còn ít, chưa đủ để các em tham gia thực tếđể hiểu và nắm chắc vấn đề theo yêu cầu của giáo viên
3.2 Việc học của học sinh:
- Đối với học sinh thì khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhất là học sinh ở vùngnông thôn Chỉ một số ít phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình, đa sốcòn lại do cuộc sống thiếu thốn của gia đình làm gián đoạn sự học tập của các em
Thậm chí còn bắt các em phụ giúp việc gia đình (trong đó có một số còn phải theo gia đình đi làm ăn xa).
- Do đặc điểm lứa tuổi, học sinh còn hiếu động, sự tập trung chú ý nghegiảng bài còn hạn chế Khả năng phân tích, trí tưởng tượng, sự suy luận của các
em cũng còn chưa tốt dẫn tới ngại làm các bài tập có nội dung về các yếu tố hìnhhọc
Trang 9- Trong quá trình học tập học sinh còn mắc nhiều sai lầm trong nhận dạngcác hình hình học, vẽ hình, gọi tên hình, mô tả hình,…
- Học sinh không nắm được bản chất các quy tắc, công thức tính chu vi vàdiện tích các hình hình học
Qua khảo sát khả năng học tập phần hình học ở các em ở đầu năm (18 học sinh) qua đề bài sau:
Một hình chữ nhật có chu vi là 80cm Biết chiều rộng là 15cm Tính diện tích hình chữ nhật đó?
4b 2014-2015 18 2 11,1% 6 33,3% 8 44,5% 2 11,1%
Từ thực trạng trên, đặt cho mỗi giáo viên chúng ta phải đầu tư thêm tronggiảng dạy về yếu tố hình học như thế nào để có hiệu quả cao
4 Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1 Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa:
Trong chương trình môn Toán của bậc Tiểu học, yếu tố hình học được rảiđều khắp từ lớp 1 đến lớp 5, từ mức độ đơn giản được nâng dần qua từng cấp lớp,
vì vậy giáo viên cần tìm hiểu và nắm chắc nội dung chương trình của cả cấp học
Ứng với chương trình môn Toán, yếu tố hình học, ở sách giáo khoa các khốilớp 1 và lớp 2 chỉ giới thiệu cho các em những khái niệm ban đầu bằng nhữnghình ảnh qua: điểm, đoạn thẳng, số lượng hình vuông, hình tròn, hình tam giác,hình chữ nhật, hình tứ giác,… những đơn vị đo độ dài như: xăng-ti-met, đề-xi-mét, mét, kí-lô-mét, mi-li-mét Giới thiệu sơ nét về chu vi và độ dài đường gấpkhúc
Ở lớp 3, yếu tố về hình học được nâng lên thành bảng đơn vị đo dộ dài, hìnhchữ nhật và hình vuông được giới thiệu thêm về tính chất của hình: Hình chữ nhậtcó 4 góc vuông, 2 cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắn bằng nhau; hình vuông có 4góc vuông và có 4 cạnh bằng nhau Dẫn đến việc giới thiệu cho các em cách tính
Trang 10chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông (chưa có công thức) Đơn vị đo diện
tích chỉ giới thiệu xăng-ti-mét vuông (cm2)
Lớp 4 giới thiệu thêm cho các em các khái niệm về các góc: nhọn, bẹt, tù;
về hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song; bổ sung 3 đơn vị tínhdiện tích: đề-xi-mét vuông, mét vuông, ki-lô-mét vuông Hình thành công thứctính chu vi và diện tích của hình chữ nhật và hình vuông qua các bài tập Giớithiệu thêm hình bình hành, hình thoi và cách tính diện tích của 2 hình này Hìnhthành công thức tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông qua các bài tập
Về yếu tố hình học trong chương trình môn toán ở tiểu học được hoàn thành
ở lớp 5 Bổ sung và hoàn thành bảng đơn vị đo diện tích Giới thiệu thêm cách tíchdiện tích các hình như: hình tam giác, hình thang, hình tròn, diện tích xung quanh
và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật và hình lập phương Một số đơn vị
đo thể tích, tính thể tích hình hộp chữ nhật và hình lập phương
4.2 Kết hợp dạy kiến thức mới và ôn lại các kiến thức đã học:
Sau khi tổ chức khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm, tôi đã soạnthêm một số loại bài về nhiều dạng khác nhau để tìm hiểu học sinh lớp mình cònhạn chế những mặt nào để tìm biện pháp khắc phục một cách hợp lý Đối với yếu
tố hình học tôi quan tâm đến việc: Tìm hiểu kĩ và nắm chắc được khái niệm về chu
vi, diện tích một hình, tìm chu vi hay diện tích; đưa vào bài toán có liên quan đếnyếu tố hình học; tìm thành phần chưa biết khi biết chu vi hay diện tích cùng cácthành phần khác, cách sử dụng các đơn vị đo…
Qua nhiều năm giảng dạy ở lớp 4 cho thấy, học sinh chỉ biết vận dụngnhững điều đã học về yếu tố hình học một cách máy móc Chỉ biết lấy những dữkiện có sẵn rồi đưa vào công thức để tìm ra kết quả Đa số các em đều giải toánhình học và sử dụng đơn vị đo một cách tùy tiện
Đi vào từng phần trong chương trình lớp 4, ngoài những bài dạy ở sách giáokhoa, bản thân tôi còn sưu tầm và soạn bổ sung thêm cho các em một số bài tập về
Trang 11thực hành để làm sáng tỏ vấn đề và giúp các em hiểu rõ hơn, làm nền tảng choviệc nâng cao kiến thức về sau cho các em
4.2.1.Đơn vị đo độ dài, đơn vị đo diện tích:
Về đơn vị đo độ dài, diện tích tôi thấy cần thiết phải tạo điều kiện cho các
em thực hành thực tế và kết hợp cùng lúc với những đơn vị đo tương ứng mà ở địaphương các em thường nghe, thường sử dụng
Khi dạy bài “Bảng đơn vị đo độ dài”, tôi tổ chức cho các em xây dựng mộtbảng đơn vị đo độ dài, đơn vị đo diện tích mà các em đã học kết hợp với các đơnvị đo tương ứng mà địa phương các em thường sử dụng như: quyển vở này dày 3
li, 5 li; thửa ruộng này rộng 5 thước… Còn xa hơn như : từ đây đến đó khoảng 2cây số …
Ngoài ra tôi còn cho các em đo những khoảng cách hay chiều dài hoặc bềdày những đồ vật cụ thể bằng cây thước (1m), bằng cây thước có vạch chia cm rồimm…Từng bước tôi cũng tập cho các em thực hành đo độ cao của một vật, banđầu bằng những độ cao vài mét như : chiều dài cái bàn, lớp học…Hơn nữa tôicùng các em ước đoán những vật có chiều cao nhỏ hơn như về chiều cao ghế ngồi,
độ dài cái bảng lớp … Từ việc thực hành cụ thể như thế các em sẽ ước lượng được
độ dài phù hợp
4.2.2.Góc nhọn, góc tù, góc bẹt
Khi dạy về góc, tôi cho các em ôn kĩ về góc vuông đã học ở lớp 3, rồi nêuđặc điểm về góc để các em dễ nhận biết như: góc nhọn bé hơn góc vuông, góc tùlớn hơn góc vuông, góc bẹt bằng hai góc vuông
Từ đó cho các em nêu ví dụ về hình ảnh các góc trong thực tế như: Góc nhọntạo bởi hai kim đồng hồ, góc nhọn tạo bởi hai cạnh lá cờ đuôi nheo, cái ê ke có haigóc nhọn và một góc vuông…Rồi cùng học sinh thực hành “áp” góc vuông của ê
Trang 12ke vào góc nhọn (như sách giáo khoa) để học sinh quan sát rồi nhận ra: Với hìnhảnh đó, ta biết được góc nhọn bé hơn góc vuông.
Cuối cùng có thể cho học sinh tự vẽ vào vở (giấy nháp) một số góc nhọn rồi
tự đọc tên mỗi góc đó
4.2.3.Hai đường thẳng song song, hai đường thẳng vuông góc
Khi dạy bài này, tôi cho các em nhắc lại đặc điểm của hình chữ nhật Vẽhình chữ nhật ABCD, nhấn mạnh hai cạnh BC và DC là hai cạnh có góc vuôngđỉnh C (dùng ê ke để xác nhận điều đó) Kéo dài cạnh BC và cạnh DC về hai phíarồi tô màu hai cạnh BC và DC đã kéo dài đó Cặp đường thẳng BC và DC cho tahình ảnh hai đường thẳng vuông góc với nhau
Dùng ê ke để vẽ hai đường thẳng vuông góc nào đó (tách ra khỏi hình chữnhật), rồi cho biết hai đường thẳng vuông góc đó tạo thành bốn góc vuông
Tôi cho học sinh nhận biết hình ảnh hai đường thẳng vuông góc với nhau cótrong thực tế Ví dụ: Hai cạnh của góc bảng đen vuông góc với nhau; hai đườngmép cắt nhau của một bìa quyển sách vuông góc với nhau; hai kim đồng hồ chỉ lúc
3 giờ đúng nằm trên hai đường thẳng vuông góc với nhau
* Tương tự với hai đường thẳng song song : Vẽ hình chữ nhật ABCD, lưu
ý góc A vuông, góc D vuông (đánh dấu góc vuông trên hình vẽ ) Kéo dài về haiphía cạnh AB và cạnh DC (tô màu hai đường thẳng AB, DC đã kéo dài).Ta có haiđường thẳng AB và DC song song với nhau (hai đường thẳng song song khôngbao giờ cắt nhau)
Tiếp tục cho các em quan sát trực quan (tách rời hình chữ nhật) hai đườngthẳng song song nào đó, chẳng hạn: Đường thẳng MN và PQ song song với nhau,rồi giới thiệu: Đây là hai đường thẳng song song Sau đó cho các em nhận biếthình ảnh hai đường thẳng song song với nhau có trong thực tế Ví dụ: Hai chấn
Trang 13song cửa sổ song song với nhau; hai cạnh đối diện của bảng lớp học hình chữ nhậtsong song với nhau; hai đường ray tàu hỏa song song với nhau,… Các em tự sángtạo và vẽ vào giấy kẻ ô li (hoặc giấy có kẻ ô vuông) hai đường thẳng song song(dựa vào các đường kẻ song song có trong giấy ô li như là hai cạnhcủa hình chữnhật được kéo dài ra).
4.2.4.Chu vi :
Tuy ở lớp 2 đã giới thiệu cho các em về chu vi của hình tam giác và hình tứgiác nhưng đây chỉ là những hình ảnh ban đầu giới thiệu cho các em bước đầuhiểu về chu vi Sang lớp 3, các em được cung cấp cách tính chu vi hình chữ nhật,
chu vi hình vuông.
Gợi ý cho các em biết khẳng định lại rằng chu vi một hình là tổng số đo độ
dài các cạnh của hình đó (kết hợp vẽ các hình minh họa để khắc sâu cho các em hiểu về chu vi)
Bằng hình ảnh của những miếng vườn cho các em thảo luận nhóm đi đếncách tính chu vi của nó Trước tiên, tôi muốn nói cho các em có sự hình dung vềchu vi cái sân trường, chu vi phòng học để các em dễ hình dung được
Cũng trong thảo luận nhóm, kết hợp với bài dạy biểu thức có chứa chữ, tôi gợi ý nếu gọi:
Tương tự với hình vuông ta được P = a x 4
Từ đây các em có thể rút ra được công thức tính chu vi hình bình hành và hìnhthoi
Chu vi hình bình hành : Giống cách tính giống chu vi hình chữ nhật
Trang 14Chu vi hình thoi : Có cách tính giống chu vi hình vuông
4.2.5.Diện tích :
Khái niệm về diện tích có phần khó hiểu hơn chu vi Muốn cho các em hiểu
và nắm chắc được cũng không khác hơn là tổ chức thực hành cụ thể
Tương tự như với phần nói về chu vi, tôi gợi ý để các em hiểu được diệntích của một hình “Là phần mà bề mặt của hình đó chiếm được” Bằng hình vẽ để
các em kiểm nghiệm diện tích một số hình như sau: (với những ô vuông cm 2 ).
Các em dễ trả lời hình chữ nhật có 24 ô cm2
Với việc ôn lại kiến thức về diện tích như thế này các em sẽ nắm được kiến thức sâu hơn và giúp các em áp dụng làm bài tập cũng như hình thành cách tính diện tích hình bình hành và hình thoi
4.2.6.Cắt ghép hình để xây dựng công thức tính diện tích
Với dạng toán này giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước sau :
Bước 1:Chia cắt hình A đã cho thành các phần rời nhau
Bước 2:Ghép các phần đó (theo một cách khác)để được hình B đã biết công thức
tính diện tích
Bước 3:Từ công thức tính diện tích hình B suy ra công thức tính hình A
Ví dụ: Xây dựng công thức tính diện tích hình bình hành(Toán 4-trang 103)
Trang 15- Giác viên vẽ hình bình hành ABCD
- Vẽ AH vuông góc với CD rồi giới thiệu chiều cao AH và đáy DC
- Yêu cầu học sinh tính diện tích hình bình hành ABCD
Gợi ý:
Bước 1:Cắt phần hình tam giác ADH
Bước 2:Ghép lại được hình chữ nhật ABHC Diện tích hình bình hành ABCD =diện tích hình chữ nhật ABHC
Bước 3: Diện tích hình chữ nhật ABHC là a×h Vậy diện tích hình bình hành
ABCD là a x h
* Giáo án minh họa dạy tiết diện tích hình bình hành( đính kèm ở phần phụ lục trang 26)
* Tương tự ta cũng có cách hình thành diện tích hình thoi
4.2.7.Giúp học sinh kỹ năng vẽ hình :
Vẽ hình là một kĩ năng hình học quan trọng, cần được rèn luyện thườngxuyên theo các mức độ thích hợp, từ thấp đến cao Điều quan trọng là học sinhbiết sử dụng các dụng cụ thường dùng, lựa chọn dụng cụ phù hợp, xác định đượcquy trình vẽ để vẽ được các hình tương ứng đã học
Các bước hướng dẫn:
- Cho học sinh quan sát hình vẽ và các thao tác
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cơ sở của cách vẽ đó
- Yêu cầu học sinh thực hiện lần lượt các thao tác vẽ theo hướng dẫn
Toán 4 gồm 2 phần bài tập vẽ hình:
* Vẽ theo các yếu tố cho trước:
Trang 16Lúc này việc vẽ hình có những yêu cầu gần như việc dựng hình Giáo viêncần hướng dân học sinh vẽ hình theo một quy trình gồm nhiều bước và sử dụngcác công cụ hình học như thước, êke,… để vẽ
Ví dụ 1:
Vẽ hai đường thẳng song song (Bài 1 trang 53 toán 4)
Hãy vẽ đường thẳng AB đi qua điểm M và song song với đường thẳng CD
Hướng dẫn
- Trước hết cho học sinh quan sát hình vẽ thao tác
- Cho học sinh quan sát tìm hiểu cơ sở của cách vẽ hai đường thẳng song song
Chẳng hạn: Quan sát hình ảnh hai đường thẳng AB và CD là hai cạnh đối diện của
hình chữ nhật ABCD kéo dài, Ta thấy hai đường thẳng đó cùng vuông góc vớiđường thẳng CD và được gọi là hai đường thẳng song song với nhau
- Từ cơ sở trên ta có thể vẽ hai đường thẳng song song như sau:
+ Vẽ đường thẳng PQ đi qua điểm M và vuông góc với CD
+ Vẽ đường thẳng AB đi qua điểm M và vuông góc với PQ ta đường thẳng ABsong song với đường thẳng CD Như vậy CD và AB cùng vuông góc với MN vàsong song với nhau
Ví dụ 2 :
- Vẽ hình chữ nhật ABCD có chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm.(Bài 2–trang 54 –Toán 4)