Học sinh Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng đã biết đọc tơng đối đúng, nhiều em đọc to rõ ràng, biết đọc thầm và hiểu đợc nội dung văn bản và một số em biết đọc diễn cảm.. Kĩ năng luy
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tập đọc lớp 4
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Hương Liên ( Nữ)
Ngày tháng/ năm sinh: 17 - 04- 1970
Trình độ đào tạo: Đại học Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ phó chuyên môn: Tổ 4-5
Trường Tiểu học Thái Học
Điện thoại: 01678210907
4 Đồng tác giả: ( Không)
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: ( không)
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Thái Học
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Giáo viên: Có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, yêu nghề, nhiệt tình với công việc
Học sinh: Đối tượng học sinh lớp 4
Phụ huynh học sinh: Quan tâm tới con em mình, trang bị đầy đủ đồ dùng học tập Hỗ trợ về cơ sở vật chất
Nhà trường: Tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo viên mạnh dạn nghiên cứu, thực nghiệm
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Từ tháng 9/2014 đến tháng 3/ 2015.Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên trong thực tế: Năm học 2014 -2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ( KÝ TÊN) XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Hương Liên
Trang 2TểM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sỏng kiến:
Tiếng việt - Tiếng mẹ đẻ cú vai trũ cực kỳ quan trọng đối với đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người Đối với đời sống cộng đồng đú là cụng
cụ để giao tiếp, tư duy Đối với con người, đặc biệt là trẻ em nú càng cú vai trũ quan trọng hơn Do cú tầm quan trọng như thế nờn Tiếng Việt đó trở thành một mụn học được giảng dạy trong trong nhà trường và đặc biệt được quan tõm hơn
ở cấp tiểu học Tiếng Việt cú tớnh chất hai mặt, nú vừa là đối tượng học tập của học sinh vừa là phương tiện để học sinh học tập cỏc mụn khỏc, để học sinh giao tiếp, tư duy Trong cỏc mụn học thỡ mụn Tiếng Việt cú nhiệm vụ hỡnh thành năng lực hoạt động ngụn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngụn ngữ được thể hiện qua bốn kỹ năng: “ Nghe - Núi - Đọc - Viết ” Trong đú đọc là một kỹ năng chuyển dạng chữ viết sang lời núi cú õm thanh và thụng hiểu nú Biết đọc, con người đó nhõn khả năng tiếp nhận lờn nhiều lần Khụng biết đọc, con người sẽ khụng cú điều kiện hưởng thụ sự giỏo dục mà xó hội dành cho họ, khụng thể hỡnh thành một nhõn cỏch toàn diện Vậy đọc thỡ phải đọc như thế nào? Đọc ra sao? Đú mới là điều quan trọng Tìm hiểu thực tiễn dạy học môn Tập đọc lớp 4 có thể thấy có khá nhiều thành công Học sinh Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng đã biết đọc tơng đối đúng, nhiều em đọc to rõ ràng, biết đọc thầm và hiểu đợc nội dung văn bản và một số em biết đọc diễn cảm Tuy nhiên, việc dạy học tập đọc lớp 4 vẫn còn một số hạn chế: Chất lượng dạy Tập đọc chưa cao Học sinh còn đọc lẫn các âm đầu nh r/ d/ gi; ch/ tr đặc biệt
là âm l/ n Ngắt, nghỉ hơi cha đúng Khả năng tìm hiểu đề bài, đọc diễn cảm của các em còn yếu Kĩ năng luyện đọc của học sinh còn hạn chế các em thờng hay "sợ" phải đọc trớc lớp khi phải đứng lên trình bày bài đọc của mình, các em rất e ngại, rụt rè, có em đọc quá nhanh, có em đọc một cách rời rạc, không thể hiện đợc cảm xúc trong bài đọc của mình
Trang 3Để khắc phục những hạn chế trờn tụi đưa ra một số “Biện phỏp nâng cao
chất lợng dạy Tập đọc lớp 4” với mong muốn gúp một phần cụng sức vào việc nõng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng ỏp dụng sỏng kiến:
- Điều kiện: Đủ thiết bị dạy học Đảm bảo nhu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đối với từng bài trên lớp
- Thời gian: Từ thỏng 9/ 2014 đến thỏng 3 / 2015
- Đối tượng: Học sinh lớp 4 Trường Tiểu học
3 Nội dung sỏng kiến: Trong nội dung của sỏng kiến, tụi đó chỉ ra được
thực trạng cũn tồn tại, trờn cơ sở đú tụi đó xõy dựng và đề xuất 4 biện phỏp sau: Biện phỏp 1: Nâng cao chất lợng đọc mẫu của GV
Biện pháp 2: Rèn kĩ năng đọc đúng
Biện pháp 3: Hớng dẫn tìm hiểu bài, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
Biện pháp 4: Nõng cao chất lượng dạy tập đọc thụng qua rốn đọc diễn cảm
* Tớnh mới tớnh sỏng tạo của sỏng kiến: Cỏc biện phỏp tụi đưa ra đảm
bảo tớnh mới, tớnh sỏng tạo vỡ chưa cú đề tài nào nghiờn cứu về lĩnh vực này Sỏng kiến của tụi giỳp học sinh và giỏo tự tin hơn trong viện dạy và học mụn Tập đọc
* Khả năng ỏp dụng của sỏng kiến: Cú khả năng ỏp dụng và thực hiện
trong cỏc tiết dạy Tập đọc lớp 4 ở cỏc trường tiểu học
* Lợi ớch của sỏng kiến: Học sinh được hoạt động nhiều, cỏc em rất
thớch thỳ học mụn Tập đọc, nắm được kiến thức cơ bản và vận dụng thực hành tương đối tốt Thực tế cho thấy khụng cũn học sinh học thụ động, nắm bài hời hợt Đọc bài mạnh dạn khụng lỳng tỳng, sợ sệt Phần lớn cỏc em đều tự tin tham gia vào cỏc hoạt động học tập Giỏo viờn hăng say giảng dạy, vận dụng linh hoạt cỏc phương phỏp, hỡnh thức tổ chức dạy học, giải quyết tỡnh huống sư phạm khỏ linh hoạt và phự hợp với từng đối tượng
Trang 44 Khẳng định giỏ trị, kết quả thiết thực của sỏng kiến: Áp dụng sỏng
kiến“ Biện phỏp nõng cao chất lượng mụn Tập đọc lớp 4” đó mang lại kết quả đỏng kể: Học sinh: Suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn Đựơc tự đánh giá và góp phần đánh giá bạn bè nhiều hơn Học sinh tự tin
và phấn khởi hơn trong học tập Đọc trụi chảy, mạch lạc, mạnh dạn hơn khi đọc bài Các em đến trờng mang theo cả những vốn sống, vốn hiểu biết đợc hình thành trong cuộc sống Giỏo viờn chủ động sỏng tạo trong giảng dạy
5 Đề xuất, kiến nghị:
+ Đối với nhà trờng.
- Chỉ đạo sát sao trong việc dạy và học môn Tiếng Việt ( Tập đọc) ngay
từ đầu năm học
- Tăng cờng trang bị đầy đủ các thiết bị dạy - học cũng nh các điều kiện cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc dạy- học một cách thờng xuyên
- Tổ chức hội thi " Đọc hay" đối với giáo viên và học sinh
+ Đối với cấp trên
- Hàng năm mở chuyên đề môn Tập đọc để thống nhất phơng pháp dạy học cũng nh tháo gỡ khó khăn
- Cung cấp đầy đủ các tài liệu tham khảo, sách hớng dẫn hoặc bài soạn cho giáo viên
- Ngành quan tâm hơn nữa tới việc bồi dỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy
- Chỉ đạo và tổ chức hội thi " Đọc hay" đối với giáo viên và học sinh
Trang 5MÔ TẢ SÁNG KIÊN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
1.1 Lý do chọn đề tài.
Đất nước ta đang bước vào thế kỉ mới, thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ, con
người trung tâm của sự phát triển Thực hiện“ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
và đang trên đà hội nhập thế giới đòi hỏi những chủ nhân tương lai không chỉ
có đạo đức tốt và nhiệt tình và còn giỏi về chuyên môn Vì vậy, khi bàn đến tương lai không thể không bàn đến giáo dục Không phải ngẫu nhiên mà Đảng
và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là cốt tử của sự phát triển đất nước, bởi lẽ sự gắn bó của giáo dục với kinh tế xã hội, đặc biệt với cuộc sống lao động và là sự gắn bó máu thịt, sống còn
Ngay từ buổi đầu cách mạng, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đặc biệt trú trọng đến công việc của con người, coi đó là cơ sở là nền tảng để xây dựng và phát triển đất nước Nghị quyết TW 2 ( khoá VIII ) lại một lần nữa khẳng định:
" Muốn tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá thắng lợi cần phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững".
Bậc Tiểu học được xác định là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Đây là bậc học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban
đầu rất quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ " Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có những hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên xã hội và con người
có kĩ năng về nghe, nãi, đọc, viết, tính toán" ( Điều 24 Luật giáo dục)
Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trương ương Đảng lần thứ 4 ( khoá
VII ) năm 1993 về " Tiếp tục đổi mới sự nghịêp giáo dục" đã chỉ rõ:
Nước ta đã chuyển sang nền kinh tế mở cửa có sự quản lí của nhà nước Người lao động phải có năng lực thích ghi với những biến động của thị trường,
Trang 6vỡ vậy họ phải cú năng lực thật sự năng lực tư duy sỏng tạo và năng lực giải quyết vấn đề Như vậy, sự phỏt triển kinh tế - xó hội của đất nước đũi hỏi ngành giỏo dục phải thay đổi mục tiờu, xem xột lại nội dung và phương phỏp dạy học Nõng cao chất lượng dạy học, trong đú cú dạy học ở bậc Tiểu học.
Mụn Tiếng Việt khụng nằm ngoài quy luật này, cần cú sự đổi mới về nội dung và phương phỏp dạy học để đỏp ứng được những yờu cầu của thời đại Để đào tạo ra những con người lao động cú năng lực thớch ghi với những biến động của thị trường, nhà trường Tiểu học phải tăng cường tớnh chủ động nhận thức của người học theo nhận thức, theo thuật ngữ thường dựng là "Lấy học sinh làm trung tõm" Một trong những phõn mụn quan trọng trong mụn Tiếng Việt là phõn mụn Tập đọc
Tìm hiểu thực tiễn dạy học môn Tập đọc lớp 4 có thể thấy có khá nhiều thành công Học sinh Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng đã biết đọc tơng đối
đúng, nhiều em đọc to rõ ràng, biết đọc thầm và hiểu đợc nội dung văn bản và một số em biết đọc diễn cảm Tuy nhiên, việc dạy học tập đọc lớp 4 vẫn còn một số hạn chế:
- Chất lượng dạy Tập đọc chưa cao
- Học sinh còn đọc lẫn các âm đầu nh r/ d/ gi; ch/ tr đặc biệt là âm l/ n
- Đọc sai ở các tiếng có vần khó ví dụ: ngoắt ngoéo, khuỷu tay, con hoẵng,
- Ngắt, nghỉ hơi cha đúng
- Khả năng tìm hiểu đề bài, đọc diễn cảm của các em còn yếu Ở lớp 4 đa
số các bài tập đọc đều có tranh và câu hỏi gợi ý nhng học sinh khai thác cha hết, cha sâu các nội dung yờu cầu
- Kĩ năng luyện đọc của học sinh còn hạn chế các em thờng hay "sợ" phải
đọc trớc lớp khi phải đứng lên trình bày bài đọc của mình, các em rất e ngại, rụt
rè, có em đọc quá nhanh, có em đọc một cách rời rạc, không thể hiện đợc cảm xúc trong bài đọc của mình
Trang 7Vỡ những lớ do trờn đõy, tụi chọn sỏng kiến: "Biện phỏp nâng cao chất ợng dạy Tập đọc lớp 4” với mong muốn gúp một phần cụng sức vào việc nõng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
l-1.2 Mục đích nghiên cứu.
Sáng kiến này nhằm nâng cao và bồi dỡng cho học sinh có kỹ năng, kỹ xảo về phần đọc, viết, từ đó hiểu đúng nội dung, trọng tâm của vấn đề muốn gì trong việc giao tiếp với mọi ngời xung quanh, biết chọn những cái hay, cái đẹp trong thực tế để làm vốn riêng cho bản thân Đây là cơ sở tốt nhất để ngời giáo viên đem hết năng lực, trí tuệ của mình để giáo dục lòng yêu quý môn Tiếng Việt Đó là những thứ ngôn ngữ của dân tộc ta mà ông cha ta đã tìm tòi sáng tạo
từ qua bao đời nay Tôi đã tiến hành nghiên cứu, tập hợp những cơ sở lý luận,
đánh giá thực tiễn dạy môn Tập đọc ở lớp 4 của bản thân Qua khảo sát, dự giờ các đồng nghiệp, tìm hiểu dạy Tập đọc ở Trờng Tiểu học nhằm tìm ra một số biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lợng dạy Tập dọc và đa ra một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả dạy Tập đọc ở lớp 4
1.3 Đối tợng nghiên cứu:
- Lớp 4A: ( 29 em) Là lớp dạy thực nghiệm
- Lớp 4B: ( 28 em) Là lớp đối chứng
1.4 Phơng pháp nghiên cứu:
Trớc hết tôi phải nghiên cứu chơng trình sách giáo khoa hớng dẫn giảng dạy, vở bài tập Tiếng việt để hiểu rõ ý định và nội dung của sách, thờng xuyên tham gia dự giờ các lớp bồi dỡng chuyên môn do Trờng, Phòng Giáo dục tổ chức Trao đổi với giáo viên cùng khối để tìm hiểu vấn đề đợc mở rộng hơn,
đồng thời tôi sử dụng một số phơng pháp sau:
- Phơng pháp quan sát s phạm
- Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phơng pháp điều tra
Trang 83 Kết kuận và kiến nghị
4 Phần phụ lục
2 Cơ sở lớ luận của vấn đề:
Đọc được xem là một hoạt động cú hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng một bộ mó gồm hai phương diện Một mặt đú là vận động của mắt, sử dụng bộ mó chữ - õm để phỏt ra một cỏch trung thành những dũng văn
tự ghi lại lời núi õm thanh Thứ hai, đú là sự vận động của tư tưởng, tỡnh cảm,
sử dụng bộ mó chữ - nghĩa, tức là mối quan hệ giữa cỏc con chữ và ý tưởng, cỏc khỏi niệm chứa đụng bờn trong để nhớ và hiểu cho được cỏc nội dung những gỡ đó đọc Đọc đỳng, đọc diễn cảm là yờu cầu, mục đớch mà dạy học hướng tới, đú chớnh là nội dung của việc luyện đọc thành tiếng Đọc đỳng trước
hết phải đọc đỳng chớnh õm, trọng õm và ngữ điệu
* Dạy tốt mụn Tập đọc nhằm:
2.1 Phát triển các kĩ năng đọc và nghe cho học sinh cụ thể là:
2.1.1 Đọc thành tiếng: - Phát âm đúng, ngắt nghỉ hơi hợp lí
- Cờng độ đọc vừa phải ( không đọc quá to hay đọc lí nhí)
Tốc độ đọc vừa phải ( không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng) Đạt yêu cầu
tối thiểu 75 tiếng / 1 phút
- Biết cách đọc loại văn bản hành chính, khoa học baods chí, văn học phù hợp với thể loại và nội dung văn bản, thể hiện đợc tình cảm thái độ của tác giả, giọng điệu của nhân vật
2.1.2 Đọc thầm và hiểu nội dung:
Trang 9- Biết đọc thầm, không mấp máy môi.
- Hiểu đợc nghĩa các từ ngữ trong văn cảnh ( bài đọc ); nắm đợc nội dung các câu, đoạn và ý nghĩa của bài
- Có khả năng trả lời ( nói hoặc viết ) đúng các câu hỏi nội dung liên quan đến nội dung từng đoạn, phát biểu ý kiến của bản thân về một nhân vật hoặc một vấn đề trong bài đọc
2.13 Nghe: - Nghe và nắm đợc cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô
- Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn
2.2 Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển t duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống, cụ thể :
- Làm giàu và tích cực hoá vốn từ, vốn diễn đạt
- Bồi dỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân ( nh điền vào các tờ khai đơn giản, làm đơn, viết thơ, phát biểu trong cuộc họp, tổ chức và điều hành cuộc họp, giới thiệu hoạt động của trờng, lớp) - Phát triển một số thao tác t duy cơ bản ( phân tích, tổng hợp, phán đoán,)
2.3 Bồi dỡng t tởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống; hứng thú
đọc sách và yêu thích Tiếng Việt
- Bồi dỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với
ông bà cha mẹ, thầy cô; yêu trờng lớp; đoàn kết, giúp đỡ bạn bè; vị tha, nhân hậu
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sỏch giỏo khoa, hình thành ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ
đẹp của Tiếng Việt và tình yêu Tiếng Việt
3 Thực trạng của vấn đề:
3.1 Về phớa giỏo viờn:
Trang 10Phần lớn giáo viên rất tích cực chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy, khai thác nội dung và lựa chọn biện pháp dạy học phù hợp với trình độ học sinh Họ làm chủ kiến thức truyền thụ đúng và đủ cho học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và từng đối tượng học sinh TÝch cực mượn và sử dụng đồ dùng dạy học, tự làm một số đồ dùng dạy học phục vụ cho giảng dạy Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, soạn và dạy bằng giáo án điện tử Tiêu biểu là các đồng chí giáo viên trẻ có trình độ trên chuẩn Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên do trình độ còn hạn chế, có tuổi còn ngại nghiên cứu nên hạn chế trong việc lựa chọn biện pháp dạy học mà chủ yếu phụ thuộc vào sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Do ảnh hưởng của tiếng địa phương nhiều giáo viên phát âm còn chưa chuẩn hay lẫn phụ âm l/n.
Khi dạy Tập đọc giáo viên còn gặp nhiều khó khăn Giáo viên chưa biết phối hợp các môn học khác trong việc dạy Tập đọc nên đọc còn sai chính tả nhiều, dùng từ không chính xác, đặt câu sai ngữ pháp, ý văn rời rạc thiếu chặt chẽ Đa số giáo viên chưa quan tâm rèn kỹ năng đọc, nói cho học sinh Học sinh thường đọc lại bài văn của mình vì thế kỹ năng đọc, nói của học sinh ít được rèn luyện Giáo viên còn ít quan tâm đến chỉnh sửa lỗi thường xuyên cho học sinh và bồi dưỡng nâng cao kiến thức với những em học sinh khá, giỏi
Mặt khác, ở một số giáo viên chưa đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các hình thức tổ chức giờ lên lớp, các phương pháp dạy học khơi dậy tính tò mò, hào hứng học tập, đồng thời chưa phát huy được vốn sống của trẻ vào quá trình xây dựng kiến thức bài học, tạo ra tiết dạy phong phú, nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả đó cũng chính là một trong những nội dung quan trọng để đánh giá tiết dạy của giáo viên
3.2 Về phía học sinh.
Các em chủ yếu con nông thôn kinh tế gia đình bình thường, ổn định Bố
mẹ chủ yếu làm nông nghiệp Khi học tập các em còn một số khó khăn Do bị ảnh hưởng môi trường giao tiếp xung quanh nên nhiều em phát âm còn lẫn các phụ âm: gi / d / r; l / n
Trang 11Kĩ năng đọc các em hạn chế, nhiều em đọc còn nhỏ Một số em đọc còn chưa đúng tiếng, từ có khi đọc còn thừa tiếng hoặc thiếu tiếng Trong quá trình đọc ngắt, nghỉ hơi chưa đúng Đọc chưa mạch lạc, đọc diễn cảm còn hạn chế.
Hiểu nghĩa của từ và nội dung bài dạy chưa sâu, chưa chính xác
Nguyên nhân dẫn đến các em sai các lỗi trên vì: Các em chưa nắm chắc
và phân biệt được các phụ âm đầu Chưa nắm được cấu tạo của vần đặc biệt là các vần khó Khả năng luyện đọc câu và đoạn còn hạn chế Tỉ lệ học sinh phát
âm lệch chuẩn l/ n cao do các nguyên nhân: Do ảnh hưởng của môi trường giao tiếp, ý thức rèn luyện, cấu tạo bộ máy phát âm Để khắc phục thực trạng trên tôi xin đề xuất một số biện pháp dạy Tập đọc lớp 4
4 Biện pháp thực hiện
4.1 Biện pháp thứ nhất: Nâng cao chất lượng dạy Tập đọc qua việc
đọc mẫu của giáo viên:
Trang 12Đối với học sinh lớp 4 việc đọc mẫu của giáo viên là không thể thiếu được Việc đọc mẫu của giáo viên đòi hỏi phải chuẩn mực, chính xác Phát âm phải chuẩn đặc biệt là các tiếng có phụ âm đầu dễ lẫn: n/l Giáo viên không hạn chế việc đọc mẫu một hay hai, ba lần mà phải tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh của lớp thực tế giảng dạy.
Việc đọc mẫu có thể do học sinh đảm nhận vì ở lớp 4, kĩ năng đọc của học sinh đã được nâng cao, nhiều học sinh có thể đạt tới trình độ chuẩn trong những trường hợp nhất định, do vậy, tùy từng trường hợp cụ thể giáo viên có thể chỉ định một số HS khá, giỏi đọc mẫu trước lớp
Giáo viên có thể đọc mẫu trong những trường hợp sau:
- Đọc mẫu toàn bài: Thường nhằm minh họa cách đọc hoàn chỉnh về một văn bản Chỉ nên đọc mẫu toàn bài sau khi học sinh luyện đọc, tạo hứng thú để học sinh tìm hiểu bài và luyện đọc diễn cảm
- Đọc mẫu câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc "tạo tình huống" để học sinh nhận xét, tự tìm ra cách đọc của câu, đoạn đó Hướng dẫn cách đọc diễn cảm
- Đọc mẫu tõ, cụm từ: Nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng từ, cụm từ đó
Việc đọc mẫu của giáo viên là những định hướng quan trọng để giúp cho học sinh rèn đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm Bài đọc của thầy cô sẽ có tác động trực tiếp và tích cực tới cách đọc của các em, không những giúp các em đọc đúng mà còn truyền cho các em những rung động, xúc cảm tốt đẹp để giúp các em đọc hay
Để đọc mẫu chính xác, truyền cảm, giáo viên cần phải làm tốt những việc sau đây:
- Trước hết cần nghiên cứu kỹ bài đọc trước khi lên lớp, đọc trước bài nhiều lần cho trôi chảy, lưu loát Nắm rõ những chỗ "khó" để giúp học sinh luyện đọc như từ khó phát âm, câu văn dài phát âm chuẩn phụ âm l/n
- Lựa chọn giọng đọc phù hợp với từng nội dung bài:
Trang 13Ví dụ:
+ Bài: " Trung thu độc lập " - Tiếng Việt 4 - tập I/ trang 66 - Đọc với
giọng nhẹ nhàng, xúc động
+ Bài " Nếu chúng mình có phép lạ " - Tiếng Việt 4 - Tập I/ trang 76
- Đọc với giọng vui tươi, hào hứng, tự nhiên, thể hiện sự ngây thơ, ngộ nghĩnh
và đáng yêu của các bạn nhỏ
+ Bài: "Cánh diều tuổi thơ" - Tiếng Việt 4 - Tập I/ trang 146 - Đọc với
giọng vui vẻ, thiết tha, nhấn mạnh những từ ngữ tả cánh diều và khát vọng tuổi thơ
- Đối với những bài đọc phân vai, cần chú ý phân biệt lời tác giả và lời nhân vật để có giọng đọc khác nhau
4.2 Biện pháp thứ hai: Nâng cao chất lượng dạy Tập đọc thông qua
việc rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh:
Đọc đúng là hình thức tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không mắc lỗi Đọc đúng là không đọc thừa tiếng, thiếu tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn tức là đúng ngữ âm Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm, thanh (đúng các âm vị), ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu)
Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chuẩn xác các âm vị Tiếng Việt Việc làm này cần phải thực hiện lâu dài, bền bỉ trong suốt quá trình học tập của học sinh
4.2.1 Luyện đọc đúng phụ âm đầu:
Qua khảo sát tôi nhận thấy học sinh phát âm sai nhiều, phổ biến là phát
âm sai phụ âm đầu 1 và n ; tr và ch; r, d và gi
Để khắc phục tình trạng trên, tôi đã tiến hành một số bước như sau:
- Điều tra phân loại lỗi ngay từ đầu năm học đối với từng em, từng nhóm
để có kế hoạch bồi dưỡng, uốn nắn kịp thời
Trang 14- Khi hướng dẫn phỏt õm, tụi phõn tớch cho cỏc em thấy sự khỏc biệt giữa cỏch phỏt õm l và n; tr và ch; d, r và gi Giỏo viờn cú thể làm mẫu để cỏc em thấy hệ thống mụi, răng, lưỡi khi phỏt õm Cụ thể là:
+ Phát âm l và n:
Cách phát âm l: Đầu lỡi - hàm Đặt đầu lỡi lên hàm sau đó bật hơi.Cách phát âm n: Mặt lỡi - hàm Đa đầu lỡi lên mặt hàm bật nhẹ Đầu l-
ỡi thẳng, luồng hơi đi ra nhẹ
- Luyện phỏt õm từng õm nhiều lỳc, nhiều lần, nhiều ngày Luyện phỏt
õm cỏc tiếng, cỏc từ cú phụ õm đầu l/ n kết hợp với tỡm hiểu nghĩa của từ
+ Phỏt õm tr và ch:
Cỏch phỏt õm tr: Gốc lưỡi - hàm Đặt gốc lưỡi lờn hàm bật hơi
Cỏch phỏt õm ch: Đầu lưỡi - hàm Đưa đầu lưỡi lờn hàm bật hơi nhẹ.+ Phỏt õm d, r và gi:
Cỏch phỏt õm d: Gốc lưỡi - hàm Đưa gốc lưỡi lờn hàm bật nhẹ
Cỏch phỏt õm r: Đầu lưỡi - hàm Đưa đầu lưỡi chạm hàm bật nhẹ.Cỏch phỏt õm gi: Đầu lưỡi - răng Đưa đầu lưỡi chạm răng bật hơi
- Khi học sinh phỏt õm sai, giỏo viờn cần kịp thời uốn nắn, sửa lỗi cho cỏc em
Đối với tỡnh trạng nờu trờn, tụi tiến hành phõn tớch cấu tạo vần đề giỳp cỏc em phỏt õm đỳng
Trang 154.2.3 Luyện đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi:
Đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ, nghỉ hơi đúng chỗ cần căn cứ vào quan hệ ngữ pháp của các tiếng, từ trong câu
Để giúp các em luyện đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, tôi hướng dẫn cụ thể như sau:
- Không đọc tách một từ thành hai phần rời rạc:
Ví dụ: Đêm nay anh đứng gác ở trại
"Đêm nay", "anh đứng gác " là một từ Vì vậy không đọc là Đêm / nay anh đứng gác ở trại
Hoặc:
Đêm nay anh /đứng gác ở trại
- Đọc liền các kết hợp cụm từ có quan hệ ngữ nghĩa với nhau
Ví dụ: Bình minh của hoa phượng /là màu đỏ còn non, /nếu có mưa, / lại càng tươi dịu
( Hoa học trò - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 43)
Các cụm từ : "Bình minh của hoa phượng ", "là màu đỏ còn non", là những kết hợp có quan hệ ngữ nghĩa nên khi đọc không thể tách rời
- Hướng dẫn học sinh phân biệt câu thơ và dòng thơ Có những bài thơ phải đọc vắt hai dòng thơ vào thành một câu thơ
Ví dụ: Tre xanh
Trang 16Xanh tự bao giờ
Năm qua đi, tháng qua đi Tre già măng mọc
( Tre Việt Nam - Tiếng Việt 4- Tập I/trang 41)
- Hướng dẫn học sinh đọc ngắt đúng nhịp thơ để thể hiện đúng ý đồ nghệ thuật của tác giả, thể hiện đúng nhịp điệu bài thơ
Ví dụ: NÕu chóng m×nh cã phÐp l¹/
Hãa tr¸i bom /thµnh tr¸i ngon/
Trong ruột không còn thuốc nổ/
Chỉ toàn kẹo/ với bi tròn.//
(Nếu chúng mình có phép lạ - Tiếng Việt 4- Tập I/trang 35)
- Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: ngắt hơi ở dấu phẩy, nghỉ hơi ở dấu chấm, nghỉ hơi lâu hơn khi gặp dấu chấm xuống dòng, ngắt hơi khi đọc bộ phận giải thích trong câu
Luyện đọc đúng cho học sinh lớp 4 là một yêu cầu quan trọng đầu tiên của việc rèn đọc Vì vậy, rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 4 cần phải được giáo viên quan tâm đúng mức, dành thời gian cho học sinh luyện đọc thông qua nhiều hình thức luyện đọc phong phú
+ Đọc cá nhân trước lớp (riêng lẻ hoặc nối tiếp)
+ Đọc trong nhóm, tổ, cặp đôi
+ Đọc đồng thanh
+ Đọc phân vai ( phối hợp nhiều học sinh luyện đọc)
4.3 Biện pháp thứ ba: Nâng cao chất lượng dạy Tập đọc thông qua
việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh:
Tìm hiểu bài là bước hướng dẫn học sinh thông hiểu nội dung văn bản, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Đây là một yêu cầu cần thiết trong giảng dạy phân môn Tập đọc Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ
Trang 17cảm nhận được nhiều cái hay, cái đẹp của văn thơ được phong phú thêm về tâm hồn, nói- viết Tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động Đồng thời, thấy được cái hay, cái đẹp của nội dung và nghệ thuật bài đọc, các em sẽ có khả năng đọc diễn cảm tốt hơn, yêu thích và hứng thú đọc hơn.
Mỗi bài tập đọc là một bức tranh thu nhỏ về con người, cuộc sống và thời đại Ngoài nhiệm vụ rèn đọc, phân môn Tập đọc còn cung cấp cho học sinh kiến thức nhiều mặt, đa dạng thông qua nội dung bài đọc Tuy giờ Tập đọc không phải là một giờ giảng từ, giảng văn song bước hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài cũng không nên xem nhẹ
Để học sinh hiểu nội dung bài thì việc hiểu nghĩa của các từ ngữ khó là rất quan trọng Ngoài việc giải nghĩa theo sách giáo khoa, giáo viên cần dựa vào tâm lí của học sinh tiểu học giải nghĩa từ khó bằng hình minh hoạ và vật thật
Ví dụ: ( Hoa học trò - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 43)
Giải thích từ : Phượng ( học sinh quan sát vật thật) là một cành hoa phượng
Bài Trống đồng Đông Sơn - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 17)
Giải thích từ Trống đồng, hoa văn (Giáo viên cho học sinh quan s¸t c¸c bøc tranh, ¶nh minh häa)
Qua nghiên cứu hệ thống câu hỏi các bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tôi nhận thấy đa số các câu hỏi đều là dạng câu hỏi làm tái hiện lại các chi tiết của bài đọc
Ví dụ:
Bài Trống đồng Đông Sơn - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 17)
1 Trống đồng Đông Sơn đa dạng như thế nào?
2 Những hoạt động nào của con người được mieu tả trên trống đồng?
3 Vì sao có thể nói hình ảnh con người chiếm vị trí nổi bật trên hoa văn trống đồng?
Trang 18- Phần lớn các bài tập đọc chưa có câu hỏi yêu cầu học sinh khái quát để làm rõ nội dung chính của bài Chỉ có một số ít bài đưa ra câu hỏi nhằm khái quát hoá nội dung toàn bài như: Em hãy đặt tên khác cho bài thơ (hoặc câu chuyện ) trên.
- Đa số các câu hỏi đều chú trọng tìm hiểu nội dung bài, chưa chú ý đến việc tìm hiểu nghệ thuật của bài (Bài tập đọc có 3 - 4 câu hỏi đều là câu hỏi tìm hiểu nội dung) Trong khi đó, ở phân môn Luyện từ và câu, các em đã được học
về phép so sánh, nhân hoá, bước đầu hiểu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật này Mặt khác, hình thức nghệ thuật của văn bản đều là dụng ý của tác giả nhằm biểu đạt nội dung hoặc tình cảm, xúc cảm nhất định Vì vậy, nên gọi là bước "Tìm hiểu bài" chứ không nên gọi là bước "tìm hiểu nội dung bài"
Ở lớp 4 một số bài tập đọc trong sách giáo khoa, hệ thống câu hỏi còn ít, chưa thể làm rõ được nội dung bài và giúp học sinh hiểu cái hay, cái đẹp của văn bản
Ví dụ:
Bài:" Sầu riêng ( Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 35)
1 Sầu riêng là đặc sản của vùng nào?
2 Hãy nêu những nét đặc sắc của hoa, quả và dáng cây sầu riêng ?
3 Tìm những câu văn thể hiện tình cảm của tác giả đối với cây sầu riêng ?
- Hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài cần phải được xây dựng nâng bậc từ dễ đến khó và cuối cùng khái quát chốt lại nội dung chính của bài Ngoài các câu hỏi nhằm tái hiện các chi tiết trong bài cần có những câu hỏi nhằm liên hệ thực
tế, giáo dục đạo đức cho học sinh
Ví dụ: Bổ sung câu hỏi cho bài
"Trống đồng Đông Sơn ” - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 17)
Vì sao trống đồng là niềm tự hào của người dân Việt Nam? Em cần làm gì
để thể hiện niềm tự hào đó?
Bổ sung câu hỏi cho bài : "Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa"
Trang 19- Các em học tập được gì ử anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa?
Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài đạt kết quả tốt, tôi đã chú ý làm tốt những công việc sau:
- Căn cứ vào đối tượng học sinh của lớp để xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp Có thể chẻ nhỏ những câu hỏi khó hoặc bổ sung thêm những câu hỏi như:
+ Câu hỏi nhằm khái quát nội dung chính của bài (sử dụng ở cuối bước tìm hiểu bài)
+ Câu hỏi khai thác hình thức nghệ thuật của bài (ở mức độ đơn giản, nhẹ nhàng) như: biện pháp so sánh, nhân hoá, tìm từ hay, hình ảnh đẹp + Câu hỏi nhằm liên hệ thực tế, giáo dục đạo đức, tình cảm cho học sinh
- Câu hỏi cần ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của học sinh lớp 4, không vượt quá yêu cầu bài học song vẫn đảm bảo phát triển năng lực tư duy cho học sinh
- Bằng nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia một cách tích cực vào hoạt động học tập Tránh sử dụng một hình thức tổ chức đơn điệu: giáo viên hỏi - học sinh trả lời Giáo viên cần rèn cho các em cách tự đặt ra những câu hỏi trong quá trình học
Để tạo sự hứng thú trong học tập và thay đổi hình thức luyện tập tôi đã chuyển câu hỏi thành bài tập trắc nghiệm học sinh tiếp thu bài rất tốt
Học sinh hỏi - Học sinh trả lời (theo cặp đôi, theo nhóm, tổ )
Học sinh hỏi - giáo viên hướng dẫn cách trả lời
- Khi hướng dẫn tìm hiểu bài, giáo viên có thể cho học sinh tự trao đổi ý kiến, thực hiện nhiệm vụ (bài tập) do giáo viên giao, sau đó báo cáo kết quả để nhận xét Giáo viên cần lưu ý rèn cho học sinh cách trả lời câu hỏi, diễn đạt bằng câu văn gọn rõ Sau khi học sinh nêu ý kiến, giáo viên cần sơ kết, nhấn mạnh ý chính và tự ghi bảng
Như vậy, giáo viên không ph¶i đóng vai trò là người truyền thụ kiến thức
mà trở thành người tổ chức, điều hành để học sinh chủ động, sáng tạo chiếm
Trang 20lĩnh tri thức Giáo viên giảng ít mà tạo điều kiện cho học sinh làm việc nhiều,
tự trao đổi ý kiến hoặc tự đặt câu hỏi trong quá trình học
Hướng dẫn tìm hiểu bài có hiệu quả, giáo viên sẽ giúp học sinh thể hiện tốt việc đọc hiểu Trong phân môn Tập đọc, kỹ năng đọc không thể tách rời với
kỹ năng đọc hiểu Có hiểu thì mới đọc đúng, đọc hay Phân môn Tập đọc luôn thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình đọc với đọc hiểu
4.4 Biện pháp thứ tư: Nâng cao chất lượng giờ dạy Tập đọc thông
qua việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh:
Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở mức độ cao và chỉ được thực hiện trên cơ sở đọc đúng và đọc hiểu Đọc diễn cảm là hình thức đọc nghệ thuật Người đọc không chỉ mang lại nội dung thông tin mà còn truyền đến cho người nghe những cảm xúc của tác giả, làm cho người nghe có những rung động sâu sắc về cái hay, cái đẹp của văn bản
Ở lớp 1, 2, 3, luyện đọc đúng là yêu cầu quan trọng hàng đầu nhưng lên lớp 4, yêu cầu đọc được nâng cao dần, rèn đọc diễn cảm cũng là một yêu cầu cần thiết trong tiết dạy Học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng, đọc diễn cảm chỉ yêu cầu ở một số kỹ thuật sau:
* Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng lôgic Ngắt giọng lôgic là chỗ dừng để tách các nhóm từ trong câu Ngắt giọng lôgic hoàn toàn phụ thuộc vào ý nghĩa và quan hệ các từ
Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe, ngắt giọng biểu cảm là những chỗ lắng đọng, sự im lặng có tác dụng truyền cảm “gây bão tố”, góp phần tạo nên hiệu quả cao Đó là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật
Ví dụ: câu cuối của bài thơ sang năm con lên bảy
Cha lại gặp mình / trong những ước mơ con
Nếu tạo một chỗ ngừng ( ngắt giọng ) sau “ Cha gặp lại mình” thì sẽ có hiệu quả nghệ thuật cao hơn so với ngắt giọng bình thường vì ngắt giọng như vậy sẽ tăng âm lượng của bài thơ cho năm tiếng cuối “trong những ước mơ