Với mong muốn nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục cho trẻ mầm non đặc biệt là rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ ngày một tốt hơn để hình thành ý thức tự giác, thói quen vệ sinh văn minh cho
Trang 1Phần 1: MỞ ĐẦU THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng trường Mầm non Đồng Lạc.Điện thoại: 01649284192
4 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Trường mầm non Đồng Lạc - thị xã Chí Linh - tỉnh Hải Dương
5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Cơ sở vật chất như: nhà trường có đủ các phòng học, công trình vệ sinh riêng cho từng nhóm lớp, các trang thiết bị đồ dùng vệ sinh,…
Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên, yêu nghề, mến trẻ
6 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
Trang 2TÓM TẮT SÁNG KIẾN
“ Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh
cho trẻ trong trường Mầm non”
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Hiện nay, môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm rất nặng, cùng với đó có rất nhiều các loại dịch bệnh nguy hiểm đe dọa tới tính mạng con người, đặc biệt là trẻ em Bởi vì, cơ thể trẻ em còn non nớt, sức đề kháng kém nên rất nhạy cảm với các tác động của môi trường Chính vì vậy, việc giáo dục kỹ năng vệ sinh cho trẻ là vô cùng quan trọng, góp phần xây dựng thế hệ tương lai của dân tộc luôn có sức khỏe tốt để xây dựng và bảo vệ đất nước ngày một phát triển, phồn vinh
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
Với mong muốn nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục cho trẻ mầm non đặc biệt là rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ ngày một tốt hơn để hình thành ý thức tự giác, thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ, giúp giáo viên bảo vệ sức khỏe trẻ, phòng tránh trẻ bị suy dinh dưỡng và các dịch bệnh
tôi đã chọn nội dung “Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non” để nghiên cứu và áp dụng từ tháng 9
năm 2014 đến tháng 02 năm 2015 tại trường mầm non nơi tôi công tác
Để áp dụng nội dung này cần có những điều kiện sau:
+ Một là, phải có đầy đủ cơ sở vật chất phòng sinh hoạt chung, phòng
vệ sinh, trang thiết bị đồ dùng vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân,
+ Hai là, giáo viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn trở lên, tận tâm với công việc, yêu nghề mến trẻ
3 Nội dung của sáng kiến.
Trong sáng kiến của mình, tôi đã chỉ ra được những điểm còn tồn tại, trên cơ sở đó tôi đã xây dựng và đề xuất các biện pháp sau:
- Chỉ đạo giáo viên thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt hàng ngày phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi
- Tích hợp nội dung giáo dục vệ sinh cá nhân thông qua các hoạt động trong ngày
- Tạo môi trường giáo dục và giữ gìn vệ sinh cho trẻ một cách hiệu quả
- Thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra - đánh giá giáo viên trong công tác giáo dục vệ sinh
- Tăng cường tuyên truyền phổ biến kiến thức với các bậc phụ huynh học sinh
Trang 3* Tính mới tính sáng tạo của sáng kiến
- Đảm bảo công tác vệ sinh trong các cơ sở giáo dục mầm non, không để xảy ra các dịch bệnh trong trường mầm non Bảo vệ và nâng cao sức khỏe trẻ thông qua việc giáo dục giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường cho trẻ trong trường mầm non
- Nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu trong việc chỉ đạo thực hiện lồng ghép tích hợp giáo dục vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non cũng như ở trong gia đình
- Giáo dục trẻ hiểu biết về tác dụng của vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung đối với sức khỏe trẻ và đời sống con người
- Giáo viên có thể chủ động và linh hoạt xây dựng kế hoạch tích hợp nội dung giáo dục trẻ vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung vào các hoạt động hàng ngày đạt hiệu quả cao
- Hạn chế tối đa tỷ lệ trẻ mắc bệnh và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về công tác vệ sinh cá nhân nói riêng, vệ sinh môi trường nói chung
- Đề xuất một số kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non
* Khả năng áp dụng sáng kiến.
Với các biện pháp dễ thực hiện, tôi tin rằng sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi tại tất cả các trường mầm non Với từng điều kiện cụ thể, tùy khả năng của giáo viên và học sinh mà kết quả đạt được khác nhau.Cách thức áp dụng: Trong mỗi biện pháp tôi đều trình bày rất chi tiết cách áp dụng sáng kiến giúp giáo viên có thể thực hiện dễ dàng Để giáo dục kỹ năng vệ sinh cho trẻ đạt hiệu quả cao, điều đầu tiên giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, thực hiện linh hoạt các chế
độ sinh hoạt trong ngày theo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị
của nhóm lớp (Biện pháp 1) Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của
công tác vệ sinh đối với sức khỏe trẻ, giáo viên chủ động tích hợp nội
dung giáo dục vệ sinh vào kế hoạch phù hợp (Biện pháp 2) Khi kế hoạch đã
được nhà trường tham gia góp ý, giáo viên chủ động xây dựng tạo môi trường giáo dục và giữ gìn vệ sinh cho trẻ một cách tích cực nhằm đạt hiệu
quả cao nhất (Biện pháp 3) Để phát huy những mặt tích cực của giáo viên,
học sinh cũng như khắc phục những mặt còn hạn chế Ban giám hiệu cần thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra - đánh giá giáo viên trong công tác giáo dục vệ sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng để kịp thời uốn nắn những điểm còn
Trang 4tồn tại, phát huy những điểm đã làm được trong công giáo dục vệ sinh cho
trẻ (Biện pháp 4) Muốn giáo dục kỹ năng vệ sinh cho trẻ được lan tỏa tới
mọi tầng lớp nhân dân và phụ huynh học sinh đạt được kết quả thì cần có
sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội Chính vì vậy, nhà trường cần chỉ đạo giáo viên tăng cường tuyên truyền phổ biến kiến thức đối với các bậc phụ huynh học sinh, nhân dân để cùng chung tay trong việc rèn nề nếp thói quen cho trẻ từ khi trẻ còn nhỏ
* Lợi ích của sáng kiến.
Áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng
vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non” sẽ mang lại lợi ích sau:
- Giúp giáo viên hiểu sâu hơn về nội dung rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ để từ đó xây dựng các hoạt động giáo dục vào các hoạt động trong ngày phù hợp với từng độ tuổi để đạt được mục tiêu đề ra
- Giúp trẻ hiểu biết về tác dụng của việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường…đối với sức khỏe con người Từ đó trẻ có ý thức rèn luyện, biết chủ động tự tin, chia sẻ cùng các bạn về những việc đã làm được khi ở nhà cũng như ở trường về việc tự phục vụ bản thân, giúp đỡ
bố, mẹ và cô giáo những việc vừa sức
- Tăng cường nhận thức của phụ huynh, nhân dân về việc giữ gìn vệ sinh, từ đó nâng cao trách nhiệm cùng cộng đồng trách nhiệm giữa gia đình - nhà trường - xã hội cùng chung tay thực hiện tốt công tác vệ sinh, đặc biệt là giữ gìn vệ sinh cá nhân cho trẻ
4 Khẳng định giá trị, kết quả của sáng kiến: Tôi có thể khẳng
định rằng việc áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non” rộng rãi, linh hoạt sẽ
đem lại hiệu quả đáng kể: Giáo viên có thể chủ động, linh hoạt xây dựng
kế hoạch, tổ chức các hoạt động giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày đạt hiệu quả cao Hạn chế tối đa tỷ lệ trẻ mắc bệnh và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng Phụ huynh sẽ tích cực quan tâm, phối hợp cùng nhà trường để rèn nề nếp, thói quen, kỹ năng cho trẻ về các hoạt động nói chung và vệ sinh nói riêng
5 Đề xuất kiến nghị:
* Đối với giáo viên.
- Tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ năng lực, kiến thức sâu sắc hơn nữa về công tác giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ Từ đó
Trang 5giúp trẻ có những hành vi, thói quen tốt trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường ngày một tốt hơn.
* Đối với cấp trường.
- Ban Giám hiệu cần tích cực chủ động tham mưu để xây dựng thêm phòng nhóm, các công trình vệ sinh, mua sắm đầy đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân cho trẻ
- Thực hiện tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, kiểm tra - đánh giá giáo viên, học sinh và công tác tuyên truyền để công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ ngày càng tốt hơn
* Đối với Phòng, Sở Giáo dục.
- Quan tâm hơn nữa trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng vệ sinh hiện đại cho các trường mầm non
- Tạo điều kiện cho giáo viên được thường xuyên trao đổi kinh nghiệm qua các lớp bồi dưỡng chuyên môn
- Cung cấp các tài liệu về công tác giáo dục vệ sinh cho trẻ để giáo viên
tự học tập, nghiên cứu Đó chính là những điều kiện cần thiết để việc chăm sóc giáo dục vệ sinh cho trẻ đạt hiệu quả cao nhất
Trang 6Phần 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN
1.1 Cơ sở lý luận:
Trẻ em là niềm hạnh phúc, niềm vui của mỗi gia đình và là tương lai
của đất nước "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" Để những chủ nhân
tương lai của đất nước phát triển toàn diện thì việc đầu tiên chúng ta cần quan tâm tới đó là sức khỏe của trẻ Sức khỏe là tài sản quý giá của con người và đất nước, có nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người, do đó chăm sóc sức khỏe là việc làm hết sức cần thiết và cần quan tâm trú trọng Mỗi cá nhân, gia đình, người làm công tác giáo dục mầm non, cộng đồng đều có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc giáo dục hình thành ở trẻ một
số nề nếp thói quen vệ sinh, hành vi văn minh và kỹ năng sống đơn giản ban đầu góp phần tạo cơ hội cho trẻ sống, phát triển một cách khỏe mạnh Nếu được chăm sóc tốt và hình thành những thói quen vệ sinh cá nhân cần thiết
từ nhỏ sẽ tạo nền móng vững chắc về sau này
1.2 Cơ sở thực tiễn.
Trong thực tế hiện nay, giáo dục Mầm non đang được trú trọng và từng bước nâng lên về chất lượng, nhưng thực chất trong công tác chăm sóc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ còn mang tính hình thức, trẻ chưa thực sự được hoạt động thường xuyên, bài bản, Là một cán bộ quản lý trong trường mầm non, đứng trước vấn đề như vậy tôi luôn trăn trở và tìm cách để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non mà đặc biệt là công tác giáo dục
vệ sinh cho trẻ để hình thành ý thức tự giác, kỹ năng cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ để trẻ có sức khỏe tốt thì mới tham gia vào các hoạt động giáo dục khác
đạt kết quả cao được Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non”
làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp tốt hơn góp phần vào việc nâng cao sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ hình thành thói quen vệ sinh ngay từ lúc còn nhỏ để trở thành người có ích cho xã hội
2 Thực trạng của vấn đề
2.1 Thuận lợi.
Trường mầm non nơi tôi công tác luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo
của các cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương đầu tư kinh phí hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất Bên cạnh đó, nhà trường luôn nhận được sự chỉ đạo sâu sát của Phòng Giáo dục về mọi mặt, nhất là về chuyên môn nghiệp vụ
Trang 7Trường có đội ngũ giáo viên, nhân viên đảm bảo về cơ cấu và số lượng theo quy định của Điều lệ trường mầm non, đội ngũ giáo viên còn trẻ, nhiệt tình, yêu nghề 100% giáo viên, nhân viên có trình độ đạt chuẩn, tỷ lệ trên chuẩn đạt trên 80%.
100% trẻ đến trường được phân tách học đứng độ tuổi và tỷ lệ trẻ ăn bán trú tại trường đạt tỷ lệ 100%
Cơ sở vật chất nhà trường được quy hoạch gọn có đầy đủ các phòng học, phòng vệ sinh cho các nhóm lớp, các trang thiết bị được đầu tư tương đối đầy đủ, có đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân và ký hiệu riêng cho từng trẻ
2.2 Khó khăn.
Một số giáo viên trẻ kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ còn hạn chế
Có lớp học sinh đông, bên cạnh đó có nhiều học sinh mới đến trường
Đa số phụ huynh đều làm nghề nông, một số phụ huynh lo đi làm kinh
tế nên chưa thực sự quan tâm tới trẻ, chưa chú ý đến việc kết hợp cùng nhà trường giáo dục các cháu
Bên cạnh đó lại có một số phụ huynh lại chiều con quá mức, muốn gì được nấy, một số trẻ sống trong môi trường không lành mạnh từ gia đình
Các phương tiện để phục vụ vệ sinh cá nhân cho trẻ chưa đồng bộ, việc bố trí cảnh quan sân vườn trường chưa đảm bảo tính sư phạm, tính thẩm
mỹ Các hoạt động nề nếp thói quen của trẻ chưa thường xuyên Một số phòng hoạt động nhóm lớp, công trình vệ sinh, nhà bếp diện tích còn chật hẹp, khó khăn cho việc thực hiện chăm sóc giáo dục, đặc biệt là việc giáo dục thực hiện hình thành nề nếp thói quen vệ sinh cho trẻ
Từ những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã nghiên cứu và đã tìm ra
“Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ trong
trường mầm non” nhằm giúp trẻ hình thành ý thức, hành vi vệ sinh ngày
từ khi còn nhỏ Giúp giáo viên nắm chắc kiến thức kỹ năng có thể chủ động và linh hoạt xây dựng kế hoạch nội dung giáo dục vệ sinh cho trẻ trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày đạt kết quả cao nhất
2.3 Số liệu điều tra trước khi thực hiện.
Để tìm ra những giải pháp hữu ích nhất tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn như sau:
2.3.1 Khảo sát đánh giá về môi trường “Trường học”, như sau:
Trang 8STT Nội dung chuẩn Điểm Điểm đạt
1 Trường được thiết kế với quy mô trường, lớp, sân chơi, bãi tập vườn trường hợp lý sạch đẹp, an toàn. 2 1,5
2
Sân vườn được quy hoạch thành sân chơi và khu đất trồng
cây xanh, vườn rau, sân cỏ Lối đi có lát gạch hoặc láng xi
măng, sân chơi và lối đi bằng phẳng, không trơn trượt
3
Các loại cây trồng, cây bóng mát, cây cảnh, hoa cảnh
được sắp xếp hợp lý và mỹ quan Các loại hoa cảnh có
màu sắc tươi tắn, hài hoà tạo cảm giác dễ chịu
5
Các công trình vệ sinh sạch sẽ, thuận tiện, phù hợp với trẻ
và sắp xếp ngăn nắp, có nguồn nước sạch đủ dùng, hệ thống
thoát nước thải kín, thùng đựng rác có nắp đậy đảm bảo đủ
cho các nhóm lớp và để ở các vị trí thuận lợi ngoài sân
trường và vườn cây
6
Bếp được bố trí theo quy trình bếp một chiều Đồ dùng và
dụng cụ chế biến giữ sạch và đầy đủ, kho chứa thực phẩm
gọn gàng khô ráo
8
Góc tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ có giới thiệu
nội dung chuyên đề lễ giáo, giáo dục vệ sinh, trường học
an toàn, trường học thân thiện học sinh tích cực… với
hình thức đẹp, sáng tạo, gây ấn tượng về thẩm mỹ Nội
dung phong phú và thực sự có tác dụng với phụ huynh
9
Trường có 1 số tranh áp phích, panô đẹp có nội dung giáo
dục đối với trẻ, được bố trí hợp lý và có giá trị sử dụng
lâu dài
Bảng 2: Đánh giá về môi trường “nhóm lớp” trong toàn trường.
1 Phòng, nhóm đủ ánh sáng, an toàn, thoáng mát về mùa
Hè, ấm áp về mùa Đông, nền lát gạch men 3 22
Nhóm, lớp sạch sẽ, không có mùi hôi khai, ẩm mốc, trần
nhà không có mạng nhện Các cánh cửa không có bụi
bám
3 Đồ dùng đồ chơi thường xuyên lau rửa sạch sẽ Đồ dùng 2 1,5
Trang 9STT Nội dung chuẩn Điểm Điểm đạt
sắp đặt gọn gàng, đồ chơi trình bày đẹp, hấp dẫn trẻ
4 Trang trí lớp đẹp theo chủ điểm có sáng tạo 3 2
5 Góc tuyên truyền trang trí đẹp, sáng tạo, thu hút sự chú ý
6
Có đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân cho trẻ: Ca, cốc, khăn mặt
có ký hiệu riêng Trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường không vứt rác bừa bãi
* Khảo sát khám sức khỏe cho trẻ (tháng 9 năm 2014)
Trang 102.3.3 Về phía giáo viên:
- Kiến thức và giải pháp thực hiện công tác vệ sinh còn hạn chế
- Chưa chú trọng đến rèn kỹ năng và thói quen vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường cho trẻ
- Chưa chủ động và linh hoạt xây dựng kế hoạch tích hợp nội dung giáo dục vệ sinh vào các hoạt động hàng ngày
Xác định được những lý do dẫn đến tình trạng yếu kém trong việc
“Giáo dục thói quen vệ sinh” của giáo viên và học sinh trong nhà
trường, tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cho trẻ trong trường mầm non với các giải pháp cụ thể như sau:
Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non quy định chế độ sinh hoạt của từng độ tuổi Ban giám hiệu chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên bám sát vào kế hoạch của nhà trường, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, kế hoạch ngày phù hợp theo độ tuổi trẻ và điều kiện thực
tế của nhóm lớp để nhà trường phê duyệt Đồng thời góp ý cho giáo viên để giáo viên bổ sung kế hoạch tiếp theo cho từng nhóm lớp, chủ động tìm biện pháp để thực hiện kế hoạch một cách khoa học, sáng tạo đem lại hiệu quả cao nhất
Ví dụ: Trong kế hoạch tháng 9 về nội dung chăm sóc:
+ Đối với độ tuổi Nhà trẻ: Tập cho trẻ đi vệ sinh đúng nơi quy định, tập cho trẻ thói quen không vứt rác ra lớp, sân trường, biết để đồ dùng đồ chơi đúng nơi qui định…
Trang 11+ Đối với độ tuổi mẫu giáo: Rèn trẻ thói quen vệ sinh rửa mặt, rửa tay, biết mặc quần áo gọn gàng, vứt rác vào thùng rác…
Kế hoạch những tháng tiếp theo thì tăng dần mức độ yêu cầu đối với trẻ.
+ Đối với độ tuổi Nhà trẻ: Rèn nề nếp đi vệ sinh đúng nơi quy định, đúng giờ, tự vứt rác vào thùng rác, không nhổ bậy, biết giữ gìn quần áo sạch sẽ, cất lấy đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định,
+ Đối với độ tuổi mẫu giáo: Rèn trẻ kỹ năng thực hành vệ sinh rửa mặt, rửa tay, tự mặc quần áo, vứt rác đúng nơi qui định, biết gập khăn, phơi khăn giúp cô, hay khi ho, hắt hơi, ngáp phải lấy tay che miệng
Từ việc hướng dẫn, phê duyệt kế hoạch Ban Giám hiệu chúng tôi chỉ đạo giáo viên thực hiện nghiêm quy chế chuyên môn, giờ nào việc ấy, thực hiện tốt các việc: Từ việc chuẩn bị phòng nhóm trước khi đón trẻ cũng như khi trẻ ra
về, yêu cầu giáo viên phải làm thông thoáng phòng nhóm, đóng cửa nếu trời lạnh để tránh gió lùa Vệ sinh nền nhà: Yêu cầu nền nhà phòng sinh hoạt chung, nhà vệ sinh luôn khô ráo, sạch sẽ, không mùi khai; Vệ sinh đồ dùng
đồ chơi: Đồ dùng thường xuyên lau bằng khăn ẩm tránh bụi bặm, bô, xô, chậu và đồ dùng vệ sinh phải cọ rửa hàng ngày, phơi nắng, hàng tuần tổng
vệ sinh bằng các xà phòng hay chất cọ rửa Đồ chơi yêu cầu phải thường xuyên được lau rửa và phơi nắng; Vệ sinh cá nhân trẻ đảm bảo luôn sạch sẽ
từ mặt mũi, chân tay, đầu tóc, quần áo…
Kết quả: Từ việc thực hiện đầy đủ chế độ sinh hoạt trong ngày, ý thức
giáo dục vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp hàng ngày của giáo viên ở các nhóm lớp có tiến triển rõ rệt Môi trường lớp học luôn sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp, không còn tình trạng vứt rác bừa bãi, những nơi hoạt động tập thể như vườn hoa, sân trường, hành lang chung đã đảm bảo vệ sinh không còn rác rơi bừa bãi như trước nữa Trẻ thực sự có nề nếp, thói quen ý thức tự giác giữ gìn vệ sinh cá nhân luôn sạch sẽ, gọn gàng, biết giữ gìn vệ sinh trường, lớp luôn sạch sẽ vứt rác đúng nơi quy định không cần cô nhắc nhở
3.2 Tích hợp nội dung giáo dục vệ sinh cá nhân thông qua các hoạt động trong ngày.
Giáo dục nề nếp thói quen, kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non thông qua các hoạt động trong ngày là điều vô cùng cần thiết trong nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ Để trẻ có nề nếp, thói quen rồi đến kỹ năng thì chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên phải xác định được trong công tác chăm sóc giáo dục, đặc biệt là giáo dục vệ sinh cho trẻ thì phải xác định được cần rèn trẻ những thói quen gì rồi đến dạy trẻ những kỹ năng vệ sinh như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất: Chính vì vậy trong công việc hàng ngày giáo viên đã xác định thói quen cần rèn luyện cho trẻ là: