Nội dung sinh hoạt chuyên môn phải phù hợp với các nội dung của Mô hình trường học mới Việt Nam bao gồm: Đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học, đổi mới tổ chức lớp học, đổi mới đánh
Trang 1Phần 1 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Chỉ đạo Sinh hoạt chuyên môn theo mô hình trường
học mới Việt Nam”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Trường Tiểu học Bến Tắm - Thị xã Chí Linh
3 Đồng tác giả:
a, Vũ Thị Thanh.
Sinh ngày: 9-6-1968 Giới tính: Nữ
Trình độ chuyên môn: Đại học Quản lý Giáo dục
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị: Trường Tiểu học Bến Tắm
Điện thoại : 0986 008 247 hoặc 03203 887 038
b, Phạm Thị Mến
Sinh ngày: 2-9-1967 Giới tính: Nữ
Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị: Trường Tiểu học Bến Tắm
Điện thoại : 03203 887 038
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Bến Tắm
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Bến Tắm
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Giáo viên và học sinh
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013 - 2014
Trang 2TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Dự án triển khai thí điểm mô hình trường học tại Việt Nam được Bộ Giáo dục triển khai tại nhiều trường tiểu học trên 63 tỉnh, thành phố trong cả nước Hải Dương thuộc nhóm ưu tiên 3 nên khi bắt đầu thực hiện chỉ có 1 trường tham gia Năm học 2014 - 2015, Hải Dương đã triển khai nhân rộng thành13 trường tiểu học trên địa bàn toàn tỉnh
Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam đã có Công văn số 86/GPE - VNEN ngày 18/3/2014 hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn ở các trường triển khai
Mô hình VNEN với mục đích:
+ Đưa sinh hoạt chuyên môn trở thành hoạt động thường xuyên, có chất lượng, tránh tổ chức một cách hình thức tại các tổ chuyên môn, trường và cụm trường
+ Kịp thời tháo gỡ những khó khăn về chuyên môn và có giải pháp phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện của nhà trường, địa phương
+ Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý trong chỉ đạo chuyên môn; nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm cho giáo viên trong hoạt động dạy học
+ Tạo mối quan hệ chia sẻ, học tập, giúp đỡ lẫn nhau giữa cán bộ quản lý
và giáo viên, giữa giáo viên và giáo viên, giữa các tổ khối chuyên môn trong nhà trường và giữa các trường tiểu học
+ Tạo cơ hội để mỗi cán bộ, giáo viên được phát huy khả năng sáng tạo, đóng góp sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục tiểu học
Nội dung sinh hoạt chuyên môn phải phù hợp với các nội dung của Mô hình trường học mới Việt Nam (bao gồm: Đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học, đổi mới tổ chức lớp học, đổi mới đánh giá học sinh, đổi mới sự tham gia của cộng đồng với giáo dục, điều chỉnh và phát triển tài liệu), do chính cán
bộ quản lý, giáo viên đề xuất, thống nhất và thực hiện
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
Trong năm học, tất cả các khối chuyên môn của trường tham gia dạy học theo mô hình trường học mới đều có thể áp dụng nội dung sáng kiến
3, Nội dung sáng kiến:
3.1 Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Mô hình trường học mới Việt Nam là kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại Mô hình này dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo dục của quốc tế; vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng tạo, phù hợp với
mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô hình trường học mới
Việt Nam tập trung vào đổi mới sư phạm, đổi mới phương pháp dạy - học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn
Để các buổi sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường đạt hiệu quả cao, phát triển năng lực chuyên môn, mang lại nhiều ý nghĩa cho đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ cần thiết được đạt ra Trong những buổi sinh hoạt chuyên môn đó, giáo viên cùng dự giờ và suy ngẫm về bài dạy; cùng nhau hợp tác nghiên cứu, tìm hiểu bằng cách đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm và một loạt các bước cụ thể
Trang 3tìm ra các cấu trúc trong các bài học để giúp các em học sinh học tập một cách thực sự
Người chủ trì, điều hành thảo luận trong sinh hoạt chuyên môn là người định hướng thảo luận tập trung vào những tình huống thực tế trong lớp học và những phán đoán cá nhân thông qua tình huống đã quan sát Hoạt động suy ngẫm và thảo luận trong nghiên cứu bài học là trọng tâm của đổi mới sinh hoạt chuyên môn Thay vì mục đích đánh giá GV, sinh hoạt chuyên môn quan tâm đến hoạt động học của HS, đây là hoạt động rất khó khăn, rất đa dạng và ở nhiều trình độ khác nhau Thảo luận cần làm sáng tỏ việc học của HS diễn ra như thế nào, em nào học tốt, em nào gặp khó khăn, trở ngại trong việc học, phát hiện các phong cách học, các điểm mạnh, điểm yếu trong học tập của từng HS Thảo luận còn đề cập đến giải pháp cải thiện việc học, giúp đỡ những HS gặp khó khăn
Chính vị vậy, những năm gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã trú trọng cải tiến sinh hoạt chuyên môn cho đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường
3.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến.
Thực nghiệm giáo dục theo mô hình trường học mới Việt Nam, giáo viên học sinh và phụ huynh dựa vào tài liệu hướng dẫn sẽ biết cần học gì và học như thế nào, cần đạt được mục tiêu nào trong mỗi bài học Thông qua đó sẽ thấy rõ vai trò trách nhiệm, nhiệm vụ của mình v.v Các em có nhiều cơ hội độc lập suy nghĩ, trải nghiệm khám phá để hình thành kiến thức cho bản thân, khi cần sẽ xin trợ giúp từ giáo viên Để các giờ học được đảm bảo về nội dung cần đạt hoặc những nội dung cần mở rộng, khắc sâu cho học sinh đòi hỏi người giáo viên cần
có sự nghiên cứu, dự kiến trước các tình huống có thể sảy ra để chủ động giải đáp giúp học sinh hiểu bài sâu hơn Nếu sinh hoạt chuyên môn giải quyết tốt sẽ
là điều kiện thuận lợi cho giáo viên giảng dạy có hiệu quả cao đối với từng bài học.Vì vậy việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn sẽ là một tiền đề quan trọng trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, có thể áp dụng trong tất cả các trường tiểu học
4 Khẳng định giá trị, kết quả của sáng kiến:
Sau gần 3 năm thực hiện, nhà trường đã được các đồng chí lãnh đạo của
Bộ, Sở Giáo dục ghi nhận và đánh giá cố gắng và hướng đi đúng đắn của nhà trường Chất lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường được cải thiện rõ rệt
Năm học 2014 -2015 Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương đã chỉ đạo 100% các trường trên toàn tỉnh thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục toàn diện tại địa phương
5 Đề xuất, kiến nghị:
Phòng Giáo dục cần mạnh dạn hơn, tích cực chỉ đạo việc nhân rộng số lượng các trường tham gia mô hình trường học mới vì đây chính là cơ sở, tiền đề cho việc đổi mới căn bản, toàn diện chương trình giáo dục đào tạo mà Nghị quyết số 29 -NQ/TW ngày 04/11/2013 BCH TW Đảng khóa XI đã đề ra
Trang 4PHẦN 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1 Cơ sở lí luận:
Nghị quyết số 29 -NQ/TW ngày 04/11/2013 BCH TW Đảng khóa XI về
Đề án " Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đây là Nghị quyết đề cập, quan tâm rất nhiều đến việc đổi mới của giáo dục Việt Nam hiện nay
Mô hình trường học mới đề cao tính tích cực của học sinh, lấy học sinh là trung tâm của các hoạt động giáo dục; đổi mới hoạt động sư phạm, tổ chức và hướng dẫn học sinh tự học, tăng cường liên hệ và ứng dụng kiến thức vào thực tế; đổi mới đánh giá, chú trọng đánh giá quá trình học tập của học sinh; cha mẹ học sinh, cộng đồng là nhân tố tham gia giáo dục học sinh
Mô hình trường học mới hướng tới giáo dục toàn diện thể hiện ở ba nội dung:
- Hình thành cho học sinh những kiến thức, kĩ năng theo mục tiêu chương trình, là cơ sở cho sự phát triển nhân cách của mỗi con người;
Hình thành và phát triển những năng lực cơ bản cho học sinh: khả năng tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác, tự học và giải quyết vấn đề; Hình thành các phẩm chất cơ bản của học sinh: lòng yêu quê hương đất nước gia đình, yêu con người; tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; chăm học, chăm làm yêu thích nghệ thuật, thể thao
Mô hình trường học mới tác động đến mọi nhân tố trong nhà trường, thay đổi tích cực hoạt động của giáo viên, học sinh; tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng; chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh
Từ những định hướng trên chúng ta cần phải đổi mới nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường sao cho thật hiệu quả, đây chính là cơ sở, là cốt lõi của mô hình này Vì vậy chúng tôi đã tập trung nghiên cứu, chỉ đạo triển khai thực hiện và rút ra những kinh nghiệm trong
quá trình Chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn theo mô hình trường học mới Việt Nam, hi vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường nói
riêng, góp phần thực hiện thành công Dự án tại trường
2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 5Tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao chất lượng dạy học và
đổi mới phương pháp quản lý giáo dục theo mô hình trường học mới Việt Nam.
Tạo hứng thú, lòng ham mê, sự tự tin và rèn luyện, nâng cao kĩ năng cho giáo viên, học sinh trong nhà trường
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu:
Tất cả giáo viên, học sinh các trường tham gia mô hình trường học mới
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các văn kiện, các
công văn, văn bản hướng dẫn, tài liệu hướng dẫn về mô hình trường học mới
-Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Tìm hiểu, khảo sát, thu thập các dữ liệu thực tiễn có liên quan
+ Phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
5 Nội dung biện pháp thực hiện.
5.1 Điểm mới của sinh hoạt chuyên môn theo Mô hình trường học mới Việt Nam:
Nhằm nâng cao chất lượng học của học sinh, nâng cao chất lượng dạy của giáo viên, Cũng như nâng cao năng lực quản lí cho cán bộ quản lí trường học, năng lực giảng dạy, tổ chức các hoạt động giáo dục cho giáo viên phổ thổng, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Trong Mô hình trường học mới Việt Nam đã có sự đổi mới những vấn đề sau:
- Mô hình trường học mới Việt Nam tập trung vào đổi mới sư phạm.
- Đổi mới phương pháp dạy - học
- Đổi mới phương pháp đánh giá học sinh
- Đổi mới tổ chức lớp học
- Đổi mới về sinh hoạt chuyên môn
Theo công văn số 86/GPE - VNEN ngày 18/3/2014 của Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam, việc sinh hoạt chuyên môn ở các trường triển khai
+ Tạo mối quan hệ chia sẻ, học tập, giúp đỡ lẫn nhau giữa cán bộ quản lý
và giáo viên, giữa giáo viên và giáo viên, giữa các tổ khối chuyên môn trong nhà trường và giữa các trường tiểu học
+ Tạo cơ hội để mỗi cán bộ, giáo viên được phát huy khả năng sáng tạo, đóng góp sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục tiểu học
+ Nội dung sinh hoạt chuyên môn phải phù hợp với các nội dung của Mô hình trường học mới Việt Nam do chính cán bộ quản lý, giáo viên đề xuất, thống nhất thực hiện
Trang 6+ Việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn phải đảm bảo cụ thể, thiết thực, hiệu quả, được tổ chức qua hoạt động cụ thể, tránh tình trạng trình bày, báo cáo chỉ
có tính chất lý thuyết
5.2 Thực trạng
5.2.1,Thực trạng của sinh hoạt chuyên môn Tiểu học hiện nay:
Việc sinh hoạt chuyên môn hiện nay ở các trường Tiểu học được tổ chức theo một quy trình tương đối thống nhất Trước tiên nhà trường phân công giáo viên chuẩn bị bài, sau đó lên lớp dạy minh họa, rồi tổ chức rút kinh nghiệm rồi tìm ra những ưu điểm, hạn chế và sau cùng là xếp loại giờ dạy Với cách tổ chức như vây chưa thu hút được sự tham gia tích cực của đội ngũ giáo viên trong nhà trường Chính vì vậy năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên phát triển rất hạn chế Có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là cán bộ quản
lí, giáo viên chưa xác định đúng mục đích, ý nghĩa của việc sinh hoạt chuyên môn Giáo viên cho rằng việc tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm sau đó thống nhất phương pháp, quy trình dạy các môn học và đánh giá, xếp loại giáo viên là vấn
đề cốt lõi để sinh hoạt chuyên môn
5.2.2 Thực trạng về sinh hoạt chuyên môn của nhà trường
Trường Tiểu học nơi tôi công tác là một trường nhỏ Đội ngũ giáo viên trình độ chuyên môn không đồng đều, một số đồng chí chưa linh hoạt trong việc đổi mới phương pháp dạy học Nhất là việc sinh hoạt chuyên môn của nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa linh hoạt, sáng tạo, chưa tạo điều kiện cho giáo viên được nêu nên những ý kiến của mình trước tập thể Nội dung, hình thức sinh hoạt chuyên môn dập khuôn máy móc, áp đặt theo những nội dung đã có sẵn Song khi nhà trường thực hiện dự án Mô hình trường học mới Việt Nam đã thay đổi về cách dạy - cách học và thay đổi về sinh hoạt chuyên môn Sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường đã trở nên có nề nếp, có kế hoạch cụ thể, giáo viên được tự mình tham gia xây dựng bài, được dạy minh họa được cùng nhau rút kinh nghiệm cho bản thân, giúp nhau cùng tiến bộ Giáo viên không còn ngại khi đưa ý kiến phát biểu của mình trước tổ, khối chuyên môn
*Biểu số 1: Thống kê kết quả khảo sát thực trạng chất lượng đội ngũ của nhà trường.
Sinh hoạt chuyên môn theo VNEN
* Mục - Đánh giá, xếp loại giờ dạy - Tạo cơ hội cho giáo viên học tập
Trang 7đích - Tập trung vào hoạt động dạy của giáo viên.
- Thống nhất cách dạy để các
giáo viên cùng thực hiện
lẫn nhau, tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh
- Tập trung vào hoạt động học của học sinh
- Mỗi giáo viên tự rút ra bài học để
áp dụng vào bài học hằng ngày
- Thực hiện theo đúng nội dung,
quy trình, các bước thiết kế theo
- Dạy theo nội dung kiến thức
trong sách giáo khoa, phương
pháp dạy học theo sách giáo viên
- Thực hiện tiến trình giờ học
quy trình khâu bước; có thiếu,
thừa kiến thức hay không?; trình
bày bảng…) Những học sinh
nổi bật ( học tốt) hoặc không
quan tâm cụ thể với từng học
sinh
Việc học của từng học sinh ( khi nào học sinh học thực sự?; khi nào học sinh ngừng học?; thái độ và sự tham gia của học sinh?; nhận thức của học sinh; các mối quan hệ dạy - học; chất lượng việc học; nguyên nhân; giải pháp? Học hỏi được điều gì từ những phân tích, chia sẻ trên?)
* Ghi
chép
khi dự
giờ
Nội dung, tiến trình giờ dạy, sai
sót, hạn chế của giáo viên Ít
khi hoặc không quay phim trong
giờ dạy
Ghi chép các tình huống học tập của học sinh trong bài học và những điều suy ngẫm Quay phim, chụp ảnh giờ dạy để phân tích việc học của học sinh
nghiệm việc dạy của giáo viên
minh họa ( chỉ ra ưu điểm,
nhược điểm), đưa ra cách dạy
và dựa vào ý định của giáo viên dạy minh họa Giáo viên tự ghi nhận những gì hữu ích cho bản thân
* Thời
lượng
thảo
luận
Thường kết thúc nhanh khi các
ý kiến đã " trùng nhau" hoặc đã
" thống nhất"
Khoảng từ 2 đến 3 giờ hoặc cả buổi, sau đó giáo viên có thể tiếp tục tự suy ngẫm sau sinh hoạt chuyên môn, trong công việc hằng
Trang 8Thường ít và có ý kiến " đại
diện", hoặc "giống ý kiến
trước" Giáo viên thường ngại
đưa ra ý kiến riêng của mình,
thiếu sự chú ý lắng nghe người
đang phát biểu
Nhiều ý kiến hơn ( có khi 100% giáo viên phát biểu, có giáo viên phát biểu 2 - 3 lần) Ai cũng có ý kiến riêng và lắng nghe để học hỏi
nguyên nhân ( ý kiến thường
chung chung); đưa ra cách dạy
khác nhưng rất ít gắn với thực tế
học sinh và ý định của giáo viên
dạy minh họa Người dự có thái
đã học được điều gì từ thực tế đó? làm thế nào để thay đổi?
Ý kiến luôn gắn với thực tế học sinh và ý định của giáo viên dạy minh họa
* Bài
dạy
Bài dạy là của riêng giáo viên
minh họa; giáo viên " chịu trách
nhiệm" chính; người dự đánh
giá kết quả việc dạy, việc học là
chủ yếu Thường đối chiếu kết
quả: đã làm được gì?
Bài dạy là của chung mọi người; không đánh giá kết quả mà cùng nghiên cứu và học hỏi
Suy ngẫm, chia sẻ về quá trình: đã làm như thế nào?
* Kết
quả
- Đối với học sinh: Kết quả học
tập của học sinh ít được cải
thiện, học sinh chỉ tập trung vào
trình diễn cho những người dự
xem, học sinh yếu kém gặp khó
khăn trong việc tiếp thu kiến
thức, thường bị giáo viên bỏ
quên
- Đối với giáo viên:
+ Thường lúng túng khi dạy
minh họa, giáo viên dạy một
cách thụ động, dập khuôn máy
móc theo thiết kế bài dạy đã
định sẵn, ít thay đổi nội dung,
+ Học sinh tự tin hơn, tham gia tích cực vào các hoạt động học tập.+ Quan hệ giữa học sinh với học sinh thân thiện, không có sự phân biệt giữa học sinh giỏi và học sinh kém, học sinh có ý thức giúp đỡ nhau
- Đối với giáo viên:
+ Giáo viên tự tin, chủ động, sáng tạo, tìm ra biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học Giáo viên dám tự chịu trách nhiệm về chất lượng học tập
+ Giáo viên có cơ hội nhìn lại quá trình dạy, tự nhận ra những hạn chế của bản thân để điều chỉnh kịp thời, quan tâm nhiều đến học sinh yếu,
Trang 9+ Khi chia sẻ, phân tích bài học
kết quả học tập của học sinh
kém, giáo viên thường đổ lỗi
cho học sinh và nhiều nguyên
nhân khác Chứ không biết đó
chính là nguyên nhân từ người
giáo viên dạy
+ Đôi khi do chuẩn bị bài quá kĩ
nên không phát sinh tình huống
học tập sinh động, bài học diễn
ra mất tự nhiên
+ Giữa giáo viên với giáo viên
thiếu tinh thần học hỏi, sự cảm
thông và chia sẻ lẫn nhau, có
khi là phủ nhận lẫn nhau
- Đối với cán bộ quản lí:
+ Cán bộ quản lí chỉ đạo chuyên
môn thường áp đặt, cứng nhắc,
theo quy định chung
+ Cán bộ quản lí ít quan tâm để
hiểu biết tâm tư nguyện vọng,
những khó khăn của giáo viên
trong quá trình dạy học
+ Việc kiểm tra, giám sát thiếu
chặt chẽ
kém Biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của học sinh trong giờ học.+ Quan hệ giữa giáo viên gần gũi
và thân thiện
+ Quan hệ giữa đồng nghiệp gần gũi, có sự cảm thông, gắn bó, chia
sẻ, sẵn sàng giúp đỡ, lắng nghe, học hỏi lẫn nhau
- Đối với cán bộ quản lí:
+ Đánh giá cao sự linh hoạt, sáng tạo của từng giáo viên Không áp đặt theo những quy định cứng nhắc
+ Có cơ hội đi sau đi sát chuyên môn, hiểu được nguyên nhân những khó khăn trong quá trình dạy và học để có biện pháp hỗ trợ kịp thời
+ Quan hệ giữa cán bộ quản lí với giáo viên gần gũi, gắn bó, chia sẻ
và thông cảm với những khó khăn
mà giáo viên phải đối mặt
Từ những thực trạng nêu trên, chúng tôi đã quyết định chọn nội dung chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn theo mô hình trường học mới là vấn đề cốt lõi để chỉ đạo thực hiện tại nhà trường từ những ngày đầu năm học
5.3 Nội dung và cách thức sinh hoạt chuyên môn theo mô hình VNEN
5.3.1 Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn theo Mô hình VNEN.
Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn trong hoạt động giáo dục Tiểu học có
ba cấp độ là tổ chuyên môn; trường và cụm trường tiểu học
Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình đổi mới căn bản và toàn diện Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn tạo khả năng ứng phó với sự bất định và thay đổi trong hoạt động sinh hoạt chuyên môn nói chung và dạy học nói riêng Những thay đổi về số lượng, chất lượng liên quan đến giáo viên và học sinh, những tác động của việc mở cửa hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, những tích cực và tiêu cực của xã hội theo kinh tế thị trường, những thiên tai, bão lụt là những biến cố không lường trước được Chính những thay đổi bất
Trang 10định đó làm cho việc lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn nhằm đưa tổ chức đến đích đã định trước trở thành điều tất yếu.
Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn tạo điều kiện cho các cấp quản lí giáo dục tập trung vào những mục tiêu nhất định Qua kế hoạch, các nhà quản lí có cách nhìn toàn diện, tổng thể về quá trình vận động, tiến lên của tổ chức Qua đó thấy được sự ảnh hưởng, tương tác giữa các bộ phận, làm cho sinh hoạt chuyên môn trở thành nền nếp, tích cực hóa hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đã định
Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả cao cho tổ chức giáo dục Kế hoạch sinh hoạt chuyên môn không cho phép hoạt động tùy tiện, tản mạn, rời rạc và cũng không chấp nhận sự quyết định vội vàng, thiếu suy xét, cân nhắc
Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra, giám sát được thuận lợi Cấp quản lí giáo dục không thể kiểm tra hoạt động chuyên môn của cấp dưới nếu không có kế hoạch sinh hoạt chuyên môn Điều này còn gây hậu quả nguy hại là không xác định được trạng thái trung gian
và cuối cùng của đối tượng quản lí
Chính vì những lí do trên nên kĩ năng lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn
là kĩ năng quan trọng nhất Ngay từ đầu năm học khối chuyên môn xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn cụ thể cho cả một năm học và gửi xuống các tổ để cùng thực hiện
5.3.2 Các điều kiện đảm bảo cho sinh hoạt chuyên môn theo Mô hình VNEN
5.3.3.1 Đối với Hiệu trưởng và cán bộ quản lí
- Thay đổi nhân thức, hành vi, giữ vai trò chủ động trong việc tạo niềm tin cho giáo viên về những thay đổi tích cực của bản thân họ trong các buổi dự giờ sinh hoạt chuyên môn, trong các mối quan hệ giữa đồng nghiệp và với cán bộ quản lí
- Thực sự coi sinh hoạt chuyên môn là trụ cột, là biện pháp quan trọng để thay đổi chất lượng học tập của học sinh và văn hóa nhà trường, tiến tới thay đổi nhà trường
- Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để giới thiệu mô hình sinh hoạt chuyên môn mới, nêu thực sự cần thiết và những lợi ích mà sinh hoạt chuyên môn mới mang lại
- Thành lập nhóm tư vấn cho các buổi sinh hoạt chuyên môn ( Gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên có năng lực về chuyên môn) hỗ trợ giáo viên trong việc thiết kế kế hoạch bài dạy, dạy minh họa và vận dụng những điều
đã học được trong sinh hoạt chuyên môn vào thực tế bài học hằng ngày
- Xây dựng kế hoạch triển khai việc thực hiện sinh hoạt chuyên môn hằng năm và giai đoạn
- Trang bị công cụ cho các hoạt động sinh hoạt chuyên môn của nhà trường như: máy chiếu, máy quay phim,
- Chỉ đạo sâu sát hoạt động chuyên môn
- Hiệu trưởng tham gia vào sinh hoạt chuyên môn sẽ nắm bắt được những khó khăn, tình trạng học tập của học sinh, những vấn đề cần thiết cho việc nâng cao chất lượng dạy học mà nằm ngoài phạm vi của người giáo viên giải quyết
Trang 115.3.2.2 Đối với Giáo viên:
- Giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng tìm hiểu nội dung, cách thức thực hiện mô hình sinh hoạt chuyên môn theo Mô hình VNEN
- Giáo viên tự nguyện đăng kí tiết dạy minh họa, tích cực sáng tạo trong việc
đề xuất, áp dụng những ý tưởng, nội dung, phương pháp mới để thiết kế bài học
- Học cách quan sát học sinh, ghi chép, lắng nghe, suy nghĩ
- Học cách lắng nghe, phản hồi mang tính xây dựng, tích cực tham gia thảo luận sau khi dự giờ về những băn khoăn, nguyên nhân và hướng giải quyết
- Tự rút ra kinh nghiệm cho bản thân sau dự giờ để điều chỉnh nội dung, cách dạy học phù hợp với học sinh của mình
- Mạnh dạn và kiên trì áp dụng những điều đã học từ sinh hoạt chuyên môn vào bài học hằng ngày
5.3.2.3 Điều kiện của nhà trường.
5.3.2.2.1 Thời gian.
- Thực hiện thường xuyên 2 tuần một lần
- Thời gian thực hiện cho việc trao đổi, xây dựng tiết dạy minh họa trong một buổi; thời gian thực hiện cho hoạt động dự giờ, phân tích bài dạy minh họa trong một buổi ( có thể kéo dài hơn khi tham gia nhiều ý kiến)
- Lên kế hoạch thời gian cố định cho các buổi sinh hoạt chuyên môn trong một năm học ( có sự điều chỉnh)
5.3.2.2.2 Dạy minh họa.
- Các bài dạy minh họa cần được luân phiên theo các môn học, khối lớp
và những vướng mắc vấn đề giáo viên gặp khó khăn
- Kế hoạch phân công giáo viên dạy, lịch dạy minh họa phải được thông báo trước cho giáo viên được biết để chủ động chuẩn bị
- Các giáo viên dạy minh họa cho chính học sinh của lớp mình, tuyệt đối không được dạy trước, không luyện tập trước cho học sinh dạy minh họa
- Kế hoạch được thiết kế theo nhóm nhưng góa viên dạy là người quyết định cuối cùng cho việc thực hiện dạy minh họa của mình
Số lượng người dự không quá đông khoảng từ 20 - 30 người / lớp
5.4 Nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn.
5.4.1 Nội dung sinh hoạt chuyên môn.
- Sinh hoạt chuyên môn về nội dung phương pháp dạy học
- Sinh hoạt chuyên môn về nội dung đánh giá học sinh
- Sinh hoạt chuyên môn về nội dung tổ chức lớp học
- Sinh hoạt chuyên môn về nội dung phụ huynh và cộng đồng tham gia giáo dục
5.4.2 Hình thức sinh hoạt chuyên môn.
Sinh hoạt chuyên môn về tổ chức các hoạt động giáo dục và các hoạt động dạy học VNEN theo nhiều hình thức khác nhau
Trang 12Tổ chức xem băng hình, dự giờ, nêu tình huống sư phạm, mọi người phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm, tìm giải pháp dạy học hiệu quả nhất.
Mời những người am hiểu về VNEN báo cáo cho giáo viên trong trường phân tích trên các tình huống sư phạm có thật hoặc tình huống giả định
Tạo cơ hội để giáo viên tham gia các lớp tập huấn, tổ chức để họ báo cáo hoặc tập huấn lại cho các động nghiệp ở trường
Hình thức sinh hoạt chuyên môn chủ yếu là rút kinh nghiệm qua quan sát, phân tích một bài dạy cụ thể
Hoạt động sinh hoạt chuyên môn gồm các bước sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị.
Bước 2: Tổ chức dạy học minh họa, dự giờ và suy ngẫm.
Bước 3: Thảo luận chung
Bước 4: Áp dụng vào thực tiễn dạy học.
5.5 Một số nội dung thực hành sinh hoạt chuyên môn theo Mô hình VNEN.
5.5.1 Sinh hoạt chuyên môn về nội dung phương pháp dạy học
Sinh hoạt chuyên môn về nội dung phương pháp dạy học được tổ chức thông qua hoạt động dự giờ, nghiên cứu bài bài học Quy trình gồm 4 bước sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị
- Xây dựng kế hoạch cần tập trung vào nội dung cụ thể mà giáo viên, cán
bộ quản lý quan tâm, gặp vướng mắc, khó khăn cần được chia sẻ, hỗ trợ trong hoạt động dạy học Trong kế hoạch cần nêu rõ: bài dạy minh họa, người dạy minh họa, thời gian và địa điểm dạy, Khuyến khích các giáo viên tự nguyện đăng ký, lựa chọn bài học, chủ động sáng tạo chuẩn bị bài căn cứ vào mục đích
cụ thể của buổi SHCM
- Giáo viên dạy minh họa chuẩn bị bài dạy Trong quá trình chuẩn bị, giáo viên nên trao đổi về kế hoạch bài dạy với các đồng nghiệp cùng tổ, cùng trường hoặc trường bạn Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu bài học, đối chiếu mục tiêu bài học với trình độ học sinh, điều kiện trường lớp để dự kiến điều chỉnh nội dung dạy học, tiến trình diễn ra các hoạt động dạy học, phương tiện và đồ dùng dạy học cần thiết,
- Phân công giáo viên, tổ chuyên môn hoặc nhà trường hỗ trợ giáo viên dạy minh họa và chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác Lưu ý, không dạy trước cho học sinh bài sẽ dạy minh họa
- Bố trí lớp dạy minh họa có đủ chỗ ngồi hoặc đứng cho người dự giờ thuận lợi khi quan sát Có thể điều chỉnh số lượng người dự giờ phù hợp với không gian lớp học
* Lưu ý:
Tập trung cho giáo viên dạy minh họa, đảm bảo trong năm học tất cả giáo viên dạy VNEN đều được dạy minh họa, có trao đổi rút kinh nghiệm sau khi dạy.
Ngoài các nội dung về phương pháp dạy các môn học, phương pháp đánh giá học sinh, cần chú trọng tới các nội dung sinh hoạt chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ năm học và điều kiện nhà trường như: Phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực, phương pháp dạy học lớp ghép, phương pháp “Bàn tay nặn bột,
Trang 13phương pháp sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học, Phương pháp dạy môn Mĩ thuật theo phương pháp mới
Bước 2: Tổ chức dạy học minh họa, dự giờ và suy ngẫm
Việc tổ chức dạy minh họa và dự giờ cần lưu ý không làm ảnh hưởng đến việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh
Khi dự giờ, người dự giờ phải chuyển đối tượng quan sát từ giáo viên sang học sinh, cần quan sát một cách tỉ mỉ thái độ, nét mặt, hành vi, lời nói, cử chỉ, sự quan tâm của học sinh với bài học, mối quan hệ giữa các học sinh, việc làm và sản phẩm học tập của học sinh Người dự giờ cần chọn vị trí thuận lợi để
có thể dễ dàng quan sát hoạt động học của học sinh (có thể đứng hai bên lớp, đứng gần học sinh/nhóm học sinh) nhằm trả lời các câu hỏi:
+ Học sinh có nắm được yêu cầu của các hoạt động học tập không?
+ Học sinh có thực sự tự học, có tích cực thực hiện các hoạt động học không?+ Nhóm trưởng điều hành hoạt động học nhóm như thế nào? Các thành viên trong nhóm có tích cực, hợp tác khi học nhóm không?
+ Sản phẩm của từng nhóm/từng học sinh như thế nào?
+ Giáo viên có điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học không/ Nếu có điều chỉnh thì điều chỉnh như thế nào?
+ Giáo viên giám sát, hỗ trợ hoạt động học của từng nhóm/từng học sinh như thế nào?
+ Hội đồng tự quản và các công cụ của lớp học (góc học tập, góc thư viện, góc cộng đồng) được phát huy tác dụng như thế nào trong giờ học?
Bước 3: Thảo luận chung
Các giáo viên cùng chia sẻ suy ngẫm của mình về bài học trên cơ sở lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau Việc thảo luận không tập trung vào đánh giá xếp loại giáo viên, không xếp loại giờ dạy mà chủ yếu nhằm phân tích các tình huống quan sát được từ hoạt động học và kết quả học tập của học sinh trong giờ học Trước hết, cần nhấn mạnh những điểm thành công của giờ học, bên cạnh
đó, có thể chỉ ra nguyên nhân học sinh chưa tích cực hoặc chưa đạt được kết quả trong bài học và tìm giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng bài học nhằm tạo
cơ hội cho mọi học sinh tham gia vào quá trình học tập
Cuối buổi thảo luận, người chủ trì tổng kết các vấn đề nổi bật qua thảo luận và gợi ý các vấn đề cần suy ngẫm để hoạt động học của học sinh được tốt hơn Người tham dự có thể tự suy nghĩ và lựa chọn biện pháp áp dụng cho các giờ dạy của mình
Bước 4: Áp dụng vào thực tiễn dạy học
Dựa trên kết quả thảo luận và những điều đã quan sát, học tập được qua
dự giờ, các giáo viên (đối với SHCM cấp tổ), các tổ chuyên môn (đối với SHCM cấp trường) nêu rõ phương hướng áp dụng để đổi mới hoạt động dạy và hoạt động học theo mô hình trường học mới vào thực tiễn dạy học ở lớp, trường
Minh họa Sinh hoạt chuyên môn về nội dung phương pháp dạy học tại
phụ lục 1 ( trang )
5.5.2 Sinh hoạt chuyên môn về nội dung đánh giá học sinh
Đối với nội dung về đánh giá thường xuyên (ĐGTX) nên tổ chức SHCM thông qua hoạt động dự giờ Đối với nội dung đánh giá định kỳ (ĐGĐK) nên tổ
Trang 14chức SHCM qua nghiên cứu đề kiểm tra, cách xây dựng ma trận đề kiểm tra, nội dung dạy học, kết quả học tập của học sinh, Cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị.
Xây dựng kế hoạch cần tập trung vào các nội dung cụ thể mà giáo viên, cán bộ quản lý quan tâm, gặp vướng mắc, khó khăn cần được chia sẻ, hỗ trợ trong đánh giá học sinh Cần nghiên cứu kỹ công văn số 5737/BGDĐT-GDTH ngày 21/8/2013 về Hướng dẫn thí điểm đánh giá học sinh tiểu học Mô hình trường học mới Việt Nam, Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và dựa trên thực tiễn đánh giá học sinh ở lớp, trường để xây dựng kế hoạch trong sinh hoạt chuyên môn Đối với nội dung về đánh giá thường xuyên, trong kế hoạch cần nêu rõ bài dạy minh họa, người dạy minh họa, thời gian và địa điểm dạy, Đối với nội dung về đánh giá định kì và các nội dung khác, cần nêu rõ người chuẩn bị nội dung, đề kiểm tra, bài kiểm tra, Khuyến khích giáo viên tự nguyện đăng ký nội dung về đánh giá học sinh để chuẩn bị sinh hoạt chuyên môn căn cứ vào mục đích cụ thể của buổi sinh hoạt chuyên môn
Có thể lựa chọn nội dung về đánh giá học sinh để xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn như sau:
+ Cách đánh giá thường xuyên theo tiến trình bài học và hoạt động giáo dục: Cách quan sát, theo dõi, hỗ trợ, đánh giá kết quả học tập của từng học sinh
và từng nhóm học sinh qua mỗi hoạt động học; các kỹ thuật đánh giá trên lớp; cách quan sát, nhận định về một số biểu hiện của phẩm chất và năng lực của từng học sinh; Cách hướng dẫn học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau; cách phối hợp với phụ huynh tham gia hoặc quan sát, đánh giá học sinh; cách viết nhật ký đánh giá định kì về từng học sinh
+ Cách đánh giá để bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh nhằm phát huy khả năng của các em
và giúp các em tiến bộ trong học tập.
+ Cách xây dựng ma trận đề kiểm tra (các mạch kiến thức cần kiểm tra, số câu, số điểm tương ứng với các mức độ 1, mức độ 2, mức độ 3), cách ra đề kiểm tra, đánh giá định kì kết quả học tập; cách chấm bài kết hợp với sửa lỗi, nhận xét những ưu điểm, hạn chế và góp ý cho học sinh.
+ Cách ghi Phiếu tổng hợp đánh giá cuối học kì I và cuối năm học
+ Cách hướng dẫn học sinh bình bầu khen thưởng vào cuối học kì I, cuối năm học
- Giáo viên dạy minh họa chuẩn bị bài dạy hoặc chuẩn bị nội dung (về đánh giá định kì, khen thưởng, tổng hợp kết quả đánh giá ) sẽ trình bày tại chuyên đề (hoặc Hội thảo)
- Phân công giáo viên, tổ chuyên môn hoặc nhà trường hỗ trợ giáo viên dạy minh họa hoặc chuẩn bị nội dung chuyên đề (hoặc Hội thảo).
Bước 2: Tổ chức triển khai
- Tổ chức dạy minh họa và dự giờ Việc dự giờ tập trung vào nội dung đánh giá thường xuyên theo tiến trình bài học và hoạt động giáo dục của giáo viên và học sinh nhằm trả lời các câu hỏi:
+ Giáo viên giám sát, hỗ trợ, đánh giá hoạt động học của từng nhóm / từng học sinh như thế nào ?
+ Giáo viên có vận dụng giáo dục kỷ luật tích cực khi nhận xét, đánh giá học sinh không? Cách động viên, khích lệ học sinh hoặc hướng dẫn, hỗ trợ học sinh vượt
Trang 15qua khó khăn trong học tập như thế nào ?
+ Các kĩ thuật đánh giá trên lớp nào đã được giáo viên sử dụng ?
+ Học sinh có biết cách tự đánh giá và đánh giá bạn hay không ?
+ Kết quả đánh giá của giáo viên và kết quả học sinh tự đánh giá và đánh giá bạn như thế nào ?
+ Giáo viên ghi sổ theo dõi chất lượng đánh giá sau giờ dạy như thế nào ?+ Nên điều chỉnh hoạt động dạy học như thế nào sau giờ dạy ?
- Tổ chức trao đổi các nội dung khác về đánh giá học sinh như : Cách ra đề kiểm tra định kì, cách đánh giá cho điểm và nhận xét của GV, hồ sơ đánh giá từng học sinh của giáo viên.
Bước 3: Thảo luận chung
- Sau khi dự giờ, cần tập trung thảo luận về ĐGTX học sinh trong giờ học, các kĩ thuật đánh giá trên lóp Trên cơ sở đó, làm rõ những điều đã học tập được, chia sẻ những băn khoăn, những đề xuất nhằm giúp học sinh học tôt hơn thông qua đánh giá.
- Đối với các nội dung về đánh giá định kì, khen thưởng, tổng hợp đánh giá, trước khi thảo luận, giáo viên được phân công thuyết minh về nội dung đã chuẩn bị kết họp với thực tiễn đánh giá (thông qua các sản phẩm như đề kiểm tra, các bài kiểm tra đã được chấm và nhận xét, sửa lỗi; phiếu tổng hợp đánh giá đã được ghi đầy đủ, ), nêu rõ cách làm Trên cơ sở đó, căn cứ vào thực tiễn của lóp, trường mình, các giáo viên khác cùng trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm hay, những khó khăn, vướng mắc và cùng tìm ra biện pháp tháo gỡ khó khăn.
- Cuối buổi thảo luận, người chủ trì có thể tổng kết các vấn đề nổi bật qua thảo luận và gợi ý các vấn đề cần suy ngẫm về đánh giá học sinh nhằm giúp cho học sinh có thể học tập có hứng thú và có tiến bộ hơn Những người tham dự có thể tự suy nghĩ và lựa chọn biện pháp áp dụng cho việc đánh giá học sinh ở lớp mình, trường mình.
Bước 4: Áp dụng vào đánh giá học sinh
Dựa trên kết quả thảo luận và những điều đã quan sát, học tập được qua dự giờ, hoặc nghiên cứu cách đánh giá bài định kỳ các giáo viên (đối với sinh hoạt chuyên môn cấp tổ), các tổ chuyên môn (đối với sinh hoạt chuyên môn cấp trường), các trường (đối với sinh hoạt chuyên môn cấp cụm) nêu rõ phương hướng áp dụng để đổi mới cách đánh giá học sinh theo Mô hình trường học mới Việt Nam vào thực tiễn dạy học ở lóp, trường mình
* Minh họa Sinh hoạt chuyên môn về nội dung đánh giá học sinh tại
phụ lục 2 ( trang28 -29 )
5.5.3 Sinh hoạt chuyên môn về nội dung tổ chức lớp học
Sinh hoạt chuyên môn về tổ chức lóp học có thể tổ chức dưới hình thức chuyên đề (đối với cấp tổ, cấp trường) hoặc tổ chức Hội thảo (đối với cấp cụm) thông qua quan sát hoạt động của Hội đồng tự quản và các công cụ thúc đẩy hoạt động của Hội đồng tự quản của một lóp học cụ thể.
Bước 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị
- Xây dựng kế hoạch cần tập trung vào nội dung cụ thể mà giáo viên, cán bộ quản lý quan tâm, gặp vướng mắc, khó khăn cần được chia sẻ, hỗ trợ trong việc tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới Trong kế hoạch cần nêu rõ : lóp được chọn để minh họa cho việc việc thành lập và triển khai hoạt động của Hội đồng tự quản và các công cụ thúc đẩy hoạt động của Hội đồng
tự quản (có thể chọn những lớp điển hình làm tốt và cả những lớp làm chưa tốt để cùng nhau chia sẻ); nội dung sinh hoạt sinh hoạt chuyên môn
Có thể lựa chọn nội dung để xây dựng kế hoạch như sau :
+ Cách hướng dẫn, hỗ trợ học sinh thành lập Hội đồng tự quản (cách xây dựng kế hoạch thành lập Hội đồng tự quản, các triển khai thành lập Hội
Trang 16- Phân công giáo viên, tổ chuyên môn hoặc nhà trường hỗ trợ chuẩn bị.
Bước 2 : Tổ chức tham quan Hội đồng tự quản, các công cụ phục vụ Hội đồng
tự quản của lớp học, giao lưu với học sinh
- Lớp được chọn để tham quan giới thiệu về tổ chức lớp học của lớp mình cho khách tham quan
- Các giáo viên tham quan không gian lớp học, giao lưu với học sinh, tìm hiểu về cách tổ chức Hội đồng tự quản, cách giáo viên rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cần thiết để có thể tự học và học nhóm theo Mô hình trường học mới, cách sử dụng, phát huy các công cụ trong lớp học đối với hoạt động dạy học
Bước 3 : Thảo luận chung
- Sau khi tham quan Hội đồng tự quản và công cụ của Hội đồng tự quản của lớp học, tiến hành trao đổi thảo luận :
+ GV được phân công thuyết minh nội dung đã chuẩn bị và cùng trao đổi với các giáo viên trong tổ, trường, cụm trường về những kinh nghiệm trong quá trình hướng dẫn giúp đỡ học sinh tổ chức hoạt động nhóm, tổ chức hoạt động Hội đồng tự quản
+ Các giáo viên khác thông qua việc tham quan lớp học và giao lưu với học sinh có ý kiến nêu rõ những điều đã học tập được, chia sẻ những băn khoăn, khó khăn, đề xuất các biện pháp tháo gỡ khó khăn
- Cuối buổi thảo luận, người chủ trì tổng kết các ý kiến thảo luận và gợi
ý các vấn đề cần suy ngẫm để việc tổ chức lớp học theo Mô hình trường học mới được hiệu quả hơn
Bước 4 : Áp dụng
Dựa trên kết quả thảo luận và những điều đã quan sát, học tập được qua tham quan, giao lưu với học sinh, các giáo viên (đối với SHCM cấp tổ), các tổ chuyên môn (đối với SHCM cấp trường), các trường (đối với SHCM cấp cụm) nêu rõ phương hướng áp dụng để đổi mới tổ chức lớp học theo Mô hình trường học mới vào lớp, trường mình
* Lưu ý:
+ Cần căn cứ vào số lượng học sinh trong lớp để tổ chức các ban phù hợp + Cần chú ý hướng dẫn các học sinh sẽ luân phiên làm nhóm trưởng.
Trang 17* Minh họa Sinh hoạt chuyên môn về nội dung tổ chức lớp học tại phụ
Bước 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị
- Xây dựng kế hoạch cần tập trung vào nội dung cụ thể mà giáo viên, cán bộ quản lý quan tâm, gặp vướng mắc, khó khăn cần được chia sẻ, hỗ trợ
về nội dung phụ huynh và cộng đồng tham gia vào giáo dục Trong kế hoạch cần nêu rõ: lớp, trường được chọn để minh họa cho nội dung sinh hoạt chuyên môn, dự kiến giáo viên, cha mẹ học sinh, các đoàn thể, ban ngành sẽ tham gia giao lưu, chia
sẻ trong buổi sinh hoạt chuyên môn.
Có thể lựa chọn nội dung để xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn
+ Cách hướng dẫn phụ huynh viết phiếu đánh giá
+ Cách phối hợp với phụ huynh, cộng đồng tham gia xây dựng, bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất và tổ chức không gian trong lớp học
+ Cách phối hợp với phụ huynh cộng đồng xây dựng các nội dung học tập liên quan đến nghề nghiệp hoặc nhu cầu thực tiễn của địa phương
- Phân công giáo viên, cán bộ quản lý cấp trường chuẩn bị thuyết minh nội dung về sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng trong chuyên đề hoặc hội thảo
- Mời một số phụ huynh, đại diện cộng đồng tham gia chuyên đề hoặc hội thảo để trao đổi về cách phối họp với nhà trường đối với giáo dục
Bước 2 : Tổ chức sinh hoạt chuyên môn về nội dung phụ huynh, cộng đồng tham
gia vào giáo dục, giao lưu với phụ huynh, đại diện cộng đồng
- Giáo viên, cán bộ quản lý được phân công thuyết minh nội dung đã chuẩn bị.
- Các phụ huynh, đại điện cộng đồng chia sẻ về cách phối hợp với nhà trường trong hoạt động giáo dục, có thể minh họa rõ hơn về cách thức phối hợp với giáo viên, nhà trường hỗ trợ con em học tập ở trường, cách phối hợp với giáo viên xây dựng và bảo quản các công cụ trong lớp học,
Bước 3 : Thảo luận chung
- Các giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh và đại diện cộng đồng cùng trao đổi những điều đã học tập được, bổ sung những kinh nghiệm hay hoặc chia sẻ những khó khăn cần tháo gỡ, đề xuất biện pháp tháo gỡ khó khăn
Trang 18trong việc phối hợp giữa phụ huynh và cộng đồng đối với giáo viên và nhà trường trong các hoạt động giáo dục.
- Cuối buổi thảo luận, người chủ trì tổng kết các ý kiến thảo luận và gợi
ý các vấn đề cần suy ngẫm để việc phụ huynh và cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo dục hiệu quả hơn
Bước 4 : Áp dụng
Dựa trên kết quả thảo luận và những điều đã học tập được qua trao đổi, chia sẻ, các giáo viên (đối với SHCM cấp trường), các trường (đối với SHCM cấp cụm) nêu rõ phương hướng áp dụng để đổi mới sự tham gia của phụ huynh, cộng đồng theo Mô hình trường học mới vào lớp, trường mình
Minh họa Sinh hoạt chuyên môn về nội dung phụ huynh và cộng đồng
tham gia giáo dục tại phụ lục 4 ( trang 33 )
5.5.5 Sinh hoạt chuyên môn về nội dung Điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học.
Sinh hoạt chuyên môn về nội dung điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học có thể tổ chức thông qua dưới hình thức chuyên đề (đối với cấp tổ, cấp trường) thông qua các bước như sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị
- Giáo viên thuộc các tổ chuyên môn cần nghiên cứu kĩ tài liệu Hướng dẫn học để liệt kê danh sách dự kiến những nội dung sẽ điều chỉnh, báo cáo danh sách này cho Tổ trưởng chuyên môn Cơ sở để giáo viên điều chỉnh tài liệu căn cứ vào: Đặc điểm và trình độ của học sinh; điều kiện cơ sở vật chất của lớp, trường; kinh nghiệm, năng lực sư phạm của giáo viên; nhu cầu của cộng đồng,
- Tổ trưởng chuyên môn có thể phân công giáo viên chuẩn bị dạy thử một bài đã điều chỉnh nội dung để xem xét sự phù hợp của phương án điều chỉnh tài liệu
Bước 2:Thảo luận, thống nhất nội dung và phương án điều chỉnh tài liệu
- Đối với sinh hoạt chuyên môn cấp Tổ: Các giáo viên cùng trao đổi, thống nhất nội dung sẽ điều chỉnh, đề xuất phương án điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học với các giáo viên khác trong tổ chuyên môn.
- Đối với sinh hoạt chuyên môn cấp trường : Tổ trưởng chuyên môn báo cáo những nội dung cơ bản trong tài liệu Hướng dẫn học đã thống nhất điều chỉnh ở tổ Các tổ chuyên môn cùng trao đổi về phương hướng điều chỉnh tài liệu sao cho phù hợp với học sinh trong trường.
- Đối với sinh hoạt chuyên môn cấp cụm: các trường cùng trao đổi, chia sẻ về phương hướng và cách điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học.
Sinh hoạt chuyên môn về nội dung điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học có thể tổ chức dự giờ để thông qua việc quan sát hoạt động học của học sinh, cùng trao đổi về tính hợp
lý hoặc những băn khoăn cần trao đổi thêm khi điều chỉnh tài liệu trong thực tế.
Trang 19Dương đánh giá cao và ghi nhận hướng đi đúng đắn của nhà trường đã tiếp cận đúng hướng theo mô hình trường học mới Chúng tôi cảm thấy tự tin hơn
trên bước đường nhà trường đang đi và những kết quả đạt được như sau:
Mô hình trường học mới thay đổi căn bản trong hoạt động dạy và học:
- Hoạt động dạy của giáo viên được chuyển thành hoạt động học của học sinh,
- Tổ chức dạy học theo lớp thay bằng tổ chức học theo nhóm (4 - 6 học sinh),
- Học sinh từ nghe và ghi nhớ chuyển sang làm việc với sách, tương tác với bạn;
- Giáo viên quản lí lớp học thay bằng họat động tự quản trong nhóm
6.1 Về học sinh:
* Ưu điểm:
- Học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy và học, được trải nghiệm, tìm tòi khám phá, hình thành kiến thức và rút ra bài học nên rất hứng thú tham gia
- Học sinh có thái độ học tập nghiêm túc, có nhiều cơ hội độc lập suy nghĩ bộc lộ ý kiến cá nhân và có cơ hội hợp tác khi học theo nhóm
* Biểu số 4: Thống kê kết quả khảo sát chất lượng học sinh của trường trong 2 năm học.
STT Các tiêu chí Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT Tỉ lệ lên lớp
Vai trò của giáo viên trong mô hình trường học mới được đề cao, đòi hỏi năng lực tổ chức hoạt động, năng lực sư phạm và khả năng sáng tạo của giáo viên Việc tự bồi dưỡng do giáo viên là chính nhưng cũng cần có sự hỗ trợ của đồng nghiệp và hiệu trưởng Hoạt động chuyên môn trong mô hình trường học mới đã giúp giáo viên làm tốt những công việc chính như công tác tổ chức, quản
lí lớp học; nghiên cứu tài liệu hướng dẫn học, tổ chức học theo nhóm; dự giờ, rút kinh nghiệm; hội thảo chuyên môn cấp tổ, trường, cụm trường