Nguyễn Đức Cương tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Huế, khóa học 2012 - 2016
Trang 3Lời Cảm Ơn Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng túng và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
TS Nguyễn Đức Cương tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)”
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Đức Cương đã tận tâm hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi được mở rộng kiến thức trong quá trình thực hiện đề tài, chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô ở khoa Lịch Sử trường Đai học sư phạm Huế đã tận tình dạy dỗ, cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện tại trường.
Do điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2016
Sinh viên Nguyễn Thị Hậu
Trang 4NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 5
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
4.1 Mục đích nghiên cứu: 5
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 6
7 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN 6
8 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC ĐỂ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông 7
1.1.1 Đồ dùng trực quan quy ước trong kiểm tra – đánh giá 7
1.1.1.1 Khái niệm 7
1.1.1.2 Phân loại ĐDTQQƯ 7
1.1.2 Kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh 9
1.1.2.1 Khái niệm 9
1.1.2.2 Mối quan hệ kiểm tra – đánh giá với phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử 17
Trang 61.1.2.3 Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 18
1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực 21
1.2 Thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông 24
1.2.1 Mục đích điều tra 24
1.2.2 Nội dung điều tra 24
1.2.3 Kết quả điều tra 25
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC ĐỂ KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954, Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 27
2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) 27
2.1.1 Mục tiêu của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) 27
2.1.2 Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) 28
2.2 Hệ thống ĐDTQQƯ sử dụng để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 31
2.3 Các nguyên tắc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực HS 38
2.4 Biện pháp sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG theo hướng phát triển năng lực HS 42
2.4.1 Sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG thường xuyên 42
2.4.1.1 Sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG trước giờ học 42
Trang 72.4.1.2 Sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG trong giờ học 43
2.4.1.3 Sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG sau giờ học 46
2.4.2 Sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG định kỳ 46
2.4.2.1 Sử dụng ĐDTQQƯ để kiểm tra bài cũ 46
2.4.2.2 Sử dụng ĐDTQQƯ để kiểm tra 15 phút 47
2.4.2.3 Sử dụng ĐDTQQƯ trong việc kiểm tra 1 tiết, cuối học kỳ hoặc cuối năm 49
2.4.3 Sử dụng ĐDTQQƯđể KT – ĐG việc tự học ở nhà của HS 51
2.5 Thực nghiệm sư phạm 52
2.5.1 Mục đích yêu cầu 52
2.5.2 Phương pháp, kế hoạch thực nghiệm 53
2.5.2.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 53
2.5.2.2 Nội dung thực nghiệm 53
2.5.2.3 Phương pháp thực nghiệm: 53
2.5.3 Kết quả thực nghiệm 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, loài người đang tiến đếnnền văn minh tri thức Với nền văn minh đó, những phương tiện thông tin liên lạchiện đại xuất hiện ngày càng nhiều, thông tin bùng nổ, kho tàng kiến thức của nhânloại trở nên vô tận Để theo kịp và hòa nhập với xu thế phát triển của thời đại đòihỏi sự nghiệp giáo dục cũng phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ nhằmphát triển năng lực học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngườihọc, chống lại thói quen học tập thụ động, có thể xem đó như một điều kiện, đồngthời cũng là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục hiện nay ởnước ta
Mặt khác, xu hướng chung của thế giới hiện nay là chuyển từ dạy học tậptrung vào mục tiêu, nội dung kiến thức sang tập trung vào việc tổ chức quá trình dạy
và học, đánh giá để phát triển, nhằm hình thành các năng lực khác nhau cho ngườihọc Khi chương trình được xây dựng theo cách tiếp cận hình thành năng lực, thìngười ta không quá xem trọng các tri thức nữa mà xem trọng phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy và học, làm thế nào để phát triển các năng lực ở người học
Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đều cho rằng, dạy học là một quá trình cótính mục đích, nó thường phải bao gồm đầy đủ các thành tố cơ bản sau: Xây dựngmục tiêu, thiết kế nội dung, tổ chức hoạt động dạy – học và kiểm tra đánh giá Dovậy, KT – ĐG là một khâu rất quan trọng, không thể tách rời của quá trình dạy học.Bởi đối với người GV, khi tiến hành quá trình dạy học họ phải xác định rõ mục tiêucủa bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy họcsao cho phù hợp với đối tượng người học và đạt chất lượng hiệu quả theo mục tiêu
đã đề ra Muốn biết quá trình dạy học có chất lượng, hiệu quả hay không, GV phảithu thập thông tin phản hồi từ HS để qua đó đánh giá và điều chỉnh phương pháp,
kỹ thuật dạy của mình cũng như giúp HS điều chỉnh các phương pháp học
KT - ĐG là một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đó là khâu
mở đầu quá trình dạy học, đồng thời cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này
để mở ra một quá trình dạy học khác cao hơn đồng thời nó cũng có tác động điều tiếttrở lại quá trình đào tạo KT – ĐG trước hết phải vì sự tiến bộ của HS, giúp HS nhận
Trang 9ra mình đang ở đâu trên con đường đạt đến mục tiêu bài học, chuẩn kiến thức kĩnăng… KT – ĐG không làm HS lo sợ, mất tự tin KT – ĐG phải diễn ra trong suốtquá trình dạy học, giúp HS liên tục phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ởđiểm nào để cả GV và HS cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học KT – ĐG phải tạo
ra sự phát triển, phải nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình thànhkhả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau… để phát triển năng lực tự học
Hiện nay, rất nhiều GV, cán bộ quản lý giáo dục chưa thấu hiểu triết lý KT –
ĐG, chủ yếu mới tập trung vào đánh giá kết quả học tập để xếp loại HS GV cũnggặp rất nhiều khó khăn khi phải đánh giá các hoạt động giáo dục (không biết đánhgiá các hoạt động ngoài giờ lên lớp, đánh giá đạo đức, giá trị sống, kĩ năng sốngnhư thế nào…) Nếu đánh giá chỉ là sự kiểm tra học thuộc bài (ghi nhớ), làm lại theocác kiểu, dạng bài mẫu của GV… dẫn đến triệt tiêu sự phát triển, sự nỗ lực vươn lêncủa người học
Yêu cầu của dạy học hiện nay là phải đổi mới các phương pháp KT – ĐGtheo hướng phát triển năng lực HS Muốn vậy KT – ĐG không dừng lại ở yêu cầutái hiện kiến thức, mà còn phải khuyến khích trí thông minh, sáng tạo, phát huy khảnăng tư duy của HS, tạo điều kiện để HS tham gia vào quá trình tự KT - ĐG bảnthân và biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Để việc KT - ĐG đem lại kết quả cao đòi hỏi GV phải biết kết hợp nhuầnnhuyễn các phương pháp, kỹ năng dạy học một cách tối ưu nhằm phát huy tính tíchcực, sáng tạo của người học, nâng cao chất lượng dạy học, trong đó việc sử dụng đồdùng trực quan quy ước là rất cần thiết
Mỗi môn học trong nhà trường phổ thông đều có phương pháp kiểm tra đánhgiá phù hợp Trong dạy học Lịch sử cũng vậy, việc sử dụng ĐDTQQƯ góp phầnnâng cao chất lượng KT - ĐG, gây hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của HS ĐDTQ nói chung và ĐDTQQƯ nói riêng là phương tiện giúp cụ thểhóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử, giúp HS hiểu sâu kiến thức, giải quyết các vấn
đề đã đặt ra từ đó phát triển năng lực cho HS
Vấn đề sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG theo hướng phát triển năng lực trongdạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến 1954 là rất cần thiết vì đây là một thời
kỳ quan trọng của quá trình phát triển lịch sử dân tộc, thời hiện đại cần được nhậnthức đầy đủ
Trang 10Nhận thức một cách sâu sắc vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng ĐDTQQƯtrong KT - ĐG theo hướng phát triển năng lực trong dạy học lịch sử Cùng với sựđộng viên và giúp đỡ tận tình của thầy giáo, TS Nguyễn Đức Cương, tôi đã mạnh
dạn chọn đề tài “Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra - đánh giá
theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)” làm đề tài khóa luận của mình.
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề KT - ĐG trong dạy học nói chúng và trong dạy học lịch sử nói riêng
đã được đề cập đến trong nhiều công trình, được xem xét và nghiên cứu với nhiềugóc độ khác nhau như:
Ở nước ngoài
Đề cập đến kiểm tra đánh giá trong giáo dục nói chung, tác phẩm “Trắcnghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục” của Quentin Stodola và KlomerrStordah
Theo Crôn-bach: “Kiểm tra đánh giá là quá trình thu thập thông tin để đi đếnnhững quyết định cụ thể” [18, tr.101] Nói rõ hơn, R.F.Marge (1993) đã viết: Đánhgiá là việc miêu tả tính tình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phảitiếp tục và giúp học sinh tiến bộ” [6, tr.134]
N.G Đairri đã đi sâu vào tầm quan trọng của KT - ĐG trong dạy học lịch
sử, ông khẳng định: “Những nhiệm vụ của kiểm tra định kỳ không giới hạn ở chỗphát hiện và cho điểm kiến thức mà kiểm tra còn thúc đẩy học sinh học tập… Ngoàichức năng kiểm tra và giáo dục, kiểm tra còn chức năng giáo dưỡng và phát triển tưduy Kiểm tra đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với yêu cầu phát triển ngônngữ của học sinh
Ở trong nước
Vấn đề này cũng được các nhà nghiên cứu giáo dục học, các nhà nghiên cứugiáo dục lịch sử nước ta đề cập đến rất nhiều như:
Theo Nguyễn Đình Chỉnh thì “Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh vừa đóng vai trò bánh lái, vừa giữ vai trò động lực của dạy học Nó định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và hoạt động quản lí giáo dục” [5, tr.56].
Trang 11Theo Trần Thị Tuyết Oanh thì “nếu coi quá trình giáo dục đào tạo là một hệ
thống thì đánh giá đóng vai trò phản hồi của hệ thống, có vai trò tích cực trong
việc điều chỉnh hệ thống, là cơ sở cho việc đổi mới giáo dục đào tạo” [20, tr.15].
Đi sâu nghiên cứu bộ môn, vấn đề kiểm tra đánh giá trong dạy học lịch sử(DHLS) được đề cập đến trong nhiều tác phẩm:
Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên và Trần văn Trị (2002), “Phương pháp dạy học lịch sử” (tập 1và 2) do Phan Ngọc Liên (chủ
biên) là những giáo trình viết một cách hệ thống về lí luận DHLS, trong đó các tác
giả cho rằng: “Kiểm tra (bao gồm cả tự kiểm tra và kiểm tra nhau) là quá trình thu
thập những thông tin để có được những nhận xét, xác định mức độ đạt được về số lượng hay chất lượng của quá trình lĩnh hội kiến thức, trau dồi kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thái độ của nghười học Kiểm tra để có dữ liệu thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá”.
Sách “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường Trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Côi đã khẳng định: Kiểm tra đánh
giá là một hoạt động không thể thiếu, biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượngdạy học bộ môn Và coi việc kết hợp hai phương pháp kiểm tra: Trắc nghiệm kháchquan và tự luận là một trong những biện pháp hữu hiệu
Tất cả những tài liệu trên đây đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của việc KT –ĐG.Tuy nhiên việc sử dụng ĐDTQQƯ vào KT - ĐG nói chung và vào KT - ĐGtheo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến
1954 nói riêng thì chưa có một đề tài nào, công trình nào đi sâu nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa các công trình và tài liệu sẵn có tôi đi sâu vào việc “Sử
dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954,
ở trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)”.
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng đồ dùng trực quan quyước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông (Chươngtrình chuẩn)
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm trađánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từnăm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) (Bàihọc nội khóa)
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tiến hành xác định những nội dung kiến thức cơ bản, sự kiện lịch sử
cơ bản về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, trên cơ sở đóxác định những nguyên tắc, biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểmtra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam
từ năm 1945 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông, góp phần đổi mớiphương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạyhọc lịch sử ở trường THPT
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quanquy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy họclịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông
Nghiên cứu nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm
1954 ở trường THPT – Chương trình chuẩn
Nghiên cứu đề xuất các nguyên tắc, biện pháp sử dụng đồ dùng trực quanquy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy họclịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông(Chương trình chuẩn)
Tiến hành thực nghiệm để kiểm định tính khả thi của đề tài
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin,Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về lịch sử và giáo dụclịch sử
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Nghiên cứu tài liệu về giáo dục học, tâm lí học, giáo dục lịch sử và các tàiliệu liên quan khác
Trang 13- Phương pháp điều tra xã hội học:
+ Điều tra thực tế qua dự giờ, điều tra xã hội học trong giáo viên, học sinh,
xử lí số liệu theo phương pháp thống kê toán học để rút ra kết luận
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi của đề tài theohướng từ điểm suy ra diện
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu coi trọng và tuân thủ các nguyên tắc và biện pháp sử dụng đồ dùng trựcquan quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trongdạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông(Chương trình chuẩn) theo hướng khóa luận đã đề xuất thì sẽ phát huy được tínhtích cực, năng động, sáng tạo, phát triển được những năng lực của học sinh, gópphần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông
7 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN
Thứ nhất: Khẳng định ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sửViệt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông
Thứ hai: Đề xuất các nguyên tắc và biện pháp sử dụng đồ dùng trực quanquy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy họclịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông(Chương trình chuẩn)
8 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm
có hai chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quyước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy họclịch sử ở trường Trung học phổ thông
Chương 2: Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theohướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đếnnăm 1954, ở trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC ĐỂ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
1.1.1 Đồ dùng trực quan quy ước trong kiểm tra – đánh giá
1.1.1.1 Khái niệm
“Đồ dùng trực quan quy ước là những bản đồ, kí hiệu hình học đơn giản được sử dụng trong dạy học lịch sử, loại đồ dùng này là đồ dùng mà giữa người thiết kế, người sử dụng và người học có những quy ước ngầm nào đó (về màu sắc,
ký hiệu hình học, tỉ lệ xích…)”[21, tr.12] Đồ dùng trực quan quy ước (ĐDTQQƯ)
là loại đồ dùng dạy học đơn giản, không tốn kém nhưng tính hiệu quả lại rất cao và
là công cụ biểu hiện tư duy mở rộng, GV có thể viết nhanh trên bảng hoặc vẽ trêngiấy, hay được thiết kế bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
ĐDTQQƯ là một loại tài liệu có giá trị, với hình ảnh, màu sắc, mã số… tạonên sức thu hút, hấp dẫn, cá tính, nhờ đó đẩy mạnh sự sáng tạo, khả năng ghi nhớ.Đặc biệt là sức gợi nhớ thông tin cho HS Nó không chỉ là phương tiện để cụ thểhóa sự kiện lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm
1.1.1.2 Phân loại ĐDTQQƯ
ĐDTQQƯ gồm nhiều loại: Niên biểu, đồ thị, sơ đồ, bản đồ lịch sử, hình vẽtrên bảng với những tính năng và tác dụng khác nhau, vì vậy khi sử dụng phải tìmhiểu cụ thể để phát huy hiệu quả của nó
- Niên biểu: Niên biểu là bảng nêu các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian,
mối liên hệ giữa các sự kiện theo trình tự một cách logic Có ba loại niện biểu sau:
+ Niên biểu tổng hợp: Niên biểu này được sử dụng để liệt kê những sự kiện
lớn xảy ra trong một thời gian dài Nó không những giúp học sinh ghi nhớ những sựkiện chính mà còn nắm được các móc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sựkiện quan trọng Loại niên biểu này được sử dụng khi tiến hành dạy các bài ôn tập,tổng kết nhằm hệ thống hóa kiến thức một cách thứ tự, lôgic, giúp HS nắm chắc
Trang 15kiến thức hơn Niên biểu tổng hợp còn dùng để trình bày những mặt khác nhau củamột sự kiện xảy ra giúp khắc sâu kiến thức cho HS Ví dụ như niên biểu các sự kiện
cơ bản của lịch sử thế giới trong những năm 1917 - 1945
+ Niên biểu chuyên đề: Là loại niên biểu nhằm trình bày nội dung vấn đề
quan trọng nổi bật nào đó của một thời kỳ nhất định giúp HS nắm được bản chất sựkiện một cách đầy đủ
+ Niên biểu so sánh: Là loại niên biểu dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện
xảy ra cùng một lúc trong lịch sử nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng của các sựkiện hoặc để rút ra kết luận khái quát có tính chất nguyên lý
- Đồ thị: Dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện
lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học Đồ thị có thể biểudiễn bằng một mũi tên dùng để chỉ sự vận động phát triển đi lên, sự phát triển củamột hiện tượng lịch sử, hoặc được biểu diễn trên trục hoành
- Sơ đồ, biểu đồ (bản biểu):
Nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng những ký hiệu hình học đơn giảnđược GV vẽ nhanh trên bảng hoặc trên giấy, hoặc được thiết kế bằng các phươngtiện kỹ thuật hiện đại Vì vậy khi sử dụng loại ĐDTQQƯ này không chỉ đòi hỏi GV
về mặt chuyên môn mà còn đòi hỏi về năng khiếu và nghệ thuật dạy học trong xử lýngôn ngữ, viên phấn và bảng đen
Có nhiều loại bản biểu khác nhau như: Biểu đồ khái niệm, biểu đồ chuỗi,biểu đồ phân loại, biểu đồ hình Ven, biểu đồ chữ T, sơ đồ nhóm, sơ đồ nhân quả Ví
dụ như sơ đồ “Tình hình nước Nga trước cách mạng”.
- Bản đồ (lược đồ): Là loại ĐDTQQƯ được sử dụng thông dụng trong các
trường THPT Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian vàkhông gian nhất định Đồng thời bản đồ lịch sử còn giúp HS suy nghĩ và giải thíchcác hiện tượng lịch sử về mối quan hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự pháttriển của quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học
Bản đồ lịch sử về hình thức không nhất thiết có nhiều chi tiết, điều kiện tựnhiên mà cần có những ký hiệu về biên giới quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố,các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra biến cố quan trọng Các minh họa trên bản đồ phảiđẹp, chính xác, rõ ràng Về nội dung, bản đồ có thể chia làm hai loại: Bản đồ tổnghợp và bản đồ chuyên đề
Trang 16+ Bản đồ tổng hợp: Là loại bản đồ phản ánh những sự kiện lịch sử quan
trọng nhất của một nước hay nhiều nước liên quan ở một thời kỳ nhất định, trongđiều kiện tự nhiên nhất định
+ Bản đồ chuyên đề: Nhằm diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay một mặt của
quá trình lịch sử, như diễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của một nướctrong một giai đoạn lịch sử
1.1.2 Kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh
1.1.2.1 Khái niệm
- Khái niệm kiểm tra
Kiểm tra là một quá trình mà các mục tiêu và các tiêu chí đi kèm được định
ra từ trước, trong đó chúng ta kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm với các mục tiêu vàtiêu chí đã xác định Bản chất của việc kiểm tra là quá trình thu thập thông tin để cóđược những nhận xét, xác định mức độ đạt được cả về số lượng hay chất lượng củaquá trình lĩnh hội kiến thức, trau dồi kĩ năng, kĩ xảo, hình thành nhân cách ở ngườihọc Quá trình kiểm tra thường hướng tới kiểm tra các thành phần: Kiến thức, kĩnăng, thái độ, năng lực [4, tr.61]
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “Kiểm tra là hoạt động đo, xem
xét, thử nghiệm hoặc định cỡ một hay nhiều đặc tính của sản phẩm và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính”.[14, tr.22].
Theo từ điển giáo dục “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình dạy – học
nhằm nắm được thông tin về tình trạng và kết quả học tập của học sinh, về nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy – học” [10, tr.224].
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, “Kiểm tra là hoạt động động đo lường để
đưa ra các kết quả, các nhận xét, phán quyết dựa vào các thông tin thu được theo công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được, những nguyên nhân…, kiểm tra cũng là hoạt động đánh giá Trong giáo dục, kiểm tra thường gắn với việc tìm hiểu làm rõ thực trạng Các kết quả kiểm tra trên lớp học được sử dụng để điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và học, hướng tới đạt mục tiêu đã đặt ra” [14, tr.23].
Qua các định nghĩa trên cho thấy trong quá trình dạy – học, để nắm vữngđược những thông tin về kiến thức, kĩ năng, năng lực và thái độ của người học đạt
Trang 17được sau một quá trình học tập, giáo viên phải tiến hành kiểm tra Vì kiểm tra sẽtheo dõi, thu thập được thông tin, chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, củng cố,tăng cường việc học tập và phát triển học sinh Vì vậy, kiểm tra được xem là hìnhthức và phương tiên của đánh giá Kiểm tra càng chính xác kịp thời càng tạo cơ sởvững chắc cho việc đánh giá được khách quan, khoa học.
- Khái niệm về đánh giá
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “đánh giá” và được xem xéttrên những góc độ rộng, hẹp khác nhau: Đánh giá nói chung, đánh giá trong giáodục và đánh giá kết quả học tập
“Đánh giá là hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo” [20, tr.7]
“ Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót”.[ 4, tr 61]
- Mối quan hệ giữa kiểm tra – đánh giá
Trong giáo dục, kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sởcho đánh giá Đánh giá đóng vai trò phản hồi Vì vậy trong dạy học, KT – ĐG là haicông việc thường xuyên đi liền nhau, có quan hệ mật thiết, cái này là điều kiện, là
hệ quả của cái kia Kiểm tra vừa là phương tiện vừa là hình thức của đánh giá.Muốn đánh giá được chính xác phải tiến hành kiểm tra theo những quy định chặtchẽ trong đó kết quả kiểm tra là cơ sở cho đánh giá, mục đích đánh giá quyết địnhnội dung và phương pháp kiểm tra
- Khái niệm phát triển năng lực học sinh
+ Khái niệm năng lực
Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực
“Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính cá nhân của con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt kết quả cao”.[22, tr.111]
“Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiệnthành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002) [23, tr.6]
Trang 18“Năng lực là khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng sẵn chứa trong đó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm với các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weirenert, 2001) [4, tr.45]
+ Năng lực học sinh
“Năng lực của HS là một cấu trúc (trừu tượng) có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng… mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội”.[4, tr.45]
“Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống vàlàm việc bình thường trong xã hội” [4, tr.45]
- Có 8 năng lực chung sau:
Thứ nhất, là năng lực tự học: Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể
tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc họccủa mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnhhoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làmviệc và hợp tác với người khác Năng lực tự học biểu hiện qua việc HS xác địnhđược nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấnđấu tiếp, mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao hơnnhững khía cạnh còn yếu kém Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập riêngcủa mình; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khácnhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp thuận lợi cho việcghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết, tự đặt được vấn đề học tập Ngoài ra nănglực tự học còn biểu hiện ở việc tự nhận ra điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bảnthân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết để có thể chia sẻ,vận dụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch racho mình những kế hoạch điều chỉnh cách học làm sao để nâng cao hiệu quả và chấtlượng học tập Cụ thể trong bộ môn Lịch sử, KT - ĐG phát triển năng lực tự họcbiểu hiện qua kỹ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để
tự tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua kênh hình; đọc và phát hiện kiến thức cơbản trong sách giáo khoa lịch sử; khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua
Trang 19tài liệu tham khảo; kỹ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe giảng và tự chép;khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi; khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôntập, củng cố kiến thức.
Thứ hai, là phát triển năng lực giải quyết vấn đề Biểu hiện qua việc HS phântích được tình huống, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trongcuộc sống Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; đề xuất vàphân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợpnhất.Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề để diều chỉnh và vận dụngtrong bối cảnh mới Trong bộ môn Lịch sử, KT - ĐG phát triển năng lực giải quyếtvấn đề thông qua kỹ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử; khả năng vậndụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử; kỹ năng đưa ra được cách thức trả lờicác câu hỏi đã đặt ra; kỹ năng lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề, tình huốngthực tiễn một cách tối ưu; kỹ năng trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận đánh,chiến dịch, cuộc chiến tranh trên lược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử, kỹ năng vận dụngkiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống hay các vấn đềthời sự đang diễn ra ở trong nước và thế giới; kỹ năng xác định và giải quyết đượcmối liện hệ và ảnh hưởng tác động giữa các sự kiện lịch sử với nhau
Thứ ba, là phát triển năng lực sáng tạo Năng lực sáng tạo biểu hiện qua việcđặt câu hỏi có giá trị để làm rõ các tình huống và những ý tưởng trừu tượng; xácđịnh và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khácnhau; phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tincậy của ý tưởng mới Xem xét sự vật với những góc nhìn khác nhau Lý luận về quátrình suy nghĩ, nhận ra yếu tố sáng tạo trong các quan điểm trái chiều; phát hiệnđược các điểm hạn chế trong quan điểm của mình, áp dụng điều đã biết trong hoàncảnh mới Say mê, nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống, không
sợ sai, suy nghĩ không theo lối mòn, tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khácnhau Phát triển năng lực sáng tạo qua việc rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi, bài tậplịch sử một cách sáng tạo, kỹ năng nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từ những sựkiện, hiện tượng, nhân vật, vấn đề lịch sử
Thứ tư, là năng lực tự quản lý Năng lực này biểu hiện ở việc đánh giá đượcảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hành động, việc làm của mình, trong học tập
và trong cuộc sống hàng ngày, làm chủ được cảm xúc của bản thân trong học tập và
Trang 20trong cuộc sống Nhận ra và tự điều chỉnh được một số hạn chế của bản thân tronghọc tập, lao động và sinh hoạt.
Thứ năm, là năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp xác định được mục đíchgiao tiếp, dự kiến được thuận lợi, khó khăn để đạt được mục đích trong giao tiếp, chủđộng trong giao tiếp, tôn trọng, lắng nghe, phản ứng có tích cực trong giao tiếp Qua
KT - ĐG phát huy được khả năng sử dụng ngôn ngữ để trình bày một nội dung kiếnthức, diễn đạt được ngôn ngữ lịch sử qua các thời kỳ, tránh hiện đại hóa lịch sử
Thứ sáu, là năng lực hợp tác KT - ĐG phát triển được kỹ năng làm việc theonhóm, tập thể khi giải quyết nhiệm vụ học tập, kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử
Thứ bảy, là năng lực sử dụng công nghệ thông tin (ITC) là kỹ năng khai thácinternet thông tin tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu… để tìm kiếm nội dungkiến thức lịch sử Kỹ năng sử dụng phần mềm trong dạy học như sơ đồ tư duy,Powerpoint để trình bày nội dung lịch sử
Thứ tám, là năng lực tính toán: Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộmôn Lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thị Lịch sử
Năng lực chuyên biệt là những được hình thành và phát triển trên cơ sở cácnăng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạtđộng, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạtđộng chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hẹp hơn của một hoạt động như toán học, âmnhạc, mĩ thuật, thể thao…
Trang 21Các Năng lực chuyên biệt trong môn Lịch sử ở cấp THPT
vẽ được đồ thị, sơ đồ thể hiện nội dung lịch sửKhai thác được nội dung lịch sử cần thiết thông qua lược đồ, bản đồ, tranh ảnh, phim tư liệu, hiện vật, mẫu vật, bảo tàng, di tích
5 Nhận xét, đánh giá,
rút ra bài học lịch sử
từ những sự kiện, hiện
Nhận xét, đánh giá các vấn đề lịch sử, các phong trào yêu nước theo những khuynh hướng khác nhau,những hoạt động của các cá nhân tiêu biểu, các
Trang 22[4, tr.48-49].
Đánh giá HS theo định hướng năng lực: Đánh giá năng lực là đánh giá khả
năng thực hiện một công việc cụ thể dựa trên việc kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái
độ phù hợp với yêu cầu sản phẩm đầu ra của quá trình giáo dục Trong dạy học,năng lực cần đạt của HS phổ thông là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị cơ bản được
cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả, đó là sự kết hợp một cách linhhoạt của kiến thức, kĩ năng cơ bản với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…Thực chất, đánh giá năng lực là đánh giá theo chuẩn và theo sản phẩm đầu ra Cácnăng lực cụ thể, thiết yếu này được thực hiện từ sự vận dụng, kết hợp các kiến thức,
kĩ năng, thái độ, động cơ… đặc biệt là sự vận dụng các tri thức đã học vào trongthực tiễn cuộc sống
Điểm khác nhau quan trọng nhất giữa đánh giá năng lực so với đánh giá theochuẩn kiến thức, kĩ năng là chú trọng đánh giá việc vận dụng kiến thức ở mức độcao, vận dụng kiến thức và sáng tạo trong thực hành và sử dụng nhiều phương phápđánh giá khác nhau Đánh giá năng lực là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc
HS đã thực hiện các sản phẩm đầu ra tới mức độ nào, thông qua những hành động
cụ thể của HS trong một số nhiệm vụ học tập tiêu biểu
Trang 23Dựa trên chuẩn và tiêu chí, đánh giá năng lực cho thấy tiến bộ của học sinhdựa trên việc thực hiện đạt được hay không đạt các sản phẩm đầu ra trong các giaiđoạn khác nhau.
Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung
và đánh giá tiếp cận năng lực
STT Đánh giá theo hướng tiếp cận
nội dung
Đánh giá theo hướng tiếp cận
năng lực
1 Các bài thi trên giấy được thực hiện
vào cuối một chủ đề, một chương,
một học kì
Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực hành, sản phẩm dự án, cá nhân, nhóm…) trong suốt quá trình học tập
2 Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác
3 Quan tâm tới mục tiêu cuối cùng
của việc dạy học
Quan tâm đến phương pháp học tập, phương pháp rèn luyện của học sinh
4 Chú trọng vào điểm số Chú trọng vào quá trình tạo ra sản
phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến các chi tiết của sản phẩm để nhận xét
5 Tập trung vào kiến thức hàn lâm Tập trung vào năng lực thực tế và
sáng tạo
6 Đánh giá do các cấp quản lí và do
giáo viên còn tự đánh giá của HS
không hoặc ít được công nhân
Giáo viên và học sinh chủ động trongđánh giá, khuyến khích tự đánh giá
và đánh giá chéo của học sinh
7 Đánh giá đạo đức học sinh chú
trọng đến việc chấp hành nội quy
nhà trường, tham gia phong trào thi
đua…
Đánh giá đạo đức học sinh toàn diện, chú trọng đến năng lực cá nhân, khuyến khích học sinh thể hiện cá tính và năng lực bản than
8 Đánh giá chú trọng đến kiến thức Đánh giá kĩ năng và năng lực
9 Đánh giá dựa theo chuẩn tuyệt đối,
Trang 24trình bày một cuộc kháng chiến, một chiến dịch, hay khai thác tranh ảnh, lược đồlịch sử, lập được một bảng niên biểu, bảng thống kê, phân tích so sánh, nhận xét,đánh giá một sự kiện, hiện tượng, nhận định, nhân vật lịch sử cũng chính là chúng
ta đã tiến hành KT, ĐG những năng lực của HS
- Tuy nhiên, ở những lần KT, ĐG trước đó chúng ta chưa nhấn mạnh vấn đềnăng lực và trong thực tiễn KT - ĐG môn Lịch sử, những câu hỏi ở mức độ vậndụng – loại công cụ đánh giá thể hiện rõ nhất đánh giá năng lực, phẩm chất của HSchưa nhiều, còn chiếm tỉ lệ ít trong các câu hỏi khi KT, ĐG kết quả học tập của HS
Do vậy, cần phải chú trọng KT – ĐG theo định hướng năng lực, phẩm chất
HS, tỷ lệ những câu hỏi ở mức độ vận dụng nhằm KT – ĐG năng lực, phẩm chấtcủa HS phải được chú trọng đúng mức và chiếm tỷ lệ phù hợp, cân đối với những
CH ở mức độ hiểu biết nội dung lịch sử
1.1.2.2 Mối quan hệ kiểm tra – đánh giá với phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử
KT – ĐG và việc phát triển năng lực học sinh có mối quan hệ mật thiết, tácđộng qua lại lẫn nhau Trong quá trình dạy - học để nắm được những thông tin vềkiến thức, kĩ năng, và thái độ của người học đạt được sau một quá trình học tập, GVphải tiến hành KT - ĐG, từ đó sẽ thu thập được thông tin kết quả học tập và ghinhận những cố gắng của HS, phát triển năng lực HS Những kiến thức lại là cơ sở
để hình thành và rèn luyện năng lực là những kiến thức mà người học phải năngđộng, tự kiến tạo, huy động được Vì vậy, KT – ĐG có tác động thúc đẩy phát triểnnăng lực và khi các năng lực được phát triển sẽ mang lại hiệu quả tốt cho quá trình
KT – ĐG nhờ những kiến thức mới được tạo ra
1.1.2.3 Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.2.3.1 Mục đích của kiểm tra - đánh giá
- Đối với GV:
+ KT - ĐG để GV kiểm soát được quá trình tiến bộ của HS, từ đó có biệnpháp giảng dạy phù hợp
Trang 25+ KT - ĐG giúp GV tự kiểm tra đánh giá trình độ chuyên môn và năng lực
sư phạm của mình, từ đó có biện pháp để điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả dạy vàhọc đáp ứng yêu cầu môn học, mục đích môn học đề ra
- Đối với HS:
Thứ nhất: Định hướng và thúc đẩy quá trình học tập:
+ Qua KT – ĐG thông báo cho từng HS biết được trình độ tiếp thu kiến thức
và những kỹ năng môn học của mình so với yêu cầu của chương trình cũng như sựtiến bộ của họ trong quá trình học tập, nhằm thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập
+ KT – ĐG giúp HS phát hiện những nguyên nhân sai sót cần phải bổ sung,điều chỉnh trong hoạt động học
Thứ hai: Kiểm tra, đánh giá để phân loại, xếp loại HS:
+ Công khai hóa các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS
và mỗi tập thể lớp, tạo cơ hội để các em phát triển kĩ năng tự đánh giá để nhận ra sựtiến bộ của mình, khuyến khích, động viên các em học tập, có kế hoạch bồi dưỡngkịp thời Đồng thời qua đó giáo dục HS nâng cao tinh thần trách nhiệm trong họctập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, có thêm nhiều niềm tin ở sức lực, khả năng củamình để từ đó có nhu cầu tự kiểm tra đánh giá thường xuyên
+ Phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động của người học
- Đối với nhà quản lý:
Thông qua KT - ĐG giúp nhà quản lý tìm thấy thông tin để đưa ra quyết địnhkịp thời, đồng thời xác định tính hiệu quả của chương trình học tập và cung cấpthông tin phản hồi cho nhà quản lý và những nhà thiết kế chương trình
1.1.2.3.2.Ý nghĩa của kiểm tra - đánh giá trong dạy học lịch sử ở trường THPT
- Đối với GV
KT - ĐG học sinh giúp GV thu thập thông tin “ngược ngoài”, đó là nhữngthông tin tương đối chính xác, toàn diện liên quan đến HS (về kiến thức, kỹ năng,thái độ) Từ đó, GV xem xét lại những mục tiêu đề ra cho HS đã phù hợp hay chưa,phương pháp giảng dạy - giáo dục thành công như thế nào, những vấn đề cần rútkinh nghiệm và cải tiến cho phù hợp với mục tiêu bộ môn, trình độ nhận thức của
HS vừa nâng cao chất lượng dạy học Đồng thời, thông qua KT - ĐG còn giúp GVthẩm định trên thực tế hiệu quả những cải tiến, đổi mới nội dung và phương phápdạy học, chất lượng các đề thi (hệ thống câu hỏi) của mình đã đảm bảo tính toàn
Trang 26diện, tính vừa sức, đã hướng HS vào trọng tâm của bài hay chưa, đã phát huy đượctính tích cực của HS hay chưa… Qua đó, GV tự đánh giá lại vốn tri thức, trình độchuyên môn, phương pháp dạy học, năng lực sư phạm, nhân cách, uy tín của mình
và rút ra những kinh nghiệm cho công việc dạy học sau này
- Đối với HS:
KT - ĐG là thước đo kết quả học tập của HS trong học tập bộ môn có tácdụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng Qua KT - ĐG và việc GVcông khai hóa các nhận định về năng lực, về kết quả học tập của mỗi HS đưa lạinhững thông tin “ngược trong” giúp HS nhận ra sự tiến bộ hay hạn chế của mình, tựđánh giá mức độ lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo so với yêu cầu học tập, từ đó tựtìm cách điều chỉnh hoạt động học của mình, KT - ĐG cũng là động lực để mỗi HSphấn đấu, nỗ lực cố gắng học tập Nghĩa là KT - ĐG không chỉ là biện pháp để hoànthiện tri thức mà còn là điều kiện để hình thành phương pháp tự học, thái độ học tậptích cực cho HS, cụ thể:
+ Về giáo dưỡng: Kiểm tra là điều kiện để HS củng cố, hiểu sâu những kiến
thức đã học; xác định rõ trọng tâm kiến thức của bài và nhiệm vụ nhận thức của HStrong giờ học; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng tri thức, phát triển năng lực tưduy sáng tạo của mình Qua đó HS tự phát hiện ra điểm mạnh, điểm yếu, những lỗhổng, thiếu sót của mình để kịp thời phát huy hay điều chỉnh phương pháp học tậpcủa mình nhằm đạt kết quả cao hơn Nghĩa là “biến quá trình đào tạo thành quátrình tự đào tạo”
+ Về giáo dục:Thông qua KT - ĐG sẽ hình thành ở HS nhu cầu, thói quen tự
KT - ĐG; rèn luyện ý chí, quyết tâm, tính kỉ luật, trung thực, tự giác, ý thức học hỏi,tinh thần trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập; rèn luyện cho HS sự tự tinvào khả năng học và làm việc độc lập, khả năng tự điều chỉnh hoạt động học tập củachính mình; bồi dưỡng cho HS lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kếtdân tộc, quốc tế; khắc phục tính chủ quan, tự mãn, ngộ nhận về năng lực bản thân, ỷlại hay chán nản, không tin tưởng vào chính mình Như vậy, KT - ĐG sẽ tạo cho HShình thành những tư tưởng, đạo đức tốt đẹp, biết cách cư xử có văn hóa và có mộttâm thế, động lực học tập tích cực, chống lại những biểu hiện tiêu cực trong học tập,thi cử
Trang 27+ Về phát triển: KT - ĐG góp phần kích thích sự chú ý và phát triển năng
lực nhận thức của HS, đặc biệt là thao tác phân tích, tư duy, tổng hợp, so sánh… Vìthông qua KT - ĐG, HS có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí tuệ: ghi nhớ, táihiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức Tiến hành kiểm trathường xuyên, khoa học sẽ rèn luyện cho HS khả năng tư duy nhanh nhạy, độc lập,sáng tạo, lập luận sâu sắc và biết cách trình bày những kiến thức một cách hệ thống
để trả lời cho câu hỏi đặt ra hay vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn
đề do thực tiễn đề ra
- Đối với các nhà quản lý - lãnh đạo
KT - ĐG là cơ sở để đánh giá kết quả đào tạo (cả về định tính và định lượng)
và xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, đổi mới nội dung, phương pháp dạyhọc, về vấn đề chất lượng GV Vì vậy, từ những thông tin phản hồi các nhà quản lý
sẽ đánh giá về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục, xác định tính hiệuquả của chương trình học tập, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, độingũ giáo viên Từ đó đưa ra những quyết định cải tiến, chỉ đạo nhằm hoàn thiện nộidung, đổi mới phương pháp dạy học, kịp thời uốn nắn những lệch lạc, khuyếnkhích, hỗ trợ những sáng kiến hay, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lýgiáo dục, đội ngũ giáo viên để bảo đảm nâng cao hiệu quả dạy học, thực hiện tốtmục tiêu giáo dục
Tóm lại, KT - ĐG trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng có ýnghĩa to lớn về nhiều mặt đối với GV và HS Nó “là phương tiện quan trọng khôngnhững giúp cho GV loại trừ những thiếu sót, những “lỗ hổng” trong tri thức HS,ngăn ngừa sự lãng quên… mà còn là phương tiện quan trọng để HS nắm tri thứcvững vàng hơn, chuẩn bị một cách tốt nhất cho HS bước vào cuộc sống và học tậpsau này” Như vậy, KT - ĐG vừa phát hiện, vừa là động lực thúc đẩy sự điều chỉnhthực trạng dạy – học của GV và HS
1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh
giá theo hướng phát triển năng lực.
Hiện nay trong dạy học Lịch sử chúng ta sử dụng nhiều loại ĐDTQ khácnhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau, nhưng tất cả đều có tác dụng chung
là góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.“Nguyên tắc trực quan là cách
Trang 28học không chỉ dựa vào lời nói mà còn dựa vào hình ảnh cụ thể mà học sinh trực tiếp thu nhân được, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các
khái niệm” [15,tr.36].
Do đặc thù của bộ môn và đặc điểm của học tập lịch sử cho nên “Đồ dùng
trực quan là chỗ dựa hiểu biết sâu sắc của bản chất lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng nhất, giúp cho học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội” [16, tr.6].
Việc sử dụng ĐDTQ nói chung và ĐDTQQƯ nói riêng để KT – ĐG trongdạy học lịch sử là rất cần thiết để phát triển năng lực HS theo quan điểm đổi mới
KT - ĐG của Đảng
ĐDTQQƯ được sử dụng trong KT - ĐG phải đa dạng, phong phú với sự hỗtrợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm làm tăng hiệu quả kiểm tra ở cácmặt như truyền thông tin đến HS, hướng dẫn tư duy, giúp HS ghi nhớ và vận dụngkiến thức đã học,…
Như vậy có thể thấy rằng phương pháp trực quan trong dạy học lịch sử có vaitrò rất lớn trong việc giúp HS hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử Bởi vì nókhông chỉ giúp HS nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, kiến thức lịch sử đã học màqua đó HS hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng và tiến tới nắm vững cácquy luật của sự phát triển của xã hội loài người ĐDTQQƯ được sử dụng trong KT,
ĐG giúp phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS.Bên cạnh đó nó còn góp phần giáo dục tư rưởng, tình cảm và rèn luyện các kĩ năngcho HS
Với những ý nghĩa đã nêu trên, ĐDTQQƯ góp phần to lớn nâng cao chấtlượng dạy và học bộ môn lịch sử, gây hứng thú học tập cho HS Nó thực sự là chiếccầu nối giữa quá khứ và hiện tại Do đó việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG theohướng phát triển năng lực ở trường phổ thông là điều hết sức cần thiết và mỗi giáoviên cần chuẩn bị cho mình những kỹ năng để thiết kế cũng như sử dụng ĐDTQtrước khi tiến hành KT, ĐG trong dạy học
- Về kiến thức
ĐDTQQƯ có thể giúp HS hiểu sâu sắc bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử,
cụ thể hóa thời gian, không gian diễn ra sự kiện
ĐDTQQƯ được sử dụng để KT – ĐG giúp cho HS tái hiện lại hình ảnh, tínhchất, bản chất của sự kiện, nhân vật, giải quyết các câu hỏi mà giáo viên đặt ra qua
Trang 29đó tự đánh giá trình độ của mình, nhận ra những tiến bộ hay hạn chế để điều chỉnhphương pháp học tập cho phù hợp ĐDTQQƯ giúp GV kiểm tra mức độ tiếp thukiến thức, đánh giá mức độ hiểu bài của HS đồng thời tự kiểm tra trình độ chuyênmôn và năng lực sư phạm của mình, từ đó có biện pháp điều chỉnh nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học Ví dụ, sau khi học xong Mục I, Bài 17“Tình hình nước ta sau
cách mạng tháng Tám” GV sử dụng sơ đồ đã chuẩn bị sẵn ở nhà và đặt câu hỏi“Vì sao nói tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám là “ngàn cân treo sợi tóc?”,
qua đó đánh giá được trình độ của người học
Các tài liệu trực quan quy ước không chỉ cung cấp cho HS kiến thức mộtcách bền vững, chính xác mà còn giúp HS kiểm tra lại mức độ đúng đắn của nó, sửachữa và bổ sung, đánh giá lại chúng nếu không phù hợp với thực tiễn Khi thầy giáo
sử dụng ĐDTQ, các em sẽ hứng thú học tập hơn và sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn
- Về thái độ
ĐDTQQƯ có tác dụng bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho HS
Thông qua việc hiểu sâu bản chất sự kiện, HS sẽ nảy sinh tình cảm với cácnhân vật lịch sử và góp phần hình thành tư tưởng, đạo đức, lòng yêu kính những
anh hùng, củng cố lòng tin một cách tự nhiên Ví dụ khi giảng đến bài 18, Mục I.2“
Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng GV sử dụng “Sơ đồ nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta”(Phụ lục 12), nhờ đó giáo dục cho các
em niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng
- Về phát triển kĩ năng, năng lực HS
Do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa hiện nay, chúng ta không nhữngđào tạo những con người nắm vững các kiến thức khoa học mà còn phải giỏi thựchành, có bàn tay khéo léo để thực hiện những gì bộ óc suy nghĩ Cho nên vấn đềphát triển kĩ năng, năng lực cho HS trong giáo dục là hết sức quan trọng Sử dụngĐDTQ trong KT- ĐG góp phần to lớn trong phát triển kĩ năng HS, đặc biệt là các kĩnăng quan sát, tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ Ngoài ra nó còn giúp HS phát triểnnăng lực tự học, năng lực nhận thức, năng lực thực hành…Ví dụ: Khi giáo viên đưa
ra một bản đồ, hình vẽ hoặc một niên biểu thì HS sẽ quan sát, tư duy, nhận xét vàkết luận Khi GV đặt câu hỏi, HS sẽ suy nghĩ, tư duy, vì GV sử dụng ĐDTQQƯ nênkhông thể miêu tả các sự vật và hiện tượng trong thực tiễn, do đó HS phải tưởngtượng, sau đó dùng ngôn ngữ để diễn đạt lại kết quả tư duy của mình
Trang 30Không những thế, với các chức năng của máy tính, GV còn có thể dễ dàngtạo các bài tập về ĐDTQQƯ như các sơ đồ mở, niên biểu còn để trống một số nộidung hoặc bản đồ câm cho HS điền những nội dung đúng vào,… Các bài tập nàykhông chỉ góp phần xây dựng nên bài kiểm tra mà còn phát triển năng lực tư duy vàthực hành cho HS, giúp các em chiếm lĩnh kiến thức một cách tự nhiên Điều này sẽgiúp các em nhớ lâu và bền vững.
Ví dụ khi giảng phần II.2 “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)”, GV cho HS quan sát “Sơ đồ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”
Sau đó GV đặt câu hỏi “Âm mưu của Mĩ và Pháp trong việc chiếm đóng, xây
dựng tập đoàn Điện Biên Phủ là gì?”
Học sinh phải trả lời những kiến thức sau: (kiến thức này được phản ánh ởdạng sơ đồ mở)
+ Vị trí địa lý của Điện Biên Phủ: Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược thenchốt ở đông Dương và đông Nam Á nên Pháp cố nắm giữ Nava xây dựng điện BiênPhủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất đông Dương
+ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 3 phân khu, 49 cứ điểm, với 16.200quân, có trang bị vũ khí hiện đại
+ Phân khu Bắc gồm các cứ điểm Độc Lập, Bản Kéo
+ Phân khu Trung tâm Mường Thanh, nơi đặt cơ quan chỉ huy, tập trung 2/3lực lượng, có sân bay và hệ thống pháo binh
Trang 31+ Phân khu Nam Hồng Cúm, có trận địa pháo, sân bay.
+ Điện Biên Phủ trở thành một “cạm bẫy hiểm ác” một “cái máy nghiền
khổng lồ” Pháp và Mỹ coi điện Biên Phủ là “một pháo đài bất khả xâm phạm”,
trung tâm của kế hoạch Nava
1.2 Thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
Để có những nhận xét, đánh giá một cách khách quan chúng tôi tiến hànhkhảo sát, điều tra việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG ở trường THPT Đông Hà
1.2.1 Mục đích điều tra
Điều tra thực tế việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG trong DHLS ở trườngphổ thông nêu trên từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chấtlượng kiểm tra đánh giá, sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG có hiệu quả và phát triểnđược năng lực của học sinh trong dạy học lịch sử
Đối tượng điều tra: Điều tra tiến hành với GV và HS
Phương pháp: Thông qua quan sát, dự giờ, trao đổi và tiếp xúc với các GV,
HS xung quanh những vấn đề liên quan đến sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theohướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay.Mặt khác nắm bắt một số đề xuất và nguyện vọng của GV và HS
1.2.2 Nội dung điều tra
Đối với GV: Đưa mẫu phiếu điều tra để biết được quan niệm của GV về tầmquan trọng của việc KT – ĐG và việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theo hướngphát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT; thu thập những đềxuất của GV về những vấn đề xoay quanh việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐGtheo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử
Đối với HS: Đưa ra mẫu phiếu điều tra để HS phản ánh một số vấn đề DHLScũng như việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG môn lịch sử ở trường THPT; lấy ýkiến đề xuất của HS về việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG định kỳ, thườngxuyên, KT – ĐG trước, trong và sau giờ học, sử dụng các câu hỏi TNKQ, TL, cácbiện pháp chống gian lận trong thi cử làm thế nào để phát triển năng lực học sinhhiệu quả nhất
1.2.3 Kết quả điều tra
Trang 32- Đối với giáo viên: Qua thực tế điều tra cũng như trao đổi với một số giáo
viên về việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực HStrong dạy học lịch sử là một điều lâu nay giáo viên hướng tới, từng bước khắc phụckhó khăn về thiết bị dạy học để nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ĐDTQQƯ
Trong KT – ĐG nếu GV có sự chuẩn bị tốt, hướng dẫn HS quan sát, tìm tòi,nghiên cứu xử lý thông tin, thông qua hệ thống CH, BT thì sẽ phát huy được tínhtích cực, chủ động, sáng tạo và nâng cao chất lượng KT – ĐG Qua tìm hiểu ởtrường THPT Đông Hà chúng tôi đều nhận thấy rằng đa số giáo viên đều ý thứcđược ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theohướng phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử
Tuy nhiên do những điều kiện cụ thể (phương tiện, vật chất dạy học cònthiếu thốn, địa bàn cư trú còn hạn chế về trình độ…) nhiều GV còn lúng túng trongviệc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực HS trong dạyhọc lịch sử
- Đối với HS: Qua thăm dò và trao đổi đối với HS trường THPT Đông Hà.
Các em đã phản ánh tình hình thực tế việc KT – ĐG Các em rất hứng thú với việckhai thác và sử dụng ĐDTQQƯ Qua việc trả lời các CH, BT các em có thể pháttriển khả năng tư duy, sáng tạo, tích cực, tự giác trong học tập, thi cử
Qua công tác điều tra và xử lý số liệu chúng tôi rút ra một số kết luận kháiquát sau:
Một là, Việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG nói chung và KT – ĐG trongdạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1954) nói riêng ở trường THPT, đã được nhiềugiáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của nó, song hiệu quả vẫn chưa cao, từ đóchưa phát huy được năng lực của HS Khi điều tra, chúng tôi thấy có nhiều nguyênnhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản thuộc về GV và cả HS Về phía GV chưa thật
sự đổi mới trong KT - ĐG, nhất là chưa sử dụng có hiệu quả ĐDTQQƯ để pháttriển năng lực HS Về phía HS chưa thật hứng thú học tập lịch sử, học để đối phó,còn thiên về học tủ, học vẹt, đặc biệt chưa biết cách chủ động tiếp nhận kiến thứclịch sử
Hai là, để khắc phục tình trạng đó cần phải tiến hành đổi mới KT – ĐG trongdạy học lịch sử Trong quá trình đổi mới đó, việc sử dụng ĐDTQQƯ là rất quan trọng
Trang 33Ba là, việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG trong dạy học lịch sử theo hướngphát triển năng lực HS phải được tiến hành đồng bộ, toàn diện và hữu hiệu Trong
đó GV phải chủ động thiết kế và sử dụng ĐDTQQƯ HS phải tích cực hoạt động,quan sát, phân tích, tổng hợp và trả lời các câu hỏi do GV đưa ra theo sự hướng dẫngợi mở của GV Muốn vậy, HS phải rèn luyện các thao tác tư duy độc lập, sáng tạo,tìm tòi
Bốn là, để thực hiện có hiệu quả việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG trongdạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến1954 (Chương trình chuẩn) phải cung cấp cácnguồn tài liệu tham khảo, tổ chức tập huấn về chuyên đề này, tăng thêm sự hiểu biết
về việc sử dụng ĐDTQQƯ, đồng thời cho HS làm quen dần việc kiểm tra bằng cách
sử dụng ĐDTQQƯ nhằm tăng thêm hứng thú học tập, chủ động, sáng tạo của các
em trong học tập lịch sử
Tóm lại, việc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG trong dạy học lịch sử còn hạnchế, chưa phát triển được năng lực của học sinh Vì vậy, sử dụng ĐDTQQƯ để KT– ĐG theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm
1945 đến 1954 ở trường THPT (Chương trình chuẩn) là nhiệm vụ đề tài làm ởchương 2
CHƯƠNG 2
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC ĐỂ KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954,
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm
1954 ở Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)
2.1.1 Mục tiêu của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)
Trang 34Học xong lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung họcphổ thông, học sinh cần đạt được:
Hiểu rõ những chủ trương, sách lược của Đảng và Chính phủ trong việc đốiphó với quân Trung Hoa Dân quốc, bọn phản cách mạng và thực dân Pháp từ saucách mạng tháng Tám 1945 đến trước ngày 19/12/1946
Hiểu rõ vì sao Đảng và Chính phủ lại quyết định phát động cuộc kháng chiếntoàn quốc chống thực dân Pháp vào đêm 19/12/1946 Phân tích đường lối khángchiến chống thực dân Pháp của Đảng
Tóm tắt được diễn biến chính của cuộc chiến đấu ở Hà Nội và các đô thị phíaBắc vĩ tuyến 16 Những việc làm cụ thể của ta chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài
Hiểu rõ âm mưu của thực dân Pháp trong cuộc tấn công lên Việt Bắc năm1947.Tóm tắt diễn biến chính, kết quả và ý nghĩa của chiến thắng Việt Bắc
Trình bày được hoàn cảnh, diễn biến chính, kết quả, ý nghĩa của chiến dịchBiên giới thu – đông 1950
Hiểu rõ âm mưu, hành động mới của Pháp – Mĩ từ sau thất bại ở chiến dịchBiên giới thu – đông 1950 Những nét chính của kế hoạch Đờ Lát đơ Tátxinhi
Nêu được nội dung và ý nghĩa của Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng.Trình bày được những thành tựu chính trong công tác xây dựng hậu phương
từ sau chiến thắng Biên giới thu – đông 1950
Chứng minh được: Từ sau chiến thắng Biên giới thu – đông 1950, quân taliên tiếp giữ vững quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ
Hiểu được âm mưu, hành động mới của Pháp – Mĩ trong kế hoạch Nava.Nêu được những diễn biến chính và ý nghĩa của cuộc Tiến công chiến lượcĐông - Xuân 1953 – 1954
Trình bày tóm tắt được diễn biến chính của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
Ý nghĩa của chiến dịch
Trang 35Nêu nội dung cơ bản và ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương.Nêu và phân tích được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộckháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
- Về kĩ năng:
Củng cố kĩ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp
Rèn luyện kĩ năng sử dụng ĐDTQQƯ, tài liệu tham khảo, quan sát tranh ảnh,bản đồ, phim tư liệu, … để nhận thức, đánh giá sự kiện lịch sử
- Về thái độ - tư tưởng:
Bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, tự hào dân tộc, trung thành
và tin tưởng vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng
Lên án hành động phá hoại, xâm lược của kẻ thù, sự phản bội tổ quốc củabọn phản cách mạng
2.1.2 Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)
Lịch sử Việt Nam (1945 -1954) là giai đoạn quan trọng trong quá trình pháttriển của lịch sử dân tộc Đây là thời kì lịch sử mà nhân dân ta phải đương đầu vớinhững thử thách cực kì nghiêm trọng Thù trong, giặc ngoài hùa với nhau để tấncông chính quyền cách mạng non trẻ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đứngđầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta lần lượt vượt qua những khó khăn, thử
thách để bước vào cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh
sinh” Đây là cuộc kháng chiến toàn dân được tiến hành trên tất cả các mặt trận
quân sự; chính trị-ngoại giao; kinh tế - tài chính; văn hóa - giáo dục, y tế và thắnglợi của cuộc kháng chiến mang tính chất toàn diện
- Trên mặt trận quân sự: Mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp (19/12/1946), quân dân ta chủ động tiến công Pháp ở thủ đô Hà Nội vàcác đô thị khác ở phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra) nhằm tiêu hao sinh lực địch, phá tan
âm mưu “đánh úp” của chúng, chuyển đất nước sang thời chiến, chuẩn bị cho cuộcchiến đấu lâu dài, toàn dân, toàn diện
Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiêncủa ta giành thắng lợi, trong những năm 1948 -1949, ta phân tán phần lớn bộ độichủ lực chính quy thành những “đại đội độc lập” đi sâu và vùng tạm chiếm giúp địa
Trang 36phương xây dựng cơ sở kháng chiến, tổ chức lực lượng vũ trang với ba thứ quân,phát động chiến tranh du kích, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta.
Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên
mà quân ta giành được thắng lợi
Sau chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, quân ta mở liên tiếp những chiếndịch tiến công vào quân địch ở chiến trường rừng núi, cả các chiến trường trung du
và đồng bằng nhằm phá tan âm mưu đẩy mạnh chiến tranh của thực dân Pháp vàcan thiệp Mỹ, giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ
Thắng lợi lớn nhất là chiến cuộc Đông – Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao làchiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (từ 13/3/1954 đến 7/5/1954) đã giành được thắnglợi hoàn toàn Chiến thắng quyết định này đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lượccủa thực dân Pháp có đế quốc Mĩ giúp sức
- Trên mặt trận chính trị - ngoại giao: Ngay từ sau cách mạng tháng Tám,
Đảng, Chính phủ và Hồ chủ tịch thực hiện chủ trương mềm dẻo về sách lược nhưnggiữ vững nguyên tắc chiến lược để chống thù trong giặc ngoài đưa nước ta vượt quathác ghềnh khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc” để đến bờ vinh quang đồng thờikiên quyết đấu tranh chống bọn thực dân đế quốc, vừa chủ trương mở rộng quan hệvới các nước trên thế giới Từ đầu năm 1950, chính phủ ta lần lượt được Chính phủcác nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao, đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ nhân dân
ta kháng chiến, tiếp sau Trung Quốc (18/1/1950), Liên Xô (31/1/1950) là các nướcdân chủ nhân dân khác
Tháng 2 – 1951, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đã hoàn thiện đường lốikháng chiến và đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
Tháng 3 – 1951, mặt trận Liên Việt ra đời trên cơ sở sáp nhập hai tổ chức: Mặttrận Việt Minh và Hội Liên Việt đã làm cho khối đoàn kết dân tộc được tăng cường
Nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương thắt chặt tình đoàn kết chiếnđấu chống kẻ thù chung Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp ngày13/3/1951, thành lập liên minh Việt – Miên – Lào Chúng ta còn tranh thủ sự đồngtình, ủng hộ của nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp
Trang 37Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cùng với sự ủng hộ của nhândân thế giới buộc thực dân Pháp phải kí kết hiệp định Giơnevơ về việc lập lại hòabình ở Đông Dương.
- Trên mặt trận kinh tế - tài chính, văn hóa - giáo dục, y tế: Thực hiện nhiệm
vụ “kháng chiến – kiến quốc”, nhân dân ta đã xây dựng hậu phương ngày càngvững mạnh về mọi mặt
Về kinh tế, trong kháng chiến nhân dân ta vừa ra sức phá hoại kinh tế địch,đánh bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng, vừa đẩy mạnh xâydựng kinh tế của ta, làm cho nề kinh tế của ta có khả năng tự cấp, tự túc
Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách về kinh tế - tài chính nhằm phát triểnsản xuất, huy động sự đóng góp của nhân dân cho kháng chiến, phục vụ đời sống.Đồng thời Chính phủ còn lo bồi dưỡng sức dân: Phát triển kinh tế nông nghiệp,giảm tô, giảm tức đi đến cải cách ruộng đất, phát triển công nghiệp vừa phục vụ dânsinh vừa phục vụ quốc phòng
Về văn hóa - giáo dục, y tế, tiếp tục mở rộng phong trào “Bình dân học vụ”,xóa mù chữ, mở rộng phong trào “Bổ túc văn hóa”, nâng cao trình độ văn hóa chocán bộ và nhân dân Mở trường phổ thong các cấp ở vùng tự do, các căn cứ khángchiến cho con em lao động Tiến hành cải cách giáo dục (1950) để đào tạo thế hệ trẻtheo đường lối giáo dục của Đảng Đẩy mạnh công tác phòng bệnh, chữa bệnh vàchăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Trang 382.2 Hệ thống ĐDTQQƯ sử dụng để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954.
Bài Mức độ kiến thức
cần đạt
Đồ dùng trực quan
Câu hỏi dành cho HS trung bình
Câu hỏi dành cho HS khá giỏi Bài 17:
của nước ta trong
năm đầu tiên sau
(Phụ lục 5)
Sơ đồ tóm tắtcông cuộc xâydựng và củng
cố chính quyềncách mạng(Phụ lục 6)
Sơ đồ chủtrương biệnpháp của Đảng
và chính phủvới bọn TrungHoa quốc dânĐảng (Phụ lục7)
Sơ đồ thể hiện
- Tình hình nước
ta sau cách mạngtháng Tám năm
1945 có nhữngthuận lợi và khókhăn gì?
- Nêu những kếtquả chủ yếu đạtđược trong nămđầu xây dựngchính quyềncách mạng giảiquyết khó khăncủa đất nước saucách mạng thángTám
- Cuộc đấu tranhvới Trung HoaQuốc dân Đảng
và bọn phảncách mạng đãdiễn ra như thếnào ở miền Bắcsau cách mạngtháng Tám?
- Vì sao nóitình hình nước
ta sau cáchmạng thángTám là “ngàncân treo sợitóc?
- Nhận xét gì
về nghệ thuậtlãnh đạo cáchmạng củaĐảng, Chínhphủ và chủtịch Hồ ChíMinh?
- Vì sao chính
Trang 39hoàn cảnh lịch
sử trước khi ta
kí hiệp định Sơ
bộ với thực dânPháp (Phụ lục8)
Sơ đồ sáchlược của Đảng
ta đối với Pháp
và Tưởng trước
và sau6/3/1946 (Phụlục 9)
Bảng so sánhnội dung cơbản của Hiệpđịnh sơ bộ6/3/1946 vàtạm ước Việt –Pháp
14/9/1946 (Phụlục 10)
- So sánh nộidung cơ bản củaHiệp định sơ bộ6/3/1946 và tạmước Việt – Pháp14/9/1946
phủ ta kí hiệpđịnh Sơ bộ6/3/1946 vớiPháp?
- Sách lượccủa Đảng vàchính phủ đốivới Pháp vàTrung HoaQuốc dânĐảng trong haithời kì trước
và sau6/3/1946 có gìkhác nhau?Tại sao có sựkhác nhau nhưvậy?
Trang 40bị cho cuộc chiến
đấu lâu dài
Sơ đồ nội dungđường lốikháng chiếnchống thực dânPháp của nhândân ta (Phụ lục12)
Bảng tổng hợp
về cuộc chiếnđấu ở thủ đô
Hà Nội và các
đô thị ở phíaBắc vĩ tuyến
16 (Phụ lục 13)
Sơ đồ âm mưucủa Pháp vàchủ trương của
ta trong chiếndịch Việt Bắc
Hiệp định Sơ bộ6/3/1946 và Tạmước Việt – Pháp14/9 của thựcdân Pháp diễn ranhư thế nào?
- Trình bày nộidung cơ bảnđường lối khángchiến chống thựcdân Pháp củaĐảng Em hiểunhư thế nào vềđường lối khángchiến đó?
- Cuộc khángchiến ở các đôthị có ý nghĩanhư thế nào?
- Âm mưu củathực dân Phápkhi tấn công lênViệt Bắc là gì?
- Vì sao Đảng
và Chính phủlại chủ trươngđường lốikháng chiếncủa ta là
“Toàn dân,toàn diện,trường kìkháng chiến
và tự lực cánhsinh”?
- Tại sao cuộcchiến đấuchống Phápđầu tiên lạidiễn ra ở các
đô thị, đặc biệt
là các đô thị ởBắc vĩ tuyến16?