Tuy nhiên trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đặc biệt qua cuộc chiếntranh chống đế quốc Mỹ, sự hạn chế về quản lý sau khi giải phóng đất nước,cộng với khí hậu khắc nghiệt của miền Trun
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề án 1
2 Mục đích của đề án 2
3 Đối tượng và phạm vi của đề án 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề án 3
PHẦN NỘI DUNG 4
Phần 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRÙNG TU DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1.1 Các phạm trù, khái niệm liên quan đến Đề án 4
1.1.2 Các quan điểm, đường lối của Đảng liên quan đến Đề án 7
1.2 CƠ SỞ CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ 8
1.2.1 Cơ sở chính trị 8
1.2.2 Cơ sở pháp lý 9
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
1.3.1 Khái quát về di tích Cố đô Huế 10
1.3.2 Thực trạng QLNN về trùng tu di tích cố đô Huế 11
1.3.3 Đánh giá chung về công tác QLNN giai đoạn 2009-2015 19
Phần 2: MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRÙNG TU DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ 29
2.1 MỤC TIÊU 29
2.1.1 Mục tiêu chung: 29
2.1.2 Mục tiêu cụ thể: 29
2.2 NHIỆM VỤ 29
2.3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QLNN VỀ TRÙNG TU DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ 30
2.3.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về trùng tu di tích quốc gia đặc biệt 30
2.3.2 Tăng cường huy động vốn đầu tư trùng tu di tích Cố đô Huế 33
2.3.3 Triển khai sớm công tác chuẩn bị đầu tư các dự án và xây dựng kế hoạch trùng tu di tích Cố đô Huế giai đoạn 2016-2020 35
2.3.4 Đẩy nhanh hoạt động giải tỏa, di dời các hộ dân sống trong khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích Cố đô Huế 35
Trang 22.3.5 Kiện toàn đơn vị quản lý di tích Cố đô Huế, phân công và phân
cấp phù hợp giữa các cơ quan quản lý trên địa bàn 37
2.3.6 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ trùng tu di tích Cố đô Huế 39
2.3.7 Hỗ trợ đẩy nhanh công tác lập dự án đầu tư trùng tu di tích Cố đô Huế 40
2.3.8 Tăng cường thanh tra, kiểm tra trong quá trình triển khai dự án trùng tu di tích Cố đô Huế 41
Phần 3: TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 43
3.1 CÁC TỔ CHỨC, CƠ QUAN, ĐƠN VỊ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 43
3.1.1 Quốc hội: Kiến nghị Quốc hội sớm nghiên cứu, xem xét và sửa đổi các luật: DSVH, Đầu tư công, Xây dựng, Đấu thầu phù hợp và thống nhất 43
3.1.2 Chính phủ và các Bộ: 43
3.1.3 UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và các cơ quan chuyên môn trực thuộc: 44
3.2 CÁC NGUỒN LỰC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 45
3.2.1 Nguồn nhân lực 45
3.2.2 Nguồn kinh phí: 45
3.3 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 46
3.2.1 Năm 2016-2017: 46
3.2.2 Năm 2018 - 2020: 46
Phần 4: DỰ KIẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 47
4.1 TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ ÁN 47
4.2 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 47
4.2.1.Về xã hội 47
4.2.2 Về kinh tế 48
4.2.3 Về cảnh quan môi trường 49
4.2.4 Về thể chế 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
1 Kết luận 50
2 Kiến nghị 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
VHTTDL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề án
Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là thủ phủ của 9 đời chúaNguyễn ở Đàng Trong, là kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến kinh đô củaquốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Nhờ vậy đến nay Huế đanggìn giữ trong lòng mình nguồn DSVH đồ sộ của một Cố đô lịch sử; bên cạnhkho tàng văn hoá phi vật thể hết sức phong phú, quần thể kiến trúc di tích Cố
đô Huế là minh chứng rõ rệt nhất cho giá trị văn hoá vật thể hết sức đặc sắccủa dân tộc Việt Nam Quần thể kiến trúc nghệ thuật ấy gồm: thành quách,cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, chùa chiền là những kiệt tác nghệ thuật tinh vi,tuyệt mỹ do bàn tay con người tạo dựng, có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xâydựng và đậm đà bản sắc truyền thống dân tộc, có giá trị đặc biệt tiêu biểu củamột thời kỳ lịch sử quan trọng và kết hợp chặt chẽ với các sự kiện lịch sửtrọng đại của Việt Nam Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ 17 của UNESCO họptại Cartagena (Colombia) ngày 11 tháng 12 năm 1993 đã công nhận quần thể
di tích Cố đô Huế là DSVH thế giới và ngày 12 tháng 8 năm 2009, Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 1272/QĐ-TTg xếp hạng quần thể di tích
Cố đô Huế là di tích quốc gia đặc biệt
Tuy nhiên trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đặc biệt qua cuộc chiếntranh chống đế quốc Mỹ, sự hạn chế về quản lý sau khi giải phóng đất nước,cộng với khí hậu khắc nghiệt của miền Trung, nhiều công trình kiến trúc đặcsắc thuộc quần thể di tích Cố đô Huế bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc bị biếndạng, có những công trình trở thành phế tích chưa được phục hồi; bên cạnh đó
do lịch sử để lại và quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ nên nhiều côngtrình bị người dân xâm lấn để làm nơi sinh sống gây mất cảnh quan vàphương hại di tích nghiêm trọng Vì những lý do đó nên những gì hiện còn làchưa đủ để chúng ta nhìn thấy được sự huy hoàng đặc sắc của một Cố đô xưa.Nhằm bảo tồn và phát huy DSVH được xếp hạng là DSVH thế giới và di tíchquốc gia đặc biệt, thì việc trùng tu di tích Cố đô Huế là việc làm không thểthiếu, vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài
Quán triệt quan điểm “Bảo tồn nguyên vẹn di sản văn hóa Cố đô Huế làbảo tồn tài sản văn hóa của dân tộc, đồng thời góp phần gìn giữ và làm phongphú thêm kho tàng văn hóa nhân loại” [22], trong nhiều năm qua, với sự quan
Trang 5tâm của Đảng và Nhà nước, cùng sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt
là sự tham gia đầy nhiệt huyết của chính quyền cũng như nhân dân TTH, côngtác bảo tồn và phát huy các công trình di tích của quần thể di tích Cố đô Huế
đã có những chuyển biến lớn lao và đạt nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt sau
thời gian thực hiện đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 1996-2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 105/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 1996 Quần thể di tích Cố đô Huế
đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp và đang từng bước được hồi sinh,diện mạo ban đầu của một Cố đô lịch sử dần dần được hồi phục và đangchuyển sang giai đoạn ổn định, phát triển bền vững
Phát huy kết quả đã đạt được trong các năm qua, đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010-2020 tiếp tục được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 818/QĐ-TTg ngày 07 tháng
6 năm 2010 là cơ sở để phấn đấu đến năm 2020 “hoàn thành cơ bản công táctrùng tu, bảo tồn và tôn tạo di tích Cố đô Huế” [26]
Công tác trùng tu tôn tạo di tích quốc gia đặc biệt luôn yêu cầu cónguồn lực lớn và trình độ chuyên môn cao nhằm đảm bảo tính nguyên gốccủa di tích nên vai trò quản lý của nhà nước về lĩnh vực này có ý nghĩa quyếtđịnh Trong khi đó, công tác QLNN về trùng tu di tích Cố đô Huế hiện vẫnđang còn một số bất cập về chính sách, về nguồn vốn đầu tư, về đào tạonguồn nhân lực, về giải tỏa các hộ dân xâm lấn di tích nhưng chưa đượcnghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống để đề ra các giải pháp đồng bộ,thiết thực, lâu dài nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập đang đặt ra Vì vậy
việc nghiên cứu đề án Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về trùng tu di tích
Cố đô Huế giai đoạn 2016-2020 là việc làm thiết thực và cấp thiết, có ý nghĩa
về lý luận và cũng như thực tiễn, góp phần thực hiện thành công công cuộcbảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế theo đúng quy định và địnhhướng đã đề ra
2 Mục đích của đề án
Mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần hoàn thiện QLNN vềtrùng tu di tích Cố đô Huế nói riêng và trùng tu di tích quốc gia đặc biệt trên
cả nước nói chung
3 Đối tượng và phạm vi của đề án
- Đối tượng: Hoạt động QLNN về trùng tu di tích lịch sử - văn hóa
được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt
Trang 6- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng QLNN trong giai đoạn2009-2015, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016-2020
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề án
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
Phần 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THỰC HIỆN
ĐỀ ÁN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Khái niệm DSVH phi vật thể được giải thích trong Luật DSVH năm
2001 và được điều chỉnh tại Luật DSVH năm 2009: “DSVH phi vật thể là sảnphẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian vănhóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộngđồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [17]
Theo Luật DSVH năm 2001: “DSVH vật thể là sản phẩm vật chất cógiá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lamthắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [13]
1.1.1.2 Di tích lịch sử - văn hóa
Theo Luật DSVH năm 2001: “Di tích lịch sử - văn hoá là công trìnhxây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình,địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học” [13]
Theo Luật DSVH sửa đổi năm 2009, di tích lịch sử - văn hóa phải cómột trong các tiêu chí sau đây:
“- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêubiểu của quốc gia hoặc của địa phương
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự pháttriển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
Trang 8- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn pháttriển kiến trúc, nghệ thuật” [17]
1.1.1.3 Di tích quốc gia đặc biệt
Nhằm thực hiện việc quản lý phù hợp với từng đối tượng, thì việc phânloại, xếp hạng đối tượng quản lý là việc làm không thể thiếu của nhà quản lý; đốivới việc quản lý các di tích lịch sử - văn hóa (gọi tắt chung là di tích) thì việcphân loại, xếp hạng càng có vai trò quan trọng do tính đặc thù của mỗi di tích
Theo Luật DSVH sửa đổi năm 2009, di tích lịch sử - văn hóa của ViệtNam được xếp hạng thành 3 hạng sau:
“- Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương
- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia
- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốcgia” [17]
Di tích quốc gia đặc biệt bao gồm:
“- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bướcchuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùngdân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử củadân tộc
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triểnkiến trúc, nghệ thuật Việt Nam
- Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triểnvăn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới
- Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnhquan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt củaquốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đadạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới” [17]
Đến nay, trên toàn quốc đã có 72 di tích được Thủ tướng Chính phủcông nhận là di tích quốc gia đặc biệt [36]
Quần thể di tích Cố đô Huế được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, do cógiá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia về di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuậttheo Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ
1.1.1.4 Trùng tu di tích quốc gia đặc biệt
Trang 9Theo định nghĩa trong Luật DSVH, thì công trình di tích là công trìnhxây dựng có giá trị lịch sử, vì vậy công trình di tích luôn là công trình có tuổiđời khá lớn, nó luôn chịu tác động xấu của môi trường thiên nhiên, chịu sựảnh hưởng của môi trường xã hội nơi nó tồn tại, thậm chí nhiều công trình đã
bị hủy hoại hoàn toàn Nhằm phục hồi, giữ gìn và phát huy giá trị di tích phảitiến hành các biện pháp nhằm đáp ứng được các nhu cầu: Giải phóng, tước bỏkhỏi di tích tất cả các lớp bổ sung xa lạ, gây ảnh hưởng xấu tới các mặt giá trịcủa di tích; giữ lại tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích; khôi phục lạimột cách chính xác những yếu tố đã bị thiếu hụt, mất mát trong quá trình tồntại của di tích trên cơ sở khoa học đáng tin cậy, trả lại cho di tích hình dángvốn có của nó; làm cho di tích có độ bền vững về mặt kết cấu để tồn tại lâudài trước tác động của điều kiện khí hậu và thời tiết khắc nghiệt, cũng như thửthách của thời gian Các biện pháp đó là: bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
- Bảo quản di tích lịch sử - văn hoá “là hoạt động nhằm phòng ngừa vàhạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tốnguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hoá” [13]
- Tu bổ di tích lịch sử - văn hoá “là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôntạo di tích lịch sử - văn hoá” [13]
- Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa “là hoạt động nhằm phục dựng lại ditích lịch sử - văn hoá đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tíchlịch sử - văn hoá đó” [13]
Trùng tu di tích quốc gia đặc biệt tuy chưa có khái niệm cụ thể, tuynhiên theo nhiều văn bản hiện hành của Việt Nam thì có thể hiểu hoạt độngnày bao hàm cả ba hoạt động nêu trên, tức trùng tu được hiểu trên cả 3phương diện: bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia đặc biệt; nghĩa làtrùng tu di tích quốc gia đặc biệt là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chếnhững nguy cơ làm hư hỏng hoặc tu sửa, gia cố, tôn tạo hoặc phục dựng lại ditích quốc gia đặc biệt đã bị huỷ hoại để gìn giữ hoặc đưa di tích quốc gia đặcbiệt về nguyên gốc vốn có của nó
1.1.1.5 Quản lý nhà nước về trùng tu di tích quốc gia đặc biệt
QLNN xuất hiện ngay sau khi có Nhà nước, đó là hoạt động quản lýtoàn xã hội Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị,trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia trong từng giai đoạnlịch sử Xét về mặt chức năng, QLNN bao gồm ba chức năng: chức năng lập
Trang 10pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện, chức năng hành pháp do hệ thốnghành chính nhà nước đảm nhiệm và chức năng tư pháp do các cơ quan tưpháp thực hiện Như vậy, QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mangtính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vihoạt động của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các
cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự
ổn định và phát triển của xã hội
Do đó, QLNN về trùng tu di tích quốc gia đặc biệt được hiểu là hoạtđộng chấp hành, điều hành của các cơ quan nhà nước được tiến hành trên cơ
sở pháp luật và thi hành pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của cánhân, tổ chức trong việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia đặc biệt
1.1.2 Các quan điểm, đường lối của Đảng liên quan đến Đề án
Tại Thông báo số 48-KL/TW ngày 25/5/2009 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng về kết luận của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển TTH
và đô thị Huế đến năm 2020, Bộ Chính trị đã tán thành phương hướng: “Phấn
đấu đến năm 2020, TTH xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực
và quốc tế; một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - côngnghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam Á” [2].Riêng đối với lĩnh vực trùng tu di tích Cố đô Huế, Bộ Chính trị thống nhấtnhiệm vụ: “Phục hồi, tôn tạo, bảo vệ và phát huy di sản Cố đô Huế là tráchnhiệm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh TTH và của cả nước BộChính trị đồng ý với chủ trương ưu tiên vốn (từ nguồn trái phiếu hoặc nguồnvốn đặc biệt từ chương trình hỗ trợ có mục tiêu của quốc gia) để tập trung tôntạo di tích Trước mắt, từ nay đến năm 2012 ưu tiên vốn để trùng tu khu vựcĐại Nội và giải tỏa dân cư lấn chiếm trên Kinh thành Sau năm 2012 sẽ tiếptục đầu tư để đẩy nhanh, hoàn thành dứt điểm việc tôn tạo, trùng tu Cố đôHuế nhằm tạo bước đột phá cho phát triển dịch vụ, du lịch” [2]
Tại Thông báo số 175-KL/TW ngày 01/8/2014 của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng về kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiệnKết luận 78-KL/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh TTH và đôthị Huế đến năm 2020 đã nhấn mạnh “Ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiệncác chương trình, dự án đã được Chính phủ phê duyệt: Xây dựng thành phốHuế thành thành phố Festival; Cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư, bảo tồn vàphát huy giá trị di tích Cố đô Huế" [3]
- Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 15/11/2011 Hội nghị lần thứ năm Ban
Trang 11chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế khóa XIV về xây dựng TTH xứng tầm là trung tâm văn hoá, du lịch đặc sắc của cả nước giai đoạn 2011 - 2015
và tầm nhìn đến năm 2020 đã chỉ rõ mục tiêu: “Phát huy truyền thống lịch sử,
văn hoá và cách mạng, giàu bản sắc; khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triểnvăn hóa, du lịch Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắcvăn hoá Huế gắn với bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH Gắn văn hoá với dulịch, phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tỷ lệ ngàycàng cao trong GDP Phấn đấu xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là trungtâm văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước” [28]
- Nghị quyết Đại hội lần thứ XV ngày 24/10/2015 của Đảng bộ tỉnhThừa Thiên Huế khóa XV cũng tiếp tục xác định: “Xây dựng môi trường vănhoá lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc và văn hoá Huế gắn với bảo tồn, pháthuy giá trị các DSVH, lịch sử Ưu tiên các nguồn lực để cơ bản hoàn thànhtrùng tu khu vực Đại Nội và một số khu vực trọng điểm trong quần thể di tích
- Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 15/11/2011 Hội nghị lần thứ năm Ban
chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế khóa XIV về xây dựng TTH xứng tầm là trung tâm văn hoá, du lịch đặc sắc của cả nước giai đoạn 2011 - 2015
và tầm nhìn đến năm 2020;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế khóa XVngày 24/10/2015
Trang 12- Luật Đầu tư công số 49/2014/QH 13 ngày 18/6/2014;
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;
- Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật DSVH;
- Nghị định 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ về thẩmquyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phụchồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về Chươngtrình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020;
- Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ VHTTDLquy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa vàdanh lam thắng cảnh;
- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của BộVHTTDL quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
- Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của BộVHTTDL về hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh
tế kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
- Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19/5/2009 của Bộ VHTTDL vềviệc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu
bổ và phục hồi di tích;
- Quyết định số 105/QĐ-TTg ngày 12/02/1996 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đôHuế giai đoạn 1996-2010;
- Quyết định số 818/QĐ-TTg ngày 07/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đôHuế giai đoạn 2010-2020;
- Các Nghị định hướng dẫn thi hành luật Đầu tư công, luật Xây dựng
Trang 131.2.2.2 Các văn bản của địa phương
- Quyết định 30/2010/QĐ-UBND ngày 23/8/2010 của UBND tỉnh TTH
về phân công phân cấp quản lý quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và đầu tưxây dựng bằng vốn ngân sách tỉnh quản lý trên địa bàn tỉnh TTH;
- Quyết định 54/2010/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 của UBND tỉnhTTH về quản lý quy hoạch và cấp phép xây dựng;
- Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 15/5/2011 về Thực hiện Quyết định 818/QĐ-TTg ngày 7/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định số 2062/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 của UBND tỉnhTTH về điều chỉnh chức năng nhiệm vụ Trung tâm BTDTCĐ Huế;
- Quyết định số 1837/QĐ-UBND ngày 10/10/2012 của UBND tỉnhTTH về việc nâng cấp phòng Kỹ thuật Trung tâm BTDTCĐ Huế lên thànhBan tư vấn bảo tồn di tích Huế;
- Quyết định số 829/QĐ-UBND ngày 26/4/2013 của UBND tỉnh TTH
về việc thành lập Trung tâm Phát triển Dịch vụ di tích Huế
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Khái quát về di tích Cố đô Huế
Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là thủ phủ của các chúaNguyễn ở xứ Đàng Trong, là kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến kinh đôtriều Nguyễn Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế
từ trước, các chúa Nguyễn, triều đại Tây Sơn và các vua Nguyễn đã tiếp tụcphát huy và gây dựng ở Huế một tài sản văn hoá vô giá, mà tiêu biểu nhấttrong đó là quần thể di tích Cố đô Huế
Quần thể di tích Cố đô Huế gồm toàn bộ những di tích lịch sử - văn hoá
cơ bản do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầuthế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa (nay thuộcphạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế)
Do quá trình lịch sử lâu dài, nên quần thể di tích Cố đô Huế bao gồm nhiềucông trình xây dựng suốt từ thời chúa Nguyễn Hoàng cho đến hết đời vuaNguyễn Đây là quần thể di tích tiêu biểu cho những thành tựu về kiến trúc,điêu khắc, thẩm mỹ và sức lao động sáng tạo của con người Việt Nam trongsuốt một thời gian dài, đặc biệt là trong nghệ thuật và kiến trúc, quy hoạchthành phố và bài trí cảnh quan
Trang 14Cố đô Huế là nơi duy nhất ở Việt Nam còn bảo lưu được khá nguyênvẹn hệ thống tổng thể thống nhất toàn vẹn kiến trúc nghệ thuật cung đình với
hệ thống thành quách, cung điện, miếu, đền đài, lăng tẩm được quy hoạch xâydựng theo nguyên tắc phong thuỷ phương Đông Điển hình trong quần thể ditích Cố đô Huế, là Kinh thành Huế với hàng trăm công trình lớn nhỏ là trungtâm chính trị, hành chính, văn hóa và là nơi ở, sinh hoạt của nhà vua quan vàgia đình; là hệ thống các lăng tẩm độc đáo của các đời vua chúa Nguyễn; lànhiều công trình có kiến trúc đặc sắc gắn liền với thể chế của hoàng quyền:Trấn Bình Đài án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, HảiVân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, đàn Nam Giao nơi vua tế trời, đàn
Xã Tắc nơi thờ thần đất và thần ngũ cốc, Hổ Quyền đấu trường duy nhất dànhcho voi và hổ, Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên tiến sĩ vănthời Nguyễn, Võ Miếu nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc têntiến sĩ võ, điện Hòn Chén nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na và nhiều danhthắng liên quan đến triều Nguyễn như sông Hương, núi Ngự, núi Thiên Thai,đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An, cửa Thuận An, cửa Tư Hiền [1]
Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới tại Colombia từngày 06 đến 11/12/1993, UNESCO đã quyết định công nhận quần thể di tích
Cố đô Huế là DSVH của nhân loại Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sửvăn hoá Việt Nam, tài sản đầu tiên của Việt Nam được ghi tên vào danh mục
di sản thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố
tỉnh TTH, năm 1996 đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố
Trang 15đô Huế giai đoạn 1996-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 105/TTg ngày 12/02/1996 với mục tiêu bảo tồn và phát huy cácDSVH của Cố đô Huế trên cả 3 lĩnh vực: DSVH vật thể, DSVH phi vật thể vàcảnh quan môi trường [22] Đây là cơ sở tiền đề cho sự nghiệp giữ gìn và pháthuy DSVH ở TTH
Đặc biệt với Thông báo số 48-KL/TW ngày 25/5/2009 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về Kết luận của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển TTH và đô thị Huế đến năm 2020, sự nghiệp giữ gìn DSVH ở TTH đã có
những điều kiện thuận lợi để thành công trong bối cảnh phát triển chung của
đất nước Và đề án điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Cố đô Huế giai đoạn 2010-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định 818/QĐ-TTg ngày 07/6/2010 đã tạo ra một cơ sở pháp lý vữngchắc cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị quần thể di tích Cố đô Huế đếnnăm 2020
Trên các cơ sở đó, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh
Thừa Thiên Huế khóa XIV về Xây dựng TTH xứng tầm là trung tâm văn hoá,
du lịch đặc sắc của cả nước giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020
đã chỉ đạo “Triển khai quyết liệt Quyết định 818/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ” [28] và UBND tỉnh TTH đã ban hành Kế hoạch số 35/KH-UBND
ngày 15/5/2011 về Thực hiện Quyết định 818/QĐ-TTg ngày 7/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
1.3.2.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý và chỉ đạo hoạt động trùng
tu di tích Cố đô Huế
a) Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý di tích Cố đô Huế
Ngay sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Ủy ban Quânquản Bình Trị Thiên đã giao cho Phòng Bảo tồn - Bảo tàng thuộc Ty Văn hóaThông tin tỉnh Bình Trị Thiên tiếp quản khu di tích Cố đô Huế Năm 1977,UBND tỉnh Bình Trị Thiên cho thành lập Ban Kiến thiết Di tích Huế để trựctiếp quản lý di tích Cố đô Huế Ngày 10/6/1982, UBND tỉnh Bình Trị Thiênthành lập Công ty Quản lý Lịch sử Văn hóa Huế trực thuộc UBND tỉnh BìnhTrị Thiên để quản lý toàn bộ các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh BìnhTrị Thiên, tuy nhiên chỉ sau thời gian ngắn chuyển Công ty này về thuộc SởVăn hóa Thông tinh tỉnh Bình Trị Thiên Ngày 30/5/1992, UBND tỉnh TTH
Trang 16đã ra Quyết định số 443/QĐ-UBND đổi tên Công ty Quản lý Lịch sử Văn hóaHuế thành Trung tâm BTDTCĐ Huế trực thuộc UBND tỉnh TTH, nhằm quản
lý chặt chẽ, khoa học hơn đối với quần thể di tích Cố đô Huế [37]
Để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về quản lý di tích, phù hợp vớiquy định pháp luật, trong giai đoạn 2009-2013, UBND tỉnh TTH đã nhiều lầnđiều chỉnh chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâmBTDTCĐ Huế:
- Quyết định số 2062/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 của UBND tỉnhTTH về điều chỉnh chức năng nhiệm vụ Trung tâm BTDTCĐ Huế Theo đó,Trung tâm BTDTCĐ Huế là đơn vị sự nghiệp văn hóa có thu trực thuộcUBND tỉnh TTH, có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chứcnăng quản lý, bảo vệ, trùng tu, tôn tạo, phục hồi và phát huy giá trị DSVHHuế Trung tâm chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của UBND tỉnh TTH, đồngthời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của BộVHTTDL; chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về công tác quản lý di sản thế giớithông qua Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam [32]
- Quyết định số 1837/QĐ-UBND ngày 10/10/2012 của UBND tỉnh TTHnâng cấp phòng Kỹ thuật Trung tâm BTDTCĐ Huế lên thành Ban tư vấn bảotồn di tích Huế là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Trung tâm BTDTCĐ Huế,
có chức năng chính là tham mưu Giám đốc Trung tâm BTDTCĐ Huế tronglĩnh vực: tư vấn lập quy hoạch di tích, lập các dự án trùng tu di tích, tư vấngiám sát thi công trùng tu di tích, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệbảo tồn, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn DSVH [35]
- Quyết định số 829/QĐ-UBND ngày 26/4/2013 của UBND tỉnh TTHthành lập Trung tâm Phát triển Dịch vụ di tích Huế là đơn vị sự nghiệp có thutrực thuộc Trung tâm BTDTCĐ Huế, có chức năng chính là khai thác và pháttriển dịch vụ di tích
Với tổng số nhân sự hiện nay trên 700 người, trong đó có hơn 300 cán
bộ có bằng cử nhân và trên đại học, trong những năm vừa qua Trung tâm đãhoàn thành khá tốt các chức năng nhiệm vụ của mình, đặc biệt trong lĩnh vựctrùng tu các di tích Cố đô Huế và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể
b) Phân công, phân cấp quản lý trùng tu di tích Cố đô Huế
Cũng trong Quyết định số 2062/QĐ-UBND ngày 29/10/2010, UBNDtỉnh TTH đã phân công, phân cấp cho Trung tâm BTDTCĐ Huế nhiệm vụ và
Trang 17quyền hạn khá lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Huế, bao gồm
di sản vật thể và di sản phi vật thể Trong đó, nhiệm vụ và quyền hạn tronglĩnh vực DSVH vật thể được quy định cụ thể:
“- Quản lý, bảo vệ toàn bộ quần thể di tích được nhà nước giao
- Nghiên cứu đề xuất tham mưu quy trình, quy phạm trùng tu, tôn tạo,phục hồi di tích lịch sử văn hóa; xây dựng quy chuẩn, định mức tu bổ di tíchphù hợp với Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn và đúng với quyđịnh pháp luật hiện hành của Việt Nam; ứng dụng khoa học công nghệ thíchứng vào việc tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích; tư vấn giám sát thi công các côngtrình, đảm bảo tiến độ, đúng nguyên tắc trùng tu và bảo tồn di tích
- Tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, lập dự án, quản lý dự án
và tổ chức thực hiện dự án các công trình lịch sử văn hóa theo quy định củapháp luật và chịu trách nhiệm trước nhà nước về kỹ thuật, mỹ thuật và chấtlượng công trình
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trìnhcấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với các cơ quan chức năng có liênquan tổ chức thực hiện
- Thực hiện công tác quản lý về kế hoạch, tài chính, đầu tư xây dựng cơbản trong lĩnh vực trùng tu di tích theo quy định hiện hành
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, sưu tầm, lưu trữ tài liệu khoa học phục
vụ cho công tác bảo tồn, tôn tạo và phục hồi các công trình di tích
- Tổ chức thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế, đặc biệt với tổchức UNESCO; tranh thủ sự hợp tác và trợ giúp của quốc tế, của các chínhphủ, tổ chức phi chính phủ và cá nhân người nước ngoài; quản lý và sử dụngđúng mục đích, có hiệu quả mọi nguồn vốn theo quy định của nhà nước
- Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồnDSVH; từng bước nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, côngnhân viên chức toàn đơn vị
- Đảm bảo vệ sinh, cảnh quan môi trường văn hóa tại các điểm di tích
- Quản lý chuyên môn nghiệp vụ, vốn, tài sản, cơ sở vật chất, nhân sựtheo sự phân công phân cấp của UBND tỉnh và Bộ VHTTDL giao” [32]
Như vậy, Trung tâm BTDTCĐ Huế có chức năng nhiệm vụ quyền hạnkhá lớn trong việc quản lý và phát huy toàn bộ quần thể di tích Cố đô Huế
Trang 18c) Chỉ đạo hoạt động trùng tu di tích Cố đô Huế
Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 15/5/2011 của UBND tỉnh TTH vềthực hiện Quyết định 818/QĐ-TTg ngày 7/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
là văn bản chỉ đạo toàn diện của UBND tỉnh TTH về công tác trùng tu di tích
Cố đô Huế giai đoạn 2011-2020, nhằm mục tiêu cụ thể:
“- Lập quy hoạch chi tiết bảo tồn, tôn tạo hệ thống các di tích Cố đôHuế nhằm phát huy tối đa các lợi thế và tiềm năng, tạo sự hấp dẫn cho kháchtham quan du lịch
- Trùng tu tôn tạo và phục hồi những công trình di tích Cố đô có giá trịtiêu biểu Về cơ bản, đến năm 2020 phục hồi hoàn nguyên toàn khu vực ĐạiNội theo kiến trúc Hoàng Thành trước kia
- Cải thiện, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên khu vực Kinh thành, các lăngtẩm và các công trình thuộc quần thể di tích Cố đô Huế
- Xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng những điểm di tích
- Di dời giải tỏa các hộ dân ra khỏi khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích
- Nghiên cứu phục hồi và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể
- Tổ chức bảo tồn các ngành nghề truyền thống, phục chế các loại vậtliệu truyền thống và bồi dưỡng đào tạo lực lượng nghệ nhân đang cơ nguy cơthất truyền nhằm phục vụ tốt cho công cuộc bảo tồn giá trị DSVH Huế” [33]
Nhằm thực hiện mục tiêu nêu trên, trong Kế hoạch số 35/KH-UBND,UBND tỉnh TTH đã chỉ đạo thực hiện các nội dung cụ thể theo từng giaiđoạn: 2010-2012, 2013-2017 và 2018-2020 Đồng thời, UBND tỉnh TTHcũng đã đưa ra một số giải pháp và phân công triển khai thực hiện kế hoạch
Bên cạnh đó, hàng năm UBND tỉnh và các cơ quan QLNN trực thuộcUBND tỉnh đều thường xuyên làm việc với Trung tâm BTDTCĐ Huế để nắmbắt tình hình, kịp thời chỉ đạo thực hiện các công tác của Trung tâm, trong đónhiệm vụ trùng tu di tích Cố đô Huế luôn được nhận sự quan tâm hàng đầu
1.3.2.3 Tổ chức và thực hiện quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về trùng tu di tích Cố
đô Huế
Xác định trùng tu di tích Cố đô Huế, DSVH nhân loại và di tích quốcgia đặc biệt, yêu cầu phải tuân thủ nguyên tắc khoa học chặt chẽ bởi đội ngũcán bộ có chuyên môn cao, UBND tỉnh TTH và Trung tâm BTDTCĐ Huế đã
Trang 19rất chú trọng công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ cho cán bộ Đến nay Trung tâm BTDTCĐ Huế đã xây dựng và đàotạo được đội ngũ cán bộ quản lý chuyên ngành với trình độ chuyên môn cao:
Có 5 tiến sỹ, 30 thạc sỹ, 1 nghệ sỹ nhân dân, 3 nghệ sỹ ưu tú và nhiều nghiêncứu viên trưởng thành từ cơ sở đào tạo trong và ngoài nước
Lực lượng tham gia công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đôHuế ngày càng phong phú và đa ngành, bao gồm các nhà nghiên cứu thuộcnhiều lĩnh vực: bảo tồn, lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc, hội họa, khảo cổ, vật liệuxây dựng đáp ứng được hầu hết các quy trình nghiêm ngặt của công tác trùng
tu di tích Cố đô Huế
Lực lượng tư vấn khảo cổ, khảo sát, lập dự án, thiết kế, giám sát và thicông ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, tích lũy nhiều kinhnghiệm quý báu Ngay trong nội bộ Trung tâm BTDTCĐ Huế, cũng có phòngNghiên cứu khoa học và phòng Kỹ thuật (nay là Ban tư vấn) nên cũng hỗ trợđắc lực cho Ban quản lý dự án và Trung tâm BTDTCĐ Huế trong công táctrùng tu di tích Cố đô Huế
1.3.2.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn vốn để trùng tu di tích
Cố đô Huế
a) Huy động nguồn vốn
Trong những năm qua, Chỉnh phủ và tỉnh TTH luôn cố gắng, nỗ lực tậptrung nguồn vốn đầu tư để phục vụ trùng tu di tích Cố đô Huế, tuy nhiên kếtquả vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
Theo Quyết định 105/TTg ngày 12/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về
phê duyệt đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy gía trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 1996-2010, tổng kinh phí của đề án là 720 tỷ đồng Tuy nhiên đến hết năm
2009, tổng kinh phí thực hiện chỉ đạt 527,926 tỷ đồng (bằng 73,33% tổng nguồnvốn), trong khi thời gian thực hiện đề án đạt 93,33% (14/15 năm) [22], [26]
Theo đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010-2020, tổng vốn đầu tư dự kiến giai đoạn này là 2.469,5 tỷ
đồng, trong đó giai đoạn 2010-2012 nhu cầu vốn đầu tư cho trùng tu di tích là
893 tỷ đồng và bảo tồn văn hóa phi vật thể là 36 tỷ đồng [26]
Để huy động được số vốn nêu trên, trong các năm qua, các cơ quanQLNN từ trung ương và địa phương đã nỗ lực huy động từ rất nhiều nguồn
Trang 20vốn để trùng tu di tích Cố đô Huế Trong đó, nguồn vốn nhà nước từ trungương gồm nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu và vốn chương trình mục tiêu quốcgia về văn hóa; nguồn vốn nhà nước từ địa phương gồm vốn ngân sách tậptrung, vốn ngân sách tỉnh và nguồn vốn sự nghiệp có tính chất xây dựng cơbản (nguồn thu để lại cho Trung tâm BTDTCĐ Huế để trùng tu di tích);nguồn vốn tài trợ được huy động từ nguồn vốn của các tổ chức quốc tế.
Tuy nhiên thực tế nguồn vốn huy động từ năm 2009 đến năm 2014 chỉđạt 420,245 tỷ đồng [Phụ lục I], [Phụ lục V]; trong đó:
- Vốn trung ương: 198,343 tỷ đồng
- Vốn địa phương: 183,822 tỷ đồng
- Vốn tài trợ quốc tế: 34,88 tỷ đồng (tương đương 1.744.000 USD)
- Vốn tài trợ trong nước: 3,2 tỷ đồng (Tập đoàn Than khoáng sảnViệt Nam)
Để tăng cường nguồn thu từ khai thác dịch vụ di tích, ngày 05/12/2012UBND tỉnh TTH đã có Quyết định số 2295/QĐ-UBND phê duyệt Đề án pháttriển dịch vụ trên cơ sở phát huy giá trị di tích Cố đô Huế đến năm 2020, vớimục tiêu tổng quát là phát triển tổng thể hoạt động dịch vụ di sản Cố đô Huếnhằm khai thác tối đa, hiệu quả những lợi thế DSVH của vùng đất Cố đô Huế,phát triển dịch vụ theo hướng đẩy mạnh giá trị gia tăng của các sản phẩm,đồng thời xây dựng, phát triển, khai thác và quảng bá DSVH Huế
b) Quản lý và sử dụng nguồn vốn
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực trong trùng tu di tích Cố đô Huếtrong những năm qua được thực hiện đúng quy định của Nhà nước về quản lývốn ngân sách nhà nước, vốn sự nghiệp và các quy định của nhà tài trợ nướcngoài Như đánh giá của Hội đồng Nhân dân tỉnh TTH: “Các công trình, dự
án được phân bổ vốn đầu tư đã bám sát với các nội dung tại Quyết định số105/QĐ-TTg và Quyết định số 818/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ” [11]
và “Công tác quyết toán dự án hoàn thành được Trung tâm BTDTCĐ Huế cơbản thực hiện tốt” [11] Hay như đánh giá của Kiểm toán Nhà nước đối vớiTrung tâm BTDTCĐ Huế: “Công tác quản lý ngân sách và tài sản nhà nướctại đơn vị nhìn chung đảm bảo tính kinh tế, hiệu quả Đơn vị đã bám sát LuậtNgân sách nhà nước, tăng cường các biện pháp quản lý thu, chi phù hợp vớiđiều kiện thực tế của đơn vị” [12]
Trang 211.3.2.5 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc trùng tu di tích Cố
- Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng thuộc Bộ Xây dựng đượcUBND tỉnh TTH tặng bằng khen do trùng tu tốt di tích cung An Định, lầu TứPhương Vô Sự
1.3.2.6 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về trùng tu di tích Cố đô Huế
Chính phủ, các bộ ngành trung ương và tỉnh Thừa Thiên Huế rất coitrọng hoạt động hợp tác quốc tế để trùng tu di tích Cố đô Huế Hoạt động hợptác quốc tế cho công cuộc bảo tồn trùng tu di tích Huế đã diễn ra từ nhữngnăm 80 của thế kỷ trước Tổ chức khơi nguồn cho hoạt động này và đồng thờicũng là tổ chức có sự hỗ trợ tích cực nhất về mặt tài chính, kỹ thuật cũng nhưvận động quốc tế tài trợ cho di tích Huế phải kể đến là UNESCO và cơ quanđầu mối liên lạc giữa UNESCO với chính phủ Việt Nam là Ủy ban Quốc giaUNESCO Việt Nam Cho đến nay, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã có mối quan
hệ hợp tác với gần 50 tổ chức quốc tế thuộc chính phủ và phi chính phủ trênthế giới trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Huế
Tính từ năm 1992 đến nay, đã có 42 dự án được sự tài trợ của các tổ chứcquốc tế (chính phủ, phi chính phủ) và trong nước với tổng số tiền tài trợ lên đếngần 7 triệu USD [62] Riêng giai đoạn 2009-2014, có 15 dự án được sự tài trợcủa các tổ chức quốc tế và trong nước với số tiền tài trợ khoảng 1,91 triệu USD,
trong đó tổ chức quốc tế tài trợ khoảng 1,744 triệu USD [Phụ lục V].
1.3.2.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong việc trùng tu di tích Cố
đô Huế
Xác định lĩnh vực trùng tu di tích Cố đô Huế là lĩnh vực đặc thù, phứctạp và liên quan nhiều đến nguồn lực, đến đời sống nhân dân, trong các năm
Trang 22qua, công tác thanh tra, kiểm tra luôn được tiến hành khá thường xuyên: Kiểmtoán Nhà nước (năm 2009, 2011 và 2013), Thanh tra Chính phủ (năm 2013),Thanh tra tỉnh TTH (2009 và 2014); riêng Thanh tra Sở Xây dựng, Thanh tra
Sở Tài chính, Thanh tra Sở Kế hoạch và Đầu tư cũng thường xuyên làm việcvới Trung tâm BTDTCĐ Huế (ngoài thời gian các kiểm toán, thanh tra cấptrên làm việc) Hầu hết kết quả thanh tra, kiểm tra đều đáng giá cao công tácchấp hành pháp luật trong công tác trùng tu di tích Cố đô Huế của Trung tâmBTDTCĐ Huế, cũng như của tỉnh TTH
Các khiếu nại trong thời gian qua liên quan đến công tác trùng tu di tích
Cố đô Huế chủ yếu là khiếu nại của người dân liên quan đến công tác bồithường giải phóng mặt bằng và tái định cư, đặc biệt tại khu vực Hộ ThànhHào, Thượng Thành, sông Ngự Hà và các hộ dân sống rãi rác các công trình
di tích khác Tuy việc giải quyết khá phức tạp, nhưng đến nay về cơ bản tỉnhTTH đã giải quyết ổn thỏa, không để khiếu nại kéo dài và khiếu nại, khiếukiện đông người
1.3.3 Đánh giá chung về công tác QLNN giai đoạn 2009-2015
1.3.3.1 Kết quả đạt được
- Công tác quy hoạch được đặc biệt chú trọng, nên đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010-2020 đã được
phê duyệt làm cơ sở quan trọng cho việc trùng tu di tích Cố đô Huế đến năm
2020 Bên cạnh đó, cũng đã hoàn thành nhiều quy hoạch khoanh vùng bảo vệ
di tích để từng bước chống lấn chiếm, di dời giải tỏa để chống xâm hại di tích
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quantrùng tu di tích quốc gia đặc biệt tương đối đầy đủ nên đảm bảo cơ sở pháp lýcho việc QLNN cũng như thực hiện các dự án trùng tu di tích
- Tổ chức điều tra toàn diện, chi tiết các công trình di tích Cố đô Huếcần trùng tu đến năm 2020, trong đó đã thống kê chi tiết số lượng các côngtrình theo từng khu vực, phương án trùng tu đối với từng công trình cụ thể.Đồng thời cũng đã xác định được nguyên tắc, quan điểm trùng tu đối với cảquần thể di tích Cố đô Huế
- Đã cơ bản thống nhất được đầu mối quản lý các công trình di tích Cố
đô Huế, trừ một số công trình đặc thù khác: Trấn Bình Đài, Di Luân Đường,Tôn Nhơn Phủ, nên thống nhất đồng bộ về cơ chế quản lý cũng như thủ tục,
kỹ thuật, tài chính trùng tu di tích
Trang 23- Bộ máy quản lý trực tiếp quần thể di tích Cố đô Huế là Trung tâmBTDTCĐ Huế ngày càng được củng cố, kiện toàn theo hướng nâng cao nănglực, phục vụ đắc lực cho công tác trùng tu di tích Cố đô Huế
Công tác đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ trùng tu di tíchđược chú trọng thực hiện
- Vốn chuẩn bị đầu tư ngày càng được bố trí đầy đủ, do đó công tácchuẩn bị đầu tư được thực hiện nghiêm túc, từ công tác sưu tầm tư liệu, thámsát, khảo cổ, đánh giá hiện trạng và thiết kế trùng tu Cùng với đó, quy địnhquản lý chặt chẽ thiết kế trùng tu ngay từ khâu lập dự án đến khi thẩm địnhthiết kế đã tạo điều kiện trùng tu di tích đúng quy định, đảm bảo chất lượng
và kỹ thuật, mỹ thuật, ngày càng ít xãy ra sai sót trong trùng tu di tích Cơ chếtham vấn cộng đồng, đặc biệt các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã được thựchiện bài bản và thường xuyên hơn
- Vốn đầu tư trùng tu di tích đã được bố trí tập trung hơn, giảm tình
trạng bố trí vốn phân tán nên không còn nhiều dự án trùng tu di tích kéo dàithời gian thực hiện như trước đây Đặc biệt việc triển khai nhanh dự án Tu bổ,tôn tạo hệ thống Kinh thành Huế đã góp phần lớn trong việc chỉnh trang đôthị Huế và cảnh quan của một trong những di tích quan trọng nhất trong quầnthể di tích Cố đô Huế
- Công tác lựa chọn nhà thầu được thực hiện nghiêm túc nên đã lựachọn được các nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tâm huyết, đã góp phầnthực hiện trùng tu di tích với chất lượng cao hơn
- Công tác giải tỏa các hộ dân sống trong khoanh vùng bảo vệ di tíchđược tiến hành quyết liệt hơn, trong đó vấn đề nhà, đất tái định cư và ổn địnhcuộc sống người dân nơi tái định cư được chú trọng nên tạo được sự đồngthuận từ người dân Đã di dời toàn bộ các hộ dân, cơ quan, trường học ra khỏikhu vực Đại Nội; giải tỏa được các hộ dân sống dọc Hộ Thành Hào phía Nam
Trang 24- Trong năm 2010, đã thực hiện đánh giá toàn diện việc thực hiện đề án
Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn
1996-2010, trong đó đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc trùng tu
di tích Cố đô Huế giai đoạn tiếp theo, kể cả một số nội dung về QLNN
1.3.3.2 Hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được đáng ghi nhận, khích lệ nêu trên,QLNN về trùng tu di tích Cố đô Huế giai đoạn 2009-2015 vẫn còn một số tồntại, hạn chế nhất định Những vấn đề hạn chế, tồn tại này cần được nhìn nhận,nghiên cứu để có những giải pháp phù hợp nhằm triển khai thực hiện tốt hơn
trong thời gian tới, góp phần thực hiện thành công đề án Quy hoạch bảo tồn
và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010-2020 đã được Thủ tướng
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; ngày 28/12/2012 Bộ VHTTDL mới banhành Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL quy định chi tiết một số quy định
về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, và đến ngày 30/12/2013 mới ban hànhThông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL về hướng dẫn xác định chi phí lập quyhoạch, dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Chínhđiều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện thủ tục, cũng nhưthi công trùng tu di tích Cố đô Huế
Hoạt động trùng tu di tích Cố đô Huế hiện tại chịu sự điều chỉnh củapháp luật về: DSVH, xây dựng, đấu thầu và cả công ước quốc tế về di sản thếgiới mà Việt Nam tham gia, bắt đầu từ năm 2015 còn chịu sự điều chỉnh củaLuật Đầu tư công Tuy nhiên, hiện nay trong các quy định của pháp luật gầnnhư không có cơ chế đặc thù mang tính ưu tiên nào cho việc trùng tu di tích,
mà chỉ có cơ chế quản lý chặt chẽ hơn và chồng chéo nhau Thậm chí, theoLuật Đấu thầu năm 2003 các hoạt động trong trùng tu di tích được áp dụng cơchế chỉ định thầu (nhằm lựa chọn nhà thầu tốt nhất), thì nay theo Luật Đấu
Trang 25thầu năm 2013 công tác trùng tu di tích vẫn phải đấu thầu như các loại côngtrình khác; Luật Đầu tư công đưa tất cả các dự án trùng tu di tích quốc gia đặcbiệt vào dự án nhóm A nhằm quản lý chặt chẽ hơn nữa về chủ trương đầu tư(Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư trên cơ sở thẩm định củaHội đồng thẩm định liên ngành)
Các quy định nêu trên tuy chặt chẽ về mặt thủ tục nhưng gây mất nhiềuthời gian cho việc thẩm định chủ trương đầu tư, thẩm tra thiết kế, đặc biệt làđối với các công trình nhỏ, đơn giản như bảo quản chống xuống cấp hoặc cáccông trình hạ tầng nhỏ trong quần thể di tích Cố đô Huế
b) Nguồn vốn trùng tu di tích không đáp ứng được nhu cầu
Theo đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, giai đoạn 2010-2020
để trùng tu di tích Cố đô Huế cần khoảng 2.469,5 tỷ đồng, tức trung bình mỗinăm cần khoảng hơn 220 tỷ đồng Tuy nhiên giai đoạn 2009-2014, đã trải qua
06 năm nhưng tổng nguồn vốn huy động chỉ đạt 420,245 tỷ đồng [Phụ lục I],tức trung bình mỗi năm chỉ đạt gần 70 tỷ đồng, bằng 32% nhu cầu vốn
Do khả năng huy động nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp chưa tương xứngvới nhu cầu, nên thực tế tiến độ trùng tu nhiều dự án chậm hơn kế hoạch(như: lăng Gia Long, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh, lăng Tự Đức, TháiBình Lâu), nhiều công trình xuống cấp nặng nề đến nay vẫn chưa được trùng
tu (như: Văn Thánh, Võ Thánh, Hổ Quyền, Tam Lăng) làm ảnh hưởng lớnđến việc khai thác, phát huy giá trị di tích cũng như bảo vệ nó trước sự tànphá của thiên nhiên (như sự sụp đổ mái của Phu Văn Lâu vào đầu năm 2014)
c) Xây dựng đề án, kế hoạch còn nhiều sai sót về mức vốn đầu tư
Đề án điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đôHuế được xây dựng với dự kiến mức vốn đầu tư không chính xác, thậm chímột số dự án được dự kiến với mức vốn đầu tư quá thấp so với thực tế [Phụlục II], điển hình như: Dự án Bảo tồn, tu bổ tôn tạo Kinh thành Huế, đề án chỉ
dự kiến tổng mức đầu tư 577 tỷ đồng, nhưng dự án chính thức được UBNDtỉnh TTH phê duyệt năm 2011 có tổng mức đầu tư 1.282 tỷ đồng, bằng 222%
dự kiến; dự án phục hồi lầu Tứ Phương Vô Sự dự kiến 3,2 tỷ đồng nhưngtổng mức đầu tư được duyệt 11.130 tỷ đồng, bằng 347,8% dự kiến; đặc biệt
dự án Triệu Miếu đề án chỉ dự kiến tổng mức đầu tư 10 tỷ đồng, nhưng tổngmức đầu tư được phê duyệt năm 2013 lên đến 45,555 tỷ đồng, bằng 455,5%
Trang 26dự kiến Bên cạnh đó, nhiều dự án còn phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tưsau khi hoàn thành do phát sinh khối lượng hoặc trượt giá.
Thống kê sơ bộ cho 12 dự án đã được phê duyệt tại Phụ lục II đã cótổng mức đầu tư được duyệt tăng thêm 815,727 tỷ đồng, tức tăng thêm
117,2% so với tổng mức đầu tư dự kiến Bên cạnh đó, trong đề án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 2010-2020 cũng chỉ
dự kiến cần nguồn kinh phí 674,83 tỷ đồng để bồi thường, di dời 3.254 hộ dân
ra khỏi khu vực I khoanh vùng bảo vệ các công trình di tích Cố đô Huế; tuynhiên theo dự án Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh Thành được UBNDtỉnh TTH phê duyệt năm 2011 thì để giải tỏa 1.035 hộ dân bị ảnh hưởng của
dự án đã cần nguồn kinh phí lên đến 784,38 tỷ đồng [34], cao hơn hẳn số kinhphí để dự kiến giải tỏa toàn bộ 3.254 hộ như đề án
Việc thiếu chính xác trong lập đề án này sẽ làm khó khăn cho công táclập kế hoạch đầu tư dài hạn, thậm chí không khả thi khi thực hiện đề án dohuy động, cân đối vốn đầu tư theo đề án không còn phù hợp thực tế
d) Tình trạng xâm lấn di tích còn diễn ra khá phổ biến
Hiện tại trong khu vực I và II khoanh vùng bảo vệ của quần thể di tích
Cố đô Huế có rất nhiều hộ dân sinh sống, gây sự lộn xộn và mất cảnh quantrong di tích cũng như đô thị, đồng thời không đảm bảo cuộc sống của ngườidân Trong những năm qua, chính quyền tỉnh TTH đã rất tích cực trong côngtác di dời dân ra khỏi khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích nhưng kết quả cònhạn chế Cụ thể giai đoạn 2009-2013 đã di dời được 147 hộ dân ra khỏi khuvực lầu Tàng Thơ - hồ Học Hải (29 hộ), Văn Miếu - Võ Miếu (26 hộ), đàn XãTắc (07 hộ), lăng Minh Mạng (26 hộ) và mặt Nam Kinh Thành (59 hộ),nhưng đến nay vẫn còn 3.254 hộ dân sinh sống trong khu vực I khoanh vùng
bảo vệ các công trình di tích Cố đô Huế [Phụ lục III].
e) Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn chưa hợp lý, thiếu đồng bộ
Theo quy định của UBND tỉnh TTH, Trung tâm BTDTCĐ Huế là đơn
vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh TTH, chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếpcủa UBND tỉnh TTH, đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên mônnghiệp vụ của Bộ VHTTDL Do vậy, cơ quan QLNN về văn hóa trên địa bàn
là Sở VHTTDL hầu như đứng ngoài cuộc trong việc trùng tu di tích Cố đô
Trang 27Huế, có chăng cơ quan này chỉ tham gia các cuộc họp do UBND tỉnh TTHchủ trì hoặc cùng tham gia với các đoàn kiểm tra liên ngành Các cơ quanQLNN có thẩm quyền ở tỉnh TTH như Sở Kế hoạch và Đầu tư (thẩm định dự
án đầu tư, tham mưu bố trí vốn đầu tư), Sở Xây dựng (thẩm định thiết kế cơ
sở, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, quản lý chất lượng công trình) thì lạikhông có chuyên gia am hiểu về văn hóa, lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc cổ nênhầu như không quản lý được
Một số di tích Cố đô Huế hiện nay còn do đơn vị khác quản lý, như DiLuân Đường (Quốc Tử Giám) do Bảo tàng Lịch sử Cách mạng quản lý, đồnMang Cá (Trấn Bình Đài) do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh quản lý, khu vực TônNhơn Phủ (hiện là công viên Nguyễn Văn Trỗi) do Trung tâm Công viên câyxanh thành phố Huế quản lý nên dẫn đến tình trạng chồng chéo nhau, thiếu sựphối hợp đồng bộ, không phân định trách nhiệm khi phát sinh các vấn đề viphạm khu vực bảo vệ di tích, cũng như chưa thống nhất được việc xây dựng
kế hoạch và giải pháp trùng tu thích đáng, thậm chí trong đồn Mang Cá nhiềucông trình được xây dựng mới gần đây vì mục đích quân sự
g) Lực lượng thi công, chuyên gia có trình độ cao trong trùng tu di tích còn thiếu
Mặc dù rất quan tâm đến công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độchuyên môn của lực lượng cán bộ trùng tu di tích, nhưng hiện nay trên địabàn tỉnh lực lượng chuyên gia có trình độ cao về trùng tu di tích còn rất ít, đặcbiệt các nghệ nhân về nghề truyền thống càng hiếm hoi hơn Phòng Nghiêncứu khoa học của Trung tâm BTDTCĐ Huế chủ yếu nghiên cứu các nguồn tưliệu theo kiểu hàn lâm, không có bộ phận nghiên cứu thực nghiệm phục vụtrùng tu, bảo tồn di tích; phòng Kỹ thuật cũng chỉ đảm trách việc rà soát hồ sơ
dự án, thiết kế và giám sát thi công là chính Đội ngũ các nhà nghiên cứu vềkiến trúc, lịch sử, mỹ thuật, hội họa ngày càng mai một do tuổi già mà thiếuđội ngũ trẻ đủ am hiểu và nhiệt huyết để kế cận
h) Lập dự án đầu tư gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian
Các công trình, dự án trùng tu di tích Cố đô Huế đều phải tuân thủ đúngquy trình với nhiều giai đoạn và yêu cầu phải trùng tu chuẩn xác theo nguyêngốc nên thời gian lập dự án tương đối dài, nhiều dự án mất thời gian hơn 3năm cho công tác chuẩn bị đầu tư (từ khi giao chủ trương lập dự án đến khiphê duyệt dự án); cá biệt như dự án phục nguyên Điện Cần Chánh với sự giúp
Trang 28đỡ của Viện Di sản Thế giới UNESCO của Đại học Waseda Nhật Bản nhưng
đã hơn 20 năm (từ năm 1994 đến nay) chỉ mới hoàn thành phần mô hình,thám sát khảo cổ và trang trí nội ngoại thất chính; di tích điện Kiến Trungcũng đang trong tình trạng tương tự là lập dự án hơn 4 năm đến nay vẫn chưa
thể hoàn thành (Phụ lục IV).
i) Thanh tra, kiểm tra, giám sát còn mang tính hình thức, chưa toàn diện
Do trùng tu di tích là hoạt động yêu cầu chuyên môn trình độ cao, đadạng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó lực lượng thanh tra, kiểm tra, giám sáttại các cơ quan QLNN hầu hết chỉ am hiểu về thủ tục hành chính, quản lý chấtlượng xây dựng, quản lý tài chính, hầu hết không đủ chuyên môn trình độ,mức độ am hiểu về công trình di tích nên hầu hết các cuộc thanh tra, kiểm tra,giám sát chỉ đi sâu vào thủ tục hành chính, quản lý chất lượng xây dựng, quản
lý tài chính mà chưa đi vào kỹ thuật, chi tiết trùng tu để đánh giá đúng yêu
cầu cơ bản của trùng tu di tích là “đảm bảo tính nguyên gốc của di tích”.
Trong khi đó công tác quản lý mang tính chất kỹ thuật trùng tu hiện nay chủyếu do Trung tâm BTDTCĐ Huế chủ trì quản lý, chỉ xin ý kiến các chuyêngia khi lập dự án và ý kiến Bộ VHTTDL khi thẩm định dự án, còn trong quátrình thực hiện dự án cũng chỉ do Trung tâm BTDTCĐ Huế giám sát
1.3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước
về trùng tu di tích Cố đô Huế
a) Nguyên nhân khách quan
- Trong giai đoạn 2009-2013, nền kinh tế trong nước chịu sự tác độngcủa suy giảm kinh tế toàn cầu, lạm phát trong nước tăng cao nên dẫn đến hụtnguồn vốn do phải bổ sung cho các công trình dở dang khác làm ảnh hưởnglớn đến việc bố trí vốn trùng tu di tích Cố đô Huế
- Quần thể di tích Cố đô Huế nằm chủ yếu trong lòng đô thị và một vàivùng phụ cận, do lịch sử để lại cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ và sựgia tăng dân số nên số hộ dân sống trong khu vực khoanh vùng bảo vệ di tíchhiện tại còn tương đối lớn
Việc bồi thường để giải phóng mặt bằng gặp khó khăn do đòi hỏi nguồnvốn lớn và thời gian dài, việc tái định cư cho người dân là cả một vấn đề lớnđối với chính quyền các cấp, từ vấn đề nhà, đất để tái định cư, đến vấn đề ansinh xã hội, ổn định cuộc sống Riêng việc giải tỏa để thực hiện dự án bảo tồn,tôn tạo hệ thống Kinh Thành và Eo Bầu với số hộ phải giải tỏa 1.035 hộ đãmất 784,38 tỷ đồng cho công tác bồi thường và tái định cư; cần hơn 6,2ha đất
Trang 29để xây nhà tái định cư [34].
- Công tác xây dựng đề án, kế hoạch còn nhiều sai sót về dự kiến mứcvốn đầu tư so với thực tế chủ yếu là do tính đặc thù của di tích là không cócông trình tương tự (về kiến trúc, về mức độ hư hỏng) đã thực hiện nên khilập đề án rất khó dự kiến được mức vốn đầu tư tương đối chính xác Bên cạnh
đó, do lạm phát tăng cao, đặc biệt giá các loại vật tư đặc chủng phục vụ trùng
tu di tích như sơn ta, vàng quỳ, gỗ, pháp lam và lương nhân công nên làmtăng tổng mức đầu tư khá lớn so với dự kiến trong đề án
- Quần thể di tích Cố đô Huế chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thời tiết, khíhậu khắc nghiệt khu vực miền Trung: mưa lớn, bão lũ nhiều, nắng nóng vớinhiệt độ cao, nên nhiều công trình di tích xuống cấp nhanh chóng; bên cạnh
đó số lượng công trình di tích cần trùng tu quá lớn nên đòi hỏi nguồn lực (tàichính, nhân sự) lớn cho công tác trùng tu
b) Nguyên nhân chủ quan
- Các cơ quan lập pháp và lập quy còn thiếu nhất quán trong việc ápdụng cơ chế đặc thù riêng cho việc trùng tu di tích quốc gia đặc biệt; thiếuthống nhất giữa các luật: Đầu tư công, Xây dựng, DSVH, Đấu thầu; chưa đề
ra được cơ chế quản lý di tích quốc gia đặc biệt, cũng như trong việc quản lýthủ tục và quản lý chất lượng trùng tu di tích quốc gia đặc biệt phù hợp vớitừng đối tượng trực tiếp quản lý di tích
- Trong các năm qua, do lạm phát tăng cao và ưu tiên vốn để đẩy mạnhviệc trả nợ đọng vốn xây dựng cơ bản nên Chính phủ đã thực hiện chính sáchtài khóa chặt chẽ; bên cạnh đó chưa xây dựng được cơ chế huy động vốnngoài ngân sách và khai thác dịch vụ thích hợp nên nguồn vốn đầu tư chotrùng tu di tích Cố đô Huế còn hạn chế
- Tỷ lệ vốn giành cho trùng tu di tích (vốn sự nghiệp di tích) so vớinguồn thu từ bán vé tham quan và khai thác dịch vụ di tích còn thấp (chỉ đạtkhoảng 30%) do số lượng nhân viên Trung tâm BTDTCĐ Huế quá đông(hơn 700 người), chưa mạnh dạn trong việc giảm biên chế, xã hội hóa một
số lĩnh vực
- Khi lập đề án chưa đánh giá chính xác mức độ hư hỏng của di tích,cũng như chưa điều tra kỹ về tài sản cần bồi thường và tính toán cụ thểphương án tái định cư cho người dân, trong khi đơn giá bồi thường tài sản và
Trang 30đất đai, xây dựng nhà tái định cư trong những năm gần đây tăng khá lớn; cộngvới tính chủ quan, sơ sài của người lập và thẩm định đề án là các nguyên nhânchủ quan làm tăng tổng mức đầu tư thực tế so với đề án.
- Ngoài nguyên nhân khách quan, việc các hộ dân lấn chiếm, sống trongkhu vực khoanh vùng bảo vệ di tích còn có nguyên nhân không nhỏ từ việcthiếu quyết liệt của chính quyền địa phương, đặc biệt trong việc xây dựng cơchế đặc thù về giải phóng mặt bằng để trình Thủ tướng Chính phủ cho phép
áp dụng nhằm giảm sự phức tạp và khắc phục các bất cập trong quy định củaNhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng [26], trong việc ban hành quychế về việc xây dựng sửa chữa nhà trong phạm vi khoanh vùng bảo vệ di tích.Bên cạnh đó, tồn tại này còn do nguồn vốn hạn chế nên không thể thực hiện
di dời dân đồng loạt, trong khi áp lực tăng dân số và tăng số hộ dân là rất lớn
- Trong các quy định của Trung ương chưa không xác định vai trò tráchnhiệm của Sở VHTTDL, Sở Xây dựng trong việc trùng tu di tích quốc gia đặcbiệt (chỉ có Bộ VHTTDL, Bộ Xây dựng có trách nhiệm thẩm định, thỏathuận; không phân cấp cho các cơ quan QLNN địa phương), vì vậy các cơquan QLNN nêu trên hầu như không có vai trò trong quản lý trùng tu di tíchquốc gia đặc biệt
- Chính quyền địa phương ít chủ động trong việc di dời, hoặc chống lấnchiếm di tích, đặc biệt là tại khu vực bảo vệ di tích Mặc dù Điều 15 Nghị định98/2010/NĐ-CP quy định “khi thẩm định dự án cải tạo, xây dựng công trìnhnằm ngoài các khu vực bảo vệ của di tích mà có khả năng ảnh hưởng xấu đến ditích di tích quốc gia đặc biệt, phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của của Bộtrưởng Bộ VHTTDL”; tuy nhiên pháp luật về xây dựng lại không quy định điềunày, nên chính quyền địa phương khi cấp phép xây dựng cho nhà dân cũngkhông thể thực hiện được, bên cạnh đó khái niệm “có khả năng ảnh hưởng xấu”
là không rõ ràng nên thường không được đánh giá nghiêm túc
Việc di dời Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh TTH ra khỏi khu vực đồn Mang
Cá quá khó khăn do vấn đề an ninh quốc phòng và kinh phí xây dựng mới tại
vị trí khác Đối với Bảo tàng Lịch sử Cách mạng, từ năm 2008, tỉnh TTH đãđặt vấn đề di dời để giao Di Luân Đường cho Trung tâm BTDTCĐ Huế quản
lý nhưng vướng mắc về địa điểm xây dựng cũng như kinh phí xây dựng
- Công tác trùng tu di tích có mức độ khó khăn cao về kỹ thuật trùng tu,