Xuất phát từ định hướng về đổi mới phương pháp dạy học, nội dung, chươngtrình, sách giáo khoa và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử ở trường Trung học phổ thông, tôi mạnh dạn c
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương
CNTD : Chủ nghĩa thực dânCNXH : Chủ nghĩa xã hội
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Mục đích nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Giả thuyết khoa học
8 Đóng góp của đề tài
9 Cấu trúc của luận văn
NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ THÀNH VĂN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm về tài liệu lịch sử , tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử
1.1.1.1 Tài liệu lịch sử 1.1.1.2 Tài liệu lịch sử thành văn 1.1.2 Phân loại tài liệu lịch sử thành văn
1.1.3 Quan niệm về tính tích cực của học sinh trong học tập lịch sử 1.1.3.1 Quan niệm về "tính tích cực" 1.1.3.2 Phương pháp tích cực 1.1.4 Bộ môn lịch sử và việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
1.1.5 Ý nghĩa của việc sử tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
Trang 31.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích điều tra
1.2.2 Nội dung điều tra 1.2.3.Phương pháp điều tra………
1.2.4 Kết quả điều tra
Chương 2 HỆ THỐNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ THÀNH VĂN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1965 ĐẾN 1975 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 2.1 Nội dung lịch sử Việt Nam từ 1965 - 1975 2.2 Những nguyên tắc cơ bản để lựa chọn tài liệu lịch sử thành văn để dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
2.3 Hệ thống tài liệu lịch sử thành văn cần khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến 1975 ở trường Trung học phổ thông………
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ THÀNH VĂN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1965 đến 1975 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 3.1 Nguyên tắc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
3.1.1 Phải phù hợp với nội dung cơ bản của bài học
3.1.2 Phải đảm bảo tính khoa học, tính Đảng
3.1.3 Phải đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh
3.1.4 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn phải nhằm mục đích giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, thẫm mĩ, năng lực tư duy và hoạt động thực tiễn của học sinh
3.1.5 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn phải nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng thực hành bộ môn
3.2 Các trường hợp và biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến1975
3.2.1 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để cụ thể hóa các hiện tượng, sự kiện lịch 3.2.2 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để tạo biểu tượng về sự kiện, nhân vật lịch sử
3.2.3 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để giải thích sự kiện lịch sử, khái niệm, thuật ngữ
Trang 43.2.4 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để tường thuật, miêu tả
3.2.5 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để nêu vấn đề
3.2.6 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để khái quát, kết luận
3.2.7 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn để xây dựng các bài tập nhận thức
3.2.8 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn kết hợp với sơ đồ tư duy
3.2.9 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn kết hợpvới đồ dùng trực quan
3.2.9.1.Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn kết hợp kết hợp tranh ảnh………
3.2.9.2 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn kết hợp với bản đồ (lược đồ) lịch sử 3.2.9.3 Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn kết hợp sơ đồ, biểu đồ, niên biểu 3.3 Thực nghiệm sư phạm
3.3.1 Mục đích, yêu cầu
3.3.2 Phương pháp và kế hoạch thực nghiệm sư phạm
3.3.2.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm 3.3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 3.3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 3.3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng: bất cứ một quốc gia,dân tộc nào, nếu có chiến lược đầu tư phát triển Giáo dục - Đào tạo đúng đắn và phùhợp thì sẽ đạt được sự phát triển nhanh chóng, toàn diện và bền vững Sở dĩ như vậy bởiGiáo dục - Đào tạo liên quan trực tiếp đến con người - nhân tố quyết định hàng đầu đốivới sự tồn vong, hưng thịnh của một đất nước
Ở nước ta hiện nay, giáo dục và đào tạo đang được Đảng và Nhà nước đặt ở vị trí
là “Quốc sách hàng đầu” Đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ thành nguồn nhân lực thực sựchất lượng, hữu ích cho đất nước để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới vừa là việcthực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, vừa là một chiến lược mũi nhọn của quốc gia
Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh những kiếnthức cơ bản về lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc, phát triển tư duy cho thế hệ trẻ mà còngóp phần giáo dục cho các em tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, góp phần to lớntrong việc giáo dục thế hệ trẻ thành nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trên nhiềulĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực phát triển giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông Việc cảitiến, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học bộ môn trở thành một yêu cầu có tính cấpbách và phải tiến hành thường xuyên, đồng bộ, trong đó việc tăng cường sử dụng các tàiliệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh được sử dụng trong dạy
và học lịch sử sẽ gây nhiều hứng thú đối với học sinh
1.2.Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, ngoài sách giáo khoa, tài liệu lịch
sử thành văn với vai trò là tài liệu tham khảo giữ một vị trí trọng yếu Tài liệu lịch sửthành văn không chỉ giúp cho học sinh khôi phục lại hình ảnh quá khứ một cách kháchquan, trung thực, sinh động mà còn giúp cho các em phát triển trí tưởng tượng, tích cựchóa quá trình nhận thức và tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực trong họctập Việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của họcsinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông ngày càng có ý nghĩa quan trọng vì nó phùhợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh và mục tiêu đào tạo của nhà trường
1.3 Lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến 1975 với nội dung chủ yếu là phản ánh
Trang 6cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ của nhân dân ta, nhằm bảo vệ và giữ vững nền độclập dân tộc Đây là thời kỳ thể hiện rõ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, truyền thống đấutranh bất khuất của dân tộc, tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả… Lịch sử Việt Nam từnăm 1965 đến 1975 diễn ra với nhiều nội dung phong phú, để dạy học lịch sử có hiệuquả chúng ta phải vận dụng nhiều biện pháp sư phạm khác nhau, trong đó việc sử dụngtài liệu thành văn là một trong những biện pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả bài họclịch sử Đồng thời thông qua những kiến thức lịch sử quan trọng đó sẽ có ý nghĩa rấtlớn trong việc giáo dục đạo đức, tư tưởng, bồi dưỡng thế giới quan khoa học, nhân sinhquan cách mạng, đặc biệt là lòng tin cho HS Vì thế việc sử dụng tài liệu thành văntrong dạy học từ năm 1965 đến 1975 có ý nghĩa lớn trong việc phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh.
1.4 Thực tiễn dạy học ở phổ thông những năm gần đây cho thấy chất lượng bộmôn có phần giảm sút, các em ít ham thích học tập, tìm hiểu lịch sử, môn lịch sử ítđược coi trọng và quan tâm đúng với vai trò, nhiệm vụ của nó trong công tác giáo dục
tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ Thực tiễn dạy học lịch sử ở cáctrường Trung học phổ thông, việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng pháthuy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử còn hạn chế Nhiều giáo viên vàhọc sinh chỉ dựa vào sách giáo khoa là chủ yếu, ít sử dụng tài liệu lịch sử thành văn, vìvậy chất lượng giờ học chưa cao, một bộ phận không nhỏ giáo viên nghiêng về cungcấp tri thức một chiều, thầy đọc trò chép khiến học sinh tiếp nhận tri thức rời rạc, thiếu
hệ thống, làm cho chất lượng dạy học lịch sử giảm sút
Xuất phát từ định hướng về đổi mới phương pháp dạy học, nội dung, chươngtrình, sách giáo khoa và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử ở trường Trung
học phổ thông, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)” làm đề tài luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học môn lịch sử của mình
2 Lịch sử vấn đề
Liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài đã có nhiều công trình trong vàngoài nước nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau, được thể hiện trong nhiều nguồn tưliệu về tâm lý học, lý luận dạy học đại cương, lý luận và phương pháp dạy học lịch sử của các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước và ngoài nước
Trang 72.1 Ở nước ngoài:
Đề tài luận văn này chủ yếu tập trung vào các tài liệu ở trong nước, liên quan đến
phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả N.A.Êrôpheep(1997 )với công trình “Lịch sử là gì?”, đã giải quyết vấn đề tại sao chúng ta phải học lịch sử? học lịch sử làm gì? đã
giúp giáo viên có cái nhìn khái quát về bộ môn lịch sử, cũng như thấy được tầm quan
trọng của lịch sử; N.G.Đairi với tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã
khẳng định vai trò, tầm quan trọng của nguồn tài liệu tham khảo đồng thời nêu ra nhữngyêu cầu quan trọng nhất của một giờ học và chú trọng tổ chức các hoạt động nhận thứccho học sinh Ông cũng cho rằng, giáo viên bắt buộc phải biết rõ những thành tựu củakhoa học lịch sử và các khoa học giáo dục, những vấn đề mà khoa học đang giảiquyết, phải biết tất cả những hiện tượng quan trọng của đời sống chính trị, xã hội và
văn hóa; A Vaghin trong giáo trình “Phương pháp dạy học ở trường phổ thông” đã
khẳng định nguồn tài liệu lịch sử chiếm vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trườngphổ thông Ông cũng cho rằng, việc lĩnh hội tài liệu là điều kiện cần thiết để HS có
quan điểm đúng đắn về lịch sử…; I.F Kharlamốp trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào?” đã khẳng định: “tài liệu học tập tự nó đã chứa đựng nhiều yếu
tố kích thích, động viên tính ham hiểu biết và tính tích cực tư duy của HS Đó là tính chất mới lạ của tri thức khoa học, tính sáng tỏ của các sự kiện sự thâm nhập sâu xa vào bản chất của hiện tượng” [18, tr.88] Việc xử lí mối quan hệ giữa sử dụng tư liệu và
bài giảng mà ông nêu ra vẫn còn giá trị thực tiễn, được nhiều giáo viên lịch sử ở trườngphổ thông nước ta thừa nhận,
Như vậy, qua các tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng tôi thấyrằng các tác giả chỉ dừng lại ở việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nguồn tài liệunói chung trong dạy học lịch sử, chứ không đề cập đầy đủ, toàn diện đến vai trò củaviệc sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử Tuy nhiên, đây chính là địnhhướng quan trọng để chúng tôi xác định một phần cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
Trang 8học”, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội; Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (Đồng chủ biên) (2002), trong công trình“Một số chuyên đề về phương pháp dạy học lịch sử”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; … đã đề cập nhiều đến
việc cần thiết phải sử dụng tài liệu thành văn và đề xuất một số nguyên tắc khi sử dụngtài liệu thành văn trong dạy học lịch sử
Đề cập đến các sự kiện lịch sử dân tộc từ 1965 đến 1975, có các tác phẩm như :
Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu, NXB Quân đội nhân, Hà Nội; Bộ Quốc phòng, Viện lịch sử Việt Nam (1999), Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975), tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Bá Đệ - Lê Cung (2010), Giáo trình Lịch sử Việt Nam (1954 – 1975), tập VII ( in lần thứ hai), NXB ĐHSP; “ Một số văn kiện chỉ đạo tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975- Chiến dịch Hồ Chí Minh”,Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội; Chiến trường Trị Thiên Huế trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế(1985) công trình này đã tái hiện lại quá khứ hào hùng của nhân dân ta trong
cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước giai đoạn 1965- 1975
Như vậy,mặc dù có nhiều công trình, bài viết đề cập đến vấn đề sử dụng tài liệuthành văn trong dạy học lịch sử nhưng chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu vấn
đề sử dụng tài liệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cực trong dạy học lịch sửViệt Nam từ 1965 đến 1975 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) ở mộtgiai đoạn cụ thể Đấy là nhiệm vụ mà đề tài của tôi phải giải quyết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “quá trình sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn).”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu nêu trên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu
và vận dụng những thành tựu của lý luận dạy học hiện đại về vấn đề sử dụng tài liệulịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sửViệt Nam từ 1965 đến 1975 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) và tiến hành thựcnghiệm sư phạm ở tỉnh Đồng Nai.Trên cơ sở đó, rút ra những kết luận về tính khả thicủa đề tài
Trang 94 Mục đích nghiên cứu
Xác định nội dung, hình thức và biện pháp sư phạm cần thiết để sử dụng tài liệulịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sửViệt Nam từ 1965 đến 1975 để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường THPT(Chương trình Chuẩn)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, chương trình, SGK lịch sử lớp 12 (Ban cơ bản) để xác định cơ sở lí luận của vấn đề
- Tiến hành điều tra xã hội học việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến
1975 ở trường THPT để tìm hiểu thực trạng của vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu lịch sử Việt Nam để xây dựng các đoạn tường thuật, miêu tả, để vận dụng vào dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 ở trường THPT
(Chương trình Chuẩn) theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh
- Đề xuất những nguyên tắc và biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theohướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến
1975 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về lịch sử và giáo dục lịch
sử, chủ yếu là lí luận về phương pháp dạy học môn lịch sử
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia để nêu
Trang 10giả thuyết khoa học của đề tài và xác định các biện pháp giải quyết giả thuyết khoa họccủa đề tài
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thicủa đề tài theo nguyên tắc từ điểm suy ra diện
7 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh bằng những hình thức và biện pháp phù hợp mà đề tài đề ra Thì sẽ nâng cao hiệu
quả việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của họcsinh và nâng cao hiệu quả bài học lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến
1975 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn), đồng thời góp phần tích cực vào quá trìnhđổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT
8 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu lý luận về phương phápdạy học và việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử, cùng với việctham khảo các tài liệu liên quan, luận văn có những đóng góp như sau:
- Về lý luận: Góp phần cụ thể hóa lý luận việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văntrong dạy học lịch sử dân tộc theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh ởmột giai đoạn lịch sử cụ thể
- Về thực tiễn:
+ Đề tài xác định được mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử Việt Nam với hệthống tài liệu lịch sử thành văn đảm bảo tính chính xác, khoa học phù hợp với chương trình,nội dung SGK Lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)
+ Đề xuất một số nguyên tắc và biện pháp khả thi để sử dụng tài liệu lịch sửthành văn theo hướng phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh một cách hợp lý,hiệu quả trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 để góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học môn lịch sử
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được chia làm
3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trunghọc phổ thông
Trang 11Chương 2: Hệ thống tài liệu lịch sử thành văn được sử dụng theo hướng phát
huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)
Chương 3: Phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 ở trườngTrung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)
NỘI DUNG Chương 1
Trang 12CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ THÀNH VĂN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm về tài liệu lịch sử, tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử
1.1.1.1 Tài liệu lịch sử
Trong nghiên cứu lịch sử, tài liệu đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi vì, trongquá trình nghiên cứu nhà sử học không trực tiếp quan sát sự kiện lịch sử để khôi phụclại sự kiện phải dựa trên cơ sở các nguồn tài liệu, thông qua tài liệu để nhận biết quákhứ Tài liệu là cơ sở của mọi kết luận khoa học, đặc biệt là khoa học lịch sử Khẳng
định tầm quan trọng của tài liệu F.Ăng-ghen đã viết: “Chỉ sau khi tài liệu khoa học tự nhiên và lịch sử đã thu thập đến một trình độ nhất định nào đó, thì mới có thể phân tích
và so sánh một cách có phê phán và cứ theo đó mà phân tích ra các lớp, các cấp và các bài” [ 35, tr.203]
Do vậy, càng xem trọng công tác sưu tầm tài liệu lịch sử bao nhiêu thì thành quảnghiên cứu sẽ càng đạt chất lượng cao bấy nhiêu Trong thực tiễn công tác nghiên cứukhoa học nói chung, nhà nghiên cứu dành đại bộ phận thời gian và công sức cho công
tác tài liệu Đã có nhà nghiên cứu cho rằng: “Khi công tác tư liệu đã làm xong về cơ bản có nghĩa là công trình khoa học đã hoàn thành ít nhất là 80%” [24, tr.64]
Tài liệu lịch sử (tư liệu lịch sử) là âm Hán Việt, và ở tiếng Hán cũng là tài liệulịch sử Tiếng Pháp là Document historique, tiếng Nga là istochniki, istoricheskie( ucmopuHuku, ucmopureckue) Cả hai từ này khi dịch sát nghĩa tiếng việt cũng là tàiliệu lịch sử Từ cụm từ đầy đủ này làm nảy sinh từ sử liệu ( cũng gọi là tài liệu lịch sử)
Các nhà nghiên cứu quan niệm tài liệu lịch sử là bao gồm tất cả những gì đã diễn
ra trong quá khứ Ngược lại có người cho rằng tài liệu lịch sử là những tư liệu phản ánh
và ra đời đồng thời với sự kiện lịch sử.v.v…Việc xác định thế nào là tài liệu lịch sử làđiều khó và phức tạp vì hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa này
Thứ nhất, tài liệu lịch sử là những tài liệu thành văn Đại diện cho quan điểm này
là L Răngke (thời kỳ văn hóa phục hưng), theo ông “Lịch sử gắn liền với những tài liệu thành văn được lưu lại” Ngày nay quan điểm này ít được chấp nhận [1, tr.15]
Trang 13Thứ hai, tài liệu lịch sử là những gì được sử dụng để nghiên cứu quá khứ và đểnhận thức quá khứ Đại biểu cho khuynh hướng này là N.chi Khơminốp ( Nhà nghiên
cứu Nga, thế kỷ XIX, theo ông “ tài liệu lịch sử là tất cả những gì còn lưu lại của cuộc sống đã qua” theo quan niện này thì khái niệm tài liệu lịch sử quá rộng rãi [1, tr.15]
Thứ ba, “tài liệu lịch sử là một khái niệm”, tiêu biểu cho quan điểm này là nhà nghiên cứu người Nga Lapo Danhilépxki, theo ông “ tài liệu lịch sử là một khái niệm phản ánh đặc tính của hiện vật và có thể được sử dụng để thu nhận tri thức để thu nhận tri thức về một hiện vật khác”.[1,tr.15]
Thứ tư, coi tư liệu lịch sử là trí nhớ xã hội, tức là một vật mang trí nhớ xã hội,con người không thể nhớ được những gì đã xảy ra trong quá khứ, do đó phải nhờ vật đó
giúp đỡ để tái hiện lại Đại biểu cho quan điểm này là của I.a Rebans, theo ông “tư liệu lịch sử là tổng hợp những thành quả của các hoạt động thực tiễn vào nhận thức của con người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng các phương tiện xã hội” [1,tr.15]
Thứ năm, tài liệu lịch sử như là một sản phẩm thuần túy tâm lý của tác giả tư
liệu Chẳng hạn, theo Lapo Danhilepxki “Tất cả tài liệu (tư liệu) kể cả tài liệu vật chất đều là những sản phẩm của tâm lý con người.” Quan điểm này đã phủ nhận tính chất
khách quan của tư liệu lịch sử Từ đó dẫn đến sự tùy tiện trong việc khai thác tư liệulịch sử
Thứ sáu, trong cuốn trong cuốn Bách khoa toàn thư, xuất bản năm 1972 đã
khẳng định “Tư liệu lịch sử là tất cả những gì phản ánh trực tiếp quá trình lịch sử và cho ta khả năng nghiên cứu quá khứ của xã hội loài người Nghĩa là tấ cả những di sản của xã hội loài người dưới dạng các hiện vật của nền văn hóa vật chất và các tài liệu thành văn cho phép ta nhận thức về đạo đức, tập quán và ngôn ngữ của các dân tộc”.
Khái niệm này nhấn mạnh tính trực tiếp của tư liệu lịch sử
Tổng hợp các định nghĩa nói trên, ta có thể rút ra kết luận rằng “Tài liệu lịch sử
là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định và mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hóa một mặt hoạt động nào đấy của con người.” [1,tr.18]
1.1.1.2 Tài liệu lịch sử thành văn
Từ định nghĩa về tư liệu lịch sử, ta có thể định nghĩa “Tài liệu thành văn là những tư liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng chữ
Trang 14viết qua các kênh thông tin khác nhau Nguồn tài liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng đôi khi chiếm vị trí chủ yếu trong các nguồn sử liệu” [36, tr.4]
1.1.2 Phân loại tài liệu lịch sử thành văn
Tài liệu thành văn: là loại tài liệu hết sức phong phú và có vị trí quan trọng đối
với các công trình nghiên cứu Thông qua loại tài liệu này nhà sử học biết được toàndiện về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của quá khứ Các nhà sử học đã từng quanniệm rằng chỉ có những tài liệu thành văn mới có thể được dùng làm tư liệu, còn nhữngtài liệu khác đều không đáng tin cậy
Trên thực tế, tài liệu thành văn ra đời cùng với chữ viết Sự xuất hiện chữ viếtcùng với ra đời của nghề in đã làm cho tài liệu thành văn ngày càng đa dạng, phong phúChữ viết cũng được sáng tạo trên cơ sở những yêu cầu ghi nhớ bức thiết của con người
mà các hình thức ghi nhớ khác không thỏa mãn được Tuy nhiên ở những thời kỳ đầucủa lịch sử ghi nhớ được ghi chép, sử liệu thành văn chỉ được phản ánh một mặt hoạtđộng nhất định của một bộ phận xã hội - chủ yếu của giai cấp thống trị và bộ phận tăng
lữ Sử liệu viết về nhân dân ra đời muộn hơn nhưng đa dạng hơn và phản ánh đầy đủnhững hoạt động của nhân dân.Việc phân loại tài liệu thành văn tùy thuộc vào cơ sởnhận thức vị trí tài liệu, cụ thể là các căn cứ sau:
1.1.2.1 Giáo sư Trương Hữu Quýnh trong “Nhập môn sử học” đã phân thành các loạitài liệu thành văn sau:
- Tài liệu kinh điển: Trong tài liệu kinh điển gồm 2 loại:
+ Các tác phẩm của C.Mác và Ăngghen, Lê Nin và các tác phẩm chung củaMác-Ăngghen
+ Các văn kiện của quốc tế cộng sản, các hiệp ước, điều ước, tuyên ngôn, các tácphẩm báo chí, bài viết, sách của các lãnh tụ ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các vănkiện của Đảng ta, các bài viết, các báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Nguồn tài liệu chính thống: bao gồm những tài liệu liên quan đến nhà nước,chính trị, pháp luật, tài chính kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự, ngoại giao,
- Nguồn tài liệu tư nhân: Nhật ký, hồi ký, ký sự, di chúc các lão thành cách mạng.1.1.2.2 Một số tác giả khác lại chia tài liệu thành văn thành 2 loại:
- Tài liệu gốc, là loại tài liệu do người đương thời ghi lại khi sự kiện lịch sửđang diễn ra
Trang 15- Tài liệu trung gian, là loại tài liệu phản ánh lịch sử qua thời gian của một tàiliệu khác.
Tóm lại, tùy theo góc độ nhìn nhận khác nhau mà tài liệu thành văn được phânloại như sau :
- Xét ở góc độ xuất xứ tài liệu:
+ Tài liệu gốc
+ Tài liệu trung gian
- Xét ở góc độ nội dung phản ánh :
+ Tài liệu chính trị, quân sự
+ Tài liệu kinh tế
+ Tài liệu văn hóa, xã hội
- Xét ở góc độ ý nghĩa sự kiện :
+ Tài liệu cơ bản
+ Tài liệu không cơ bản
- Xét ở góc độ tầm quan trọng của nguồn tài liệu :
+ Tài liệu của Mác, Ăng ghen, Lênin, Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Đảng
và Nhà nước ta
+ Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta
+Các bài nói, bài viết của các Đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước ta
+ Các công trình nghiên cứu đã xuất bản như giáo trình, sách chuyên khảo
về các vấn đề kinh tế, chính trị- xã hội, các tác phẩm sử học
+ Tài liệu báo chí viết về những vấn đề lịch sử
+ Tài liệu từ nguồn internet như từ google, vi.wikipedia
1.1.2.3 Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm” do Nguyễn Thị Côi chủ
biên, tài liệu thành văn được phân chia như sau:
+ Tài liệu giáo khoa: Là tài liệu cơ bản dành cho HS và cả cho GV trong nhàtrường Đây là loại tài liệu đã được biên soạn, chỉnh lí và qua nhiều lần cải cách giáodục Do vậy, ngoài tài liệu giáo khoa hiện hành, GV còn có thể sử dụng các tài liệu giáokhoa trước đó
+ Tài liệu tham khảo: Gồm nhiều loại tư liệu khác nhau, trước hết là tài liệulịch sử như trích dẫn tài liệu gốc, sách báo, bài viết chuyên khảo về một sự kiện lịch sửtrong nước và thế giới Đây là loại tài liệu quý giúp HS có thể hiểu được các hiện tượng
Trang 16lịch sử một cách sinh động, chính xác Tài liệu tham khảo gồm các tác phẩm văn học,các văn bản văn nghệ dân gian, các trích đoạn từ tác phẩm khoa học khác có liên quanđến sự kiện, hiện tượng lịch sử như tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh.+ Các loại tài liệu thực tế sưu tầm trong đời sống xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng,triết học, nghệ thuật, đạo đức, tâm lí xã hội, xã hội học Ngoài ra, còn có các loại sáchhướng dẫn giảng dạy, các sách lí giải hoặc một số giáo án mẫu của một số Sở giáo dụcbiên soạn Bên cạnh đó, còn phải kể đến các bài viết trao đổi kinh nghiệm về giảng dạy,được đăng tải trên các sách báo, các chuyên san của ngành
1.1.3 Quan niệm về tính tích cực của học sinh trong học tập lịch sử
Tính tích cực là một quá trình hoạt động có mục đích và ý chí vươn lên để đạt tớitầm cao Có thể hiểu một cách khái quát rằng tính tích cực là sự cố gắng cao độ để làmviệc nhằm đạt hiệu quả tốt nhất
Như vậy tính tính cực là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những conngười năng động, sáng tạo thông qua các hoạt động dạy và học Tính tích cực tạo ra sựbiến đổi bên trong (tư duy, tình cảm) và tính tích cực bên ngoài (thái độ, hành động củathầy và trò)
Tính tích cực là cơ sở thuận lợi để phát triển các năng lực khác trong hoạt độngnhận thức của mỗi người Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quátrình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều mà loài người chưa biết
về bản chất, quy luật của các hiện tượng khách quan mà nhằm lĩnh hội tri thức mà loàingười đã tích lũy được Đồng thời trong quá trình dạy học, chúng ta có thể nhận biếtthái độ, tình cảm của học sinh trước một hiện tượng, một tri thức mới Những biểu hiện
đó thường khác nhau hoặc thờ ơ, hoặc vô cảm, hoặc sôi nổi, nhiệt tình, tập trung chú ýhay tỏ vẻ chán chường
Trang 17Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể khái quát : tính tích cực là đem hết khảnăng và tâm trí vào làm việc, như học tập, công tác, trong đó yếu tố tích cực được biểuhiện xuyên suốt, có thể thấy tính tích cực là trạng thái học tập của học sinh đặc trưng bởi
ý muốn tìm tòi, làm chủ và nắm vững kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đồngthời là kết quả của sự phát triển nhân cách và trí tuệ học sinh
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông việc phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh trở thành một nguyên tắc được quán triệt trong mọi hoạt động, mọi khâu củaquá trình dạy học Từ trước đến nay việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinhtrong dạy học thể hiện như sau:
Thứ nhất: Truyền đạt tri thức có sẵn trong sách giáo khoa
Thứ hai: Hình thành trí thức cho học sinh trên cơ sở hoạt động độc lập của học
sinh
Cả hai tố đó thì yếu tố thứ hai có thể giải quyết thông qua việc tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học, đồng thời phải được thực hiệntrên cơ sở kết hợp giữa việc phát huy tính tích cực của chủ thể nhận thức (học sinh) vớichủ thể giảng dạy (giáo viên) nhằm thực hiện việc dạy học là phát triển năng lực tư duy,năng lực thực hành, kỹ năng kỹ xảo, học tập cho học sinh nói chung và rèn luyện cácthao tác cũng như chất lượng của tư duy nói riêng
Trang 18Mặt khác việc phát triển tính tích cực học tập trong dạy học lịch sử còn góp phầnphát triển hứng thú học tập và rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh Bởi vì sự phong phúsinh động của nhiều nguồn kiến thức, kết hợp với việc khéo léo gợi mở, hướng dẫn củagiáo viên sẽ lôi cuốn học sinh tham gia xây dựng bài học Hơn nữa ngôn ngữ liên quanchặt chẽ đến tư duy, tư duy có phát triển thì ngôn ngữ mới mạch lạc, chính xác Rõràng, việc phát triển các hoạt động nhận thức tích cực, đặc biệt là tư duy độc lập củahọc sinh có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả bài học Việc phát huy tính
tích cực trong học tập sẽ “ khêu gợi, đòi hỏi con người suy nghĩ, tìm tòi và phát huy tư duy đến mức cao nhất, moi móc trong con người mình cái gì có thể giải quyết được vấn
đề đặt ra” [19, tr.5]
Như vậy tính tích cực trong dạy học lịch sử được thể hiện trong việc con ngườinắm bắt được quy luật, hiện tượng, sự việc của thế giới tự nhiên và xã hội thông quahọc tập Tính tích cực của học sinh là trạng thái hoạt động của người học thể hiện khátvọng học tập trong quá trình nắm vững kiến thức Thông qua việc phát huy tính tích cựchoạt động nhận thức của học sinh, giáo viên lựa chọn nội dung, phương pháp, phương
tiện dạy học để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của các em “Tính tích cực không phải là phép phản xạ gương, phản xạ đơn nghĩa là phản ánh tất cả các hiện tượng như cái gương chiếu lại đứng trước nó Đây là sự phản ánh tích cực có chọn lọc” [ 19, tr.
336]
Hình thành và phát triển tư duy học sinh thông qua hoạt động tích cực là nhiệm
vụ chủ yếu của ngành giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, sáng tạo, thíchứng với sự phát triển của thời đại Có thể coi tính tích cực như là một điều kiện đồng thời làkết quả của sự phát triển nhân cách và trí tuệ học sinh trong quá trình giáo dục
Cũng như việc học tập các môn khác ở trường phổ thông, học tập lịch sử là mộtquá trình nhận thức, mỗi cá nhân phải tự thực hiện cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn,điều chỉnh của thầy cô giáo Khi học lịch sử, học sinh không chỉ dừng ở việc ghi nhớ sựkiện Điều quan trọng là phải hiểu biết bản chất sự kiện, quá trình lịch sử, rút ra quyluật, bài học của quá khứ hiện tại Vì vậy, trong dạy học lịch sử cần phải phát huy tínhtích cực nhận thức của học sinh
Phương pháp tích cực là phương pháp dạy mà trong đó mối quan hệ biện chứnggiữa thầy và trò được xác định như sau:
Trang 19- Trò là chủ thể của hoạt động giáo dục, là trung tâm trong quá trình dạy học Tròkhông còn thụ động nghe thầy giảng mà phải tích cực chủ động trong việc học Trongkhi giáo viên giảng bài luôn đặt ra các tình huống có vấn đề thì trò phải làm việc, tìmcách giải quyết các vấn đề bằng tích cực tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, đốichiếu, ) để tiếp thu bài giảng một cách tốt nhất đạt hiệu quả cao nhất Cho nên ngườihọc phải tích cực, năng động, sáng tạo mới thật sự phát triển trí thông minh, phát triểnnhân cách toàn diện Người đọc không chỉ tiếp thu những kiến thức có sẵn mà phải tựđặt ra và đối chiếu với những tình huống có vấn đề và tự tìm cách giải quyết vấn đề.Lớp học là nơi giao tiếp thường xuyên giữa trò với thầy.
- Thầy đóng vai trò chỉ đạo trong quá trình dạy học, tức là thầy không còn làngười truyền đạt kiến thức cho học sinh theo lối một chiều mà là người hướng dẫn, giúphọc sinh tự nhận thức các kiến thức, tự đi tìm các chân lý
Tóm lại việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh ngày nay đã và đangđược ngành giáo dục đẩy mạnh toàn diện cả về nội dung và hình thức Học sinh trởthành trung tâm chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn trong quátrình dạy học Nó góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực tự chủ, năng động và sángtạo Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường cần hướng tới
1.1.4 Bộ môn lịch sử và việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Sử học là một môn khoa học, nếu không có sự hoạt động tích cực của tư duy thìkhông nhận thức được lịch sử Mặc khác, việc dạy học lịch sử có rất nhiều điều kiệnthuận lợi để rèn luyện tính tích cực cho học sinh Muốn đào tạo con người phù hợp vớithời đại của chúng ta, cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dạy họclịch sử Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự hứng thú, hấp dẫn ngày càng tăng đốivới hiện tại không hề làm giảm bớt sự chú ý của chúng ta đối với việc dạy học lịch sử.Chính lịch sử là bằng chứng hiển nhiên về sự toàn thắng của công cuộc xây dựng sángtạo đối với sự tàn phá, chiến thắng của hòa bình đối với chiến tranh, sự gần gũi hiểu biếtcủa các dân tộc về văn học và các mặt khác, khắc phục tình trạng biệt lập Bài học lịch
sử luôn đặt ra nhiều vấn đề cần phải lý giải, do đó có điều kiện phát huy tính tích cựccủa học sinh Nhận thức đúng lịch sử là yếu tố quan trọng để hành động có hiệu quảtrong hiện tại
Mọi khoa học đều là tổng kết những hiểu biết, kinh nghiệm trong cuộc đấutranh với tự nhiên và xã hội, đạt tới trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, đi sâu
Trang 20vào bản chất sự kiện hiện tượng, rút ra quy luật vận động của sự vật Việc học tập vànghiên cứu lịch sử cũng là một hình thức nhận thức khoa học, đòi hỏi học sinh cầntích cực trong tư duy.
Lịch sử không phải là “ môn phụ”, môn thứ yếu mà có tầm quan trọng đặc biệttrong giáo dục thế hệ trẻ Môn lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức về khoahọc lịch sử, học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã họcđược vào cuộc sống Do vậy, nó đòi hỏi phải phát triển tư duy, trí thông minh, tính sángtạo
Đặc điểm của lịch sử chi phối nhận thức lịch sử Bản thân lịch sử là một hiệntượng khách quan xảy ra trong quá khứ và vận động theo quy luật từ thấp đến cao.Nhận thức lịch sử không hề quan sát trực tiếp mà học sinh chỉ thực sự nắm vững đượckiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thì trong quá trình đó huy động mọi năng lực nhận thức: Trítưởng tượng (tái hiện và sáng tạo), trí nhớ (chủ yếu là trí nhớ logic), tư duy tích cực và
có khả năng vận dụng tri thức cần thiết để thành công việc đề ra
Học tập lịch sử không phải chỉ ghi nhớ sự kiện, hiện tượng mà phải tìm ra cáitiềm ẩn, bản chất sự kiện Muốn vậy, học sinh phải từ sự kiện tạo biểu tượng, hìnhthành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử Đó là con đường phát triển tínhtích cực
Bài học lịch sử có thể phát huy tính tích cực của học sinh ở nhiều khía cạnh:+ Có ý thức khám phá lịch sử đằng sau các sự kiện và hiện tượng lịch sử
+ Hướng dẫn học sinh biết phân tích cụ thể dễ hiểu bản chất sự kiện
+ Hướng dẫn học sinh biết xem xét vấn đề một cách cụ thể, đặt các sự kiện lịch
sử cụ thể trong bối cảnh của nó để hiểu đúng sự kiện
+ Hướng dẫn học sinh nhìn nhận mối liên hệ hiện tại, tác động qua lại, ảnhhưởng lẫn nhau giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử
1.1.5 Ý nghĩa của việc sử tài liệu lịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến 1975.
- Sử dụng tài liệu thành văn góp phần tạo biểu tượng lịch sử, giúp các em hình dung quá khứ lịch sử phong phú, đa dạng, chính xác…
Trong học tập lịch sử, việc tạo biểu tượng có ý nghĩa rất quan trọng Xuất phát từđặc điểm của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh
Trang 21động Muốn học sinh khôi phục được bức tranh lịch sử quá khứ với đầy đủ tính cụ thể
và sinh động của nó, cần thiết phải sử dụng tài liệu thành văn
Trước hết, tài liệu lịch sử thành văn góp phần tạo biểu tượng lịch sử, khôi phục
bức tranh lịch sử Bởi vì: “một trong hai chức năng – nhiệm vụ chủ yếu của bài giảng lịch sử là khôi phục bức tranh lịch sử và một trong những biện pháp chủ yếu để có thể khôi phục bức tranh lịch sử là tạo biểu tượng lịch sử” [37, tr.12] Với những cách khác
nhau (thông báo, miêu tả, tường thuật,…) giáo viên giúp học sinh tái hiện lại các biến
cố, hiện thực lịch sử với đầy đủ tính cụ thể và gợi cảm của nó để các em sống lại vớiquá khứ
Như vậy, trong dạy học lịch sử, trước hết phải tạo biểu tượng lịch sử Không tạo biểutượng lịch sử cụ thể thì HS sẽ không hiểu được lịch sử
xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)”, khi nói đến
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam , GV có thể sử dụng đoạn trích dưới đây:
Từ ngày 7-2-1965 đến 15-1-1973, đế quốc Mĩ đã hai lần tiến đánh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc (lần thứ nhất :từ 7-2-1965 đến 1-11-1968 của chính quyền Giônxơn ; lần thứ hai:
từ 6-4-1972 đến 15-1-1973 của chính quyền Nichxơn).Không quân Mĩ ném xuống miền Bắc hàng triệu tấn bom Bình quân 1 km 2 phải chịu đựng
6 tấn bom, mỗi người dân miền Bắc phải chịu đựng 45,5 kg bom.
Đã gây thiệt hại:
Về người: giết và gây thương tật cho hơn 200.000 người (gần 80 000 người chết), để lại hậu quả 70 000 trẻ em mồ côi.
Về kinh tế: tất cả các cơ sở kinh tế và quốc phòng đều bị đánh phá: 100% các nhà máy điện, 1 500/1 600 công trình thủy lợi, hơn 1000 quãng đê xung yếu ; 6 đường xe lửa với hầu hết cầu cống bị sập, hỏng, 66/70 nông trường quốc doanh bị bom đạn địch bắn phá; trên 40 000 trâu, bò bị giết hại; 6 thành phố lớn bị đánh phá trong đó có 3 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên bị phá hoại nặng nề, 28-30 thị xã (trong đó có 12 thị
xã bị phá hủy hoàn toàn), 96/116 thị trấn, 4000/5 788 xã miền Bắc (có hơn 300 xã bị phá hủy hoàn toàn), 350 bệnh viện (có 10 bệnh viện bị phá hủy hoàn toàn), 1 500 bệnh xá, 1 300 trường học, hàng trăm chùa chiền, nhà thờ và di tích lịch sử, hơn 5 triệu m 2 nhà ở bằng ghạch ngói, hàng chục vạn hecta ruộng vườn bị bom đạn cày xới, để lại hậu quả nặng nề cho nhân dân ta phải khắc phục sau chiến tranh [25, 158-159]
Trang 22Sử dụng đoạn tài liệu thành văn trên giúp học sinh tái hiện lại các biến cố, hiệnthực lịch sử với đầy đủ tính cụ thể ,qua đó thấy rõ những tội ác và hậu quả mà đế quốc
Mĩ đã gây ra cho miền Bắc Việt Nam
- Sử dụng tài liệu thành văn để làm sáng tỏ bản chất của sự kiện lịch sử
Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp, vì con người là một bộ phận không thểtách rời của đối tượng nghiên cứu Tài liệu thành văn sử dụng trong dạy học lịch sửkhông chỉ dừng ở việc tạo biểu tượng, mà còn giúp làm sáng tỏ bản chất của sự kiệnlịch sử Qua đó, giúp học sinh hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút bài học lịch sử
Theo Phạm Hồng Việt “làm sáng tỏ bản chất của lịch sử có nghĩa là có cái nhìn đúng, đánh giá đúng, phân tích đúng sự kiện, nhân vật lịch sử Làm sáng tỏ bản chất của lịch
sử cũng có ý nghĩa làm sáng tỏ các thuật ngữ, khái niệm, quy luật, bài học lịch sử” [37,
tr.19]
Sử dụng tài liệu thành văn còn giúp HS hiểu sâu hơn bản chất và mối dây liên hệgiữa các sự kiện, hiện tượng Trên cơ sở giúp các em nhận thức rõ bản chất của sự kiệnhiện tượng lịch sử, nghĩa là giúp các em hiểu sử
Ví dụ: Khi dạy bài 22: “ Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc
Mĩ xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973)”, để giúp
HS hiểu rõ về âm mưu và thủ đoạn thâm độc của Mĩ trong việc thực hiện chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”, GV có thể sử dụng tài liệu thành văn sau đây:
Chiến lược" Việt Nam hóa chiến tranh” dự tính sẽ tiến hành qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1(từ năm 1969 đến tháng 6/1970): kiểm soát được những vùng đông dân quan trọng nhất, quân ngụy được tăng cường để đủ sức đối phó với quân giải phóng, rút được bộ phân quân Mỹ về nước, đồng thời đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn.
Giai đoạn 2 ( từ tháng 6/1970 đến tháng 6/1971): kiểm soát hầu hết những vùng đông dân, rút đại bộ phận quân Mỹ về nước cùng với việc quân ngụy đảm trách được phần lớn nhiệm vụ chiến đấu trên bộ.
Giai đoạn 3 ( từ tháng 6/1971 đến tháng 6/1972):cơ bản hoàn thành “Việt Nam hóa chiến tranh”, phục vụ Níchxơn thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11/1972.
Biện pháp thực hiện:
Trang 23Tập trung nổ lực xây dựng quân ngụy thành một đội tay sai hiện đại, làm lực lượng chiến đấu ở miền Nam, có thể thay thế được quân Mỹ trong chiến đấu trên bộ, đồng thời tăng cường các phương tiện chiến tranh hủy diết lớn Trong những năm(1969-1970) quân ngụy (chủ lực và địa phương) tăng từ 700.000 lên đến 1.100.000 người, lực lượng nửa vũ trang tăng 1500.000 lên 2000000 người Cuối 1972 quân đội Sài Gòn có 1.100 máy bay chiến đấu và gần 2000 xe tăng thiết giáp.
Song song với việc xây dựng ngụy quân, Mỹ coi trọng việc củng cố bộ máy tay sai từ trung ương tới địa phương và tăng cường viện trợ cho ngụy quyền.
Với bộ máy bạo lực khổng lồ, Mỹ ngụy tập trung vào công cuộc bình định nông thôn, coi đó là biện pháp then chốt của " Việt Nam hóa chiến tranh”, quyết định sự sống còn của bản thân ngụy quyền.
Đánh vào hậu phương quốc tế của Việt Nam, mở rộng chiến tranh xâm lược sang Lào và Campuchia , chia rẽ Liên Xô và Trung Quốc, hi vọng dùng hai nước này tác động tiêu cực đến cuộc kháng chiến của nhân dân
ta [10, tr 221-222]
Sử dụng đoạn tài liệu thành văn trên giúp HS thấy rõ nội dung và hình thức chiếnlược chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, thủ đoạn thâm độc vàxảo quyệt về quân sự, chính trị, ngoại giao như: “dùng ngưới Việt đánh người Việt”,
“người Đông Dương đánh người Đông Dương” giảm thương vong cho lính Mĩ ở chiếntrường, tránh được sự phản dối mạnh mẽ của nhân dân Mĩ…Mặt khác, Mĩ tiến hànhchiến tranh hủy diệt, phá hoại ở cả hai miền Nam ,Bắc, nhằm làm cho nhân dân ta phảikhiếp sợ, khuất phục, chịu nhận những điều kiện do Mĩ đưa ra, xâm phạm độc lập, chủquyền dân tộc…
- Sử dụng tài liệu thành văn góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức và giá trị thẩm mỹ cho học sinh
Dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng,đó là một quá trình nhận thức đặcthù, trong đó giáo viên tổ chức, dẫn dắt học sinh một cách có mục đích, có kế hoạch đểcác em nắm vững tri thức văn hóa, kỹ năng cơ bản, hình thành cơ sở thế giới quan, bồidưỡng tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh
Trang 24Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm,đạo đức và giá trị thẩm mỹ cho học sinh Bởi vì, khi biết nhận thức về hiện thực quákhứ, các em không chỉ tri giác mà còn “rung động”, “ xao xuyến” Những dấu hiệu tâm
lý đó thể hiện sự “nhập thân” vào lịch sử, biểu thị thái độ của học sinh đối với những gì
mà các em nhận thức được Trong học tập lịch sử học sinh sẽ được học những câu
chuyện bi thảm, những tình thế bất ngờ, những số phận khác thường “Trước mắt chúng ta hiện lên những con người có những ước mơ, những sự thành đạt và có cả những tấm bi kịch nữa, tất cả mọi vật điều sẽ làm rung động trí tuệ và tình cảm của con người Điều này sẽ làm cho những câu chuyện về quá khứ có sức rung cảm mạnh mẽ” [15, tr.157].
Lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh Bởi
vì “khả năng tác động đến tình cảm bắt nguồn từ một sự thật trong khoa học lịch sử, rõ ràng có những yếu tố nghệ thuật” [15, tr.151]
Qua bài học lịch sử, những hành động anh hùng của những người đấu tranh quênmình vì sự nghiệp chính nghĩa và tiến bộ, vì hạnh phúc và hòa bình của nhân dân laođộng, có sức lôi cuốn đối với học sinh, gây cho các em cảm xúc lịch sử sâu rộng Trên
cơ sở đó góp phần hình thành ở các em sự kính phục tự hào đối với các vĩ nhân và trongnhững hoàn cảnh nhất định, nó thổi bùng lên những ngọn lửa nhiệt tình cách mạng.Ngược lại học sinh có những thái độ căm ghét với những hành vi hung bạo, độc ác củacác nhân vật đại diện cho các giai cấp thống trị đi ngược lại với quyền lợi của quầnchúng lao động
Như vậy, tài liệu về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử đã làm cho tìnhcảm yêu ghét của các em được xác định rõ ràng không chỉ có khả năng tái tạo lịch sửquá khứ mà còn có chức năng điều chỉnh hành động
Ví dụ: Khi dạy bài 22, mục III.2.Chiến đấu chống chiến lược " Việt Nam hóa chiến
tranh" và " Đông Dương hóa chiến tranh của Mĩ", khi nói đến nội dung của sự kiện Chủ
tịch Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9- 1969, GV có thể sử dụng đoạn tư liệu sau để có thểgóp phần giáo dục cho học sinh lòng tiếc thương và kính yêu đối với Bác Hồ- lãnh tụ vĩđại của cách mạng của nhân dân Việt Nam, người cha già dân tộc:
Sáu giờ sáng ngày 4/9/1969 trên làn sóng của đài phát thanh tiếng nói Việt Nam truyền đi bản thông báo đặc biệt của bộ chính trị trung ương Đảng lao động Việt Nam, Quốc hội, Hội đồng chính phủ và ủy ban trung
Trang 25ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, báo tin cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ trần vào lúc 9 giờ 47 phút sáng ngày 3/9/1969.
Lễ viếng chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể tại quảng trường
Ba Đình từ sáng ngày 6/9/1969 Từng đoàn người nối tiếp nhau tiến vào hội trường viếng Người Người yên nghỉ trong quan tài bằng kính, mặc bộ quần áo giản dị quen thuộc, đôi dép cao su để dưới chân Đứng trước thi hài của Người, từ những em nhỏ đến cụ già, từ người dân đến các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, từ những người lính đến vị tổng tư lệnh tối cao và bao nhiêu đoàn người nước ngoài không ai cầm được nước mắt [27, tr.
626-627]
- Sử dụng tài liệu thành văn góp phần phát triển tư duy cho học sinh
Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, tài liệu tham khảo nói chung, tài liệu thành văn
nói riêng nếu được sử dụng hợp lí trong dạy học góp phần rèn luyện kỹ năng, phát triển
tư duy độc lập, sáng tạo của các em
Cũng như việc học các bộ môn khác ở nhà trường phổ thông, học tập lịch sử làmột quá trình nhận thức, mỗi cá nhân phải chủ động thực hiện cùng với sự giúp đõ,hướng dẫn, điều chỉnh của thầy giáo Học tập lịch sử, HS không chỉ dừng ở việc ghinhớ các sự kiện, điều quan trọng là phải hiểu bản chất sự kiện, quá trình lịch sử, rút raquy luật, tìm kiếm bài học từ quá khứ phục vụ cho hiện tại Vì vậy,dạy học lịch sử cầphát huy tính tích cực, sáng tạt từ phía HS Phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, phát huytính tích cực học tập cho HS là điều cần thiết, song vấn đề đặt ra là làm sao để có thểbồi dưỡng lòng say mê, sự hứng tú học tập đối với bộ môn
Để có được những đoạn tư liệu hay, góp phần đắc lực trong việc thực hiện mụctiêu dạy học, đòi hỏi GV phải có sự lựa chọn chính xác, cơ bản, có tác dụng giáodưỡng, giáo dục,phát triển đối với HS Khi sử dụng, GV tránh việc chất đống tài liệulàm giờ học nặng nề, đôi khi còn làm loãng trọng tâm của bài Muốn giờ học đạt hiệuquả cao, thầy giáo phải tạo cho HS sự hứng thú
Trong dạy học lịch sử phát triển tư duy của học sinh là một trong những nhiệm
vụ quan trọng Tư duy bao giờ cũng tiến hành trên những cơ sở nội dung cụ thể tức làphải nắm bắt được những sự kiện, giải thích minh họa bằng dẫn chứng, phải phân tích,tổng hợp, khái quát hóa các sự kiện theo quy luật chung của lịch sử Bằng những đoạn
Trang 26tư liệu thành văn, thông qua quá trình điều khiển các hoạt động nhận thức, giáo viên cóthể yêu cầu học sinh đọc và rút ra nhận xét, kết luận hay ý nghĩa của đoạn tư liệu đó.Hoặc giáo viên đọc tư liệu và đặt ra những câu hỏi, đòi hỏi học sinh phải phát huy trítuệ, tư duy để suy nghĩ và tìm cách trả lời.
Chính vì thế, sử dụng tài liệu lịch sử thành văn nhằm góp phần khôi phục lạihình ảnh quá khứ một cách khách quan, chân thực Trên cơ sở đó để phân tích kháiquát, giải thích các hiện tượng lịch sử, là cơ sở để học sinh lĩnh hội tri thức lý luận khác,hiểu sâu sắc hơn bản chất sự kiện, nêu quy luật, rút ra bài học lịch sử, góp phần bồidưỡng tư tưởng tình cảm, hoàn thiện nhân cách và phát triển tư duy lịch sử cho học sinh.Tóm lại, sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông làcần thiết, là một biện pháp có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả bài họclịch sử ở trường THPT,góp phần vào việc bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những công dân
có tri thức, có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu mà xã hội đòi hỏi
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để có nhận xét khách quan và khoa học về thực trạng của việc sử dụng tài liệuthành văn trong dạy học lịch sử, chúng tôi đã tiến hành điều tra xã hội học ở một sốtrường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai như: Trường Trung học phổthông Văn Hiến, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Trường Trung học phổthông Long Khánh, … đối tượng điều tra là thầy giáo, cô giáo dạy lịch sử và học sinhlớp 12 của các trường nói trên
1.2.1 Mục đích điều tra:
Dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến 1975 sẽ góp phần bồi dưỡng HSlòng yêu nước, tự hào về những thắng lợi oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiếnchống Mĩ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay
Các em học sinh lớp 12 đang trong độ tuổi trưởng thành và hình thành nhâncách, là nguồn nhân lực và là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước Cấp học phổthông là cấp học nối tiếp học đường qua giai đoạn định hình và hoàn thiện kiến thứcphổ thông, hoàn thiện nhân cách phù hợp với lứa tuổi để chuẩn bị tâm thế tiếp nhậnnhững tri thức cao hơn, chuyên sâu hơn hoặc chuẩn bị những kĩ năng nghề nghiệp cầnthiết để vào đời
Xuất phát từ vị trí quan trọng, từ đặc điểm lứa tuổi và dựa trên cơ sở lí luận củadạy học lịch sử chúng tôi đã tiến hành điều tra nhằm mục đích:
Trang 27- Tìm hiểu về thái độ của học sinh khi học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975.
- Hiểu rõ về nhận thức của học sinh qua việc giáo viên sử dụng tài liệu lịch sửthành văn trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về sự cần thiết và tác dụng của việc sử dụngtài liệu lịch sử thành văn Thấy được những ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng cácnguồn tài liệu thàn văn trong dạy học lịch sử
- Thăm dò ý kiến cũng như thấy được khả năng tiếp thu bài, tìm hiểu được mức độphát huy tính tích cực của học sinh khi dạy bài 22, bài 23, SGK lịch sử 12
Điều tra thực tế nhận thức của giáo viên về phương pháp dạy học sử dụng tài liệulịch sử thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử(DHLS) Việt Nam từ năm 1965 đến 1975; thực trạng việc sử dụng tài liệu thành văn ởtrường Trung học phổ thông để làm cơ sở đối chiếu với lý luận khoa học, từ đó lựachọn và tập hợp hệ thống tài liệu thành văn phù hợp theo hướng phát huy tính tích cựccủa HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975 và đề xuất phương pháp sửdụng tài liệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sửmột cách hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao trong dạy học lịch sử
1.2.2 Nội dung điều tra
- Đối tượng giáo viên: Chúng tôi trao đổi ý kiến với giáo viên, đưa ra một số câuhỏi trắc nghiệm khách quan để khảo sát, tìm hiểu về phương pháp sử dụng tài liệu thànhvăn theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965đến 1975 Nội dung điều tra chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
+ Điều tra nhận thức của giáo viên về việc sử dụng tài liệu thành văn theo hướngphát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
+ Tình hình sử dụng tài liệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của HStrong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
+ Những khó khăn, thuận lợi của việc sử dụng tài liệu thành văn theo hướng pháthuy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
+ Hiệu quả của việc sử dụng tài liệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cựccủa HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
- Đối tượng học sinh:
Công tác điều tra được tiến hành bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câuhỏi mở để học sinh bày tỏ ý kiến về vấn đề nêu trên, tập trung vào một số nội dung sau
Trang 28đây :
+ Sự hứng thú của học sinh với bộ môn Lịch sử
+ Sự hứng thú của học sinh khi giáo viên sử dụng tài liệu thành văn theo hướngphát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1965 đến 1975
+ Những hiểu biết của các em về tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử Việt Nam
1.2.3 Phương pháp điều tra
Thực tế việc giảng dạy và học tập lịch sử ở các trường THPT rất phong phú Đểtiến hành điều tra chúng tôi đã trực tiếp đến trường quan sát, dự giờ, trao đổi, tiếp xúcvới các GV và HS; trên cơ sở đó rút ra những kết luận bước đầu về tình hình DHLShiện nay Chúng tôi đã phát các phiếu theo mẫu để thăm dò ý kiến của GV và HS, mộtmặt xem xét tình hình DHLS, mặt khác nắm bắt một số đề xuất, nguyện vọng của họ
1.2.4 Kết quả điều tra
- Đối với giáo viên
Đa số GV đều nhận thấy mức độ cần thiết phải sử dụng tài liệu lịch sử thành văntheo hướng phát huy tính tích cực của HS trong DHLS nói chung và DHLS Việt Nam
từ năm 1965 đến 1975 nói riêng.GV khẳng định, vai trò to lớn không thể thiếu của sửdụng tài liệu lịch sử thành văn trong DHLS: nếu biết sử dụng sẽ đem lại hiệu quả dạyhọc cao hơn bởi nguồn sử sử dụng tài liệu lịch sử thành văn là nguồn sử liệu rất quantrọng, nó chứa đựng những thông tin chân thực, phong phú và sâu sắc về các sự kiện,hiện tượng, nhân vật lịch sử, sử dụng nó sẽ góp phần làm cho giờ học lịch sử sinh động,tạo hứng thú học tập cho HS, giúp các em nhận thức bài học lịch sử sâu sắc hơn
Tuy nhiên, việc sử dụng tài liệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cựccủa HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến 1975 ở trường THPT chưađược nhiều giáo viên sử dụng rộng rãi, với phương pháp phù hợp để mang lại hiệu quảcao và với khối lượng kiến thức cơ bản cần cung cấp cho HS, GV cũng nhận thấyphải tùy từng bài, không nhất thiết bài nào cũng sử dụng tư liệu thành văn và không nênlạm dụng nó
Trang 29Mặt khác, đa số giáo viên còn chưa chú trọng đầu tư thời gian, công sức cho việc
sưu tầm, lựa chọn tài liệu thành văn
- Đối với học sinh
Đa số các em ở các trường được điều tra vẫn thích học bộ môn Lịch sử Các em
cũng nhận thức đúng về tác dụng mang lại của bộ môn Lịch sử với thực tiễn cuộc sống
nên có ý thức tích lũy, tìm tòi, suy ngẫm Các em cũng cho rằng, việc giáo viên sử dụng
tài liệu thành văn theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử Việt
Nam từ 1965 đến 1975 làm cho các em hứng thú học tập hơn, nhớ sâu hơn các sự kiện,
có cái nhìn cụ thể hơn về sự kiện, hiện tượng lịch sử, nâng cao hiệu quả bài học hơn
Khi GV sử dụng các đoạn tư liệu sẽ cung cấp cho HS các kiến thức bổ trợ giúp HS
nhanh tiếp thu bài và hiểu sâu hơn các kiến thức cơ bản của bài học Bên cạnh đó, vẫn
còn nhiều em vẫn chưa hứng thú và chăm chú theo dõi bài, việc sử dụng các tài liệu lịch
sử thành văn làm cho các em thấy nặng nề và nhàm chán.,chưa thực sự hứng thú học tập
lịch sử, đặc biệt chưa biết cách chủ động tiếp nhận kiến thức lịch sử
Tóm lại, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn thì việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn
trong dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực ở trường phổ thông có ý nghĩa
to lớn trong việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn, là một biện pháp hiệu quả trong
đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, gây hứng thú học tập cho học sinh Để phát huy
ưu thế của việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử theo hướng phát
huy tính tích cực ở trường phổ thông trong dạy học phải khắc phục những khó khăn mà
giáo viên gặp phải Đồng thời cần khuyến khích, động viên giáo viên lịch sử thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học lịch sử thông qua các hình thức, biện pháp sư phạm thiết
thực nhằm sử dụng việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử Việt
Nam từ năm 1965 – 1975 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong DHLS,
góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông
Trang 302.1 Nội dung lịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến 1975
Sau thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ đẩy mạnh chiến tranh xâmlược, chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng “Chiếntranh phá hoại “ miền Bắc
“Chiến tranh cục bộ”bắt đầu từ giữa năm 1965, là loại hình chiến tranh xâm lượcthực dân mới, được tiến hành bằng quân Mĩ, quân một số nước đồng minh của Mĩ vàquân đội Sài Gòn, Quân số lúc cao nhất (năm 1969) lên gần 1,5 triệu tên, trong đó quân
Mĩ chiếm hơn nửa triệu
Với chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ âm mưu nhanh chóng tạo ra ưu thế vềbinh lực và hỏa lực có thể áp đảo quân chủ lực của ta bằng chiến lược quân sự mới
"tìm diệt", cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta
trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán nhỏ hoặc rút về biên giới, làm cho chiếntranh tàn lụi dần
Dựa vào ưu thế quân sự với quân số đông, vũ khí hiện đại, quân Mĩ vừa mới vàomiền Nam đã mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ của Quân giải phóng ởVạn Tường (Quảng Ngãi).Tiếp đó, Mĩ- mở liền 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô(đông -xuân1965 – 1966 và1966 – 1967) bằng hàng loạt các cuộc hành quân “tìm diệt”
và “bình định” vào “Đất thánh Việt cộng”
Nhân dân ta chiến đấu chống chiến lược" chiến tranh cục bộ " của Mĩ bằng sứcmạnh của cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương, với ý chí quyết chiến quyết thắnggiặc Mĩ xâm lược, mở đầu là các thắng lợi Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường(Quảng Ngãi)
Vạn Tường, được coi là "Ấp Bắc" đối với quân Mĩ, mở đầu cao trào “Tìm Mĩ
mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam
Sau trận Vạn Tường, khả năng đánh thắng quân Mĩ trong cuộc chiến đấuchống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của quân dân ta tiếp tục được thể hiện tronghai mùa khô
Bước vào mùa khô thứ nhất (đông - xuân 1965-1966) với 72 vạn quân (trong đó
có hơn 22 vạn quân Mĩ và quân đồng minh), địch mở đợt phản công với 450 cuộc hànhquân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt" lớn nhằm vào hai hướng chiến lượcchính là Đông Nam Bộ và Liên Khu V với mục tiêu đánh bại chủ lực Quân giải phóng
Trang 31Quân dân ta trong thế trận chiến tranh nhân dân, với nhiều phương thức tác chiến
đã chặn đánh địch trên mọi hướng, tiến công địch khắp mọi nơi
Trong 4 tháng mùa khô ( từ tháng 1- 1966) trên toàn miền Nam, quân dân ta đãloại khỏi vòng chiến đấu 104 000 địch, trong đó có 42 000 quân Mĩ, 3 500 quân đồngminh, bắn rơi 1 430 máy bay
Bước vào mùa khô thứ hai( đông- xuân 1966-1967), với lực lượng được tăngcường lên hơn 98 vạn quân( trong đó quân Mĩ và quân đồng minh chiến hơn 44 vạn),
Mĩ mở cuộc phản công với 895 cuộc hành quân, trong đó có 3 cuộc hành quân lớn “tìmdiệt” và “bình định”, lớn nhất là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti đánh vào căn cứDương Minh Châu (Bắc Tây Ninh), nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu nãocủa ta
Trong mùa khô thứ hai, trên toàn miền Nam, quân dân ta loại khỏi vòng chiếnđấu 151 000 tên địch, trong đó có 68 000 quân Mĩ, 5 500 quân đồng minh, bắn rơi 1231máy bay
Ở hầu khắp các vùng nông thôn, quần chúng được sự hỗ trợ của lực lượng vũtrang đã đứng lên đấu tranh chống ách kìm kẹp của địch, phá từng mảng " ấp chiếnlược" Trong hầu khắp các thành thị, công nhân, các tầng lớp lao động khác, học sinh,sinh viên, Phật tử, một số binh sĩ quân đội Sài Gòn, đấu tranh đòi Mĩ rút về nước, đòi
tự do dân chủ Vùng giải phóng được mở rộng, uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóngmiền Nam Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế
Bước vào mùa xuân năm 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng đã thayđổi có lợi cho ta sau hai mùa khô, đồng thời,đồng thời lợi dụng mâu thuẫn ở Mĩ trongnăm bầu cử tổng thống(1968) ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trêntoàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mĩ,quân đồng minh, đánh đòn mạnh vào chính quyền và quân đội Sài Gòn, giành chínhquyền về tay nhân dân, buộc Mĩ phải đàm phán, rút quân về nước
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược củaquân chủ lực vào hầu khắp các đô thị miền Nam trong đêm 30 rạng sáng 31-1-1968(Tết Mậu Thân) Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã diễn ra qua ba đợt: từ đêm 30-1đến ngày 25-2; tháng 5 và 6; tháng 8 và 9- 1968
Trang 32Trong đợt 1, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 147 000 tên địch, trong
đó có 43 000 lính Mĩ, phá hủy một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranhcủa chúng
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đã đánh đòn bất ngờ làm chođịch choáng váng Nhưng do lực lượng địch còn đông (hơn nửa triệu quân Mĩ và đồngminh, gần một triệu quân Sài Gòn), cơ sở ở thành thị mạnh, nên chúng đã nhanh chóng
tổ chức lại lực lượng, phản công quân ta ở cả thành thị lẫn nông thôn Vì vậy, trong đợt
2 và 3, lực lượng của ta gặp không ít khó khăn và tổn thất
Mặc dù có những tổn thất và hạn chế, song ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công vànổi dậy Xuân Mậu Thân vẫn hết sức to lớn, đã làm lung lay ý chí xâm lược của quân
Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa" chiến tranh xâm lược (tức là thừa nhận thấtbại của "Chiến tranh cục bộ"), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miềnBắc, chấp nhận đến đàm phán ở Pa-ri để bàn về chấm dứt chiến tranh ở ViệtNam.Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiếnchống Mĩ, cứu nước
Cuối năm 1964 đầu năm 1965, đồng thời với việc đẩy mạnh chiến tranh xâmlược miền Nam, Mĩ mở chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc
Ngày 5-8-1964, sau khi dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc bộ”, Mĩ cho máy bay némbom bắn phá một số nơi ở miền Bắc như cửa sông Gianh(Quảng Bình), Vinh-Bến Thủy( Nghệ An), Lạch Trường ( Thanh Hóa), Hòn Gai (Quảng Ninh)
Ngày 7- 2-1965, lấy cớ ”trả đũa” Quân giải phóng miền Nam tiến công doanhtrại quân Mĩ ở Plâyku, Mĩ cho máy bay ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới(QuảngBình), đảo Cồn Cỏ (Vĩnh Linh)v.v., chính thức gây ra chiến tranh bằng không quân vàhải quân phá hoại miền Bắc lần thứ nhất
Tiến hành chiến tranh phá hoại, Mĩ âm mưu phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng,phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn nguồn chi viện từ bênngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần, làm lung lay ýchí chống Mĩ của nhân dân ta ở hai miền đất nước
Trong chiến đấu và sản xuất, trên miền Bắc dấy lên phong trào thi đua chống Mĩ,cứu nước, đã lập được thành tích to lớn trong chiến đấu và sản xuất
Trang 33Trong hơn 4 năm (từ ngày 5 – 8 - 1964 đến ngày 1 – 11 - 1968), miền Bắc bắnrơi, phá hủy 3.243 máy bay, trong đó có 6 máy bay B52, 3 máy bay F 111; bắn cháy,bắn chìm 143 tàu chiến.
Ngày 1-11-1968, Mĩ phải tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc
Trên mặt trận sản xuất, miền Bắc cũng lập được những thành tích quan trọng.Trong nông nghiệp diện tích canh tác được mở rộng, năng suất lao động khôngngừng tăng lên,ngày càng có nhiều hợp tác xã, nhiều địa phương đạt" ba mục tiêu "(5tấn thóc, 2 đầu lợn, 1 lao động trên 1 héc ta gieo trồng trong một năm )
Năm 1965, miền Bắc có 7 huyện, 640 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc/héc tagieo trồng trong hai vụ; đến năm 1967, tăng lên 39 huyện và 2485 hợp tác xã
Trong công nghiệp, năng lực sản xuất ở một số ngành được giữ vững.Các cơ sở
công nghiệp lớn đã kịp thời sơ tán, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của chiến đấu, sản xuất vàđời sống Công nghiệp địa phương và quốc phòng đều phát triển
Giao thông vận tải,một trong những trọng điểm bắn phá của địch, được quân vàdân ta đảm bảo thường xuyên thông suốt
Sau thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” , Mĩ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm
lược thực dân mới ở miền Nam, chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và
mở rộng ra toàn Đông dương, thực hiện chiến lược “Đông Dương hóa chiến tranh”
“Việt Nam hóa chiến tranh” được tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gònchủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần Mĩ và vẫn do Mĩ chỉ huy bằng
hệ thống cố vấn
Với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân Mĩ và quân đồng minh rút dầnkhỏi chiến tranh để giảm xương máu người Mĩ trên chiến trường, đồng thời là quá trìnhtăng cường lực lượng của quân đội Sài Gòn nhằm tận dụng xương máu người ViệtNam Thực chất, đó là sự tiếp tục thực hiện âm mưu “Dùng người Việt đánh ngườiViệt” của Mĩ
Quân đội Sài Gòn được sử dụng như lực lượng xung kích ở Đông Dương trongcác cuộc hành quân mở rộng xâm lược Campuchia (1970),tăng cường chiến tranh ở Lào(1971) thực hiện âm mưu “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”
Mĩ còn dùng thủ đoạn ngoại giao như: lợi dụng mâu thuẫn Trung -Xô, thỏa hiệp
với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đốivới cuộc kháng chiến của ta
Trang 34Ngày 6/6/1969, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Namđược thành lập.Đó là chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam Vừa ra đời,Chínhphủ cách mạng lâm thời đã được 23 nước cộng nhận,trong đó có 21 nước đặt quan hệngoại giao.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miềnđang trên đà thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969 Đó là một tổnthát vô cùng to lớn đối với dân tộc ta, đối với cách mạng nước ta
Trong hai năm 1970-1971, nhân dân ta cùng với nhân dân hai nước Campuchia
và Lào đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận quân sự vàchính trị
Trong hai ngày 24 và 25 – 4 1970, Hội nghị cấp cao 3 nước Việt Nam – Lào Campuchia họp, nhằm đối phó với việc Mĩ chỉ đạo tay sai làm đảo chính lật đổ Chínhphủ trung lập của N.Xihanúc ở Campuchia(18 – 3 - 1970), để chuẩn bị cho bước phiêulưu quân sự mới Hội nghị đã biểu thị quyết tâm của nhân dân ba nước đoàn kết chiếnđấu chống Mĩ
-Từ ngày 30-4 đến ngày 30-6-1971quân đội Việt Nam có sự phối hợp của quândân Campuchia đã đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của 10 vạn quân Mĩ
và quân đội Sài Gòn ,loại khỏi vòng chiến đấu 17 000 tên địch, giải phóng nhiều vùngđất đai rộng lớn với 4,5 triệu dân
Từ ngày 12-2 đến ngày 23-3-1971, quân đội Việt Nam có sự phối hợp của quândân Lào đã đập tan cuộc hành quân mang tên “Lam Sơn – 719” của 4,5 vạn quân Mĩ vàquân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 22 000 tên địch, buộc quân Mĩ và quân độiSài Gòn rút khỏi Đường 9 , giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương
Ở khắp các thành thị, phong trào của các tầng lớp nhân dân nổ ra liên tục.Đặcbiệt ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, phong trào học sinh, sinh viên phát triển rầm rộ đã thuhút đông dảo giới trẻ tham gia
Tại các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven đô thị, đều có phong trào củaquần chúng nổi dậy chống “bình định”, phá “ấp chiến lược”của địch Đến đầu năm
1971, cách mạng giành quyền làm chủ thêm 3 600 ấp với 3 triệu dân Chính quyền cáchmạng cũng đã cấp cho nông dân trên 1,6 triệu héc ta ruộng đất
Trang 35Ngày 30-3-1972, quân ta mở cuộc Tiến công chiến lược đánh vào Quảng Trị,lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu, rồi phát triển rộng khắp chiến trườngmiền Nam
Đến cuối tháng 6 - 1972, quân ta đã chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất củađịch là Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạnquân Sài Gòn, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn và đông dân
Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh”, buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hóa” trở lại chiến tranh xâm lược( tức thừa nhận sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh")
Trên khắp miền Bắc dấy lên phong trào thi đua học tập, công tác, lao động sảnxuất, nhằm khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội
Trong nông nghiệp, các hợp tác xã tích cực áp dụng tiến bộ khoa học- kĩ thuật
với nhiều biện pháp thâm canh tăng vụ v.v Nhờ đó, nhiều hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấnthóc trên 1 hécta gieo trồng trong một năm, sản lượng lương thực năm 1970 tăng hơn
60 vạn tấn so với năm 1968
Trong công nghiệp nhiều cơ sở công nghiệp trung ương và địa phương bị tàn phá
được khôi phục nhanh chóng Một số ngành công nghiệp quan trọng như điện, than, cơkhí,vật liệu xây dựngv.v.đều có bước phát triển Giá trị sản lượng công nghiệp năm
1971 tăng 142 % so với năm 1968
Hệ thống giao thông vận tải nhất là các tuyến giao thông chiến lược bị tàn phá
nặng nề, được khẩn trương khôi phục
Văn hóa, giáo dục, y tế cũng nhanh chóng khôi phục và phát triển Đời sống
nhân dân ổn định Một số khó khăn do sai lầm, khuyết điểm của ta do chỉ đạo, quản líkinh tế-xã hội bước đầu được khắc phục
Ngày 6 – 4 - 1972, Mĩ cho máy bay ném bom bắn phá một số nơi thuộc khu IV
cũ Ngày 16 – 4 -1972, Ních-xơn chính thức gây ra cuộc chiến tranh bằng không quân
và hải quân phá hoại miền Bắc (lần thứ hai)
Ngày 14 – 12 - 1972, gần hai tháng sau khi tuyên bố ngừng ném bom bắn phámiền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, để hỗ trợ cho mưu đồ chính trị-ngoại giao mới, Níchxơnphê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 vào
Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố trong 12 ngày đêm liên tục, bắt đầu từ tối 18
Trang 36đến hết ngày 29 – 12 - 1972, nhằm giành một thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta kímột hiệp định có lợi cho Mĩ.
Quân dân miền Bắc đã đánh trả không quân Mĩ những đòn đích đáng, bắn rơi 81máy bay (trong đó có 34 máy bay B52 và 5 máy bay F111), bắt sống 43 phi công Mĩ,đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của chúng Thắng lợinày được coi như trận “Điện Biên Phủ trên không”
Tính chung, trong cả cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (từ ngày 6-4-1972đến ngày 15-1-1973) miền Bắc bắn rơi 735 máy bay (trong đó có 61 máy bay B52 và
10 máy bay F111), bắn chìm 125 tàu chiến, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm phicông Mĩ
“Điện Biên Phủ trên không” là trận quyết định của ta, buộc Mĩ phải tuyên bố
ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc(15-1-1973) và kí Hiệp định Pa-ri vềchấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973)
Trong thời gian Mĩ ngừng ném bom sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và cảtrong chiến tranh phá hoại lần thứ hai, miền Bắc vẫn bảo đảm tiếp nhận hàng viện trợ từbên ngoài, chi viện theo yêu cầu của tiền tuyến miền Nam và cho cả chiến trường Lào,Campuchia
Ngày 31-3-1968, sau đòn bất ngờ là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân MậuThân của quân dân ta, GiônXơn tuyên bố ngừng ném bom phá hoại miền Bắc từ vĩtuyến 20 trở ra và bắt đầu nói đến đàm phán với Việt Nam
Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán chính thức diễn ra tại Pari giữa hai bên là đạidiện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ, và từ ngày25-1-1969 giữa bốn bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóngmiền Nam Việt Nam( sau đó là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền NamViệt Nam), Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa( chính quyền Sài Gòn)
Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí chínhthức ngày 27-1-1973 tại Pari giữa bốn ngoại trưởng, đại diện cho các chính phủ tham
dự Hội nghị và bắt đầu có hiệu lực
Nội dung Hiệp định gồm những điều khoản cơ bản sau đây:
- Hoa kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của Việt Nam
Trang 37- Hai bên ngừng bắn ở Miền Nam lúc 24 giờ ngày 27 – 1 - 1973 và Hoa kì camkết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.
- Hoa kì rút hết quân đội của mình và quân các nước đồng minh, hủy bỏ các căn
cứ quân sự, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộcủa miền Nam Việt Nam
- Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thôngqua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài
- Các bên thừa nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quânđội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị (lực lượng cách mạng, lực lượng hòabình trung lập và lực lượng chính quyền Sài Gòn)
- Hai bên trao trả tù binh và dân thường bị bắt
- Hoa kì cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam
và Đông Dương, thiết lập quan hệ bình thường cùng có lợi vớiViệt Nam
Hiệp định Pari về Việt Nam được công nhận về mặt pháp lí quốc tế, là thắng lợicủa sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, là kết quả cuộc đấu tranhkiên cường, bất khuất của quân dân ta ở hai miền đất nước, mở ra bước ngoặt mới củacuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước
Với Hiệp định Pari, Mĩ phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản cuả nhân dân ta, rút hết quân về nước Đó là thắng lợi lịch sử quan trọng, tạo ra thời cơ thuận lợi đểnhân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam
Việc kí hiệp định Pari năm 1973 về việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam vàviệc quân Mĩ rút khỏi nước ta đã tạo nên sự thay đổi trong so sánh lực lượng giữa cáchmạng và phản cách mạng, có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam chống
âm mưu hành động mới của Mĩ và chính quyền Sài Gòn
Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương làn thứ 21 của Đảng, từ cuối năm
1973, quân dân ta ở miền Nam không ngừng kiên quyết đánh trả địch tại những căn cứxuất phát các cuộc hành quân của chúng, mở rộng vùng giải phóng
Cuối năm 1974 đầu năm 1975, ta mở đợt hoạt động quân sự ở vùng đồng bằngsông Cửu Long và Đông Nam Bộ Quân ta đã giành được thắng lợi vang dội trongchiến dịch đánh Đường 14 – Phước Long (từ ngày 12 – 12 - 1974 đến ngày 6 – 1 -1975), loại khỏi vòng chiến đấu 3000 địch, giải phóng Đường 14, thị xã và toàn tỉnhPhước Long với 50000 dân
Trang 38Sau chiến thắng này của ta, chính quyền Sài Gòn phản ứnh mạnh và đưa quânđến hòng chiếm lại, nhưng đã thất bại Mĩ đã phản ứng yếu ớt, chủ yếu dùng áp lực đedọa từ xa.
Phối hợp đấu tranh quân sự, nhân dân ta ở miền Nam đẩy mạnh đấu tranh chínhtrị, ngoại giao nhằm tố cáo hành động của Mĩ và chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệpđịnh, phá hoại hòa bình, hòa hợp dân tộc; nêu cao tính chất chính nghĩa cuộc chiến đấucủa nhân dân ta, đòi lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, thực hiện các quyền tự dodân chủ
Cuối năm 1974 đầu năm 1975, trong tình hình so sánh lực lượng ở miền Namthay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra kế hoạchgiải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975 và 1976
Nhưng Bộ Chính trị nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ “nếu thời cơđến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975” BộChính trị nhấn mạnh sự cần thiết tranh thủ thời cơ đánh nhanh để đỡ thiệt hại về người
và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa vv, giảm bớt sự tànphá của chiến tranh
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã diễn ra trong gần 2 tháng (từ ngày
4 - 3 đến ngày 2 - 5) qua 3 chiến dịch lớn: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và chiến dịch
Hồ Chí Minh đánh vào Sài Gòn
Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến ngày 24-3)
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, cả ta và địch đều cố nắm giữ.Nhưng do nhận định sai hướng tiến công của quân ta, địch chốt giữ ở đây một lựclượng mỏng, bố phòng sơ hở Căn cứ vào đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyếtđịnh chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975
Thực hiện kế hoạch, ta tập trung chủ lực mạnh với vũ khí, kĩ thuật hiện đại, mởchiến dịch quy mô lớn ở Tây Nguyên Trận then chốt mở màn ở Buôn Ma Thuột ngày10-3-1975 đã giành thắng lợi (trước đó, ngày 4-3 quân ta đánh nghi binh ở Plâyku vàKon Tum nhằm thu hút quân địch vào hướng đó) Ngày 12-3-1975, địch phản côngchiếm lại Buôn Ma Thuột, nhưng không thành
Sau thất bại ở Buôn Ma Thuột, hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên rungchuyển, quân địch mất tinh thần, hàng ngũ rối loạn
Trang 39Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút toàn bộ quân khỏi Tây Nguyên
về giữ vùng duyên hải miền Trung Trên đường rút chạy, chúng bị quân ta truy kíchtiêu diệt Đến ngày 24-3-1975, Tây Nguyên rộng lớn với 60 vạn dân hoàn toàn đượcgiải phóng
Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mĩ,
cứu nước sang giai đoạn mới: Từ tiến công chiến lược ở Tây Nguyên phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (từ ngày 21-3 đến ngày 29-3)
Nhận thấy thời cơ chiến lược đến nhanh và hết sức thuận lợi ngay khi chiếndịch Tây Nguyên đang tiếp diễn, Bộ Chính trị có quyết định kịp thời kế hoạch giảiphóng Sài Gòn và toàn miền Nam, trước tiên là tiến hành chiến dịch giải phóng Huế -
Từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4, nhân dân các tỉnh còn lại ở ven biển miềnTrung, Nam Tây Nguyên và một số tỉnh Nam Bộ, có sự hổ trợ của lực lượng vũ trangđịa phương và quân chủ lực, đã nổi dậy đánh địch, giành quyền làm chủ Các đảo biểnmiền Trung cũng lần lượt được giải phóng
Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 - 4 đến ngày 30 - 4)
Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế- Đà Nẵng, BộChính trị Trung ương Đảng nhận định: “Thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoànthành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam”; từ đó đi đến quyết định: “Phải tập trungnhanh nhất lực lượng, binh khí kĩ thuật và vật chất giải phóng miền Nam trước mùa
Trang 40mưa (trước tháng 5-1975)”; chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được Bộ Chínhtrị quyết định mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”
Trước khi bắt đầu chiến dịch giải phóng Sài Gòn, quân ta tiến công Xuân Lộc vàPhan Rang, những căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch để bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông
Trước việc tuyến phòng thủ bị chọc thủng (Phan Rang ngày 16 - 4, Xuân Lộcngày 21 - 4) và Phnôm Pênh (thủ đô của Campuchia) giải phóng (17 - 4), nội bộ Mĩ vàchính quyền Sài Gòn càng thêm hoảng loạn Ngày 18 - 4, Tổng thống Mĩ ra lệnh di tảnhết người Mĩ khỏi Sài Gòn Ngày 21 - 4, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổngthống Chính phủ Sài Gòn
17 giờ ngày 26 - 4, quân ta được lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch Năm cánhquân vượt qua tuyến phòng thủ ngoài của địch tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếmcác cơ quan đầu nảo của chúng
10 giờ 45 phút ngày 30 - 4, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắttoàn bộ nội các Sài Gòn Dương Văn Minh đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện.Đến 11 giở 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu
sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Sau khi giải phóng Sài Gòn, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh còn lại ởmiền Nam thừa thắng nhất tề đứng lên tiến công và nổi dậy, theo phương thức “xã giảiphóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh” Đến ngày 2 - 5, Châu Đốc làtỉnh cuối cùng được giải phóng
Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt củaĐảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ CHí Minh, với đường lối chính trị độc lập, tự chủ đúngđắn, sáng tạo, đường lối tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vàcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, với phương pháp đấu tranh linhhoạt, kết hợp đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao
Nhân dân ta giàu lòng yêu nước, đoàn kết nhất trí, lao động cần cù, chiến đấudũng cảm vì sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc,thống nhất nước nhà Hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, đáp ứng kịp thờicác yêu cầu của cuộc kháng chiến ở 2 miền
Cuộc kháng chiến thắng lợi nhờ có sự phối hợp chiến đấu, đoàn kết giúp đở lẫnnhau trong cuộc chiến tranh chống kẻ thù chung của 3 dân tộc ở Đông Dương; sự đồngtình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ trên thếgiới, nhất là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác; phong trào