1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030

258 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC Ở NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC .... 73 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚ

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trường đại học kinh tế quốc dân





NGUYễN TUấN ANH

ĐịNH HƯớNG ĐàO TạO Và Sử DụNG ĐộI NGũ CáN Bộ KHOA HọC Kỹ THUậT ĐàO TạO ở NƯớC NGOàI BằNG

Trang 2

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trường đại học kinh tế quốc dân





NGUYễN TUấN ANH

ĐịNH HƯớNG ĐàO TạO Và Sử DụNG ĐộI NGũ CáN Bộ KHOA HọC Kỹ THUậT ĐàO TạO ở NƯớC NGOàI BằNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, kết quả được nêu trong đề tài là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng, không trùng lắp hay sao chép bất cứ công trình khoa học nào đã công bố

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Nguyễn Tuân Anh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC B1ẢNG vi

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC Ở NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8

1.1 Các nghiên cứu về cán bộ khoa học kỹ thuật và vai trò của cán bộ khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của quốc gia 8

1.2 Các nghiên cứu về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 11

1.3 Các nghiên cứu về sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trở về sau khi tốt nghiệp 15

1.4 Đánh giá tổng quan nghiên cứu 19

1.4.1 Những nội dung nghiên cứu đã thống nhất làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án 19

1.4.2 Các vấn đề chưa nghiên cứu và còn tranh luận 20

Kết luận chương 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 22

2.1 Cơ sở lý luận 22

2.1.1 Bối cảnh gửi cán bộ khoa học kỹ thuật đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 22

2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc gửi cán bộ khoa học kỹ thuật ra nước ngoài đào tạo bằng ngân sách nhà nước 28

2.1.3 Xu hướng tất yếu của việc gửi người đi học nước ngoài ở các nước đang phát triển 31

2.1.4 Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 34

2.1.5 Đánh giá thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 52

Trang 5

2.2 Kinh nghiệm quốc tế về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật ở nước ngoài và bài học cho Việt Nam 60

2.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về định hướng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 602.2.2 Kinh nghiệm quốc tế về định hướng sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 642.2.3 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 69

Kết luận chương 73 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐÀO TẠO Ở NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA (NGHIÊN CỨU ĐỀ

ÁN 322/365) 74 3.1 Tổng quan các đề án, chương trình đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đã triển khai do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý 74

3.1.1 Các đề án, chương trình đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý 743.1.2 Tổng quan tình hình sử dụng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý 78

3.2 Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng của Đề án 322/356 80

3.2.1 Định hướng đào tạo và sử dụng của đề án, chương trình 803.2.2 Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo Đề án 322/356 823.2.3 Phân tích thực trạng sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo đề án 322/356 1013.2.4 Đánh giá các yếu tố tác động đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học

kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước bằng mô hình định lượng 1053.2.5 Đánh giá việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 114

Kết luận chương 125 CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC

KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN NĂM 2030 126 4.1 Căn cứ định hướng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ra nước ngoài đào tạo bằng ngân sách nhà nước 126

4.1.1 Xu hướng phát triển khoa học công nghệ và ngành nghề của thế giới và Việt Nam trong những năm tới 126

Trang 6

4.1.2 Nhu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật trình độ cao đáp ứng công nghiệp hóa và hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong những năm tới 1304.1.3 Định hướng của Nhà nước về đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật 143

4.2 Đề xuất định hướng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030 145

4.2.1 Đề xuất quan điểm về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 1454.2.2 Đề xuất định hướng về mục tiêu đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 1464.2.3 Nội dung định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030 149

4.3 Giải pháp thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 153

4.3.1 Nhóm giải pháp liên quan đến thực hiện định hướng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 1534.3.2 Nhóm giải pháp liên quan đến sử dụng có hiệu quả cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 158

Kết luận chương 162 KẾT LUẬN 163 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC B1ẢNG

Bảng 2.1 Bảng xếp hạng chỉ số HDI và tỷ lệ nhập học thô giáo dục sau trung học của một số nước có cán bộ KHKT gửi ra nước ngoài đào tạo bằng học bổng ngân sách nhà

nước 61

Bảng 3.1 Các đề án, chương trình đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2000 - 2014 [42,54] (Đơn vị: người) 74

Bảng 3.2 Số lượng người cử đi học theo đề án 322/356 giai đoạn 2000-2012 [42] 75

Bảng 3.3 Số lượng người đi học theo đề án Xử lý nợ với Liên bang Nga 76

giai đoạn 2005 -2012 [42] 76

Bảng 3.4 Số lượng người đi học theo đề án 911 giai đoạn 2012 -2014 [42] 77

Bảng 3.5 Các chương trình, đề án đào tạo bằng NSNN do Bộ GD&ĐT quản lý 78

Bảng 3.6 Số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngan sách nhà nước đã tốt nghiệp theo các đề án tính đến năm 2015 [42,43,44,45,46] 78

Bảng 3.7 Cơ cấu LHS được gửi đi các quốc gia giữa 88

giai đoạn 2000-2005 và 2006-2012 [4, 16, 17, 18] 88

Bảng 3.8 Các lý do xin đi học nước ngoài 92

Bảng 3.9 Lý do đi học và độ tuổi của lưu học sinh 92

Bảng 3.10 Lý do đi học và bằng cấp cao nhất của lưu học sinh 93

Bảng 3.11 Lý do đi học và vị trí công tác của lưu học sinh 94

Bảng 3.12 Lý do đi học và cơ sở đào tạo trước khi đến học 94

Bảng 3.13 So sánh ngành học trước khi đi học và ngành học đăng ký đi học (%) 95

Bảng 3.14 Bảng hệ số đánh giá tương quan giữa Mức độ hài lòng với chương trình học bổng và bậc học đăng ký đi học 96

Bảng 3.15 Bảng thống kê mô tả mức độ đánh giá chưa tích cực của LHS đối với chương trình học bổng 96

Bảng 3.16 Lý do chọn trường và nước đến học 97

Bảng 3.17 Mối tương quan giữa ngành đăng ký đi học và Châu lục đến học (%) 99

Bảng 3.18 LHS tốt nghiệp về nước theo trình độ đào tạo tính đến 4/2014 [4, 16, 17, 18] 101 Bảng 3.19 Mức độ phù hợp của kiến thức, kỹ năng trước và sau khi đi học nước ngoài với công việc hiện tại 103

Bảng 4.1 Tổng cung, cầu lao động giai đoạn 2015-2035 [28] 130

Bảng 4.2 Dự báo mức cầu lao động của ba khối ngành kinh tế đến năm 2035 [28] 131

Bảng 4.3 Đề xuất số lượng cán bộ đào tạo chuyên gia cho lĩnh vực công nghệ ưu tiên, trọng điểm, công nghệ mới [27] 134

Bảng 4.4 Đề xuất Lĩnh vực/Ngành KH&CN đào tạo chuyên gia[27] 134

Trang 9

Bảng 4.5 Đề xuất số lượng cán bộ tham gia hoạt động đào tạo nhóm nghiên cứu 135Bảng 4.6 Lĩnh vực/Ngành KH&CN cho hoạt động đào tạo nhóm nghiên cứu 136Bảng 4.7 Đề xuất số lượng cán bộ bồi dưỡng sau tiến sĩ 136Bảng 4.8 Lĩnh vực/Ngành KH&CN bồi dưỡng sau tiến sĩ [27] 137Bảng 4.9 Đề xuất số lượng cán bộ tham gia bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn/nghiệp vụ/kiến thức/kỹ năng quản lý [27] 138Bảng 4.10 Lĩnh vực/Ngành KH&CN cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn/nghiệp vụ/kiến thức/kỹ năng quản lý [27] 138Bảng 4.11 Dự báo nhu cầu nhân lực theo một số ngành, lĩnh vực chia theo bậc đào tạo đến năm 2025 và 2030 142Bảng 4.12 Định hướng gửi đi đào tạo bằng NSNN giai đoạn từ 2020 đến 2030 150

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Số lượng sinh viên của các nước EU ra nước ngoài học tập và nghiên cứu

theo chương trình ERASMUS [57] 33

Hình 2.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát huy hiệu quả làm việc 66

của du học sinh Trung Quốc trở về phục vụ đất nước 66

Hình 3.1 Số lượng LHS thực tuyển từ năm 2000 đến năm 2011 82

Hình 3.2 Số LHS được tuyển và thực tế gửi đi học giai đoạn 2000-2012 83

Hình 3.3 Cơ cấu LHS trúng tuyển theo đơn vị công tác 83

Hình 3.4 Cơ sở đào tạo có từ 100 LHS trúng tuyển trở lên 84

Hình 3.5 Cơ sở nghiên cứu có từ 15 LHS trúng tuyển trở lên 84

Hình 3.6 Cơ quan nhà nước có từ 10 LHS trúng tuyển trở lên 85

Hình 3.7 Cơ cấu ngành nghề LHS thực tế gửi đi đào tạo 85

Hình 3.8 Cơ cấu trình độ gửi LHS thực tuyển và thực tế gửi đi đào tạo 86

Hình 3.9 Số lượng LHS đi học theo Châu lục 86

Hình 3.10 Số lượng LHS đi học theo quốc gia 87

Hình 3.11 Số trường ĐH của các nước có LHS gửi đào tạo theo đề án 322/356 89

Hình 3.12 Chi ngân sách nhà nướcgiai đoạn 2000-2013 cho đề án 322/356 89

Hình 3.13 Chi ngân sách nhà nước theo trình độ đào tạo 90

Hình 3.14 Độ tuổi của LHS trước khi đi học 91

Hình 3.15 Kinh nghiệm công tác của LHS trước khi đi học 91

Hình 3.16 Vị trí công việc của LHS trước khi đi học 93

Hình 3.17 Tỷ lệ LHS đăng ký và tỷ lệ LHS đi học thực tế ở một số nước 98

Hình 3.18 Mức đánh giá tích cực của LHS về cơ sở đào tạo nước ngoài 98

Hình 3.19 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc học tập của LHS 99

Hình 3.20 So sánh tỷ lệ LHS trước và sau khi đi học theo cơ quan công tác 103

Hình 3.21 Số người được tuyển và thực tế gửi đi học giai đoạn 2000-2012 119

Hình 4.1 Quy mô lao động trình độ cao giai đoạn 2009 – 2014 132

Hình 4.2 Cơ cấu lao động trình độ cao theo ngành năm 2014 132

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học

kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước 41

Sơ đồ 3.1 Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [1] 107

Sơ đồ 3.2 Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [2] 109

Sơ đồ 3.3 Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [3] 112

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với mục tiêu tổng quát: đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới Một trong những mục tiêu cụ thể của chiến lược này là xây dựng đội ngũ nhân lực KH&CN, đặc biệt là nhóm chuyên gia đầu ngành có trình độ chuyên môn -

kỹ thuật tương đương các nước tiên tiến trong vùng, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, giải quyết về cơ bản những vấn đề phát triển của đất nước và hội nhập với các xu hướng phát triển khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và công nghệ trên thế giới; xây dựng đội ngũ doanh nhân, chuyên gia quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, có bản lĩnh, thông thạo kinh doanh trong nước và quốc tế, đảm bảo các doanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao trong nền kinh tế toàn cầu

Để thực hiện được các mục tiêu, Chiến lược đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó

có giải pháp tăng cường gửi người Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN); khuyến khích các cá nhân du học tự túc và các cơ sở đào tạo trong nước mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài; đồng thời tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế, gắn với nâng cao hiệu quả và định hướng ngành nghề để nhanh chóng đào tạo các nhóm nhân lực đạt đẳng cấp quốc tế trong ngắn hạn và xây dựng được tiềm lực đào tạo hiện đại đạt trình độ quốc tế ở trong nước

về dài hạn Bên cạnh đó, tiến hành đổi mới chính sách sử dụng nhân lực theo hướng trọng dụng và phát huy nhân tài

Gửi người Việt Nam ra nước ngoài đào tạo là một chủ trương, chính sách lớn, nhất quán và ưu tiên của Đảng và Nhà nước Chỉ thị số 270-CT ngày 23/7/1992 của

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) khẳng định “việc gửi công

dân Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài là một hướng quan trọng để bồi dưỡng nguồn nhân lực, đào tạo các nhà quản lý, kinh doanh, các chuyên gia công nghệ giỏi và công nhân lành nghề nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nhanh nền KH&CN đất nước vươn lên trình độ của thế giới”.[40] Chỉ thị của Ban Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam số 53-CT/TW ngày 21/3/1995 xác định, để nhanh chóng có được đội ngũ trí thức đủ sức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, cùng với việc

“đặc biệt coi trọng việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ ở

Trang 13

trong nước, phải rất quan tâm đến việc gửi người đi đào tạo, bồi dưỡng ở ngoài nước

và hàng năm “ cần dành NSNN đầu tư thích đáng cho công tác này” Chỉ thị cũng nêu rõ: “bắt đầu từ năm 1995 và sau đó, hàng năm Nhà nước dành một phần ngân

sách thích đáng để chủ động thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở ngoài nước"[6] Việc gửi người Việt Nam ra nước ngoài đào tạo cũng đã được pháp điển hóa trong Luật Giáo dục năm 1998, Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi một số điều của Luật giáo dục năm 2009 Tại Khoản 3, Điều 108 của Luật sửa đổi một số điều của

Luật giáo dục năm 2009 quy định: "Nhà nước dành ngân sách cử người có đủ tiêu

chuẩn về phẩm chất, đạo đức và trình độ đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc" [122]

Trên thực tế, việc triển khai thực hiện chủ trương gửi học sinh, sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài đã được tiến hành từ những năm 1950 trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Tính đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, thông qua các Hiệp định hợp tác văn hóa, giáo dục giữa Việt Nam với Liên Xô (cũ), Trung Quốc, các nước trong phe XHCN trước đây và một số nước khác, hàng vạn người Việt Nam đã được gửi đi đào tạo ở nước ngoài với các trình độ khác nhau: cử nhân, kỹ sư, thực tập sinh, thạc sỹ và nghiên cứu sinh tiến sỹ Đặc biệt từ năm 2000, Chính phủ triển khai “Chương trình đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật (KHKT) ở nước ngoài bằng NSNN” (gọi tắt là đề án 322) và đến năm 2005, chương trình này được điều chỉnh mục tiêu và đổi tên thành

“Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng NSNN” (gọi tắt là Đề án 356) Đề

án này đã kết thúc vào năm 2014 Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ (TS) cho các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) giai đoạn 2010-2020" (gọi tắt là Đề án 911) Tiếp theo các đề án trên, năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng NSNN giai đoạn 2013 -2020” (gọi tắt là Đề án 599) Mục tiêu chung của các Chương trình và

Đề án là tăng cường đào tạo cán bộ trình độ TS, Th.S và ĐH tại nước ngoài hoặc phối hợp với nước ngoài để đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện CNH, HĐH đất nước Theo một số đánh giá và nhận định, việc gửi người đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN theo Đề án 322/356 sau 15 năm triển khai thực hiện tương đối thuận lợi và đi đúng hướng Tuy nhiên cho đến nay, chưa có bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu đánh giá sâu về kết quả, đóng góp của chương trình Vì vậy, dư luận

xã hội đang đặt ra một số câu hỏi: Kết quả công tác đào tạo và sử dụng những cán bộ KHKT được đào tạo bằng NSNN ở nước ngoài trong những năm qua như thế nào? Chính sách gửi cán bộ đào tạo, đối tượng tuyển sinh, số lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ

sở đào tạo và nước cử đi đào tạo, v.v đã phù hợp chưa? Việc tuyển sinh và đào tạo

Trang 14

đã có định hướng, thực sự đặt việc đào tạo ở nước ngoài trong phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu phát triển của Việt Nam? Đội ngũ cán bộ KHKT sau khi được đào tạo ở nước ngoài như thế nào? Về nước được sử dụng ra sao? Đóng góp của họ như thế nào?, v.v và v.v…

Bên cạnh đó, các nghiên cứu lý thuyết về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN hiện nay chưa có Cho đến nay thì mới có lý thuyết về định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung và định hướng phát triển giáo dục Hầu như chưa có nghiên cứu chuyên sâu, bình luận, đánh giá thực hiện định hướng gửi người đi học nước ngoài cho Việt Nam đặc biệt là đối với các chương trình học bổng NSNN, chưa rà soát lại sự đúng đắn hay chưa đúng đắn về định hướng đi học nước ngoài bằng NSNN, chưa xác định các quan điểm, nội dung định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT nước ngoài gồm gì, căn cứ để định hướng, nội dung định hướng là gì, chưa có nghiên cứu nguyên nhân, các nhân tố và mức độ tác động đến việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN,… Rõ ràng các nghiên cứu về định hướng đào tạo cán bộ KHKT đào tạo

ở nước ngoài vẫn đang ở những bước đi đầu tiên và cần có những đề tài nghiên cứu chuyên sâu để xác định được khung lý thuyết về định hướng đào tạo cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN

Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ

khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030”

làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học kinh tế là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận

và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng cho nâng cao hiệu quả và hoàn thành mục tiêu của các chương trình, đề án đào tạo người Việt Nam ở nước ngoài bằng nguồn vốn NSNN

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 15

nhân hạn chế việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN

- Làm rõ các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN

- Đề xuất quan điểm, xây dựng định hướng cho việc đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030

- Đề xuất giải pháp thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN trong thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Định hướng gửi người đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN bao gồm những nội dung gì và tiêu chí để đánh giá thực hiện định hướng đấy?

- Đánh giá việc sử dụng cán bộ KHKT đi học nước ngoài về dựa trên những tiêu chí nào?

- Những nhân tố nào tác động đến việc thực hiện định hướng đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN?

- Những nhân tố nào tác động đến việc sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN sau khi tốt nghiệp?

- Làm thế nào để có định hướng đào tạo tốt, cần phải có những thay đổi gì trong tương lai để giúp có định hướng đào tạo tốt và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực được đào tạo này?

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu:

- Việc định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN

- Việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng người tốt nghiệp về nước trong khuôn khổ các chương trình, đề án gửi người đi học nước ngoài bằng NSNN do Bộ GD&ĐT quản lý Điều đó có nghĩa là không đề cập trong nghiên cứu việc gửi người đi học nước ngoài bằng nguồn vốn ngoài ngân sách, không nghiên cứu việc gửi người đi học nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách địa phương

- Xem xét các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đã tốt nghiệp về nước

b) Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian:

Không gian nghiên cứu được xác định trong phạm vi cả nước đối với các đề án Phần đánh giá thực trạng, luận án tập trung vào nghiên cứu trường hợp Đề án 322/356 Xây dựng định hướng áp dụng đến năm 2030 vì lý do phần lớn các Đề án đào tạo bằng

Trang 16

NSNN hiện nay sẽ được triển khai thực hiện đến 2020, các đề án đào tạo tiếp theo sẽ cần đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước tới năm 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn để phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn

đề lý luận liên quan đến nguồn vốn con người, phát triển nguồn vốn con người và vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển của một quốc gia, định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN

- Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm khảo sát, điều tra cán bộ KHKT đi học theo Đề án 322/356; các cơ quan, đơn vị cử người đi học và sử dụng họ khi về nước Phương pháp này sẽ đặt cơ sở và hướng đi hợp lý cho các phân tích định lượng Phân tích sâu các số liệu thu thập được

- Phương pháp chuyên gia hỗ trợ tác giả tập trung chính xác vào các yếu tố có vai trò quan trọng trong việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào

tạo bằng NSNN tại nước ngoài

- Phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định những nhân tố ảnh hưởng và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ hài lòng của người đi học đối với chương trình, quyết định đi học, quyết định về nước công tác làm cơ sở đánh giá thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN Trong phần này, tác giả sử dụng mô hình logit cho biến phụ thuộc định tính các phân tích và kiểm định thống kê Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được

trình bày rõ và cụ thể ở mục 2.1.5.2

Phương pháp thu thập dữ liệu:

Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp Dữ liệu thứ cấp thu thập qua các tài liệu, báo cáo, cơ sở dữ liệu của các cơ quan có liên quan (Bộ GD&ĐT, Cục Đào tạo với nước ngoài) Dữ liệu sơ cấp thu thập từ phát phiếu điều tra khảo sát thu thập ý kiến của những lưu học sinh (LHS) đã tốt nghiệp về nước và đánh giá từ các cơ quan có người đi học theo chương trình học bổng 322/356 về tình hình sử dụng và làm việc của người học tại cơ quan, đơn vị sử dụng người học

Trang 17

Cuộc khảo sát cá nhân bằng phiếu khảo sát được thực hiện và quản lý trực tuyến thông qua phần mềm khảo sát Drive của Google và được gửi/nhận phản hồi trực tiếp đến từng cá nhân qua địa chỉ thư điện tử Phiếu khảo sát cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cơ quan, tổ chức, đơn vị có cán bộ đi học được gửi qua đường công văn Cuộc khảo sát được bắt đầu ngày 29/10/2013 và được mở nhận phản hồi trong thời gian 10 tuần Kết quả điều tra của đối tượng cán bộ KHKT được gửi đi học nước ngoài bằng NSNN trong khuôn khổ Đề án 322/356 thu được với 177 LHS tham gia trả lời với các bậc học khác nhau tại nước ngoài

Số mẫu điều tra khảo sát đối với đối tượng cán bộ KHKT được gửi đi học nước ngoài bằng NSNN trong khuôn khổ Đề án 322/356 là 500 và được chọn ngẫu nhiên trong số hơn 3.000 người của các bậc học khác nhau từ năm 2000 và năm 2013 đã tốt nghiệp và về nước Những người này hiện đang làm việc tại nhiều cơ quan và sinh sống tại nhiều tỉnh thành phố Số mẫu điều tra khảo sát đối với đối tượng cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cơ quan, tổ chức, đơn vị có cán bộ đi học và sử dụng người được gửi đi đào tạo sau khi trở về nước là 50, bao gồm 10 viện nghiên cứu, 10 bộ/cơ quan ngang bộ và 30 cơ sở GDĐH

6 Những đóng góp mới của luận án

- Xây dựng cơ sở lý luận, khung nghiên cứu về định hướng đào tạo và sử dụng

cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN Đưa ra các khái niệm, quan niệm về định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN

- Đánh giá toàn diện việc thực hiện đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT

đào tạo ở nước ngoài trong thời gian qua

- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện định hướng đào tạo và sử

dụng cán bộ KHKT được đào tạo bằng NSNN ở nước ngoài

- Chỉ ra được những bất cập, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong định hướng đào

tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN của Nhà nước theo đuổi

- Khuyến cáo định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài

bằng NSNN trong tương lai (ví dụ: định hướng quy mô, ngành nghề đào tạo ưu tiên, kinh phí đào tạo, số lượng đào tạo, phân bổ kinh phí đào tạo, nước và cơ sở cử đi đào tạo, )

- Đề xuất các giải pháp để thực hiện các định hướng gửi cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN, tránh lãng phí, tiết kiệm NSNN, phát huy năng lực đội ngũ được đào tạo

Trang 18

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ

khoa học kỹ thuật gửi đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về định hướng đào tạo và sử

dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

Chương 3: Thực trạng thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa

học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trong những năm qua

(nghiên cứu Đề án 322/356)

Chương 4: Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi học

nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO

VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC

Ở NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Các nghiên cứu về cán bộ khoa học kỹ thuật và vai trò của cán bộ khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của quốc gia

Một cách chung nhất, đội ngũ cán bộ KHKT, nguồn nhân lực KHKT, nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn lao động chất lượng cao, nguồn lao động trình độ cao, lực lượng lao động KHKT, đội ngũ khoa học công nghệ (KHCN) hay đội ngũ lao động chất xám là những thuật ngữ có thể hiểu được dùng để chỉ những người đạt được một trình độ đào tạo cao trong hệ thống giáo dục quốc dân và có kỹ năng nghề nghiệp nhất định về một lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ được phân công thực hiện

Theo định nghĩa trên, nguồn nhân lực KHKT hay đội ngũ cán bộ KHKT có những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, được đào tạo trình độ cao (OECD, 1975)[112] Trình độ đào tạo cao chứa đựng hàm ý đề cập đến sự đạt được một mức độ nhất định của giáo dục hoặc bằng cấp đào tạo chính thức và do đó, có thể phân biệt được với các trình độ đào tạo

thấp hơn Theo quy định của pháp luật Việt Nam, “trình độ đào tạo cao” hiện nay bao

gồm: trình độ đào tạo CĐ, trình độ đào tạo ĐH, trình độ đào tạo Th.S và nghiên cứu sinh TS (Luật Giáo dục Đại học, 2012)[121] Theo phân loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế (ISCED) do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa, trình độ đào tạo cao bao gồm:

i) Trình độ đào tạo bậc 5: Trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên dẫn đến một loại văn bằng không phải là/hoặc không tương đương văn bằng của trình độ đào tạo

ĐH ở giai đoạn đầu tiên

ii) Trình độ đào tạo bậc 6: Trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên dẫn tới một loại văn bằng của trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn đầu tiên hoặc tương đương, và iii) Trình độ đào tạo bậc 7 và bậc 8: Trình độ đào tạo ĐH ở giai đoạn thứ hai dẫn đến một loại văn bằng ĐH hoặc tương đương (UNESCO, 2011, tr.51-59)[166]

- Thứ hai, có kỹ năng nghề nghiệp nhất định về một lĩnh vực chuyên môn nghiệp

vụ được phân công thực hiện Theo phân loại tiêu chuẩn chuyên môn nghề nghiệp quốc tế (ISCO), kỹ năng được xác định theo 2 tiêu chí: i) trình độ kỹ năng, và ii) kỹ năng chuyên môn (UNESCO, 2011)[166] Trình độ kỹ năng có liên quan đến trình độ đào tạo Kỹ năng chuyên môn được xác định dựa trên các lĩnh vực kiến thức chuyên

Trang 20

môn, các công cụ, máy móc sử dụng, tài liệu làm việc cũng như các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất

Đối với mọi quốc gia, ở bất kỳ thời điểm lịch sử nào, nguồn nhân lực KHKT luôn là chủ thể quan trọng bậc nhất và được quan tâm hàng đầu, vì đó là nhân tố quyết định sức mạnh của đất nước; đặc biệt, trong bối cảnh của quá trình toàn cầu hóa và sự hình thành nền kinh tế dựa vào tri thức Schultz (1961)[129], Denison (1967)[54] và World Bank (1991)[182] cho rằng “sự tăng trưởng kinh tế chỉ thể hiện một phần ở

nguồn lao động và vốn vật chất Một bộ phận cấu thành quan trọng của tăng trưởng này là từ những cải tiến chất lượng lực lượng lao động, cùng với tiến bộ KHKT và hiệu quả kinh tế nhờ quy mô" Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản : i) áp dụng công nghệ mới; ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại; và iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (Nguyễn Quốc Việt và Nguyễn Minh Thảo, 2012)[103] Trong

đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là đội ngũ nhân lực được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề cao Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, nguồn nhân lực có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế

Theo Temple (2001)[141], vốn con người có tác động trực tiếp đến năng suất lao động và có mối tương quan dương giữa sự thay đổi vốn con người và tăng trưởng kinh

tế Sự gia tăng vốn con người dẫn tới mức năng suất cao, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Vốn con người đóng góp vào tăng trưởng kinh tế theo hai phương thức Trước hết, vốn con người tồn tại trong mỗi cá thể sẽ làm tăng năng suất cá nhân, dẫn đến tăng năng suất chung và tăng trưởng kinh tế Thứ hai, vốn con người bao hàm trong mỗi cá thể cũng ảnh hưởng tới năng suất của các nhân tố sản xuất khác Hai phương thức tác động này gọi là các hiệu ứng "nội sinh" và "ngoại sinh" của vốn con người Do đó các nhà chính trị và hoạch định chính sách đều cố gắng hành động nhằm tạo ra vốn con người cho quốc gia (Lucas, 1988)[92] Hanushek và Kimko (2000)[65] đưa ra một kết luận là chất lượng của nguồn lao động có mối quan hệ nhân quả, bền vững và lâu dài với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Krueger và Lindahl (trích dẫn trong Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008, tr.46)[161] cho thấy nếu trình độ học vấn cao hơn thì thu nhập trung bình một năm tăng từ 5 - 15% Ví dụ nghiên cứu ở New Zealand và Đan Mạch chỉ ra rằng những người có bằng cấp đại học thu nhập 15% cao hơn so với những người chỉ tốt nghiệp phổ thông trong suốt quãng đòi làm việc của họ (trích dẫn trong Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008, tr.46)[161]

Trang 21

Okoh (1980)[115] cho rằng một nguồn nhân lực đông đảo có trình độ cao đã trở thành điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ở các quốc gia công nghiệp phát triển Vấn đề cơ bản của hầu hết các nước đang phát triển không phải

là nghèo tài nguyên thiên nhiên và là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao Tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào hai yếu tố: vốn và lực lượng lao động được đào tạo Do đó, nhiệm vụ trước tiên của các nước đang phát triển phải là xây dựng và tích lũy vốn con người Hầu hết các nước đang phát triển không đủ lượng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, nhưng họ có sẵn nguồn nhân lực và có thể bắt đầu đào tạo nguồn nhân lực này (Okoh, 1980)[115] Theo quan điểm của Waines (1963)[175] thì các nước đang phát triển dù có nhiều tài nguyên nhưng thiếu lao động có chất lượng nên sự phát triển chậm Các nước đang phát triển không phải là nghèo về tài nguyên thiên nhiên mà là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao Các nước đang phát triển cho rằng tốc độ tăng trưởng hoàn toàn phụ thuộc vào mức vốn vật chất mà họ có thể tích lũy hoặc thu hút được Kết quả là họ ra sức tìm kiếm nguồn tài chính từ bên ngoài để bổ sung vào nguồn đầu tư giới hạn trong nước có được từ thặng dư ngân sách trong giai đoạn đầu của phát triển Nhưng khả năng sử dụng vốn một cách hiệu quả lại phụ thuộc vào trình độ của nguồn nhân lực Kết quả nghiên cứu của Permani (2009[118]) về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế – khảo sát ở khu vực Đông Á cho thấy giáo dục là điều kiện cần thiết giúp các nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách về công nghệ với các nước phát triển nhưng không phải là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế Tác động của giáo dục là trong dài hạn chứ không phải là nhất thời hay trong hiện tại đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

Theo Liu và Armer (1993)[91] thì nếu chênh lệch thu nhập phản ánh chênh lệch năng suất lao động cá nhân, thì một cộng đồng càng đông người có trình độ giáo dục cao sẽ có năng suất kinh tế tổng hợp càng lớn, kết quả là nền kinh tế quốc gia tăng trưởng P.A.Samuelson - nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng, có bốn nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế là: (1) nhân lực, (2) tài nguyên thiên nhiên, (3) cấu thành tư bản và (4) kỹ thuật - công nghệ Ở các nước đang phát triển, cả bốn

nhân tố này đều khan hiếm, dẫn đến các nước vướng vào “vòng luẩn quẩn”- nguồn gốc của sự đói nghèo Để phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn” cần phải có một “cú huých” từ

bên ngoài và từ đó có thể cất cánh Các nước đang phát triển đầu tư gửi cán bộ KHKT

ra nước ngoài đào tạo, tiếp nhận chuyển giao công nghệ có thể được xem như một trong những cú huých từ bên ngoài

Trang 22

1.2 Các nghiên cứu về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

Phát triển nguồn nhân lực KHKT có liên quan đến hoạt động đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT và phải dựa trên một nền tảng GDĐT cơ bản, đặc biệt GDĐT trình độ cao Nói khác đi, GDĐT có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người nói chung, của đội ngũ cán bộ KHKT nói riêng Adam Smith (trích dẫn trong Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008)[161] viết: "giáo

dục là một cách thức tốt nhằm chống lại sự khốn cùng do phân công lao động liên tục gây ra" Alfred Marshall (trích dẫn trong Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008)[161]cho rằng giáo dục khiến con người trở nên thông minh hơn, đáng tin cậy hơn trong những công việc thông thường và quan niệm giáo dục là một loại đầu tư quốc gia và ủng hộ giáo dục nhằm cải tiến kỹ thuật Karl Marx (trích dẫn trong Cai, 1996)[33] cũng cho rằng giáo dục có vai trò thúc đẩy hòa bình và hài hòa xã hội, cải thiện bản thân và trong quá trình tạo ra của cải

Dưới góc độ kinh tế học, J M Keynes (1883-1948), Schultz, T W (1961) [130]

và một số nhà kinh tế học khác như Gary Becker (nhà kinh tế học người Mỹ được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992)[8], Denison (1962)[54], Kiker, B.F (1972)[81], Psacharopoulos và Woodhall (1985)[115], Hallak J (1990)[65], Kaufman, B.E và Hotchkis, J.L (2000)[80] , đều có quan điểm thống nhất rằng đầu tư cho GDĐT được xem là quá trình đầu tư cơ bản và đầu tư GDĐT là đầu tư vào con người để tạo ra nguồn vốn con người Cai (1996)[33] khẳng định, vốn con người được tích lũy theo nhiều cách, nhưng GDĐT là nguồn tích lũy cơ bản nhất T W Schultz (1961)[130] viết:

"đầu tư vào vốn con người có lẽ là lời giải thích cơ bản cho sự chênh lệch" giữa tăng

trưởng đầu ra và tăng trưởng các đầu vào vốn vật chất và lao động Đầu tư vào vốn con người mang lại những lợi ích to lớn và có tầm ảnh hưởng sâu rộng Ở cấp độ cá nhân, có trình độ giáo dục cao đồng nghĩa với cơ hội kinh tế nhiều hơn và quyền tự chủ lớn hơn Ở cấp độ quốc gia và vùng lãnh thổ, dân số có trình độ giáo dục cao được coi là yếu tố cơ bản dẫn đến tiến bộ kỹ thuật và phát triển KT-XH (Lutz và Goujon, 2001)[92] Còn theo Temple (2001)[140], đầu tư vào giáo dục có nhiều ảnh hưởng sâu rộng Đối với từng cá nhân, có thể nói, giáo dục mang lại lợi ích tiêu dùng trước mắt lẫn tác động dài hạn đối với độ thỏa dụng của cả cuộc đời Những chính sách nhằm gia tăng vốn con người cũng có ý nghĩa với cả xã hội bởi cung cấp giáo dục sẽ tác động đến sức khỏe cộng đồng, môi trường, việc nuôi dạy con cái, Tất cả những lợi ích sâu rộng này cuối cùng đều đưa đến phát triển kinh tế, qua đó cho thấy cái nhìn rộng lớn của vai trò của GD&ĐT Trình độ giáo dục cao có thể giúp người ta tiếp cận, thu thập

Trang 23

và xử lý thông tin tốt hơn, nhằm đưa ra những quyết định có hiệu quả hơn (Michael,

1972[96]; Becker và cộng sự, 1977[9])

Becker (1993)[8] khẳng định rằng “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn

như đầu tư vào nguồn lực con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục” Theo ông, việc đến trường học một khóa máy tính hay việc chi tiêu cho việc chăm sóc y tế cũng là thể hiện của hoạt động đầu tư vì việc cải thiện tình trạng sức khỏe sẽ dẫn đến việc nâng cao thu nhập là yếu tố theo đuổi suốt cuộc đời của mỗi con người Như thế, nó hoàn toàn đúng với quan niệm và định nghĩa truyền thống của hoạt động đầu tư Vì vậy, chi tiêu cho GDĐT hay cho hoạt động chăm sóc y tế đều có thể nói đó là chi đầu tư cơ bản Các báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) thể hiện sự ủng hộ mạnh

mẽ cho chiều hướng này Piazza (2002)[118] chỉ ra rằng đầu tư vào giáo dục không chỉ bao gồm đầu tư của nhà nước và các tổ chức KT-XH mà còn được thực hiện bởi các cá nhân và cha mẹ của họ Đầu tư cho vốn con người chiếm một phần trong phân bổ chi tiêu của hộ gia đình, doanh nghiệp và nhà nước, đồng thời cũng đòi hỏi sự đánh đổi giữa nghỉ ngơi và làm việc Người ta coi chi phí thực tế (bao gồm tiền bạc cộng thời gian) của khoản đầu tư này là đầu tư tiêu dùng cho tương lai Các cá nhân đầu tư cho học tập là nhằm tích luỹ những kỹ năng và kiến thức, những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó Sự đầu tư này cũng mang lại lợi ích kinh tế quốc dân và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế (Fitzimons, 1999)[58]

Hamblin (1974)[63] cho rằng có điểm tương đồng giữa đào tạo và phát triển đó là chúng đều có các phương pháp tương tự, được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành Tuy nhiên, đào tạo chủ yếu là hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay những kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại Còn phát triển lại chú trọng đến các công việc tương lai trong tổ chức, doanh nghiệp Khi một người thăng tiến lên những chức vụ mới, họ cần có những kiến thức, kỹ năng mới theo yêu cầu mới của công việc Mục tiêu của đào tạo và phát triển: Mục đích chính là sử dụng tối đa và phát triển nguồn nhân lực Mục tiêu cuối cùng là hiệu quả cao nhất về tổ chức Mục tiêu của phát triển tổ chức là nâng cao thành tích của tổ chức, tăng sự thích nghi của tổ chức với mọi hoàn cảnh, hoàn thiện những hình thức đối xử trong nội bộ (Võ Xuân Tiến, 2010)[170]

Bắt đầu từ năm 1960, quan điểm cử người đi đào tạo ở nước ngoài nhận được

sự quan tâm chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó là việc thừa nhận tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là của nguồn nhân lực có tay nghề cao Các nước như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan đã coi trọng chính sách đưa người đi học tập tại Hoa Kỳ, Anh và Châu Âu nhằm phát triển

Trang 24

nguồn nhân lực KHKT trình độ cao và những người được đào tạo trở về được trọng dụng bằng chế độ lương thưởng hấp dẫn tham gia thực hiện CNH, HĐH đất nước Theo lý thuyết về hiện đại hóa và lý thuyết về sự phụ thuộc, các nước thuộc địa sau khi giành được độc lập, trên con đường phát triển sẽ tiếp tục đi theo mô hình xã hội công nghiệp của các nước phương Tây Tuy nhiên, nền kinh tế của các nước này vẫn còn kéo dài tình trạng thua kém so với các nước công nghiệp phát triển Vấn đề cơ bản của hầu hết các nước đang phát triển không phải là nghèo tài nguyên thiên nhiên

mà là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của nhân tố quốc tế đối với GDĐH của các nước là hết sức quan trọng trên cả các mặt: sáng tạo tri thức, bảo tồn tri thức và truyền bá tri thức Nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT, xu thế gửi sinh viên ra nước ngoài đào tạo tiếp tục tăng lên để làm tròn vai trò của giáo dục và khoa học trong phát triển quốc gia, đặc biệt nếu muốn tham gia vào quá trình phân công lao động toàn cầu

Theo Bennett (1993)[14], các du học sinh ra nước ngoài học tập và nghiên cứu không chỉ tiếp thu được những tinh hoa KHKT của các nước tiên tiến, mà còn tiếp thu được sự đa dạng về văn hóa, phát triển năng lực, cơ hội việc làm và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân trong môi trường hội nhập quốc tế Họ sau khi hoàn thành khóa học ở nước ngoài trở về nước thường có tinh thần cởi mở, sự phiêu lưu, tự tin cùng với

sự quan tâm cao trong việc học một ngôn ngữ nước ngoài và thường thích lựa chọn một sự nghiệp quốc tế Họ khoan dung, hòa nhập và đồng cảm với các thành viên của các nền văn hóa khác Họ có ảnh hưởng nhất định đến duy trì năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy KH&CN phát triển theo các chuẩn mực quốc tế

Theo một nghiên cứu của Jinyoung Kim (1998)[79], đối với các nước đang phát triển, nhập khẩu kiến thức tiên tiến từ các nước phát triển sẽ là một cách để tích lũy vốn con người Việc cử người đi đào tạo ở nước ngoài sẽ đóng góp tiếp nhận kiến thức tiên tiến và do đó giúp tăng trưởng kinh tế Kiến thức tiên tiến có thể được nhập khẩu không chỉ thông qua trao đổi thương mại hàng hoá mà còn thông qua trao đổi "thương mại" nguồn vốn con người Một cách trực tiếp để thực hiện trao đổi "thương mại" nguồn vốn con người đó là gửi sinh viên ra nước ngoài cho giáo dục đào tạo bậc cao hơn Các nước đang phát triển có thể hưởng lợi từ những kiến thức tiên tiến do các sinh viên đi học đem về Những kiến thức tiên tiến này có thể góp phần tạo ra kiến thức mới nhanh hơn tại những nước đang phát triển và giúp người khác có được kỹ năng tiên tiến mà không cần thêm các chi phí trực tiếp Tuy nhiên, ông cũng cho rằng đối với một nước đang phát triển mà có trình độ vốn con người quá thấp, khoảng cách vốn con người tụt hậu quá xa so với nước phát triển thì có thể không hưởng lợi từ việc nhập khẩu kiến thức thông qua cử người đi đào tạo ở nước ngoài vì việc cử đi đào tạo

Trang 25

nước ngoài sẽ rất tốn kém Đồng tình với quan điểm này, Jovanovic và Rob (1989)[78], Rustichini và Schmitz (1991)[126] và Tamura (1991)[137] trong mô hình nghiên cứu của mình chỉ ra rằng có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa khoảng trống kiến thức và lợi ích đem lại đối với người thụ hưởng quá trình đào tạo Khoảng trống kiến thức càng lớn thì lợi ích đem lại cho người được đào tạo nhận càng nhiều Tuy nhiên, nếu khoảng trống kiến thức quá lớn hay có sự khác biệt quá lớn về nguồn vốn nhân lực của người được đào tạo thì việc đào tạo có thể sẽ không đem lại nhiều lợi ích cho người thụ hưởng quá trình đào tạo

Mặt khác, cũng có một số quan điểm khác về ảnh hưởng của việc đào tạo ở nước ngoài với các nước đang phát triển Những quan điểm này cho rằng sinh viên đến

từ các nước đang phát triển được cử đi đào tạo ở nước ngoài chỉ đơn thuần tiếp cận các giá trị và suy nghĩ của phương Tây, những giá trị này không có liên quan đến thực tế phát triển của đất nước họ và cho rằng các sinh viên khi trở về có thể đưa đất nước của

họ phụ thuộc vào phương Tây về khía cạnh kinh tế và chính trị (lý thuyết về sự phụ thuộc) Cũng có sự lo ngại rằng nền giáo dục nước ngoài đem lại một uy tín nhất định cho sinh viên học về, không quan tâm chất lượng của nền giáo dục nước ngoài như thế nào, uy tín này giúp các sinh viên học nước ngoài về có thể tiếp cận tốt hơn với các đặc quyền về chính trị và xã hội tại đất nước họ (lý thuyết thể chế) Cũng theo những quan điểm này, thì việc học tập ở nước ngoài đóng một vai trò không liên quan, hoặc thậm chí có tác động tiêu cực đến việc tiếp nhận kiến thức tiên tiến để thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển (Jinyoung Kim, 1998)[79]

Trong một nghiên cứu được thực hiện ở một số trường ĐH của Trung Quốc về những lợi ích đóng góp của việc trở về của những học giả được đào tạo với nước ngoài, Li Xuaoxuan (2004)[88] chỉ ra rằng việc đào tạo ở nước ngoài đóng góp rất quan trọng đến sự phát triển học thuật, KHKT của Trung Quốc Có thể thấy rõ qua các hoạt động học thuật, nghiên cứu giảng dạy của các học giả Trung Quốc học ở nước ngoài trở về ở các cơ sở đào tạo và những hiệu quả kinh tế do các công trình nghiên cứu của

họ đem lại Đào tạo ở nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động nghiên cứu của

họ, đặc biệt về khía cạnh trao đổi và hợp tác quốc tế, việc trở về của những học giả học

ở nước ngoài cũng có tác động tích cực đến công tác quản lý điều hành đơn vị nơi họ trở về công tác và chất lượng dịch vụ xã hội Ngoài ra, đào tạo ở nước ngoài cũng có tác động tích cực đến năng lực và phẩm chất cá nhân của các học giả

Zweig (2006)[190] cho rằng những người được đào tạo bậc TS ở nước ngoài có giá trị hơn những đồng nghiệp TS đào tạo trong nước về năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và khả năng đem lại lợi ích cho trường ĐH, cơ sở nghiên cứu, khu công nghệ cao nơi họ làm việc Họ sở hữu những kỹ năng, thông tin và phương pháp

Trang 26

nghiên cứu mà những người đào tạo trong nước không có được Họ có mạng lưới quan

hệ quốc tế tốt và nhận được nhiều tài trợ học bổng hơn Họ cũng đăng được nhiều bài báo, công trình nghiên cứu quốc tế hơn Dean Xu (2009)[53] cho biết số lượng người học về đã hỗ trợ sắp xếp, cơ cấu lại và giúp công tác quản lý học thuật ở trong nước tiếp cận hơn với cấp độ quốc tế Các học giả khi trở về, họ trở thành những chuyên gia hàng đầu xây dựng và phát triển học thuật chuyên môn trong lĩnh vực của mình tại các

cơ sở đào tạo Họ góp phần xây dựng và tạo ra những tiêu chuẩn mới tại nơi họ làm việc thông qua các nghiên cứu, tài liệu học thuật và công cụ mang về từ nước ngoài Theo Li Xuaoxuan (2004)[88], về khía cạnh lợi ích kinh tế thu được từ đào tạo ở nước ngoài, thì những người được đào tạo ngành KHKT có lợi thế hơn những người được đào tạo ngành khoa học xã hội do những nghiên cứu ngành KHKT có sự gắn kết hơn với thực tế sản xuất

1.3 Các nghiên cứu về sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trở về sau khi tốt nghiệp

Sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài về nước sau khi tốt nghiệp và một

trong các nội dung quan trọng của công tác gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo Người học sau khi tốt nghiệp không trở về nước, hoặc trở về nhưng không được sử dụng sẽ làm lệch mục tiêu và giảm hiệu quả của các chương trình gửi người ra nước ngoài đào tạo Có một thực tế là, tình trạng những người được gửi ra nước ngoài đào tạo không trở về nước sau khi tốt nghiệp xảy ra tương đối phổ biến Theo UNDP, ngày càng có nhiều các chuyên gia giỏi tại các nước đang phát triển di cư sang các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ (theo ước tính với số lượng khoảng 100,000 người/năm) Dòng chảy sinh viên quốc tế hiện nay có xu hướng chuyển dịch từ những nước kém phát triển sang các nước phát triển, kể cả những dòng chảy trong nội bộ của từng khu vực Vấn đề những người lao động giỏi nhất, được đào tạo bài bản nhất và có kỹ năng tốt nhất di cư ra nước ngoài gây thiệt hại cho những nước đang phát triển đã được đặt ra từ lâu Theo OECD, trong giai đoạn 1990-2000, số người di cư có trình độ

ĐH trở lên từ các nước đang phát triển sang các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã tăng gấp đôi, trong số này có phần lớn là du học sinh Tốc độ này tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng người di cư chỉ có trình độ trung học và

gây ra mối quan ngại về nạn “chảy máu chất xám” ở các nước nghèo Sáu (06) quốc

gia là điểm đến du học của hơn nửa số sinh viên du học trong năm 2009 là Úc, Canada, Pháp, Đức, Anh và Hoa Kỳ Một số quốc gia thuộc tổ chức OECD bao gồm

Úc, Canada, Phần Lan, Pháp, New Zealand và Na Uy đã đơn giản hóa thủ tục nhập cư nhằm khuyến khích sinh viên quốc tế bao gồm định cư ngắn hạn hoặc lâu dài Nhiều

Trang 27

sinh viên quốc tế di chuyển tới các nước có thỏa thuận chung, như Liên minh Châu

Âu, và không cần giấy phép để ở lại quốc gia nơi họ học tập (OECD, 2009)[112]

Việc không trở về nước có nhiều nguyên nhân Trước hết, có liên quan đến môi trường làm việc Một nghiên cứu của Cai (2003)[32] cho biết, mấu chốt để thu hút người học ở nước ngoài trở về nước làm việc đó là phải xây dựng được môi trường làm việc để những người trở về có thể phát huy năng lực khả năng của mình Nhiều người trở về làm việc không phải vì thù lao, thu nhập cao mà có mong muốn tạo dựng

sự nghiệp Họ cho rằng rào cản lớn nhất với việc trở về cống hiến cho đất nước không phải là mức thu nhập tương đối thấp, mà do thiếu môi trường làm việc thuận lợi để họ tạo dựng sự nghiệp Li Xuaoxuan (2004)[88] cũng chỉ ra một số yếu tố cần quan tâm khi thu hút người đi học nước ngoài trở về làm việc tại Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh đến môi trường làm việc để nâng cao khả năng đóng góp của những người trẻ và khả năng ứng dụng thực tiễn các công trình nghiên cứu

Thứ hai liên quan đến việc phát triển học thuật Cũng theo nghiên cứu trên, hầu hết những người được đào tạo ở nước ngoài trở về ở Trung Quốc coi việc nghiên cứu

là ưu tiên hàng đầu trong những năm đầu sau khi trở về Theo họ, vấn đề duy nhất đảm bảo duy trì việc trao đổi học thuật quốc tế đó là đăng các công trình nghiên cứu trên các tạp trí quốc tế, vì các ấn phẩm xuất bản trong nước có thể không đảm bảo được tính chuyển đổi giá trị quốc tế cho nghiên cứu Tuy nhiên, nếu họ chỉ tập chung vào các ấn phẩm tiếng Anh, họ có thể sẽ trở nên lạc lõng giữa những đồng nghiệp trong nước và nếu công trình nghiên cứu của họ đơn thuần mang tính quốc tế họ sẽ mất dần động lực ở lại trong nước Ngược lại, việc đăng các nghiên cứu trên các ấn phẩm trong nước có thể là nền tảng quan trọng giúp kết nối công trình nghiên cứu của họ với các đồng nghiệp trong nước, tăng khả năng ảnh hưởng của kết quả nghiên cứu của họ tuy nhiên họ có thể phải chấp nhận rủi ro là công trình của họ có thể mất đi tính quốc tế Bên cạnh đấy, theo Dean Xue (2009)[53] các quy định trong nước cho hoạt động nghiên cứu học thuật cũng là một thách thức cho những người trở về, ví dụ như quy định xin tài trợ nghiên cứu trong nước, thường đòi hỏi phải thành lập một nhóm nghiên cứu bao gồm các thành viên thông thường có học hàm giáo sư, phó giáo sư, hoặc thành viên giữ chức vụ trong cơ quan nghiên cứu như trưởng, phó khoa, Việc này sẽ tăng khả năng thành công khi xin tài trợ nghiên cứu Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động phi học thuật như công tác quản lý hành chính cũng là một thách thức đối với những học giả trở về Đối với nền văn hóa phương Tây, điều này sẽ phản tác dụng cho việc thăng tiến sự nghiệp của các học giả trẻ phương Tây Tuy nhiên ở một số quốc gia, trong đó

có Việt Nam, một vị trí quản lý hành chính có thể đem lại nhiều lợi ích cho cả cá nhân

và lợi thế thăng tiến trong hệ thống quản lý, cấp bậc học thuật

Trang 28

Thứ ba, liên quan đến vấn đề phân biệt đối xử với người tốt nghiệp khi trở về Nghiên cứu về cơ hội và thách thức cho những người Trung Quốc học ở nước ngoài khi trở về nước công tác của Dean Xue (2009)[53] chỉ ra rằng, những thách thức không kém phần quan trọng đối với sự trở về của những người học ở nước ngoài như là sự phân biệt giữa những người đi học nước ngoài trở về và những người đào tạo ở trong nước; sự phân biệt về mức lương thưởng và kỳ vọng năng suất làm việc Những điều này rõ ràng tạo sự căng thẳng nội bộ trong phạm vi đơn vị công tác Những học giả trở về thường phải lựa chọn định hướng phát triển năng lực cá nhân giữa phát triển các năng lực theo tiêu chuẩn và giá trị quốc tế hay mang tính đặc trưng quốc gia Họ thường phải cân nhắc khả năng quay lại nước đã đi học hoặc những nước khác nếu môi trường làm việc của đất nước không thích hợp tại thời điểm khi họ quyết định trở về

Thứ tư là vấn đề cơ hội phát triển Zweig (2006)[190] liệt kê có ít nhất 5 vấn đề hàng đầu đối với việc sử dụng những người trở về nước sau tốt nghiệp Đó là: i) không

có có hội phát triển sự nghiệp; ii) thiếu thốn cơ sở vật chất trang thiết thiết bị hiện đại nên điều kiện làm việc khó khăn; iii) môi trường làm việc không tạo cơ hội cho phát triển nghề nghiệp, không có cơ hội thay đổi công việc; iv) điều kiện sống thấp, không

có tương lai tốt hơn cho người thân bằng khi ở lại nước ngoài, và v) ít cơ hội trao đổi với học giả quốc tế Từ đó ông cho rằng, chính sách của chính phủ là rất quan trọng để thu hút những người đi học trở về Theo ông, chính phủ cần phát triển kinh tế, hoàn thiện chính sách với trí thức, mở rộng dân chủ, trọng dụng những người học trở về và đầu tư nhiều hơn vào khoa học và giáo dục

Cũng trong nghiên cứu về vấn đề sử dụng người trở về, Zeng Fanqing (2005)[186]chỉ ra rằng đang tồn tại 4 quan niệm sai lầm khi thu hút, tuyển dụng và sử dụng người học nước ngoài trở về Trước hết, đó là sự chưa phân biệt rõ ràng giữa những người được đào tạo ở nước ngoài với những người có kinh nghiệm làm việc từ nước ngoài hoặc những người có thời gian sống và làm việc ở nước ngoài trở về Việc không định nghĩa rõ ràng này sẽ dẫn đến quan niệm sai lầm khi tuyển dụng và sử dụng lao động từ nước ngoài trở về Thứ hai, thiếu đánh giá khác biệt trình độ của những người được đào tạo ở nước ngoài Nhiều cơ quan tổ chức có nguồn nhân lực giỏi được đào tạo trong nước nhưng lại thiếu nguồn nhân lực được đào tạo ở nước ngoài với tiêu chuẩn quốc tế Để tăng số lượng nhân lực được đào tạo ở nước ngoài, các tổ chức này tuyển dụng và sử dụng những người ở nước ngoài về nhưng trình độ chuyên môn thấp Thứ

ba, nhiều tổ chức tuyển dụng và sử dụng người đi học nước ngoài về chỉ vì chạy theo

xu hướng hoặc vì mục đích đánh bóng cho tên tuổi thương hiệu của tổ chức hoặc chỉ

để không bị lạc hậu so với tổ chức khác Những tổ chức này có thể chi rất nhiều tiền

để tuyển dụng những người học nước ngoài về, nhưng không tính đến trình độ chuyên

Trang 29

môn của người được đào tạo về Cuối cùng, còn tồn tại quan niệm rằng người từ bên ngoài luôn tốt hơn Các tổ chức ra sức tìm kiếm, tuyển dụng người mới về làm thay vì đào tạo cho những nhân viên hiện có Quan niệm này không chỉ là nguyên nhân lãng phí nguồn lực mà còn dẫn đến sự trì trệ thiếu sáng tạo của nhân viên, thậm chí xin nghỉ việc của nhân viên

Zeng Fanqing (2005)[186] cho rằng có 3 vấn đề chính cần lưu ý khi thu nhận và sử dụng những người được đào tạo ở nước ngoài trở về nước làm việc Một là, cần có mục tiêu rõ ràng khi việc sử dụng họ, Những người đào tạo ở nước ngoài được tiếp cận với nền giáo dục và tư tưởng cách làm việc của văn hóa phương Tây Tuy nhiên, đôi khi những gì họ được đào tạo, học được không thể áp dụng hoặc không phù hợp với văn hóa, cách thức quản lý làm việc của phương Đông Vì vậy, khi tuyển chọn và

sử dụng họ, người sử dụng cần cân nhắc kỹ, chọn đúng người phù hợp với công việc

để có thể sử dụng hiệu quả khả năng của họ Hai là, cần kết hợp sử dụng đồng thời cả người được đào tạo ở nước ngoài và người không được đào tạo ở nước ngoài Người được đào tạo ở nước ngoài được đào tạo bài bản, có các kỹ năng làm việc chuyên

nghiệp, hiệu quả nhưng họ lại thiếu hiểu biết về thực trạng trong nước, "chuộng Tây",

việc áp dụng mô hình phương tây vào công việc thực tế nhiều khi không hiệu quả Người không được đào tạo ở nước ngoài lại có điểm mạnh là am hiểu tình hình trong nước tuy nhiên lại không có thông tin và chuyên môn cập nhật bằng những người đào tạo ở nước ngoài Vì vậy cần kết hợp sử dụng cả người được đào tạo ở nước ngoài và người không được đào tạo ở nước ngoài để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc Cuối cùng, cần quan tâm giữ chân người giỏi được đào tạo nước ngoài Vấn đề của đơn vị sử dụng không chỉ là thu hút người giỏi được đào tạo ở nước ngoài về làm việc

mà còn làm sao để giữ họ ở lại làm việc và cống hiến cho mình Để làm được việc này, người sử dụng lao động cần xây dựng môi trường làm việc những người trở về có thể khẳng định, phát huy năng lực khả năng của họ Theo Võ Xuân Tiến (2010)[170], trong các cơ quan có đội ngũ lao động giỏi, việc thiết kế công việc, bố trí đúng người, đúng việc, có chế độ đãi ngộ, khen thưởng công bằng và khuyến khích họ tham gia vào quá trình quản lý là những yếu tố quan trọng để giữ chân những người giỏi

Mặc dù vậy, theo Glaser (1978)[60] trong nghiên cứu của mình lại chỉ ra rằng,

"Cam kết trở về nước sau khi học xong của du học sinh các nước đang phát triển là

rất mạnh mẽ Hầu hết các sinh viên từ các nước đang phát triển có kế hoạch trở về sau khi học tập ở nước ngoài Chỉ một tỷ lệ nhỏ có kế hoạch định cư ở lại nước ngoài sau khi tốt nghiệp Nhiều chuyên gia đang làm việc ở các nước phát triển có kế hoạch sẽ trở về Những người này dự định sẽ để dành phần lớn thời gian sự nghiệp của họ làm việc ở nước ngoài, họ có kế hoạch trở về sau khi họ nghỉ hưu" Những sinh viên

Trang 30

không trở về vẫn thường duy trì sự kết nối chặt chẽ với đất nước của họ ngay cả khi họ đang ở nước ngoài và cũng có đóng góp truyền bá kiến thức được học về nước bằng nhiều cách Ví dụ, nhiều giáo sư giảng dạy tại nước ngoài đã trở về nước tham gia các hoạt động trao đổi học thuật với những đồng nghiệp tại đất nước của họ Những sự thay đổi của nền kinh tế chính trị phạm vi toàn cầu và quốc gia có ảnh hưởng lớn đến nhận thức trở về của những người đi học nước ngoài và những cơ hội dành cho họ, sự thay đổi này tạo ra những động lực cho họ trở về làm việc trong nước hoặc tham gia tích cực từ nước ngoài trong phát triển kinh tế cho quốc gia họ Những người được đào tạo ở nước ngoài và đã xây dựng được mạng lưới quan hệ toàn cầu, kỹ năng chuyên môn của họ lại có nhu cầu cao trong nước hoặc có giá trị đối với chính chủ nước họ, thì họ có thể đạt được sự thăng tiến nhanh hơn, có thu nhập cao hơn và nâng cao vị thế

xã hội nếu như họ trở về nước làm việc họ cũng có thể có được cuộc sống như mong muốn và sự hài lòng trong công việc của mình (Zweig và cộng sự, 2004)[191] Baruch

và cộng sự (2007)[7] cho rằng có bằng chứng về mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế của quốc gia, sự khác biệt về văn hóa với quyết định trở về của sinh viên du học Nghiên cứu này chỉ ra rằng những sinh viên từ những nền kinh tế mới nổi và có khác biệt văn hóa lớn với nền văn hóa nước đến du học ví dụ như Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan được thấy là ít khả năng ở lại sau khi tốt nghiệp hơn những sinh viên từ Ấn

Độ nước có khác biệt văn hóa ít hơn với nước đến du học Kwok và Leland (1982)[83]cũng cho rằng thiếu cơ hội việc làm, cơ hội phát triển nghề nghiệp, mức lương thấp và tâm lý thích ở nước ngoài là những yếu tố quyết định việc ở lại của sinh viên tốt nghiệp Khả năng và mức độ gắn kết hoạt động và các mối quan hệ trong nước được quyết định bởi chính mục tiêu và quan điểm cá nhân của người trở về (Dean Xu, 2009)[53]

Theo một nghiên cứu của Towers Watson (2014)[156] về Quản lý Nhân tài và Chế

độ Đãi ngộ Toàn cầu 2014 cho thấy, các yếu tố chính và nguyên tắc cơ bản trong thu hút và giữ chân người tài là những vấn đề về: (1) tiền lương; (2) cơ hội thăng tiến nghề nghiệp; (3) tính ổn định công việc; và (4) khác biệt quan điểm của người sử dụng lao động và người lao động trong chính sách thu hút, và đặc biệt là giữ chân nhân tài

1.4 Đánh giá tổng quan nghiên cứu

1.4.1 Những nội dung nghiên cứu đã thống nhất làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án

Nhìn chung, các nghiên cứu đã tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, thống nhất các khái niệm liên quan đến cán bộ KHKT; vai trò của cán

bộ KHKT và chiến lược đào tạo cán bộ KHKT trong phát triển KT-XH đối với một quốc gia

Trang 31

Thứ hai, những nội dung KT-XH của GD-ĐT được biểu hiện thông qua nguồn vốn con người; đầu tư GDĐT là đầu tư vào nguồn vốn con người, là đầu tư cho phát triển và đầu tư cho tương lai; vai trò của giáo dục và khoa học trong phát triển quốc gia đối với tất cả các nước, kể cả phát triển và đang phát triển, đặc biệt các nước chậm phát triển nếu muốn tham gia vào quá trình phân công lao động toàn cầu

Thứ ba, quốc tế hóa và toàn cầu hóa giáo dục ĐH là một xu hướng không thể

đảo ngược trong bối cảnh của toàn cầu hóa kinh tế Hiện tượng sinh viên ra nước ngoài học tập thể hiện sự chuyển dịch giáo dục ĐH qua biên giới và là một nội dung của phân công lao động quốc tế đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hậu công nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức

Thứ tư, xu hướng gửi người đi học nước ngoài là tất yếu và có xu thế gia tăng; lợi ích quốc gia của việc gửi học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập và nghiên cứu

và lý do ưu tiên NSNN đầu tư đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN

Thứ năm, những vấn đề có tính nguyên tắc về sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN sau khi về nước; những khía cạnh hiệu quả sử dụng những người học ở nước ngoài khi trở về nước ở những quốc gia đang phát triển; quan điểm

sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng và xu hướng quá trình sử dụng

1.4.2 Các vấn đề chưa nghiên cứu và còn tranh luận

Thứ nhất, các nghiên cứu lý thuyết về định hướng đào tạo cán bộ KHKT đào tạo

ở nước ngoài bằng NSNN hiện nay chưa có Hầu như chưa có nghiên cứu chuyên sâu, bình luận, đánh giá thực hiện định hướng gửi người đi học nước ngoài cho Việt Nam đặc biệt là đối với các chương trình học bổng NSNN, chưa rà soát lại sự đúng đắn hay chưa đúng đắn về định hướng đi học nước ngoài bằng NSNN ở Việt Nam, chưa xác định các quan điểm, nội dung định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT nước ngoài gồm gì, căn cứ để định hướng, nội dung định hướng là gì, chưa có nghiên cứu nguyên nhân, các nhân tố và mức độ tác động đến việc thực hiện định hướng đào tạo

và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN,… Rõ ràng các nghiên cứu về định hướng đào tạo cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài vẫn đang ở những bước đi đầu tiên

Thứ hai, đánh giá việc đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN sau khi tốt nghiệp của các chương trình, đề án đào tạo nước ngoài bằng NSNN mới chỉ dừng lại ở các báo cáo của Bộ GD&ĐT, chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào ở trong và ngoài nước Có một số ít công trình nghiên cứu lấy đề tài về đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT ở nước ngoài, ví dụ như Trần Văn Nhung (2000)[162], nghiên cứu này đã ít nhiều mô tả được thực trạng đội ngũ cán bộ KHKT, yêu cầu phát triển KT-XH và phát triển đội ngũ cán bộ KHKT của Việt Nam,

Trang 32

từ đó xây dựng đề xuất các giải pháp đào tạo cán bộ KHKT tại cơ sở đào tạo nước ngoài bằng NSNN kết hợp với sự giúp đỡ, hợp tác của nước ngoài

Thứ ba, vấn đề sử dụng cán bộ KHKT trở về sau tốt nghiệp ở nước ngoài đã được đề cập trên một số nhật báo, hoặc các báo tuần, tạp chí chuyên ngành và một số tài liệu chuyên khảo Cũng có một số nghiên cứu lấy đề tài về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, ví dụ như Vũ Ngọc Hải (2010)[171], Nguyễn Minh Đường (1996)[105], Trần Xuân Định (1997)[163], Đặng Bá Lãm và Trần Khánh Đức (2002)[52], v.v Tuy nhiên, những nghiên cứu riêng về sử dụng cán bộ đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN sau khi tốt nghiệp chưa có hoặc còn chưa rõ nét, hạn chế về dung lượng, phạm vi, nội dung và phương pháp tiếp cận Hầu như các bài viết chỉ nêu hiện tượng và dừng lại ở góc độ tranh luận, nêu quan điểm hay khai thác thông tin nên chưa góp phần hệ thống hóa thành cơ sở lý luận đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế để nâng cao hiệu quả việc đưa cán bộ KHKT đi đào tạo ở nước ngoài

và sử dụng nguồn cán bộ này sau khi tốt nghiệp về nước

Kết luận chương

Chương này của luận án đã tổng quan lý thuyết cũng như thực nghiệm về: cán

bộ KHKT; vai trò của cán bộ KHKT đối với sự phát triển quốc gia; đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN trở về sau khi tốt nghiệp Dựa vào tổng quan nghiên cứu, luận án nêu ra khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 33

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ

ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Bối cảnh gửi cán bộ khoa học kỹ thuật đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

2.1.1.1 Toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa giáo dục đại học

Có rất nhiều những định nghĩa về toàn cầu hoá trên phương diện kinh tế Theo Held và cộng sự (1999, tr 27)[71], toàn cầu hóa là một quá trình ảnh hưởng tới hàng loạt lĩnh vực từ văn hóa tới kinh tế, chính trị, luật pháp… Tuy nhiên, nó không phải là một quá trình đồng bộ mà vận hành theo những động lực khác nhau và dẫn tới những kết quả khác nhau trong những lĩnh vực chính của hoạt động xã hội Tạ Ngọc Châu (2005)[138] cho rằng, toàn cầu hóa có thể được phân tích theo 4 phương diện chính: kỹ thuật, giáo dục, kinh tế và chính trị Về mặt kinh tế, có thể hiểu toàn cầu hóa là quá trình lực lượng sản xuất và quan hệ kinh tế vượt khỏi biên giới quốc gia và phạm vi từng khu vực, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu Trong đó, hàng hóa, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động, vận động thông thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế; mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau hình thành mạng lưới quan

hệ đa tuyến vận hành theo các "luật chơi chung" được hình thành qua sự hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế Trong xu thế toàn cầu hóa, các nền kinh tế quan hệ ngày càng mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau

Mặc dù những định nghĩa có khác nhau về phạm vi, nội dung và tầm quan trọng, nhưng hầu như tất cả đều đề cập tới sự quốc tế hoá và hội nhập ngày càng gia tăng của nền kinh tế thế giới Weisbot (trích trong Ryan, 2001, tr.2)[127] nhận định rằng, toàn cầu hóa là sự tăng cường và thúc đẩy giao thương và luồng đầu tư quốc tế nhờ cuộc cách mạng về công nghệ thông tin dẫn tới sự chuyển giao công nghệ nhanh hơn và phụ thuộc lẫn nhau hơn giữa các nước Ryan (2001)[127] đưa ra cảnh báo: "Toàn cầu hóa, về

cơ bản đó là sự mở cửa về mặt kinh tế và sự cạnh tranh quốc tế gia tăng Đó là một cuộc đua vào tương lai, nơi mà các quốc gia không thể duy trì được bước thay đổi cần thiết sẽ bị tụt hậu về mặt kinh tế” Toàn cầu hoá về kinh tế đang làm thay đổi căn bản quy mô, phương thức hoạt động KH&CN của mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu, thể hiện ở quá trình quốc tế hoá nguồn lực KH&CN, quốc tế hoá thể chế

Trang 34

KH&CN, quốc tế hoá nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển (R&D) và phân chia lợi ích

do thành quả KH&CN đem lại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tất cả các nước trên thế giới đều phấn đấu để tham gia vào thềm chính trị, kinh tế và xã hội quốc tế Sự tham gia này cần đến những người được giáo dục cẩn thận Trong ngữ cảnh đó, người ta có thể nói về toàn cầu hoá của GDĐH Ảnh hưởng của toàn cầu hoá tới giáo dục có thể được đánh giá bằng mức độ

mà giáo dục được hình thành do toàn cầu hoá và bằng hình thức cải cách giáo dục cần thiết để đem lại kết quả của toàn cầu hoá (Carnoy, 1999[34]; Hallak, 1998[66]; Riddel,

1996[122]) Giáo dục phải có tác động trở lại sự thành thạo, bí quyết và kỹ năng cần thiết cho loại hình công việc mới

Quốc tế hóa, giống như toàn cầu hóa là một khái niệm với những ý nghĩa khác nhau Quốc tế hóa nền GDĐH có thể được xem xét từ khía cạnh chính sách quốc gia hay khía cạnh thể chế Theo Hayward (2000, tr 41)[70], quốc tế hóa có thể được xem

như “một phản ứng của quốc gia có mục đích đối với toàn cầu hóa” nhằm tạo ra sự

hiểu biết về môi trường toàn cầu và cách thức ảnh hưởng lẫn nhau trong môi trường

đó Elliott (1998, tr 32)[56] hiểu quốc tế hóa nền GDĐH là “nỗ lực có tính hệ thống và

bền vững của chính phủ nhằm tạo ra các thể chế GDĐH phản ứng nhanh trước những thách thức của toàn cầu hóa nền KT&XH

Altbach (2002)[2] lập luận rằng, theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa đề cập tới những

xu hướng trong GDĐH có những ảnh hưởng giữa các quốc gia Bao gồm GDĐH đại chúng; một thị trường dành cho sinh viên, các giảng viên và các nhân sự có trình độ giáo dục cao; và trong phạm vi toàn cầu của công nghệ dựa vào Internet mới Quốc tế hóa đề cập tới những chính sách và đề xướng cụ thể của các cá nhân và tổ chức hay hệ thống học thuật đơn lẻ nhằm giải quyết với các xu hướng toàn cầu Các ví dụ của quốc

tế hóa bao gồm các chính sách liên quan tới việc tuyển dụng và việc xây dựng các chi nhánh trường ở nước ngoài (Altbach, 2002)[2]

Toàn cầu hóa GDĐH sẽ dẫn tới hàng loạt cuộc tranh luận giữa các nhà GDĐH cũng như các bên quan tâm khác Toàn cầu hóa GDĐH được phát hiện ra khi mở rộng thương mại toàn cầu về GDĐH, sự ảnh hưởng gia tăng của các nhà giáo dục quốc tế theo quy định về GDĐH như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như nhiều công ty đa quốc gia và các hiện tượng liên quan như đưa GDĐH vào Hiệp định chung về Thương mại trong dịch vụ (GATS) Một ví dụ về sự tiếp cận khu vực trong GDĐH là quá trình Bologna mong muốn tạo ra một khu vực GDĐH Châu Âu, một ví dụ của quá trình toàn cầu hóa là quá trình công nhận lẫn nhau

về văn bằng (Hiệp định Lisbon, 1997) và thương mại toàn cầu Tuy nhiên, phải thấy rằng vẫn còn rất nhiều vấn đề liên quan trong bối cảnh toàn cầu hóa GDĐH

Trang 35

Liên quan đến giáo dục, có rất ít bằng chứng trên toàn cầu về việc các nhà nước quốc gia đang bị mất đi quyền kiểm soát hệ thống giáo dục của họ hoặc ngừng việc buộc chúng trở thành ngành dịch vụ phục vụ mục đích kinh tế và xã hội cho dù có sự gia tăng về quốc tế hóa gần đây Trong thực tế, điều trái ngược có thể đúng Vì chính phủ mất quyền kiểm soát đòn bẩy kinh tế quốc gia hoặc chuyển chủ quyền chuyên chế trong các vụ việc quốc gia và phòng vệ, họ thường chuyển sang GD&ĐT như hai lĩnh vực họ vẫn duy trì quyền kiểm soát (Avis và cộng sự, 1996)[3] Trong lúc các hệ thống giáo dục chủ yếu có tính quốc gia thì họ có thể nhận thấy một mức độ hội tụ do ảnh hưởng của các thế lực quốc tế

Toàn cầu hóa đòi hỏi sự gia tăng đáng kể trong dòng chảy xuyên quốc gia của vốn, hàng hóa và nguồn nhân lực Toàn cầu hóa thúc đẩy cho dòng chảy của hàng hóa, vốn, dịch vụ và vốn con người vượt qua biên giới quốc tế dễ dàng hơn, nó cũng cung cấp cơ hội cho mọi người tăng giá trị của vốn con người của họ và những phần thưởng

do vốn con người đem lại (Zweig và cộng sự, 2004)[191] Cùng với toàn cầu hóa, quốc

tế hóa GDĐH có thể được xem xét từ khía cạnh chính sách quốc gia hay khía cạnh thể

chế Giáo dục thường được coi là thuộc lĩnh vực hàng hóa “xã hội” và “văn hóa” và chủ yếu được điều chỉnh trong phạm vi “quốc gia” và “thể chế” Vai trò của giáo dục

gắn chặt chẽ với phát triển xã hội và quyền lực dân chủ của các xã hội Mặt khác, tri thức và GDĐH có một giá trị bên trong nhất định Tuy nhiên, mô hình truyền thống của giáo dục là chuyển đổi sang những giá trị mang tính phương tiện Theo đó, giáo

dục đang dịch chuyển sang phương diện đưa ra quyết định “kinh tế” và ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng của tính “quốc gia”, “quốc tế” và “toàn cầu” GDĐH đang chuyển dịch từ phạm vi “quốc gia” sang phạm vi “khu vực”, “quốc tế” và “toàn cầu”

Wagner và Schnitzer (1991)[172] chỉ ra rằng quốc tế hóa và toàn cầu hóa GDĐH

đã tạo tiền đề và làm ngày càng phong phú hơn các chương trình và chính sách đưa sinh viên của một nước này sang học tập ở một nước khác Đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng về GDĐH giữa các quốc gia Vì vậy, GDĐH cần tìm ra các phương pháp tiếp cận có hiệu quả trong khung cảnh toàn cầu Việc ngày càng có nhiều người đi ra nước ngoài học tập được cho là gắn liền với quá trình quốc

tế chương trình GDĐH như kết quả của quá trình toàn cầu hóa, của sự tăng cường mở rộng liên kết các hoạt động kinh tế và văn hóa - xã hội của các quốc gia trên thế giới (Grünzweig & Rinehart, 2002[62]; Scott, 2000[131]) Mong muốn của các chính phủ để

có một nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển quốc gia trong nền kinh tế tri thức và yêu cầu đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng đối với các trường ĐH được xem là những nhân tố, động lực thúc đẩy phát triển giáo dục quốc tế (Laubscher, 1994[85]; Leask, 2008[86]; Sutton & Rubin, 2004[136])

Trang 36

Quốc tế hóa và toàn cầu hóa GDĐH vừa là hiện tượng, vừa là bản chất và là một

xu hướng không thể đảo ngược trong bối cảnh của toàn cầu hóa kinh tế Hiện tượng sinh viên ra nước ngoài học tập thể hiện sự chuyển dịch GDĐH qua biên giới và là một nội dung của phân công lao động quốc tế đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hậu công nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức

2.1.1.2 Những đòi hỏi về phát triển đất nước và khả năng tài chính quốc gia

Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản là: áp dụng công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong

đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong nền kinh tế toàn cầu hoá đầy biến động và cạnh tranh quyết liệt, thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng

về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao Hayami và Godo (2005)[68] chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu

là dựa vào tích lũy vốn vật chất Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế trong giai đoạn sau sẽ chủ yếu dựa trên cải tiến công nghệ và phát triển vốn con người hay vốn nhân lực Tích lũy vốn con người được công nhận là một trong những công cụ quan trọng nhất đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Quá trình liên tục tích lũy kiến thức của con người, hoặc thông qua được giáo dục (Lucas, 1988[91]; Becker và cộng sự,

1990[11]; Jones và Manuelli, 1992[77]) hay thông qua công việc thực hiện thực tế (Stokey, 1988[132]; Azariadis và Drazen, 1990[1]; Young, 1991[188]) sẽ tăng năng suất lao động do đó thúc đẩy tăng tưởng kinh tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khi mà sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thì nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất là một yếu tố then chốt nhằm phát triển kinh tế bền vững (Nguyễn Trọng Chuẩn trích trong Hoàng Văn Châu, 2009)[72]

Mặc dù đạt được lợi ích nhiều mặt, việc mở rộng quy mô gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tài chính quốc gia Trên thực tế,

số lượng cán bộ KHKT gửi ra nước ngoài đào tạo có liên quan chặt chẽ với nguồn tài chính nhà nước dành cho hoạt động này Trong những cuộc thảo luận cân đối nguồn tài chính đảm bảo cho chương trình gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo, thường

có những quan điểm khác nhau của nhiều bên liên quan Các nhà hoạch định chính sách đặt ra câu hỏi liệu NSNN nên đóng góp bao nhiêu cho chương trình, trong điều kiện có sự cạnh tranh giữa giáo dục phổ thông, GDĐH, đào tạo nguồn lực trình độ cao

Trang 37

trong nước, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển giao thông công cộng và nhiều thứ khác nữa mà ngân quỹ quốc gia phải trang trải

Nói chung, càng có nhiều tiền cho chương trình, càng có thêm cơ hội tiếp cận cho nhiều người (vì có thêm học bổng được cung cấp) và việc cân nhắc mức độ đầu tư

về tài chính đối với gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phải được đặt trong bối cảnh kinh tế tổng thể của mỗi nước; sự lựa chọn chính trị giữa các ưu tiên trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của quốc gia Việc bố trí ngân sách cho chương trình đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài cần được dựa trên những đánh giá chung của xã hội về hiệu quả của nó Những quyết định của xã hội về việc nên chi như thế nào cho chương trình phải gắn với những lợi ích mà chương trình mang lại cho xã hội

Các nhà kinh tế học có xu hướng tính toán lợi ích mà giáo dục hoặc các thứ hàng hóa dịch vụ khác tạo ra bằng cách tính tỉ lệ hoàn vốn - những lợi ích về mặt kinh tế và

xã hội được tạo ra trong một đơn vị thời gian nhất định được tính tỉ lệ so với nguồn lực được tiêu thụ để tạo ra những lợi ích đó Điều rắc rối trong cách tính tỉ lệ hoàn vốn của gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo rất khó thảo luận một cách chi tiết Những lợi ích chung đối với xã hội mà chương trình mang lại chỉ là một bộ phận công dân có giáo dục hơn (một thứ giá trị rất khó đo đạc, liên quan tới một khái niệm kinh tế là

“những giá trị ngoại biên”) Điều này đòi hỏi nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển,

sự đầu tư ngân sách cho đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài phải có tính linh hoạt: có thể nhiều hơn ở giai đoạn này và nhẹ hơn ở giai đoạn khác, nhưng giai đoạn nào cũng phải có mục tiêu ưu tiên Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cung cấp tài chính cho gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo có vai trò nổi bật trong kế hoạch xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực trình độ, chất lượng cao của hầu hết các nước trên khắp thế giới Các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các quốc gia sẽ phải giải quyết áp lực của nhu cầu mở rộng quy mô của loại hình đào tạo này ngày càng tăng, trong môi trường nguồn lực khan hiếm Đây sẽ là nhân tố quyết định sự thành công đưa đất nước đến với một tương lai có thể dự đoán trước

2.1.1.3 Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học trong nước

Sự phát triển của hệ thống GDĐH ở trong nước là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến việc gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Theo World Bank (2000)[183], hệ thống GDĐH của các nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức Thách thức lớn nhất là việc mở rộng quy

mô đào tạo, dẫn đến tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng dạy trình độ cao được đào tạo kỹ lưỡng Như một kết quả, các cơ sở GDĐH gặp rất nhiều khó khăn trong việc thiết kế chương trình và vì vậy, nói chung rất ít thực hiện một cách nhất quán tiêu chuẩn đào tạo cao Mặt khác, kinh nghiệm chỉ ra rằng, giảng viên ĐH được đào tạo tốt

Trang 38

và có trình độ cao là cốt lõi của vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo ĐH Cán bộ giảng dạy trình độ thấp làm hạn chế mức độ truyền đạt kiến thức cho sinh viên, đồng thời hạn chế khả năng tiếp cận kiến thức hiện đại của sinh viên để tạo ra những ý tưởng mới Phương pháp giảng dạy lỗi thời dẫn đến tình trạng học vẹt là phổ biến

Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác, một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến việc gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo là hệ thống GDĐH trong nước và nhu cầu đòi hỏi về đội ngũ cán bộ KHKT để phát triển đất nước

Về hệ thống GDĐH trong nước, cùng với quá trình đổi mới của đất nước trong gần ba thập niên qua, GDĐH Việt Nam đã tiến hành nhiều đổi mới quan trọng và đạt được những kết quả nhất định: mở rộng quy mô đào tạo; đa dạng hóa ngành nghề đào tạo; mở rộng mạng lưới các trường ĐH; đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo; xác định cơ cấu hệ thống trình độ cơ bản thích hợp; đa dạng hóa mục tiêu phục vụ nhiều thành phần kinh tế; đa dạng hóa các loại trường về mô hình và sở hữu; cấu trúc lại chương trình đào tạo; xây dựng quy trình đào tạo theo học phần; bước đầu áp dụng học chế tín chỉ (Chỉ thị số 196/CT-TTg về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012, 2010) Các đổi mới và kết quả mang lại đã đáp ứng về cơ bản đội ngũ cán

bộ KHKT cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; góp phần thu hẹp khoảng cách tụt hậu giữa ĐH Việt Nam với ĐH của các nước trong khu vực, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập ở bậc ĐH ngày càng cao và đa dạng của xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, sự chuyển biến của GDĐH nước ta còn chậm và vẫn đang ở trong tình trạng yếu kém, bất

cập.[141]

Trước hết, có thể nói yếu kém lớn nhất làm trở ngại tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ thống GDĐH đối với nhu cầu đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH và nhu cầu học tập của nhân dân Biểu hiện cụ thể của sự yếu kém, trước hết, là chất lượng đào tạo thấp Thứ hai, mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp và tổ chức quá trình đào tạo nói chung lạc hậu so với thời đại, nhưng chậm đổi mới hoặc đổi mới không đồng bộ Thứ ba, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý các trường ĐH hẫng hụt, không đáp ứng với nhu cầu đổi mới cả về số lượng và trình độ Thứ tư, hệ thống được thiết kế thiếu liên thông nhưng chưa thích ứng với cơ chế thị trường, mạng lưới trường ĐH và viện nghiên cứu

bị tách biệt và bố trí không hợp lý trên lãnh thổ, làm giảm hiệu quả đầu tư và chất lượng đào tạo nghiên cứu Cuối cùng, công tác tổ chức quản lý, cơ chế chính sách và năng lực thực hiện bất cập.[141]

Như một kết quả, mặc dù đội ngũ cán bộ KHKT hệ thống GDĐH trong nước đào tạo ra ngày một tăng, nhưng chưa đủ đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho CNH

và HĐH Theo số liệu thống kê, số cán bộ có trình độ ĐH, CĐ trở lên hiện nay có

Trang 39

khoảng 1,5 triệu người, trong đó số giáo sư, phó giáo sư khoảng 2.000 người, hơn 14.000 TS, hơn 11.000 Th.S (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2012, tr.3]

Số cán bộ hoạt động trong lĩnh vực KHCN hơn 34.000 người, hơn 42.000 cán bộ giảng dạy trong các trường ĐH, CĐ, trung học chuyên nghiệp và hàng vạn cán bộ KHCN làm việc trong các ngành, lĩnh vực kinh tế khác (Viện nghiên cứu quản lý kinh

tế trung ương, 2012, Tr.3) Tuy nhiên, so với những yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước, nhất là trong xu thế Việt Nam đang tiến hành hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi các cán bộ KHCN phải có trình độ trí tuệ ngang tầm với khu vực và quốc tế, thì nguồn nhân lực KHCN của Việt Nam vẫn còn có nhiều điểm hạn chế Đó là sự thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn tốt để tham gia tiến trình toàn cầu hóa và điều hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường; thiếu đội ngũ chuyên môn liên quan đến thực hiện các cam kết WTO; thiếu những cán bộ KHKT đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp kỹ thuật cao (như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và đội ngũ các nhà nghiên cứu tiên phong về khoa học cơ bản…); thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật và kỹ thuật viên có tay nghề cao để đáp ứng nhu cầu sản xuất; thiếu cán bộ quản lý có trình độ cao cả về lý thuyết và thực hành…

Đánh giá về những nhược điểm, yếu kém của lực lượng cán bộ KHKT nước ta,

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khoá IX đã chỉ ra rằng “đội ngũ cán bộ KHCN

vẫn còn thiếu, bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề và phân bổ Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ KHCN phát triển chậm, nhiều mặt còn thấp so với nhiều nước trong khu vực Thiếu quy hoạch về phát triển nguồn nhân lực, thiếu những tập thể mạnh và gắn kết trong hợp tác nghiên cứu Ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ KHCN bị giảm sút Hiệu quả sử dụng cán bộ KHCN nhìn chung còn thấp, Công tác bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ chưa được chú trọng đúng mức” (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2012,, Tr.5) Để giải quyết những bất cập như vậy về vấn

đề nguồn lực cán bộ KHCN, chúng ta phải có chiến lược xây dựng, phát triển nguồn lực con người theo yêu cầu của quá trình CNH, HĐH trong bối cảnh kinh tế thị trường, cách mạng KHCN và hội nhập quốc tế Một trong những giải pháp đó là gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN

2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc gửi cán bộ khoa học kỹ thuật ra nước ngoài đào tạo bằng ngân sách nhà nước

Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo là một khía cạnh quan trọng của quốc

tế GDĐH Nó không chỉ giải quyết những vấn đề KH&CN có tác động to lớn tới toàn

bộ đời sống KT-XH của mỗi quốc gia, mà còn thúc đẩy quá trình CNH-HĐH, hình thành nền kinh tế tri thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các nước đang phát triển Đây là các yếu tố tối quan trọng và cũng là

Trang 40

điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự phát triển nhanh, bền vững của mỗi nước Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, cuộc cách mạng KH&CN trong thời kỳ toàn cầu hoá đã

và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Truyền thông về KH&CN diễn ra sôi động Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời, đòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời Quá trình giáo dục phải được tiến hành liên tục để người lao động có thể thích nghi được với những đổi mới của tiến bộ KH&CN Khác với cuộc cách mạng KHKT kiểu cũ dựa vào bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự nhiên, cuộc cách mạng KH&CN kiểu mới hướng tới nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống con người Hàm lượng khoa học kết tinh trong các sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Bất cứ quốc gia nào muốn làm được điều đó thì đều cần phải phát triển KH&CN Xét trên phạm vi toàn cầu, quá trình du học làm phong phú thêm cuộc sống của những người trẻ tuổi đầy tham vọng và tài năng từ khắp nơi trên thế giới; đồng thời góp phần xây dựng sự hiểu biết và tin cậy giữa các quốc gia

Trong phạm vi quốc gia, thách thức lớn nhất đối với các nước chậm phát triển là đội ngũ các nhà khoa học có trình độ đang ngày càng không đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN là một trong các giải pháp cần thiết giúp cho các nước này rút ngắn khoảng cách trình độ phát triển với các nước công nghiệp trên cơ sở xây dựng hoặc bổ sung năng lực hệ thống GDĐH mỗi nước thông qua việc cung cấp cơ hội học hỏi thêm các môn học không có ở trong nước; đồng thời tạo lập sự kết nối, giao lưu giữa các nền văn hóa Đây cũng là giải pháp để các nước đang phát triển đẩy nhanh quá trình hội nhập, chuyển giao và tiếp thu KH&CN; đồng thời quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu và GDĐH

Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo có thể được xem là chương trình đào tạo và bồi dưỡng nhân tài Theo ông Đặng Tiểu Bình (Trung Quốc), bồi dưỡng và giáo dục nhân tài là vấn đề có tính chiến lược đối với các quốc gia đang phát triển Bởi vì, các nước đang phát triển muốn xây dựng và hiện đại hóa quốc gia đòi hỏi phải bồi dưỡng hàng loạt người có tài năng đủ tiêu chuẩn Giáo dục tài năng phải đạt được ba mục tiêu: hướng tới hiện đại hóa, hướng ra thế giới và hướng tới tương lai Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi mà sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với phân công lao động và hợp tác quốc tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới

Ngày đăng: 26/07/2016, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. AAzariadis. C and Drazen. A (1990),'Threshold externalities in economic development', Quarterly Journal of Economics, 105, pp. 501–526 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quarterly Journal of Economics
Tác giả: AAzariadis. C and Drazen. A
Năm: 1990
2. Altbach, P. G. (2002), Knowledge and Education as International Commodities, International Higher Education, 28, pp. 2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Higher Education
Tác giả: Altbach, P. G
Năm: 2002
3. Avis, J., Bloomer, M., Esland, G., Gleeson, D. & Hodkinson, P. (1996), Knowledge and Nationhood, London: Cassell Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and Nationhood
Tác giả: Avis, J., Bloomer, M., Esland, G., Gleeson, D. & Hodkinson, P
Năm: 1996
4. Ban điều hành đề án 322 (2007), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2001- 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2001-2006
Tác giả: Ban điều hành đề án 322
Năm: 2007
5. Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, Quyết định số 393/QĐ-TU ban hành đề án “Đào tạo Th.S, TS của thành phố Đà Nẵng tại các cơ sở nước ngoài” trong thời gian từ 2006 đến 2012, ban hành ngày 22 tháng 3 năm 2006, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 393/QĐ-TU ban hành đề án "“Đào tạo Th.S, TS của thành phố Đà Nẵng tại các cơ sở nước ngoài” trong thời gian từ 2006 đến 2012
6. Ban Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Chỉ thị số 53-CT/TW của về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ ở ngoài nước trong tình hình mới, ban hành ngày 21 tháng 3 năm 1995, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW của về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ ở ngoài nước trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
7. Baruch. Y, Budhwar. P.S., & Khatri. N (2007), ' Brain drain: Inclination to stay abroad after studies', Journal of World Business, Vol. 42, pp. 99–112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of World Business, Vol
Tác giả: Baruch. Y, Budhwar. P.S., & Khatri. N
Năm: 2007
8. Becker.G.S. (1993), Human capital, The University of Chicago Press, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human capital
Tác giả: Becker.G.S
Năm: 1993
9. Becker, G.S., Landes, E.M. và Micheal, R.T. (1977), 'An Economic Analysis of Marital Instability', Journal of Political Economy, Vol. 85, No. 6, pp.1141-1187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Political Economy
Tác giả: Becker, G.S., Landes, E.M. và Micheal, R.T
Năm: 1977
10. Becker. G.S., Glaeser, E.L., Murphy, K. M., (1999) Population and Economic Growth, The American Economic Review, Vol. 89, No. 2, Papers and Proceedings of the One Hundred Eleventh Annual Meeting of the American Economic Association. pp. 145-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Economic Review
11. Becker, G.S., Murphy. K.M., Tamura. R. (1990), 'Human capital, fertility, and economic growth', Journal of Political Economy, 98 (1990), pp. 12–37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Political Economy
Tác giả: Becker, G.S., Murphy. K.M., Tamura. R. (1990), 'Human capital, fertility, and economic growth', Journal of Political Economy, 98
Năm: 1990
12. Becker, R. and Kolster, R. (2012), International student recruitment: policies and developments in selected countries, Netherlands Organisation for International Cooperation in Higher Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: International student recruitment: policies and developments in selected countries
Tác giả: Becker, R. and Kolster, R
Năm: 2012
13. Beijing University School of Education and Zhongshan University Institute of Higher Education (2005),'Retrospect and Analysis of China’s Policies with Regard to Students Sent by the State to Other Countries Since 1978', Chinese Education and Society, vol. 38, no. 3, pp. 7–62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinese Education and Society
Tác giả: Beijing University School of Education and Zhongshan University Institute of Higher Education
Năm: 2005
14. Bennett, M.J. (1993), Towards Ethnorelativism: A developmental model of intercultural sensitivity, In R.M. Paige (Ed.) Education for the intercultural Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards Ethnorelativism: A developmental model of intercultural sensitivity
Tác giả: Bennett, M.J
Năm: 1993
15. Borjas, George (2005), Labor Economics, McGraw-Hill, Third Edition, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Labor Economics
Tác giả: Borjas, George
Năm: 2005
110. Office of Civil Service Commission (2015), truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2015, từ https://scholarship.ocsc.go.th/ocsc/ Link
134. Study in Korea (2015), truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015, từ http://www.studyinkorea.go.kr/en/sub/gks/gks_introduce.do Link
166. UNESCO (2013), Global Flow of Tertiary - Level Students, truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015, từ http://www.uis.unesco.org/Education/Pages/international-student-flow-viz.aspx Link
176. Weisbrot, M, (2001), Globalisation: A primer, truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015, từ http://w.w.w.cepr.net/GlobalPrimer.htm 3/24/01 Link
179. Wolfe, B. & Haveman, R. (2000), Accounting for the social and non-market benefits of education, truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015, từ http://www.oecd.org/dataoecd/5/19/185109.pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Sơ đồ 2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ (Trang 52)
Hình 2.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát huy hiệu quả làm việc - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 2.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát huy hiệu quả làm việc (Trang 77)
Hình 3.2. Số LHS được tuyển và thực tế gửi đi học giai đoạn 2000-2012 - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.2. Số LHS được tuyển và thực tế gửi đi học giai đoạn 2000-2012 (Trang 94)
Hình 3.3. Cơ cấu LHS trúng tuyển theo đơn vị công tác - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.3. Cơ cấu LHS trúng tuyển theo đơn vị công tác (Trang 94)
Hình 3.4. Cơ sở đào tạo có từ 100 LHS trúng tuyển trở lên - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.4. Cơ sở đào tạo có từ 100 LHS trúng tuyển trở lên (Trang 95)
Hình 3.9. Số lượng LHS đi học theo Châu lục - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.9. Số lượng LHS đi học theo Châu lục (Trang 97)
Hình 3.11. Số trường ĐH của các nước có LHS gửi đào tạo theo đề án 322/356 - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.11. Số trường ĐH của các nước có LHS gửi đào tạo theo đề án 322/356 (Trang 100)
Hình 3.13. Chi ngân sách nhà nước theo trình độ đào tạo - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.13. Chi ngân sách nhà nước theo trình độ đào tạo (Trang 101)
Hình 3.14. Độ tuổi của LHS trước khi đi học - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.14. Độ tuổi của LHS trước khi đi học (Trang 102)
Hình 3.15.  Kinh nghiệm công tác của LHS trước khi đi học - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.15. Kinh nghiệm công tác của LHS trước khi đi học (Trang 102)
Bảng 3.14. Bảng hệ số đánh giá tương quan giữa Mức độ hài lòng với chương - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Bảng 3.14. Bảng hệ số đánh giá tương quan giữa Mức độ hài lòng với chương (Trang 107)
Hình 3.18. Mức đánh giá tích cực của LHS về cơ sở đào tạo nước ngoài - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.18. Mức đánh giá tích cực của LHS về cơ sở đào tạo nước ngoài (Trang 109)
Hình 3.19. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc học tập của LHS - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Hình 3.19. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc học tập của LHS (Trang 110)
Sơ đồ 3.1. Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [1] - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Sơ đồ 3.1. Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [1] (Trang 118)
Sơ đồ 3.2. Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [2] - Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Sơ đồ 3.2. Nhóm biến số sử dụng trong mô hình [2] (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w