Vai trò của Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế cũng như thực thi chức năng QLHCNN để phù hợp với vai trò và xu hướng phát triển trên thế giới, xem xét các nghiên cứu trong và
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) hay hành chính Nhà nước (HCNN) và cải
cách HCNN ở Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhà quản lý hết sức quan
tâm trong quá trình phát triển đất nước, đặc biệt trong giai đoạn mới với nhiều yếu tố thay
đổi như hiện nay Trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, sự đòi hỏi của xã hội và người dân
đối với QLHCNN ngày một cao QLHCNN được cho là có vai trò và vị trí quan trọng
trong phát triển kinh tế cũng như đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của xã hội Cùng với xu thế
phát triển và thực tiễn của xã hội, QLHCNN đã được nhận thức và thực thi khác đi ở
nhiều quốc gia trên thế giới so với trước đây Đặc biệt nhận thức và quan điểm về
QLHCNN có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế được đông đảo các nhà nghiên cứu khẳng
định có mối quan hệ chặt chẽ Quá trình cải cách QLHCNN nói riêng và cải cách nhà
nước nói chung đang được thực hiện mạnh mẽ ở Việt Nam thời gian qua với mục tiêu tạo
ra những động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước là phù hợp với xu hướng đó Mặt
khác, quá trình cải cách cũng chỉ ra và khẳng định vai trò của QLHCNN cấp tỉnh có
những ảnh hưởng đối với phát triển kinh tế địa phương, dựa trên nhiều yếu tố cả về tuyệt
đối và tương đối
Bắc Giang là một tỉnh nằm ở khu vực trung du miền núi phía Bắc, có vị trí địa lý và
các điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nằm ngay cạnh các trung tâm phát triển kinh
tế mạnh mẽ trong thời gian gần đây Tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế của tỉnh
Bắc Giang, mặc dù có nhiều điểm khởi sắc nhưng so sánh với tiềm năng, cơ hội vẫn
còn nhiều hạn chế Để thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020,
một trong các giải pháp quan trọng được cho là cần cải thiện QLHCNN cấp tỉnh, thông
qua đó tạo động lực mạnh mẽ đối với phát triển kinh tế Đặc biệt trong bối cảnh phát
triển mới, khi Bắc Giang được quy hoạch trong Vùng Thủ đô và trung tâm của khu vực
phát triển năng động phía Bắc với nhiều cơ hội và tiềm năng Điều này đặt ra đòi hỏi,
cần nghiên cứu và chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân trong QLHCNN cấp tỉnh ở
Bắc Giang thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục nhằm tăng cường
QLHCNN cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương Với những lý
do cơ bản quan trọng đó, nghiên cứu sinh lựa chọn thực hiện đề tài “Quản lý hành
chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang” làm đề tài luận án
2 Tổng quan nghiên cứu
Quản lý hành chính nhà nước có một vị thế ngày càng quan trọng trong phát triển
kinh tế thông qua việc nhìn nhận đầy đủ và phù hợp về chức năng của QLHCNN trong
nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay Chức năng đó
không chỉ thể hiện ở tầm quốc gia, mà còn khẳng định ở cấp địa phương Điều này xuất
phát từ việc nhìn nhận về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường, quá trình
điều chỉnh các chức năng và vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế, cùng với những
nhận thức về HCNN hiện đại Cả về mặt lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam thời gian qua đã cho thấy rõ điều này
Vai trò của Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế cũng như thực thi chức năng QLHCNN để phù hợp với vai trò và xu hướng phát triển trên thế giới, xem xét các nghiên cứu trong và ngoài nước, NCS nhận thấy:
Đối với các nghiên cứu ngoài nước, một số nghiên cứu điển hình như: Stiglitz (1995) trong cuốn Kinh tế học công cộng; báo cáo “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi” của Ngân hàng Thế giới (1997); tác phẩm của Wilson (1887) để cập khái niệm hành chính công; Mô hình hành chính công truyền thống hay mô hình thư lại của
Max Weber; Trường phái Lựa chọn công cộng (Niskanen, 1994); trường phái Chủ nghĩa quản lý (Enteman, 1993); nghiên cứu mô hình Quản lý công mới (New Public
Management) của Polidano (1999), Cepiku and Mititelu (2010), Ocampo (2002); Ferlie
(1996) với nghiên cứu "Quản lý công mới qua hoạt động"; Owen (2003) với nghiên cứu “Giới thiệu về Hành chính và quản lý công”; Lane (1999) với nghiên cứu ”Cải cách khu vực công - Căn nguyên, xu hướng và các vấn đề” Đã đưa ra những cơ sở cho chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế và xu hướng phát triển của quan điểm
về QLHCNN phù hợp với sự nhìn nhận đối với chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế trên thế giới hiện nay Các nghiên cứu cũng chỉ ra các hoạt động quản lý của nhà nước có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và nhà nước tốt cần đảm bảo các yếu tố
nhất định “Phục vụ và duy trì-Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” của ADB (2003) đã chỉ ra, một nền hành chính công cần phải đảm bảo 3 chữ
“E” kinh điển là: Kinh tế (Economy), Hiệu quả (Efficiency) và Hiệu lực
(Effectiveness) Perry (2005) nhấn mạnh 4 trụ cột của hành chính công đó là: Economy (Kinh tế), Efficiency (Hiệu quả), Effectiveness (Hiệu lực) and Social Equity (Công bằng) “Phục vụ và duy trì-Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” của ADB (2003) chỉ ra quản lý nhà nước tốt dựa vào bốn trụ cột: tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, tính dự đoán được và sự tham gia; Sokrseng (2007) cùng quan điểm
cho rằng quản trị tốt là sự bao hàm nhiều yếu tố khác nhau như: sự tham gia, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, khả năng dự báo đồng thời dẫn lại các nghiên cứu quốc tế
khẳng định hành chính nhà nước tốt cần dựa trên bốn trụ cột: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, tính tiên liệu và sự tham gia.
Như vậy, xét trên phương diện quốc tế, các nghiên cứu đã chỉ rõ chức năng và xu hướng thay đổi chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đó là chuyển từ quan điểm cai trị sang quan điểm quản lý mang tính phục vụ, nghĩa là nhà nước phải thực hiện sự quản lý của mình để hỗ trợ cho xã hội, trong đó trọng tâm là kinh tế, được phát triển một cách tốt nhất HCNN thực hiện chức năng quản lý của nhà nước tốt cần đảm bảo các trụ cột của HCNN hiện đại và mang tính phục vụ
Đối với nghiên cứu trong nước, có nhiều nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong
Trang 2nền kinh tế thị trường, cụ thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như:
“Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam”, Lương Xuân Quỳ (2006); “Thể chế kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam”, Lương Xuân Quỳ và Đỗ Đức Bình
(2010); “Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường”, Nguyễn
Văn Hậu (2007); “Vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công”, Nguyễn
Minh Phương (2005); “Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công: Nhận thức,
thực trạng và giải pháp”, Nguyễn Ngọc Hiến (2002); “Chính phủ và cung ứng dịch vụ
công trong nền kinh tế toàn cầu hoá”, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hằng và Trần Lệ
Huyền (2009)…đã chỉ ra nhà nước có vai trò trong nền kinh tế ở Việt Nam và xác định
các chức năng cụ thể của Nhà nước đối với phát triển kinh tế Nghiên cứu về hành
chính công và cải cách hành chính công ở Việt Nam như: Vũ Huy Từ và Nguyễn Khắc
Hùng (1998), “Hành chính học và cải cách hành chính”; Lê Sĩ Dược (2000), “Cải
cách bộ máy hành chính cấp trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta”;
Thang Văn Phúc (2001), “Cải cách hành chính nhà nước: thực trạng, nguyên nhân,
giải pháp ”; Nguyễn Ngọc Hiến (2001), “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở
Việt Nam ”; Bộ Nội vụ (2010), “Báo cáo tổng kết chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010”; UNDP (2009) trong nghiên cứu “Cải cách
hành chính nhà nước ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp” ghi nhận quyền tham gia
của người dân, tăng cường tính minh bạch, chuyển biến theo hướng tạo ra một nền
hành chính công minh bạch, có trách nhiệm giải trình, tạo ra môi trường thuận lợi cho
phát triển kinh tế xã hội; Trương Quốc Việt (2009) khẳng định bốn trụ cột của HCNN
hiện đại: Trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính dự đoán và khả năng tham gia
Các nghiên cứu cũng đều chỉ ra chức năng của QLHCNN và ảnh hưởng tới phát triển
kinh tế, đồng thời cụ thể hóa các yếu tố đảm bảo QLHCNN thực hiện tốt chức năng và
phù hợp với xu hướng xây dựng HCNN phục vụ Các nghiên cứu chỉ ra QLHCNN nói
chung và QLHCNN cấp tỉnh nói riêng có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, do đó đã xây
dựng các chỉ số đo lường để đánh giá QLHCNN, đặc biệt QLHCNN cấp tỉnh ở Việt
Nam như: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI - Provincial Competitiveness
Index); Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI-
Provincial Governance and Public Administration Performance Index); Bộ chỉ số theo
dõi, đánh giá cải cách hành chính nhà nước (PAR Index - Public Administration
Reform Index); Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS-Satisfaction Index of
Public Administration Services).
Từ những nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh nhận thấy: Thứ nhất: Các nghiên cứu đã
chỉ ra QLHCNN cấp tỉnh tốt sẽ có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
của địa phương; Thứ hai: QLHCNN tốt cần phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản,
trong đó việc thỏa mãn 4 trụ cột của HCNN hiện đại là một trong những yêu cầu quan
trọng, QLHCNN phải mang tính phục vụ; Thứ ba: Chức năng cụ thể của QLHCNN cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường, tiếp cận theo quan điểm HCNN phục vụ, gồm (1) Tạo lập môi trường kinh doanh và (2) Cung cấp dịch vụ công thiết yếu ; Thứ tư: Đánh giá
QLHCNN cấp tỉnh cần thực hiện theo hai chức năng cơ bản của HCNN cấp tỉnh và theo phương pháp đánh giá từ bên ngoài, dựa trên sự cảm nhận của đối tượng được phục vụ
Trên thực tế, các kết quả đánh giá kể trên được thực hiện theo phương pháp khoa học và đã được công bố định kỳ tuy nhiên chưa được khai thác và sử dụng một cách triệt để, hiệu quả Điều đó dẫn đến chưa phát huy tác dụng tích cực của các chỉ số đó trong củng cố chức năng QLHCNN cấp tỉnh để góp phần hỗ trợ tích cực cho phát triển kinh tế của địa phương Xuất phát từ phát hiện đó, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu
đề tài tập trung vào khai thác một số điểm mới trong hướng nghiên cứu là:
- Hệ thống và làm rõ chức năng và mối quan hệ của QLHCNN cấp tỉnh theo quan điểm hiện đại đối với phát triển kinh tế của địa phương;
- Đánh giá QLHCNN cấp tỉnh theo quan điểm HCNN mang tính phục vụ, dựa trên sự hài lòng của đối tượng được phục vụ và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá
- Khai thác và sử dụng các chỉ số đánh giá quản trị và hành chính công cấp tỉnh để
đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế của QLHCNN cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, gợi ý cho các địa phương sử dụng các chỉ số này một cách hiệu quả
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục tiêu của Luận án: Chỉ ra những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến QLHCNN cấp tỉnh đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế địa phương, dựa trên sự đánh giá
từ các đối tượng phục vụ của HCNN, sử dụng công cụ là PAPI và PCI, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tăng cường QLHCNN cấp tỉnh Đồng thời đưa ra gợi ý cho các địa phương trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả các chỉ số PAPI và PCI để tăng cường QLHCNN cấp tỉnh nhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế của địa phương tốt hơn
Các nhiệm vụ cụ thể là:
- Là rõ chức năng QLHCNN cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế địa phương dựa trên quan điểm về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường;
- Hệ thống hoá xu hướng phát triển của HCNN và quan điểm về việc xây dựng HCNN mang tính hiện đại, QLHCNN mang tính phục vụ trên thế giới và ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay;
- Luận giải sự đánh giá QLHCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế địa phương thông qua sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc lựa chọn tiêu chí đánh giá QLHCNN cấp tỉnh dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp Từ
đó, đánh giá và phân tích để chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá QLHCNN cấp tỉnh dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp theo các tiêu
Trang 3chí đó;
- Nghiên cứu thực tiễn ở Bắc Giang để chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân cụ thể
trong đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối với QLHCNN cấp tỉnh, từ đó đề
xuất giải pháp để khắc phục nguyên nhân, tăng cường chức năng QLHCNN cấp tỉnh
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của Bắc Giang đến năm 2020 đồng thời đưa ra
khuyến nghị cho các địa phương khác trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các
chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh đang được tính toán và công bố hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh đặt trong mối quan
hệ với phát triển kinh tế của địa phương
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận án thực hiện nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang, tập trung vào các cơ quan HCNN cấp tỉnh;
- Phạm vi về thời gian: Luận án thực hiện nghiên cứu thực trạng từ năm 2011 đến
năm 2015 (có một số thông tin sử dụng từ năm 2010) và đề xuất các giải pháp trong
định hướng đến năm 2020
- Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung vào mối quan hệ giữa chính quyền địa
phương với người dân và doanh nghiệp thông qua thực hiện các chức năng QLHCNN
cơ bản cấp tỉnh và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương
5 Phương pháp nghiên cứu
Khung nghiên cứu
- Công khai minh bạch
- Trách nhiệm giải trình
- Tính tiên liệu
- Sự tham gia
Hành chính
nhà nước
hiện đại
Doanh nghiệp
Phát triển kinh tế
Người dân
Chính quyền
địa phương
Nhà nước
Tạo lập môi trường kinh doanh Cung cấp dịch vụ công
PCI
PAPI
Phục vụ
Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả đánh giá
Quy trình nghiên cứu
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp
Cơ sở lý thuyết từ các giáo trình, sách, tài liệu, luận án, bài báo khoa học được xuất bản trong và ngoài nước, bản in và bản xuất bản online trên internet;
Thông tin thực tiễn từ các luật, nghị định, nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch, văn bản pháp quy khác, báo cáo, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, bài viết, tin tức trên internet
Dữ liệu sơ cấp
Đề tài sử dụng chủ yếu dữ liệu thứ cấp từ dữ liệu khảo sát của tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của chính tác giả (KTQD/V2013.21) và các cuộc trao đổi, phỏng vấn đối với các nhà QLHCNN tại tỉnh Bắc Giang, một số doanh nghiệp và người dân
Phương pháp thu thập dữ liệu
- Phỏng vấn và trao đổi với cán bộ QLHCNN; đại diện doanh nghiệp, tổ chức được lựa chọn ngẫu nhiên khi tới thực hiện thủ tục tại các cơ quan HCNN cấp tỉnh;
- Sử dụng dữ liệu và xử lý kết quả từ cơ sở dữ liệu và báo cáo kết quả tính toán các chỉ số PCI, PAPI trên cổng thông tin PCI và PAPI Việt Nam
- Sử dụng dữ liệu từ các Báo cáo công khai có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
Tác động hỗ trợ
Quản lý hành chính
phương
PAPI PCI
Yếu tố ảnh hưởng
Trang 4Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích chủ đạo là định tính Trên cơ sở khung lý thuyết được tổng
hợp từ các nghiên cứu đã được công bố trươc đó, tác giả xây dựng khung lý thuyết
nghiên cứu dựa trên các luận điểm đã được thừa nhận Căn cứ vào những luận điểm đó,
cùng với các thông tin, dữ liệu thu thập được trong thực tế từ các nguồn, tác giả thực
hiện so sánh và rút ra các nhận xét, kết luận Số liệu được tổng hợp lại và xử lý theo các
hình thức mô phỏng để minh hoạ rõ hơn cho các nhận định được đưa ra qua phân tích
Một số phương pháp phân tích dữ liệu cụ thể đã được sử dụng là: Phương pháp chọn
lọc dữ liệu; Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp
chuyên gia.
6 Dự kiến các kết quả đạt được
Kết quả dự kiến Luận án sẽ đóng góp gồm:
- Hệ thống các quan điểm về HCNN và xây dựng mô hình HCNN, xu hướng và
quan điểm xây dựng HCNN hiện đại trên thế giới hiện nay và lựa chọn của Việt Nam;
- Chức năng QLHCNN cấp tỉnh và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương, các
phương pháp đánh giá chức năng QLHCNN theo các tiêu chí HCNN hiện đại và dựa
trên hướng tiếp cận về nhà nước phục vụ;
- Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá theo sự cảm nhận của người dân và doanh
nghiệp đối với cơ quan HCNN cấp tỉnh trong việc thực hiện chức năng QLHCNN tại
địa phương;
- Chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện chức năng
QLHCNN cấp tỉnh tại Bắc Giang dựa trên đánh giá của người dân và doanh nghiệp;
- Đề xuất giải pháp tăng cường chức năng QLHCNN cấp tỉnh qua đó góp phần thức
đẩy phát triển kinh tế địa phương tại Bắc Giang đến năm 2020, đồng thời gợi ý để các
địa phương khác khai thác và sử dụng hiệu quả các chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh
Các điểm mới của Luận án là:
- Tiếp cận về QLHCNN nói chung và cụ thể là QLHCNN cấp tỉnh dưới góc độ kinh
tế của HCNN, đó là thực thi chức năng quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế
thị trường và đưa ra các xu hướng về HCNN hiện đại
- Luận giải mối quan hệ giữa HCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế thông qua thực
hiện hai chức năng cơ bản của QLHCNN là tạo lập môi trường kinh doanh và cung cấp
dịch vụ công Luận giải việc đánh giá ảnh hưởng này thông qua sự cảm nhận của người
dân và doanh nghiệp đối với QLHCNN địa phương, dựa trên cách tiếp cận nhà nước
phục vụ, xây dựng HCNN theo quan điểm quản lý, hướng tới kết quả và chịu trách
nhiệm về kết quả cuối cùng
- Sử dụng các công cụ và phương pháp hiện có để đánh giá QLHCNN cấp tỉnh
Luận giải những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả đánh giá dựa trên sự cảm nhận của người
dân và doanh nghiệp đối với QLHCNN ở địa phương theo các công cụ đó
- Đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế trong QLHCNN ở địa phương dựa trên kết quả đánh giá theo sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp nhằm củng cố thực hiện chức năng QLHCNN cấp tỉnh, qua đó góp phần tích cực vào thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương tại tỉnh Bắc Giang
- Gợi ý sử dụng chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh phục vụ hoàn thiện QLHCNN cấp tỉnh góp phần nâng cao hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương
CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
CẤP TỈNH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 Quản lý hành chính nhà nước với phát triển kinh tế
1.1.1 Quản lý nhà nước
Quan niệm về quản lý nhà nước: Theo Nguyễn Hữu Hải (2010, tr.2): “Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội” Theo tài liệu Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước (2015) “Quản lý nhà nước là dạng quản
lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” Theo Học viện hành chính quốc gia (2014, tr.7): “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện của nhà nước” và
“Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước” Do vậy, quản lý nhà nước có thể được hiểu là quá trình thực thi quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp của nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước
Chức năng của quản lý nhà nước: Có nhiều cách tiếp cận và do đó có các cách xác định chức năng quản lý nhà nước khác nhau Tiếp cận dưới góc độ từ nền kinh tế, đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay ở các quốc gia trên thế giới, Nhà nước có
ba chức năng cơ bản và chức năng của quản lý nhà nước là thực thi các chức năng này của nhà nước, theo Lương Xuân Quỳ (2006, tr.15) đó là: (1) Xây dựng và bảo đảm môi trường hoà bình, không để xảy ra chiến tranh; (2) Thực hiện vai trò trọng tài, đem lại quyền tự do, bình đẳng cho mọi thành viên; (3) Cung cấp, duy trì và phát triển hàng hoá công cộng” Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận án sẽ giới hạn ở vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế trong đó tập trung vào hai chức năng cơ bản là: (1) Kiến tạo môi trường luật pháp cho các hoạt động kinh tế và (2) Cung cấp dịch vụ công đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội
1.1.2 Quản lý hành chính nhà nước
Khái niệm quản lý hành chính nhà nước: Tài liệu ôn tập nghiệp vụ chuyên ngành (2011, tr.1) cho rằng “Trong quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính
là hoạt động có vị trí trung tâm, chủ yếu Đây là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã hội”,
Trang 5“Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước”
Theo Diệp Văn Sơn (2004, tr.92) chỉ ra “Trong thuật ngữ quốc tế, hành chính nhà nước
còn được gọi là hành chính công hoặc hành chính công quyền” và hành chính công có
thể được hiểu là “hoạt động của nhà nước, của các cơ quan nhà nước mang tính quyền
lực nhà nước để quản lý công việc của Nhà nước” Theo Bùi Trung Hải (2013) Hành
chính hay HCNN, hành chính công được dịch ra từ thuật ngữ tiếng Anh là Public
Administration, bên cạnh đó là thuật ngữ Public Management (quản lý công) cũng
được sử dụng với nghĩa tương đương và ngày càng trở nên được sử dụng phổ biến thay
thế Theo Phạm Đức Toàn (2015) thì hành chính công (public administration), quản lí
công (public management), quản trị quốc gia (governance) hay quản lí hành chính nhà
nước có sự đồng nhất với nhau và trong nhiều trường hợp, được sử dụng thay thế cho
nhau Với những cách hiểu và các tên gọi khác nhau như trên, trong Luận án này, tác
giả thống nhất sử dụng khái niệm hành chính công trong sự tương đồng với khái niệm
HCNN và QLHCNN, hoặc khi đề cập đến khái niệm QLHCNN, với các nội hàm như
đã trình bày, cũng được hiểu tương đồng với khái niệm hành chính công theo cách gọi
tên trong các nghiên cứu được đề cập và quản lý công là khái niệm tương đồng nhưng
ở mức độ phát triển cao hơn và là mục tiêu hướng đến của lĩnh vực
Quan điểm về quản lý hành chính nhà nước hiện nay
Thứ nhất: Quản lý hành chính nhà nước phải mang tính phục vụ Điều này xuất
phát trước hết từ yêu cầu về vai trò của nhà nước trong xã hội hiện nay phải chuyển từ
“cai trị” sang “phục vụ” Ngoài ra, sự phát triển của nền dân chủ ở các quốc gia, các xã
hội đã đặt ra yêu cầu và áp lực đối với nhà nước trong việc phải nâng cao tính “phục
vụ” đối với người dân cũng như toàn xã hội
Thứ hai: Quản lý hành chính nhà nước phải đặt trọng tâm vào kết quả và định
hướng mục tiêu Từ sự thay đổi trong nhìn nhận về vai trò của nhà nước đối với nền
kinh tế, nhà nước phải chuyển sang thực hiện việc hỗ trợ và đảm bảo các điều kiện tốt
nhất cho nền kinh tế phát triển đồng thời đạt được các mục tiêu xã hội Kết quả về phát
triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã hội sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá về
chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà nước, của việc thực hiện chức năng
QLHCNN
Những quan điểm này cho thấy QLHCNN có bước chuyển mạnh mẽ sang hướng
lấy đối tượng khách hàng là trung tâm, đặt trọng tâm vào kết quả tác động của hoạt
động, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả Điều này đưa ra những cơ sở cho cả việc
nghiên cứu và công tác thực tiễn đối với QLHCNN Do vậy, QLHCNN cần đặt trọng
tâm vào đối tượng quản lý, và mục tiêu của quản lý là sự hài lòng của đối tượng được
quản lý hay đối tượng được phục vụ
Đặc trưng của quản lý hành chính nhà nước hiện nay : QLHCNN hiện nay với các
đặc trưng của hai mô hình hành chính hiện đại là Quản lý công mới (New Public
Management) và Quản trị nhà nước tốt (Good Governance) thể hiện những điểm đặc
trưng mà tựu trung lại ở một số điểm đáng chú ý, đó là:
- Áp dụng các cơ chế thị trường trong hoạt động quản lý hành chính, việc hướng tới khách hàng được thể hiện rõ nét và coi khách hàng là trung tâm Sự thỏa mãn và hài lòng của khách hàng là tiêu chí và mục tiêu các hoạt động QLHCNN cần phải hướng đến
- Trách nhiệm giải trình và huy động sự tham gia của các chủ thể trong xã hội, cho thấy tính hướng đích và đảm bảo thực hiện mục tiêu, coi trọng sự tham gia ý kiến và phản hồi thông tin từ đối tượng quản lý đối với hoạt động QLHCNN
Để QLHCNN thực hiện được tốt theo quan điểm về hành chính công hiện đại, cơ
quan HCNN phải đảm bảo bốn trụ cột: (1) Trách nhiệm giải trình, (2) Tính minh bạch, (3) Tính dự đoán và (4) Sự tham gia Hành chính nhà nước cần duy trì và củng cố đồng
thời cả 4 trụ cột này để đảm bảo thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng đối với phát triển kinh tế
Chức năng quản lý hành chính nhà nước: Phù hợp với quan điểm của Lương Xuân Quỳ (2006, tr.69) về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, QLHCNN có hai chức năng hướng ngoại cơ bản, cụ thể là: (1) Điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội hướng đến tạo lập một môi trường bình đẳng cho tất cả các chủ thể hoạt động để đảm bảo môi trường cạnh tranh, tính hiệu quả trong hoạt động và đạt được các mục tiêu phát triển và (2) Cung cấp dịch vụ công đáp ứng các nhu cầu thiết yếu phát triển xã hội
1.1.3 Quản lý hành chính nhà nước với phát triển kinh tế
Quản lý nhà nước với phát triển kinh tế: QLHCNN có những tác động tới phát triển kinh tế Điều này đã được chỉ rõ cả trong các lý thuyết cũng như nghiên cứu thực tiễn
Về mặt lý thuyết, nhà nước có vai trò trong nền kinh tế thị trường, ở đó nhà nước thực thi các biện pháp quản lý, can thiệp để đảm bảo hỗ trợ cho thị trường hoạt động tốt hơn, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế Về mặt thực tiễn, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nhà nước có vai trò đối với sự phát triển kinh tế và quản lý nhà nước có tác động đến phát triển kinh tế của các quốc gia, các vùng lãnh thổ và các địa phương Theo Mai Văn Bưu (2001, tr.38) “Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế” Cũng quan điểm đó, theo Lương Xuân Quỳ (2006, tr.15) “Quản lý nhà nước về kinh tế chính là sự tác động của hệ thống quản lý hay chủ thể quản lý (Nhà nước) lên hệ thống bị quản lý hay khách thể quản
lý (nền kinh tế) nhằm hướng sự vận hành của nền kinh tế theo các mục tiêu đặt ra”
Quản lý hành chính nhà nước với phát triển kinh tế: Quản lý hành chính nhà nước với tư cách là một bộ phận của quản lý nhà nước, thực thi chức năng của quản lý nhà nước thông qua hoạt động của hệ thống cơ quan hành pháp, hay cơ quan HCNN, từ trung ương đến địa phương sẽ thực thi các chức năng của nhà nước trong quản lý đối
Trang 6với nền kinh tế và xã hội Quản lý nhà nước về kinh tế là sự thực thi quyền và vai trò
của nhà nước trong nền kinh tế, đó là sự can thiệp vào nền kinh tế của nhà nước để
quản lý nhằm đảm bảo nền kinh tế hoạt động hiệu quả và đạt được các mục tiêu phát
triển toàn diện QLHCNN có tác động tới phát triển kinh tế thông qua thực thi các chức
năng cơ bản là tạo lập môi trường cho các hoạt động kinh tế để thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh, và cung cấp dịch vụ công để đáp ứng các nhu cầu phát triển của xã hội
1.2 Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế
1.2.1 Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh
Phân cấp quản lý hành chính nhà nước: Phân cấp trong quản lý nhà nước là một
đòi hỏi tất yếu đối với các nhà nước, qua đó có thể thực hiện chức năng quản lý của
mình một cách hiệu quả hơn Ngân hàng Thế giới (1998, tr.25) cũng đã khẳng định:
“Việc phi tập trung hóa mang lại nhiều lợi ích Nó có thể cải tiến chất lượng của chính
phủ và sự đại diện cho lợi ích của các doanh nghiệp địa phương và các công dân Và sự
cạnh tranh giữa các tỉnh, thành phố và địa phương có thể thúc đẩy sự phát triển những
chính sách và chương trình hiệu quả hơn.” Ở Việt Nam, Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP
ngày 30/6/2004 về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và
chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với mục tiêu phát huy tính năng
động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, để nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích của nhân
dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương trong điều kiện chuyển sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Chính phủ, 2004) Ngân hàng phát
triển Châu Á (2003, tr.4) khẳng định : "Chính quyền địa phương có thể điều hành hiệu
quả nhiều hoạt động xã hội" và "Như một xu hướng chung, quá trình phi tập trung hóa
trong nước, cũng như quá trình toàn cầu hóa, là không thể ngăn cản được" Như vậy,
quá trình phân cấp là cần thiết và là một xu thế trong QLHCNN để đảm bảo tính hiệu
quả, hiệu lực và đạt được các mục tiêu phát triển tổng thể của quốc gia cũng như địa
phương
Chức năng quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh: QLHCNN cấp tỉnh là sự thực thi
chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, theo quy định tại Nghị quyết số
08/2004/NQ-CP gồm những định hướng chủ yếu là: Phân cấp quản lý quy hoạch, kế
hoạch và đầu tư phát triển; Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; Phân cấp quản lý đất
đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; Phân cấp quản lý doanh nghiệp Nhà nước; Phân cấp
quản lý các doanh nghiệp sự nghiệp, dịch vụ công; Phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy
và cán bộ, công chức (Chính phủ, 2004) Với các định hướng phân cấp về chức năng
QLHCNN cho cấp tỉnh như trên, có thể thấy, chức năng QLHCNN cấp tỉnh được cụ
thể hóa theo hai nhóm chức năng của QLHCNN nói chung với các nội dung và phạm vi
cụ thể là: (i) Chức năng tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh;(ii) Chức năng cung
cấp dịch vụ công thiết yếu cho xã hội.
Tổ chức và thực hiện quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh: Việc tổ chức bộ máy
và hoạt động của chính quyền cấp tỉnh được quy định tại các văn bản pháp luật là: Luật
số 11/2003/QH11 ngày 26/11/2003 về Tổ chức HĐND và UBND, nay được thay thế bằng Luật số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 về Tổ chức Chính quyền địa phương; Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định số 16/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nay được thay thế bởi Nghị định
số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính phủ quy định các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Về tổ chức, chính quyền địa phương được chia thành 3 cấp gồm: tỉnh, huyện, xã Tại mỗi cấp, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là UBND, trong đó được tổ chức thành các cơ quan chuyên môn, hoặc bộ phận chuyên môn để giúp việc cho UBND trong việc quản lý đỗi với các ngàng, lĩnh vực cụ thể
1.2.2 Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế
Các nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ này, theo Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (2010, tr.iii): “Quá trình phân cấp
và trao quyền của Việt Nam đã cho thấy nhiều kết quả tích cực Cạnh tranh giữa các tỉnh đang thúc đẩy họ cải thiện môi trường kinh doanh của mình” Báo cáo đã chỉ ra tác dụng của phân cấp trong quản lý nhà nước từ Chính phủ tới UBND cấp tỉnh, tạo ra sự chủ động trong thực thi các chính sách và biện pháp phù hợp, tích cực, thông qua đó tạo ra sự cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư, thu hút các hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương Thaveeporn (2009, tr.103) khẳng định rõ ràng mối quan hệ này: “Giữa thực hiện tốt công tác quản lý hành chính công ở địa phương với phát triển kinh tế có mối liên hệ với nhau”
Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh ảnh hưởng tới phát triển kinh tế ở địa phương thông qua các chức năng cơ bản là (1) tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh, và (2) cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn địa phương Như vậy, QLHCNN cấp tỉnh có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế QLHCNN tốt là việc thực hiện các chức năng tạo ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương Có nhiếu yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương, trong đó thực hiện tốt chức năng QLHCNN ở cấp tỉnh là một yếu tố quan trọng để góp phần đạt được kết quả và mục tiêu mong muốn
1.2.3 Đánh giá quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh
Phương pháp đánh giá quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh : Tiếp cận quản
lý hành chính dưới góc độ thực thi tốt chức năng để thúc đẩy phát triển kinh tế, đánh
Trang 7giá quản lý hành chính cần dựa trên kết quả đạt được mục tiêu của hoạt động Mục tiêu
quản lý hành chính tốt để thúc đẩy phát triển kinh tế chính là những kết quả tích cực
trong phát triển kinh tế Kết quả này được đo lường dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau
như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, tốc độ tăng
thu nhập bình quân … Những kết quả này phản ánh bản chất kinh tế của sự phát triển,
đồng thời ảnh hưởng đến sự cảm nhận, đánh giá của doanh nghiệp và người dân đối với
QLHCNN Những kết quả tích cực về phát triển kinh tế của các chủ thể sẽ tác động
nâng cao sự hài lòng, thỏa mãn của họ đối với QLHCNN Bên cạnh đó, QLHCNN còn
mang lại cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ công thiết yếu phục vụ nhu cầu
phát triển toàn diện Sự thỏa mãn của người dân chính là sự đánh giá về mức độ
QLHCNN
Cần đánh giá QLHCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế dựa trên mối tương tác giữa
chính quyền địa phương với người dân và doanh nghiệp Mối tương tác này tốt có
nghĩa là người dân và doanh nghiệp hài lòng với cơ quan HCNN, điều đó có nghĩa là
cơ quan HCNN đã có tác dụng tốt trong hỗ trợ phát triển kinh tế Mặt khác, sự phản
ánh về mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp tới các cơ quan HCNN sẽ giúp
cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để điều chỉnh trong hoạt động QLHCNN, từ đó
nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động, góp phần hỗ trợ tốt hơn cho phát triển kinh
tế làm gia tăng sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp
Các chỉ số đánh giá hành chính nhà nước cấp tỉnh: Trong thời gian qua tại Việt
Nam, có nhiều chỉ số đã được xây dựng và triển khai để đánh giá kết quả thực hiện
chức năng QLHCNN cấp tỉnh Một số chỉ số đánh giá có ý nghĩa được triển khai và đã
được chấp nhận, đánh giá tốt về tính hiệu quả và sự phù hợp, cụ thể là:
- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh
thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát
triển doanh nghiệp dân doanh
- Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam đánh giá dựa
trên ba quá trình có tác động lẫn nhau, đó là: xây dựng chính sách, thực thi chính sách
và giám sát việc cung ứng các dịch vụ công
- Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính nhà nước phản ánh đầy đủ nội
dung Chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được ban hành, sử dụng kết hợp
phương pháp đánh giá bên trong, bên ngoài và phương pháp kết hợp cả đánh giá bên
trong và đánh giá bên ngoài
- Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính đo lường sự hài lòng của người dân, tổ
chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước, đánh giá khách quan chất
lượng cung cấp dịch vụ hành chính công của cơ quan hành chính nhà nước
Lựa chọn chỉ số đánh giá quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh: Trong các chỉ số
đánh giá về QLHCNN cấp tỉnh đã được triển khai tới nay, hai bộ chỉ số PCI và PAPI
được cho là đầy đủ dữ liệu và đánh giá được một cách tương đối đầy đủ các nội dung liên quan đến các chức năng cơ bản của QLHCNN cấp tỉnh dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp Bộ thông tin, dữ liệu về kết quả đánh giá được lưu trữ một cách đầy
đủ và trong khoảng thời gian đủ dài để có thể sử dụng trong phân tích và nghiên cứu kỹ hơn về kết quả thực hiện QLHCNN cấp tỉnh ở các địa phương, không những vậy có thể
so sánh giữa các tỉnh với nhau, qua đó đưa ra được những kết luận phù hợp về ảnh hưởng của QLHCNN ở cấp tỉnh với phát triển kinh tế của địa phương Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ lựa chọn sử dụng hai chỉ số PCI và PAPI để thực hiện các phân tích, đánh giá
về QLHCNN cấp tỉnh theo các nội dung cụ thể hàm chứa bên trong các chỉ số đó cũng như những nội dung cụ thể trong chức năng của QLHCNN cấp tỉnh
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá QLHCNN theo cách tiếp cận từ bên ngoài, dựa trên cảm nhận của đối tượng được phục vụ Trong phạm vi nghiên cứu của Luận án với cách tiếp cận HCNN theo quan điểm dựa trên 4 trụ cột của HCNN hiện đại đề nghiên cứu và đánh giá Nghiên cứu cho thấy, yếu tố tổng hợp quan trọng mang tính phổ biến và có khả năng giải quyết trong thời hạn phù hợp với thời gian nghiên cứu, đồng thời không phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi trong những yếu tố khác
có thể tạo ra tác động tích cực tới đánh giá QLHCNN dựa trên cảm nhận của đối tượng phục vụ là thông tin giữa cơ quan HCNN với đối tượng phục vụ Luận án tập trung vào phân tích sự ảnh hưởng của yếu tố tổng hợp này theo các khía cạnh để chỉ ra ảnh hưởng tới đánh giá QLHCNN của đối tượng được phục vụ
Thực tế tác động của QLHCNN cấp tỉnh tới phát triển kinh tế địa phương khi xem xét dựa trên mối quan hệ giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp, tiếp cận theo phương pháp đánh giá dựa trên mức độ hài lòng của người dân, bên cạnh các yếu tố liên quan đến nội tại HCNN, sẽ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản quan trọng đó là:
- Thứ nhất: Thông tin chính quyền địa phương cung cấp cho người dân, cụ thể là: Thông tin được cung cấp cần thực sự minh bạch, Thông tin được cung cấp cần có sự phân loại cho các nhóm đối tượng đặc trưng,
- Thứ hai: Phương tiện và công cụ cung cấp thông tin cần có sự lựa chọn phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù, đơn giản và cá biệt hoá cả về nội dung và phương tiện cung cấp thông tin nhằm nâng cao hiệu quả của việc tiếp nhận, xử lý thông tin
- Thứ ba: Cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi của đối tượng phục vụ cần có sự
tương tác hai chiều đối với thông tin, đồng thời củng cố trụ cột trách nhiệm giải trình: Cơ chế tiếp nhận thông tin, Bộ phận xử lý thông tin, Quy trình và trách nhiệm xử lý thông tin,
- Thứ tư: Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan một cách hiệu quả và trách nhiệm giải quyết là yêu cầu quan trọng và cuối cùng cho việc phản hồi thông tin của đối tượng
phục vụ phát huy được tác dụng
Trang 8CHƯƠNG 2: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2011-2015
2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015
2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, thuộc vùng Đông Bắc, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
là 3.823 km², dân số toàn tỉnh Bắc Giang ước là 1.624.456 người, mật độ dân số bình quân
là 420,9 người/km2, bao gồm 21 thành phần dân tộc, trong đó có 20 thành phần dân tộc
thiểu số, Tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 49,92% dân số, nữ giới khoảng 50,08% dân số Số
người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 62,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo
nghề chiếm 26%; số hộ nghèo chiếm 8,88%
Bắc Giang có vị trí địa kinh tế tương đối thuận lợi, có hệ thống hạ tầng tương đối hoàn
chỉnh; thuận lợi cả về hệ thống cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông Bắc Giang đã
quy hoạch và triển khai các khu công nghiệp cùng một số cụm công nghiệp với tổng diện
tích gần 1.500 ha, trong đó có một khu công nghiệp đã cơ bản lấp đầy Tốc độ tăng trưởng
tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt mức cao hơn cả nước, bình quân giai đoạn
2011-2015 ước đạt 9,4%/năm Cơ cấu kinh tế của tỉnh: công nghiệp - xây dựng chiếm
41,5%, dịch vụ chiếm 36,0%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 22,5% GRDP bình
quân/người năm 2015 ước đạt 1.545USD, tăng 835USD so với năm 2010
Về tổ chức hành chính của tỉnh, Bắc Giang hiện có 09 huyện và 01 thành phố, trong đó
có 06 huyện miền núi và 01 huyện vùng cao (Sơn Động); 230 xã, phường, thị trấn (207 xã,
7 phường, và 16 thị trấn)
2.1.2 Kết quả phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt mức cao hơn cả nước,
bình quân giai đoạn 2011-2015 ước đạt 9,4%/năm), trong đó, công nghiệp - xây dựng đạt
16,1% (công nghiệp tăng 19,4%, xây dựng tăng 7,7%), dịch vụ đạt 6,8%, nông, lâm nghiệp,
thủy sản đạt 4,0% GRDP bình quân/người tiếp tục được rút ngắn so với bình quân cả nước,
năm 2015 ước đạt 1.545USD, tăng 835USD so với năm 2010(bằng 66,5% bình quân cả
nước) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tính đến năm 2015, lĩnh vực
công nghiệp - xây dựng chiếm 41,5%, dịch vụ chiếm 36,0%, nông, lâm nghiệp và thủy sản
chiếm 22,5% Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực
công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm lao động trong lĩnh vực trong lĩnh vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản (tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 56%,
lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm 23,3%, lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ 20,7%)
Bên cạnh những kết quả về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã đạt được trong giai đoạn
2011-2015 cũng còn những hạn chế, như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa có sự bứt phá,
nhất là phát triển công nghiệp, dịch vụ; tăng trưởng còn chưa ổn định và vững chắc; chất
lượng tăng trưởng vẫn còn nhiều hạn chế và chậm được cải thiện, chủ yếu phát triển theo
chiều rộng, giá trị gia tăng thấp, quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé; Ttốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; Khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người so với bình quân chung cả nước chậm được thu hẹp, GDP bình quân/người của tỉnh bằng 56%; năm 2015 ước bằng 66,5%; Môi trường đầu tư chưa thực sự thông thoáng, hấp dẫn; chất lượng, hiệu quả thu hút đầu tư chưa cao, chưa thu hút được nhiều dự án quy mô lớn
Nguyên nhân của những hạn chế đã được chỉ ra là do: Sự phối hợp của một số ngành trong quản lý nhà nước chưa chặt chẽ; Chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung một số cơ chế, chính sách của tỉnh cho phù hợp; Công tác quản lý, điều hành của một số đơn vị, địa phương có việc còn hạn chế; tổ chức thực hiện và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên một số lĩnh vực chưa kịp thời …Điều này cho thấy, QLHCNN ở Bắc Giang có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 và những hạn chế trong QLHCNN cấp tỉnh là nguyên nhân chủ quan cơ bản của những hạn chế trong phát triển kinh tế của tỉnh
2.2 Thực trạng quản lý hành chính nhà nước ở Bắc Giang giai đoạn 2011-2015
2.2.1 Thực trạng tổ chức hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Bắc Giang
Hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Bắc Giang được tổ chức theo quy định của pháp luật Việt Nam gồm: Hội đồng nhân dân tỉnh và Uỷ ban Nhân dân tỉnh với các cơ quan chuyên môn là các sở cùng với một số cơ quan đặc thù theo điều kiện thực tế tại địa phương Cùng với 44 tỉnh khác có tổ chức thêm Sở Ngoại vụ và 51 tỉnh khác có tổ chức thêm Ban Dân tộc, Bắc Giang có cơ cấu gồm 17 cơ quan sở ban ngành theo khung và 02 cơ quan tổ chức theo đặc thù địa phương
Tổ chức hành chính các cấp địa phương thấp hơn của Bắc Giang gồm có 09 huyện và
01 thành phố, trong đó có 06 huyện miền núi và 01 huyện vùng cao (Sơn Động); 230 xã, phường, thị trấn (207 xã, 7 phường, và 16 thị trấn) Cơ quan hành chính nhà nước tại các địa phương cấp huyện được tổ chức thành UBND huyện, thành phố và Văn phòng UBND, các phòng chuyên môn quản lý các lĩnh vực chuyên ngành, gồm: Phòng Tài chính Kế hoạch, Phòng Tài nguyên Môi trường, phòng Lao động và Thương binh, Xã hội, phòng Công Thương, phòng Văn hóa Thông tin, Phòng Nông nghiệp, Phòng Giáo dục, Thanh tra, phòng
Tư Pháp, Trung tâm Y tế dự phòng Cấp xã được tổ chức gồm: UBND xã và các bộ phận phụ trách các lĩnh vực chuyên ngành
2.2.2 Tình hình thực hiện quản lý hành chính nhà nước tỉnh ở Bắc Giang giai đoạn 2011-2015
Quản lý hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên tất cả các mặt của HCNN như:
Về thể chế: Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng và rà soát văn bản quy
phạm pháp luật (QPPL), thường xuyên rà soát văn bản QPPL thuộc thẩm quyền khi có sự thay đổi các văn bản của Trung ương hoặc tình hình kinh tế xã hội thay đổi, để kịp thời có
sự sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ cho phù hợp; Không để tình trạng TTHC được ban hành mà chưa được đánh giá tác động và chưa có ý kiến tham gia của các ngành, các cơ
Trang 9quan có thẩm quyền, góp phần quan trọng trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện chính
sách pháp luật, quy định TTHC của tỉnh, rà soát, đánh giá và thực hiện các quy định về đơn
giản hóa 170 TTHC thuộc 12 lĩnh vực; Số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện cơ chế
một cửa: 18/19 (Tăng 5/19 Sở, ngành so với giai đoạn 2001-2010) Số đơn vị hành chính
cấp huyện triển khai thực hiện cơ chế một cửa: 10/10; Số đơn vị hành chính cấp xã thực
hiện cơ chế một cửa: 230/230 xã, phường, thị trấn (Tăng 11/230 xã, phường, thị trấn so với
giai đoạn 2001-2010)…
Về tổ chức bộ máy hành chính: UBND tỉnh đã ban hành 02 Quyết định quy định về
phân cấp quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước của tỉnh, đã
phân cấp mạnh và giao quyền nhiều hơn cho cấp dưới trong công tác quản lý tổ chức, biên
chế và cán bộ, công chức, viên chức như: công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp
phòng và tương đương; công tác nâng lương, bổ nhiệm vào ngạch khi hết thời hạn tập sự;
công tác kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; Về sắp xếp tổ chức bộ máy, chỉ
đạo các cơ quan, đơn vị sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy một cách hợp lý hơn, giảm 7 đầu
mối trực thuộc các sở…
Về đội ngũ cán bộ công chức: Ban hành Kế hoạch xây dựng Đề án vị trí việc làm
(VTVL) và cơ cấu công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Đã có 100% đơn vị sự nghiệp đã
xây dựng xong Đề án VTVL và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp Có 80 % các
Sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh và UBND huyện, thành phố xây dựng xong Đề án VTVL và
cơ cấu ngạch công chức; Đổi mới chương trình đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ; Đổi
mới công tác quản lý cán bộ, công chức thông qua việc xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn
chức danh, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác; Đề cao trách nhiệm người đứng đầu
trong thực thi nhiệm vụ, công vụ, 100% các cơ quan, địa phương, đơn vị đã ban hành và chỉ
đạo thực hiện đánh giá, xếp loại người đứng đầu cấp dưới trực thuộc,
Về tài chính công: Có 213/213 đơn vị thực hiện chế độ tự chủ đối với cơ quan HCNN
(đạt 100%), 738/790 đơn vị đã triển khai thực hiện tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công
(đạt 93,4%) trong đó, cấp tỉnh: 154/154 đơn vị (100%); cấp huyện 584/636 đơn vị (91,8%)
Về hiện đại hóa hành chính nhà nước: Toàn tỉnh có 47/48 cơ quan triển khai áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, trong đó có 41 cơ quan chứng nhận độc lập, 02
cơ quan áp dụng chung hệ thống với cơ quan được chứng nhận Số lượng các cơ quan áp dụng
ISO tăng gấp 3 lần so với năm 2011 Có 10 cơ quan đã áp dụng, trong đó có 06 cơ quan đã
tiến hành thực hiện công bố ISO, 04 cơ quan đã được thẩm định đánh giá sự phù hợp ISO Có
24/29 cơ quan cấp Sở và cấp huyện áp dụng ISO cho toàn bộ TTHC (82,7%)
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở
Bắc Giang
2.3.1 Kết quả và những ưu điểm chủ yếu
Kết quả chung: Thực trạng QLHCNN tại Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 có những yếu
tố chưa thể hiện rõ xu thế, chuyển biến tích cực hay hạn chế Có những yếu tố, những thời
điểm được đánh giá tốt, nhưng thời điểm khác lại đánh giá chưa tích cực Tình hình phát triển kinh tế được nhìn nhận và đánh giá dưới các góc độ khác nhau cũng cho thấy những kết quả chưa rõ ràng, mặc dù thông qua cách đánh giá từ bên trong các cơ quan hành chính nhà nước thì cả về QLHCNN lẫn phát triển kinh tế đều cho kết quả tương đối lạc quan và tích cực Điều này cũng đòi hỏi cần phân tích kỹ hơn về thực trạng HCNN tỉnh Bắc Giang
để chỉ ra những điểm còn hạn chế theo các khía cạnh chi tiết và nguyên nhân của những hạn chế, qua đó có thể đề ra được các giải pháp hữu hiệu can thiệp giúp cho QLHCNN phát triển ổn định và theo xu hướng rõ ràng, góp phần vào hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương
Kết quả thực hiện chức năng tạo lập môi trường kinh doanh:
QLHCNN của tỉnh giai đoạn 2011-2015 đạt được những kết quả cụ thể chủ yếu là: Thu hút đầu tư phát triển đạt được kết quả khá, bằng 134,8% mục tiêu, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 24,9% Vốn thực hiện cả giai đoạn của các dự án đầu tư trong nước đạt 16.880 tỷ đồng, gấp 2,4 lần, các dự án FDI đạt 19.420 tỷ đồng (920 triệu USD), gấp 5,7 so với giai đoạn 2006-2010
Trong cả giai đoạn, điểm số và thứ hạng PCI của Bắc Giang so với cả nước giai đoạn 2011-2013 có xu hướng giảm xuống, năm 2013 đạt mức thấp nhất, năm 2014 có chiều hướng tăng lên, về mặt điểm số tăng cao hơn năm 2012 nhưng xếp hạng chung vẫn thấp hơn 10 bậc Chỉ có năm 2011 là được xếp vào nhóm Tốt của cả nước, còn lại các năm 2012,
2014 được xếp vào nhóm Khá, năm 2013 được xếp vào nhóm Tương đối thấp Ở năm 2014 theo đánh giá của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, hay môi trường kinh doanh của tỉnh Bắc Giang được xếp nằm trong nhóm dẫn đầu Xem xét 14 tỉnh miền núi phía Bắc thì Bắc Giang xếp thứ 4, trong nhóm có 01 tỉnh được đánh giá ở mức Rất tốt, 01 tỉnh ở mức Tốt, 02 tỉnh ở mức Khá (trong đó có Bắc Giang) còn lại 04 tỉnh ở mức Tương đối thấp và
05 tỉnh ở mức Thấp; So sánh với các tỉnh xung quang, mặc dù Hưng Yên được đánh giá có mức phát triển tốt hơn Bắc Giang do điều kiện tự nhiên cũng như vị trí địa lý, tuy nhiên xếp hạng PCI của Bắc Giang cao hơn Hưng Yên trong phần lớn thời gian đánh giá
Kết quả thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công:
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được quan tâm đầu tư theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, tỷ lệ kiên cố hoá trường lớp học toàn tỉnh đạt 85%, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 80% Phổ cập giáo dục giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 và phổ cập THCS được duy trì vững chắc; tỷ lệ xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 đạt 70,8%, tăng 56,5% so với năm 2010; tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi năm 2013; tỷ lệ đỗ tốt nghiệp bậc THPT hàng năm đều đạt trên 90%; mỗi năm có trên 10.000 học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng; đào tạo nghề của cả giai đoạn 2011 - 2015 đạt trên 140,6 nghìn người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 33,5% năm 2010 lên 50,5% năm 2015 Mạng lưới, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán
bộ y tế từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, tăng cường cả về đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất; tỷ lệ giường bệnh/1 vạn dân từ 17,1 giường năm 2010 lên 20,8 giường năm 2015;
Trang 10100% các xã, phường, thị trấn có trạm y tế, phòng khám và cơ sở dịch vụ tư nhân; đội ngũ
cán bộ y tế được phát triển cả về số lượng và chất lượng, chất lượng khám chữa bệnh ngày
càng được nâng lên; tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã năm 2015
đạt 77,4%; thực hiện khám bệnh cho trên 3 triệu lượt người mỗi năm Vấn đề xử lý nước
thải được quan tâm, đã triển khai 04 dự án xử lý nước thải bệnh viện, nhà máy xử lý nước
thải, đến năm 2015, tỷ lệ rác thải được thu gom khu vực đô thị 92,9% Đầu tư trên 7.640 tỷ
đồng vốn nhà nước, tập trung vào đường tỉnh, các công trình huyết mạch, tạo điều kiện cho
phát triển kinh tế - xã hội, đã hoàn thành cải tạo nâng cấp 12 tuyến đường tỉnh dài 215 km
Kết quả tính toán chỉ số PAPI của Bắc Giang ở giai đoạn này cho thấy xu hướng biến
động của điểm số từ năm 2010 có chiều hướng tăng lên, đạt cao nhất vào năm 2012 trước
khi giảm xuống vào năm 2013 nhưng thứ tự xếp hạng so với cả nước lại có xu hướng giảm
Từ năm 2010 với kết quả hết sức tích cực khi Bắc Giang có xếp hạng ở vị trí thứ 10 trên cả
nước, đến năm 2011 thứ hạng đã tụt xuống thứ 48, sang năm 2012 thứ hạng tăng lên được
thứ 43 nhưng đến năm 2013 thì lại tụt xuống thứ 63/63 tỉnh, thành phố của cả nước Kết quả
chi tiết theo các trục chỉ số PAPI của Bắc Giang trong các năm từ 2011-2013 theo xếp hạng
so với cả nước cũng có những sự biến động không đều Một số trục nội dung có đánh giá
điểm tốt và tăng lên từ năm 2012 so với năm 2011 nhưng lại giảm vị trí rất nhanh khi
chuyển sang năm 2013, ví dụ như trục Sự tham gia Hay Kiểm soát tham nhũng ở khu vực
công Còn lại các trục khác đều có sự giảm vị trí xếp hạng so với cả nước một cách liên tục
qua các năm Đến năm 2013, có ½ số trục trong chỉ số PAPI của tỉnh Bắc Giang được đánh
giá ở mức xếp hạng thấp nhất, 63/63 tỉnh thành phố
2.3.3 Những hạn chế và nguyên nhân
Về thực hiện chức năng tạo lập môi trường kinh doanh
- Thứ nhất: Điểm số tổng hợp các yếu tố cấu thành PCI của tỉnh hiện vẫn còn ở mức
thấp so với cả nước, mặc dù cũng có một số dấu hiệu được cải thiện Điều này cho thấy
mức độ hài lòng nói chung của đội ngũ doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh của
tỉnh chưa được cao và chưa có chuyển biến tích cực
- Thứ hai: Điểm số của chỉ số thành phần Bình đẳng ở mức thấp áp chót (chỉ trên Hà
Tĩnh trong tổng số 63 tỉnh thành) của cả nước và liên tiếp trong 2 năm 2013, 2014 có sự cải
thiện tuy nhiên vẫn ở mức thấp nhất trong nhóm các tỉnh trong khu vực
- Thứ ba: Chỉ số thành phần về Tiếp cận đất đai không có nhiều cải thiện và biến động
không ổn định và vẫn ở mức điểm chưa cao Điều này cho thấy sự quyết tâm của tỉnh là
chưa thực sự quyết liệt trong triển khai thực hiện các biện pháp đồng bộ để tăng cường mức
độ hài lòng của doanh nghiệp
- Thứ tư: Yếu tố Tính năng động và đặc biệt là Chi phí không chính thức giảm điểm và
thậm chí giảm sâu là yếu tố hết sức bất lợi cho việc xây dựng môi trường kinh doanh doanh
bình đẳng và thuận lợi cho doanh nghiệp
Về thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công
- Thứ nhất: điểm số và thứ hạng chỉ số tổng hợp PAPI có xu hướng giảm và giảm mạnh qua một số năm, từ mức xuất phát ở năm 2010 tại mức khá cao (16) đến năm 2013 đã xuống vị trí trót bảng xếp hạng trên tổng số 63 tỉnh của cả nước;
- Thứ hai: Điểm số của tỉnh Bắc Giang so với các tỉnh xung quanh ngày càng đi xuống
và khoảng cách nới rộng ra;
- Thứ ba: Chỉ số thành phần Thủ tục hành chính công, một số yếu tố quan trọng có tác động lớn tới lợi ích kinh tế của người dân lại có chiều hướng giảm điểm như: Chứng thực của chính quyền và Thủ tục hành chính ở cấp dưới
- Thứ tư: Chỉ số thành phần Cung cấp dịch vụ công trong điểm số PAPI của Bắc Giang trong giai đoạn 2011-2013 tăng lên không đáng kể, nhất là đặt trong mối tương quan về điểm số đối với các địa phương khác xung quanh
Nguyên nhân của những hạn chế: Sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi kết quả thực tế thực hiện và thông tin được tiếp nhận về quá trình thực hiện các hoạt động, cũng như việc tiếp nhận và phản hồi kịp thời thông tin từ phía cơ quan HCNN Nhìn nhận dưới góc độ như vậy, các nguyên nhân của những hạn chế ở trên được chỉ ra cụ thể là:
- Thứ nhất: Tính công khai minh bạch trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương thông qua các cơ quan HCNN chưa cao;
- Thứ hai: Trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan HCNN còn yếu;
- Thứ ba: Sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong quá trình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và QLHCNN hạn chế;
- Thứ tư: Tính dự báo trong tổ chức và hoạt động của cơ quan HCNN, cả trong cung ứng dịch vụ công và dịch vụ hành chính công thấp
CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế và cải cách quản lý hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang đến năm 2020
3.1.1 Bối cảnh phát triển chung
Giai đoạn 2016-2020 là thời điểm cả nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội mới mở ra từ hoạt động đối ngoại, hội nhập kinh tế, nhưng cũng có rất nhiều thách thức từ chính quá trình đó Bối cảnh quốc tế và trong nước trong thời gian tới được dự báo với nhiều yếu tố đa dạng xen lẫn tiêu cực và tích cực sẽ có những tác động cả thuận lợi
lẫn khó khăn cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Về thuận lợi:
Cho phép các địa phương có cơ hội khai thác các lợi thế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả hơn trước áp lực cạnh tranh quốc tế và mở cửa thị trường; Thị trường được mở rộng, các sản phẩm hàng hóa của các địa phương có cơ
hội tham gia ngày càng lớn vào thị trường thế giới; Về khó khăn, thách thức: Quá trình