1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang

163 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một công trình nghiên cứu mang tính thực tiễn về việc đánh giá vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại có giá trị tham khảo cao đó là “Nhà nước này, vai trò thực tiễn

Trang 1

- -BÙI TRUNG HẢI

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

- -BÙI TRUNG HẢI

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC GIANG

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 62310105-PT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Đức Bình

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án: “Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu sơ cấp, thứ cấp và trích dẫn tài liệu tham khảo được trình bày trong Luận án là trung thực; kết quả nghiên cứu trong Luận án chưa từng được công bố

Nghiên cứu sinh

Bùi Trung Hải

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 21

1.1 Quản lý hành chính nhà nước với phát triển kinh tế 21

1.1.1 Quản lý nhà nước 21

1.1.2 Quản lý hành chính nhà nước 24

1.1.3 Quản lý hành chính nhà nước với phát triển kinh tế 35

1.2 Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế 39

1.2.1 Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh 39

1.2.2 Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế 45

1.2.3 Đánh giá quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh 48

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 60

CHƯƠNG 2: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2011-2015 61

2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 61

2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Bắc Giang 61

2.1.2 Kết quả phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 63

2.2 Thực trạng quản lý hành chính nhà nước ở Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 71

2.2.1 Thực trạng tổ chức hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Bắc Giang 71

2.2.2 Tình hình thực hiện quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 72

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang 80

2.3.1 Kết quả và những ưu điểm 80

2.3.2 Những hạn chế chủ yếu 103

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 108

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 115

Trang 5

CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT

TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 116

3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế và cải cách quản lý hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 116

3.1.1 Bối cảnh phát triển chung 116

3.1.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế và yêu cầu đặt ra đối với quản lý hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 118

3.1.3 Mục tiêu cải cách quản lý hành chính nhà nước đến năm 2020 121

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh thúc đẩy phát triển kinh tế tại Bắc Giang đến năm 2020 127

3.2.1 Nhóm giải pháp đẩy mạnh thực hiện kế hoạch tổng thể cải cách hành chính nhà nước của tỉnh đến năm 2020 127

3.2.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh thực hiện đánh giá hành chính và quản trị nhà nước cấp tỉnh theo các chỉ số đo lường 130

3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường củng cố các trụ cột của hành chính nhà nước theo quan điểm hiện đại 133

3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường tác dụng sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tại địa phương 137

3.2.5 Nhóm giải nâng nâng cao tính năng động và hiệu quả thực thi các cam kết của lãnh đạo địa phương 143

3.3 Kiến nghị đối với Chính phủ 144

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 145

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBCC: Cán bộ công chức

CCHCC: Cải cách hành chính công

HCNN: Hành chính Nhà nước

HĐND: Hội đồng Nhân dân

PCI: Provincial Competitiveness Index

PAPI: Public Administration Performance Index

PAR_Index: Public Administration Reform Index

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ Bảng biểu:

Bảng 1.1: Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh 44

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu giai đoạn 2011-2015 64

Bảng 2.2: Các cơ quan HCNN cấp tỉnh của Bắc Giang 71

Bảng 2.3: Xếp hạng theo các trục của PAR-Index tỉnh Bắc Giang năm 2012-2013 80

Bảng 2.4: Chỉ số PCI và xếp hạng của Bắc Giang giai đoạn 2010-2014 83

Bảng 2.5: Các yếu tố cấu thành PCI của Bắc Giang giai đoạn 2010-2014 83

Bảng 2.6: Kết quả và xếp hạng PAPI của Bắc Giang giai đoạn 2010-2013 94

Bảng 2.7: Xếp hạng theo các trục của PAPI tỉnh Bắc Giang năm 2011-2013 95

Biều đồ: Biểu đồ 2.1: Điểm số PCI và tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Bắc Giang qua giai đoạn 2011 - 2014 82

Biểu đồ 2.2: Thứ hạng và điểm số PCI tỉnh Bắc Giang qua giai đoạn 2010-2014 84

Biểu đồ 2.3: Xu thế biến động điểm số PCI tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2014 85

Biểu đồ 2.4: Thứ hạng và điểm số PCI tỉnh Bắc Giang năm 2014 85

Biểu đồ 2.5: Điểm số PCI tỉnh Bắc Giang với các tỉnh miền núi phía Bắc năm 2014 86

Biểu đồ 2.6: Xếp hạng PCI Bắc Giang so với các tỉnh xung quanh trong giai đoạn 2011-2014 87

Biểu đồ 2.7: Điểm số PCI Bắc Giang so với các tỉnh xung quanh, cận trên, cận dưới trong giai đoạn 2011-2014 88

Biểu đồ 2.8: Các yếu tố cấu thành PCI tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2014 89

Biểu đồ 2.9: So sánh các yếu tố cấu thành PCI tỉnh Bắc Giang năm 2012-2014 90

Biểu đồ 2.10: Chỉ số bình đẳng của tỉnh Bắc Giang so với cả nước năm 2013 91

Biểu đồ 2.11: Chỉ số bình đẳng của tỉnh Bắc Giang so với các tỉnh xung quanh năm 2013 và 2014 92

Biểu đồ 2.12: Điểm số và thứ bậc PAPI tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2013 96

Biểu đồ 2.13: Xu hướng PAPI tỉnh Bắc Giang trong tổng thể giai đoạn 2010-2013 96

Biểu đồ 2.14: Xu hướng PAPI tỉnh Bắc Giang với các tỉnh xung quanh trong giai đoạn 2010-2013 97

Biểu đồ 2.15: Chỉ tiêu thành phần PAPI tỉnh Bắc Giang so với các tỉnh năm 2013 98

Biểu đồ 2.16: Yếu tố thành phần của PAPI tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2011-2013 98

Biểu đồ 2.17: Các yếu tố của chỉ số Trách nhiệm giải trình tỉnh Bắc Giang so với các tỉnh trong khu vực năm 2013 99

Biểu đồ 2.18: Yếu tố Hiệu quả tiếp xúc của tỉnh Bắc Giang so với các tỉnh trong khu vực và phổ điểm chung giai đoạn 2011-2013 100

Biểu đồ 2.19: Chỉ số thành phần Cung cấp dịch vụ công của tỉnh Bắc Giang so với phổ điểm chung giai đoạn 2011-2013 100

Trang 8

Biểu đồ 2.20: Chỉ số thành phần Cung cấp dịch vụ công của tỉnh Bắc Giang so với các địa phương xung quanh giai đoạn 2011-2013 101Biểu đồ 2.21: Các yếu tố thành phần của Chỉ số thành phần Cung cấp dịch vụ công tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2013 102

Hình vẽ:

Hình 1.1: Nội hàm khái niệm dịch vụ công 34Hình 2.1: Vị trí tỉnh Bắc Giang trong khu vực phía Bắc 61

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) hay hành chính Nhà nước (HCNN) và quá trình cải cách HCNN ở Việt Nam đang là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, cũng như những nhà quản lý hết sức quan tâm trong quá trình phát triển đất nước, đặc biệt trong giai đoạn phát triển mới với nhiều yếu tố thay đổi như hiện nay Trong bối cảnh phát triển với sự hội nhập quốc tế, sự đòi hỏi của xã hội và người dân đối với QLHCNN ngày một cao, QLHCNN được cho là có vai trò và vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như thỏa mãn nhu cầu và đòi hỏi của xã hội Cùng với xu thế phát triển và đòi hỏi từ thực tiễn của xã hội, QLHCNN đã được nhận thức và thực hiện khác đi ở nhiều quốc gia trên thế giới so với trước đây Đặc biệt nhận thức và quan điểm

về QLHCNN có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế được đông đảo các nhà nghiên cứu cho rằng có mối quan hệ chặt chẽ Quá trình cải cách QLHCNN nói riêng và cải cách nhà nước nói chung đang được thực hiện một cách mạnh mẽ ở Việt Nam thời gian qua để tạo ra những động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước cũng tuân theo xu hướng đó Mặt khác, quá trình cải cách cũng chỉ ra và khẳng định vai trò của QLHCNN cấp tỉnh, bên cạnh QLHCNN nói chung ở cấp trung ương, có những ảnh hưởng nhất định đối với phát triển kinh tế địa phương, dựa trên nhiều yếu tố về cả mặt tuyệt đối và tương đối

Trong thời gian qua ở nước ta, cải cách HCNN để tăng cường thực hiện chức năng QLHCNN đã được đặc biệt quan tâm, không những thế cải cách QLHCNN còn được coi là điểm then chốt để tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Bên cạnh chương trình tổng thể cải cách HCNN được thực hiện trên phạm vi toàn quốc ở tất cả các cấp HCNN, cải cách HCNN đối với chính quyền địa phương cũng được đặc biệt quan tâm và coi trọng Một loạt sáng kiến cải cách và hỗ trợ cho cải cách để tăng cường và củng cố chức năng QLHCNN ở địa phương đã được thực hiện với mục tiêu làm cho HCNN tại địa phương hoạt động tốt hơn để góp phần tích cực hơn nữa vào thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế địa phương Nhiều chỉ số đánh giá về QLHCNN cấp tỉnh đã được triển khai và thực hiện đã góp phần quan trọng vào cung cấp thông tin giúp cho việc nhìn nhận một cách đầy đủ hơn về HCNN cấp tỉnh cũng như ảnh hưởng của QLHCNN tới phát triển kinh tế địa phương Bên cạnh đó, các chỉ số cũng

có tác động nhất định tới chính quyền địa phương trong việc tự điều chỉnh để thực hiện tốt hơn chức năng QLHCNN của mình, đồng thời đạt được mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế Tuy vậy, cũng còn những hạn chế trong việc sử dụng các kết quả đó để cải thiện QLHCNN cấp tỉnh ở các địa phương Kết quả chỉ số có thể được cải thiện

Trang 10

nhưng thực chất của QLHCNN đã được cải thiện một cách tương ứng vẫn là một vấn

đề cần xem xét kỹ lưỡng Chỉ số QLHCNN ở địa phương không được cải thiện theo thời gian cũng như cải thiện trong tương quan so sánh với các địa phương khác trong vùng và trên cả nước Những điều này đã ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ phát triển kinh tế một cách tích cực hơn của QLHCNN cấp tỉnh Yêu cầu đặt ra là cần có biện pháp cải thiện QLHCNN cấp tỉnh để tăng cường hỗ trợ phát triển kinh tế của địa phương thông qua việc xem xét và phân tích các chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh đang được sử dụng hiện nay

Bắc Giang là một tỉnh nằm ở khu vực trung du miền núi phía Bắc, có vị trí địa

lý và các điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nằm ngay bên cạnh các trung tâm phát triển kinh tế mạnh mẽ trong thời gian gần đây, tuy nhiên tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Giang mặc dù có nhiều điểm khởi sắc nhưng so sánh với tiềm năng, cơ hội vẫn còn nhiều hạn chế Để thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020, một trong các giải pháp quan trọng được xác định là cải thiện QLHCNN cấp tỉnh nhằm tạo động lực cho tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn nữa, nâng cao sức cạnh tranh, thu hút đối với phát triển kinh tế, nắm bắt tốt các cơ hội trong quá trình phát triển nhanh và giữa một trung tâm phát triển kinh tế hết sức năng động Thực tế trong thời gian qua ở Bắc Giang, việc sử dụng các kết quả đánh giá theo những chỉ số đo lường hành chính công cấp tỉnh đã được triển khai thực hiện khá tích cực và chủ động, tuy nhiên kết quả cuối cùng vẫn còn hạn chế cần tiếp tục và sớm khắc phục Kết quả phát triển kinh tế của tỉnh so với các tỉnh trong vùng, trong khu vực được đánh giá ở mức trung bình so với tiềm năng và vị thế của tỉnh Kết quả đánh giá QLHCNN qua các chỉ số đánh giá về HCNN dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp cũng ở mức không cao, chưa được cải thiện tốt qua các năm cũng như so sánh tương quan với các tỉnh trong khu vực Đặt trong bối cảnh phát triển mới, khi Bắc Giang được quy hoạch trong Vùng Thủ đô và trung tâm của khu vực phát triển năng động phía Bắc với nhiều cơ hội và tiềm năng, điều này đặt ra đòi hỏi: cần nghiên cứu và chỉ

rõ những hạn chế và nguyên nhân trong QLHCNN cấp tỉnh ở Bắc Giang thời gian qua,

từ đó đề xuất giải pháp khắc phục nhằm tăng cường QLHCNN cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương Với những lý do cơ bản quan trọng đó, nghiên

cứu sinh lựa chọn thực hiện đề tài “Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang” làm đề tài luận án

2 Tổng quan nghiên cứu

Quản lý hành chính nhà nước có một vị thế ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế thông qua việc nhìn nhận đầy đủ và phù hợp về chức năng của QLHCNN

Trang 11

trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay Vai trò

đó không chỉ thể hiện ở tầm quốc gia, mà còn khẳng định ở cấp địa phương Điều này xuất phát từ việc nhìn nhận về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường, quá trình điều chỉnh các chức năng và vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế cũng như những nhận thức về HCNN hiện đại Cả về mặt lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam thời gian qua đã cho thấy điều này

Đối với các nghiên cứu ngoài nước

nghiên cứu hàng đầu và tiêu biểu trong lĩnh vực kinh tế học phúc lợi, trong cuốn Kinh

trường cũng như những nguyên tắc can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, các công

cụ chủ yếu chính phủ sử dụng để can thiệp vào nền kinh tế và nhấn mạnh về những vai trò nhất định và không thể thiếu của Nhà nước trong một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu phát triển mang tính tổng thể Đây có thể được coi là cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế hiện đại và đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá về sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường

Một công trình nghiên cứu mang tính thực tiễn về việc đánh giá vai trò của Nhà

nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại có giá trị tham khảo cao đó là “Nhà nước

này, vai trò thực tiễn của Chính phủ trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt ở các nước đang có sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường trong giai đoạn phát triển toàn cầu hoá hiện nay đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra một cách cụ thể, bên cạnh đó cuốn sách cũng đề cập đến các định hướng cải cách của chính phủ để hướng đến xây dựng một chính phủ gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triển của quốc gia, tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề

mang tính toàn cầu Tài liệu đã chỉ rõ “Không có một công thức chung phù hợp với tất

về việc thực hiện “chiến lược hai phần” nhằm “làm cho mọi nhà nước trở thành đối

trước hết cần “làm cho vai trò của nhà nước tương xứng với năng lực của nó”, sau đó

là “nâng cao năng lực của nhà nước bằng cách củng cố lại các thể chế công cộng”

Tài liệu khẳng định một cách mạnh mẽ về vai trò của Nhà nước đối với phát triển kinh

tế của quốc gia đó là: “…phát triển mà không có một nhà nước hiệu quả là điều không

Trang 12

trình phát triển của một quốc gia đã được chỉ rõ và nhấn mạnh, đồng thời cũng cho thấy sự ảnh hưởng của hoạt động quản lý nhà nước tới quá trình phát triển kinh tế của quốc gia

khái niệm và quan điểm khác nhau về hành chính công hay HCNN, cũng như có những bước phát triển trong khái niệm và vận dụng thực tế các mô hình hành chính công ở các quốc gia trên thế giới qua các giai đoạn Khái niệm hành chính công được cho là hình thành vào cuối thế kỷ XIX và được đánh dấu bởi tác phẩm của Wilson (1887) mà trong đó, ông chỉ ra rằng cần phải có sự tách biệt giữa việc thiết lập các mục tiêu chung (chính trị) với việc thực thi chúng (hành chính), hay sự tách biệt giữa lập pháp và hành pháp Quan điểm này về sau được phát triển và đơn giản hóa thành

công là một khoa học độc lập, không phải gắn liền với chính trị, và suốt từ đó cho đến cuối những năm 1930 nhiều nhà khoa học đã xây dựng nên hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và mẫu hình hành chính dựa trên quan điểm này Trong giai đoạn từ 1930 đến những năm 1970, khoa học hành chính công thoái trào và lại trở về với khoa học chính trị Tuy nhiên, hành chính công ở hầu hết các nước đã được xây dựng theo mẫu hình hành chính công trước những năm 1930, còn được gọi là mô hình hành chính công truyền thống hay mô hình thư lại của Max Weber với các đặc trưng là: (1) Hệ thống tổ chức công phi chính trị; (2) Hệ thống thứ bậc và các quy định; (3) Có tính lâu dài và ổn định; (4) Hệ thống tổ chức công được thể chế hóa; (5) Các quy định nội bộ phải phục tùng; (6) Tính công bằng

Mô hình trên được duy trì trong một khoảng thời gian dài và được áp dụng hết sức phổ biến trong các tổ chức công Nhiều ý kiến đã cho rằng không cần thiết phải có

sự thay đổi mô hình này vì nó được xem là mô hình hiệu quả nhất đối với các tổ chức lớn Tuy vậy, vào cuối những năm 1950, trào lưu phê phán hành chính công truyền

thống bắt đầu xuất hiện Trường phái Lựa chọn công cộng (Niskanen, 1994) phê phán

mô hình của Webber cả về mặt phương pháp luận cũng như các yếu tố như: sự cứng nhắc, tối đa hóa ngân sách chứ không phải lợi ích, tính khó kiểm soát của tổ chức

Trong khi đó, trường phái Chủ nghĩa quản lý (Enteman, 1993) lại phê phán hành chính

công truyền thống ở ba điểm: (1) quá coi trọng cơ cấu tổ chức và xem nhẹ yếu tố quyết định của con người, đặc biệt là người quản lý; (2) chỉ chú trọng đầu vào mà không coi trọng đầu ra, cái thực sự phản ánh năng suất; (3) đặt yếu tố quy tắc, quy định lên quá cao mà bỏ qua vai trò của yếu tố biểu tượng, yếu tố lễ nghi hay nói cách khác là văn hóa trong tổ chức Hai luồng tư tưởng nêu trên kết hợp lại dẫn đến sự hình thành mô

Trang 13

hình Quản lý công mới (New Public Management) Những nghiên cứu gần đây (Polidano, 1999; Cepiku and Mititelu, 2010; Ocampo, 2002) chỉ ra rằng mô hình Quản

Chúng hướng vào không những cải thiện kết quả của khu vực công, mà còn xem xét lại vai trò của nó trong nền kinh tế Nhấn mạnh yếu tố động lực chủ yếu của cải cách là chú trọng hơn vào kết quả, chuyển giao quyền lực và thúc đẩy tính linh hoạt, tăng cường trách nhiệm giải trình và sự kiểm soát, định hướng khách hàng và thị trường,…

và thay đổi mối quan hệ giữa các cấp chính quyền

Các nghiên cứu về hành chính công và cải cách hành chính công gần đây có

thể được kể đến như: Ferlie (1996) với nghiên cứu "Quản lý công mới qua hoạt động", Owen (2003) với nghiên cứu “Giới thiệu về Hành chính và quản lý công”, Lane (1999) với nghiên cứu ”Cải cách khu vực công - Căn nguyên, các xu hướng và các

nghiên cứu “Public Management Reform: A Comparative Analysis - New Public

nghiên cứu “The Critical Review of New Public Management Model and its Criticisms ”, ADB (2003) với nghiên cứu “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính

và gợi ý cũng như bài học kinh nghiệm khác nhau về cải cách và xây dựng HCNN ở các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên đều hội tụ đến việc hướng các quốc gia tiến tới xây dựng HCNN hoạt động hiệu quả, có hiệu lực và thực hiện tốt nhất chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường (Mô hình nền kinh tế hỗn hợp) Các nghiên cứu cũng đều cho thấy xu hướng của HCNN trên thế giới hiện nay về cơ bản là theo quan điểm của quản lý công mới, hoặc chung các đặc điểm của mô hình quản lý công mới,

đó là HCNN phải đáp ứng tốt các yêu cầu của xã hội nói chung, trọng tâm trong đó là yêu cầu về quá trình phát triển mà phát triển kinh tế là động lực chính, đồng thời với

đó là các điều kiện để HCNN có thể đáp ứng tốt yêu cầu đó như: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình

Với mục tiêu hướng tới xây dựng hành chính công trong thế giới hiện đại phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay, và cố gắng xác định các tiêu chí cần phải

có của QLHCNN, nghiên cứu “Phục vụ và duy trì-Cải thiện hành chính công trong

cần phải đảm bảo 3 chữ “E” kinh điển là: Kinh tế (Economy), Hiệu quả (Efficiency) và

Trang 14

Hiệu lực (Effectiveness) Cùng với quan điểm đó, các nghiên cứu gần đây về cải cách HCNN đã có những đề xuất về việc đưa chữ “E” thứ tư, Công bằng (Equity), để hình thành nên 4 trụ cột của một nền hành chính công trong thế giới hiện đại ngày nay Nghiên cứu của Susan Perry (2005) cũng đã nhấn mạnh 4 trụ cột của một nền hành

chính công đó là: Economy, Efficiency, Effectiveness and Social Equity Điều đó cho

thấy, các nghiên cứu đã chỉ rằng, hành chính công hay HCNN ở một quốc gia được đánh giá là tốt cần phải “đứng vững” trên 4 “trụ cột” kể trên Bốn trụ cột, 4 chữ E, đó đảm bảo cho bộ máy hành chính hoạt động tốt xét dưới góc độ tổ chức hoạt động của

bộ máy HCNN hướng vào đánh giá kết quả đạt được hơn là chỉ ra các yếu tố tác động

và ảnh hưởng tới quá trình đạt được kết quả và mục tiêu của HCNN Chính vì vậy, căn

cứ vào các yếu tố này có thể giúp chúng ta đánh giá kết quả của HCNN nhưng không giúp phân tích và chỉ rõ những yếu tố và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đó để có thể đề xuất các giải pháp phù hợp khắc phục nhằm nâng cao kết quả thực hiện Theo

cách tiếp cận khác về HCNN tốt, cũng trong nghiên cứu “Phục vụ và duy trì-Cải thiện

nhà nước tốt dựa vào bốn trụ cột, đó là: tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, tính dự đoán được và sự tham gia” (ADB, 2003, tr.12) Cùng quan điểm này, nghiên cứu về quản trị nhà nước tốt của Sokrseng (2007) đã chỉ ra rằng quản trị nhà nước là việc duy trì mối quan hệ thực thi công việc giữa các cơ quan đảm nhiệm ba nhánh quyền lực của nhà nước và hoạt động của bộ máy HCNN Hoạt động của nhà nước cần phải đảm bảo việc thụ hưởng các quyền cơ bản của con người, tính độc lập của ngành tư pháp, việc tuân thủ các quy định của pháp luật, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, khả năng dự đoán, tính hiệu quả và hiệu lực của chính phủ Vì thế, quản trị tốt là sự bao hàm nhiều yếu tố khác nhau như: sự tham gia, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, khả năng dự báo để đảm bảo rằng các ưu tiên chính trị, xã hội và kinh tế được dựa trên một sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội, và rằng tiếng nói của người nghèo nhất và dễ

bị tổn thương nhất được nghe thấy trong quyết định các quá trình liên quan đến việc phân bổ nguồn lực Sokrseng (2007) cũng dẫn lại các nghiên cứu của quốc tế khẳng định, hành chính nhà nước tốt cần phải dựa trên bốn trụ cột là: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, tính tiên liệu và sự tham gia

Như vậy, xét trên phương diện quốc tế, các nghiên cứu đã chỉ rõ chức năng và

xu hướng thay đổi chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đó là chuyển

từ quan điểm cai trị sang quan điểm quản lý mang tính phục vụ, nghĩa là nhà nước phải thực hiện sự quản lý của mình để hỗ trợ cho xã hội, trong đó trọng tâm là kinh tế, được phát triển một cách tốt nhất Đồng thời với đó, quan điểm về HCNN cũng có

Trang 15

những chiều hướng thay đổi và cũng theo xu hướng HCNN mang tính phục vụ, chú trọng vào việc đạt được kết quả và các mục tiêu dài hạn, công khai minh bạch trong hoạt động và đặc biệt là có trách nhiệm giải trình đối với các kết quả hoạt động Nói một các đơn giản hơn, nhà nước và HCNN đang chuyển biến theo cùng một xu hướng chung, điều này là hoàn toàn hợp logic, đó là hướng đến xây dựng nhà nước và HCNN mang tính phục vụ, đáp ứng tốt nhất cho các yêu cầu phát triển của xã hội Và HCNN tốt cần phải đáp ứng tốt các tiêu chuẩn, các trụ cột cơ bản, nếu như không đảm bảo các điều kiện đó, HCNN sẽ không hoạt động tốt, và do đó sẽ không hỗ trợ tốt cho phát triển của xã hội nói chung, trong đó phát triển kinh tế là trọng tâm

Tình hình nghiên cứu trong nước:

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước về chức năng và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, mà cụ thể là chức năng và vai trò của Nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa Các nghiên cứu đã chỉ rõ sự nhìn nhận và lựa chọn cũng như xu hướng cải cách vai trò và chức năng của nhà nước trong nền kinh tế ở Việt Nam, cụ thể là:

Thứ nhất, về chức năng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường,

nhiều nghiên cứu đã xác định các chức năng vai trò cụ thể của Chính phủ (Nhà nước) trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, đặc biệt có những nghiên cứu đã đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta hiện nay Theo các nghiên cứu này, Chính phủ giữ chức năng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội, đồng thời Chính phủ cũng phải có những tác động vào nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu phát triển đề ra, trong đó hết sức quan trọng là mục tiêu chính trị định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Tiêu

biểu trong số đó là nghiên cứu “Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định

các chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam, trong đó trọng tâm là: Định hướng phát triển kinh tế và cung cấp khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, minh bạch và vững chắc; đồng thời cung ứng hàng hóa công

cộng, các dịch vụ xã hội… Nghiên cứu “Thể chế kinh tế của Nhà nước trong nền kinh

Bình (2010) tiếp tục phân tích làm rõ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn về vai trò của Nhà nước Việt Nam đặt trong bối cảnh mới, bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế về mặt thể chế của Nhà nước Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp để cải cách nhằm hướng đến xây dựng một Nhà nước hoạt động hiệu quả, hiệu lực Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hậu (2007)

Trang 16

“Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường”, tác giả đã phần

nào hệ thống hóa và làm rõ vai trò của Nhà nước nói chung và Nhà nước Việt Nam nói riêng trong nền kinh tế thị trường, chỉ rõ vai trò của Nhà nước trong quản lý và hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh

Phương (2005) “Vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công” tác giả đã

xác định một trong những vai trò ngày càng quan trọng của Nhà nước trong nền kinh

tế thị thị trường hiện nay đó là cung cấp các dịch vụ công thiết yếu phục vụ cho nhu

cầu của xã hội trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong nghiên cứu này,

tác giả cũng đã làm rõ các chức năng hành chính của nhà nước như: chức năng hành chính công quyền, chức năng hành chính công, chức năng dịch vụ công, chức năng dịch vụ công cộng từ đó đánh giá vai trò của Nhà nước và xác định trách nhiệm của

bộ máy HCNN trong việc cung ứng từng loại dịch vụ cụ thể Cùng quan điểm đó,

Nguyễn Ngọc Hiến (2002) trong nghiên cứu “Vai trò của nhà nước trong cung ứng

ứng dịch vụ công của Nhà nước, đã có những đánh giá cụ thể trong thực tế ở Việt Nam

và đề ra các giải pháp để thúc đẩy thực hiện tốt vai trò, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước nói chung, bộ máy HCNN nói riêng Báo cáo nghiên cứu của

Nguyễn Thanh Hằng và Trần Lệ Huyền (2009), “Chính phủ và cung ứng dịch vụ công

cung ứng dịch vụ công cho nền kinh tế, hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam Các nghiên cứu đều đã khẳng định chính phủ có các chức năng (vai trò) quan trọng chủ yếu trong nền kinh tế hoặc đối với

sự phát triển của xã hội, đó là: cung ứng dịch vụ công và hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển Ở chức năng hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển, tuy có cách đề cập khác nhau do cách tiếp cận khác nhau của các nghiên cứu, tuy nhiên đều cho thấy chính phủ có chức năng tạo lập những khuôn khổ thể chế và thông qua cung cấp các dịch vụ mang tính quyền lực của nhà nước cho nền kinh tế để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế

nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước về hành chính công hay HCNN và cải cách hành chính công hay cải cách HCNN ở Việt Nam cơ bản tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý và khoa học hành chính Các nghiên cứu của các tác giả có thể kể đến như: Vũ Huy Từ và Nguyễn Khắc Hùng (1998) với nghiên cứu “Hành chính học

(2001) với nghiên cứu “Cải cách hành chính nhà nước: thực trạng, nguyên nhân, giải pháp ”, Nguyễn Ngọc Hiến (2001) với nghiên cứu “Các giải pháp thúc đẩy cải cách

Trang 17

hành chính ở Việt Nam” Bên cạnh nhiều nghiên cứu về hành chính và cải cách hành chính công ở Việt Nam, Báo cáo tổng kết chương trình tổng thể cải cách HCNN giai đoạn 2001-2010 của Bộ Nội vụ đã đưa ra các đánh giá mang tính toàn diện về công cuộc cải cách HCNN ở Việt Nam trong 10 năm qua, báo cáo đã tổng hợp số liệu hết sức phong phú và đa dạng về thực trạng cải cách hành chính và QLHCNN ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó báo cáo cũng đưa ra nhiều đánh giá về QLHCNN và kết quả cải cách HCNN ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng như báo cáo kể trên chưa tiếp cận một cách tổng thể về QLHCNN dưới góc độ thực thi vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế, cùng với việc áp dụng các quan điểm về xây dựng HCNN theo

xu thế phát triển trên thế giới Các nghiên cứu và này có cách tiếp cận chủ yếu dựa trên quan điểm khoa học hành chính, do vậy những đánh giá được đưa ra vẫn mang tính khoa học hành chính hơn là gắn với thực hiện mục tiêu của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, mà ở đó HCNN với chức năng trực tiếp thực thi

Ở hướng tiếp cận khác về các tiêu chí cho QLHCNN tốt và mang tính hiện đại, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những điểm quan trọng cụ thể của QLHCNN cần đảm bảo để quá trình thực hiện tuân thủ tốt theo những yêu cầu và đạt mục tiêu tốt nhất

Nghiên cứu của UNDP (2009) “Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam – thực

của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, cách tiếp cận này gần với lý thuyết của Stiglitz E.Josheph về vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường, có gắn với bối cảnh toàn cầu hoá và các điều kiện thực tiễn ở Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế đồng thời đưa ra các yêu cầu, những bài học kinh nghiệm đối với cải cách HCNN ở Việt Nam trong thời gian tới, đó là: “….ghi nhận quyền tham gia của người dân ….” “tăng cường tính minh bạch…” (UNDP, 2009, tr.65), “phản ánh sự chuyển biến theo hướng tạo ra một nền hành chính công minh bạch, có trách nhiệm giải trình…tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội” (UNDP, 2009, tr.69) Điều này cho thấy: có mối quan hệ giữa hành chính hiện đại hoạt động hiệu quả với kết quả phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương đó, và tiêu chí để đánh giá HCNN hiệu quả dựa trên việc xem xét mức độ đáp ứng các trụ cột của hành chính công hiện đại đối với hành chính công của quốc gia, địa phương đó

Đối với việc đánh giá HCNN tốt, cùng xu hướng và các quan điểm của nghiên cứu quốc tế, trong bài viết “Bốn trụ cột của hành chính công thế kỷ XXI” của Trương Quốc Việt (2009), tác giả cũng khẳng định “…bốn trụ cột: Trách nhiệm giải trình, tính

minh bạch, tính dự đoán và khả năng tham gia mà bất kỳ nền hành chính công của

quốc gia nào cũng phải xây dựng trong thế kỷ XXI”

Trang 18

Như vậy ở hướng tiếp cận này, QLHCNN được làm rõ hơn theo các điểm để đảm bảo tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế trên phạm vi quốc gia

và địa phương, đồng thời cũng khẳng định mối quan hệ giữa QLHCNN với phát triển kinh tế

Trong bối cảnh của Việt Nam, quá trình cải cách kinh tế và cải cách hành chính đang diễn ra song hành, vấn đề đặt ra đối với hành chính nhà nước hay quản trị nhà nước hiện nay đó là cần phải làm cho vai trò của nhà nước tương xứng với năng lực (WB, 1997) sau đó mới thực hiện bước tiếp theo là nâng cao năng lực của Nhà nước Đây là bước cải cách hành chính, cải cách quản trị Nhà nước phù hợp cho Việt Nam hiện nay Trong nghiên cứu của UNDP (2003) cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa hành chính và kết quả cải cách HCNN với phát triển kinh tế, nghiên cứu đã đưa ra những bài học cho Việt Nam từ các nước trong khu vực, trong đó chỉ ra những sự tương đồng nhưng cũng nhấn mạnh sự khác biệt trong hệ thống hành chính ở Việt Nam, đó là: “Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa bộ máy hành chính cấp trung ương và địa phương theo chiều ngược lại” (UNDP, 2009, tr.62) ….nhiều mô hình hay của các địa phương ở Việt Nam lại là ý tưởng cải cách cho chính quyền trung ương” Điều này lý giải cho những sáng kiến hỗ trợ cải cách HCNN gần đây của Việt Nam được tài trợ bởi các tổ chức quốc tế, gắn trong khuôn khổ các chương trình cải cách của Chính phủ Việt Nam,

đã cố gắng đưa ra các chỉ số và phương pháp đo lường để đánh giá mức độ quản trị, tính hiệu quả và kết quả hoạt động của QLHCNN, đặc biệt QLHCNN cấp tỉnh ở Việt Nam Những kết quả mang lại đã tạo ra những cơ sở quan trọng cho việc thực hiện các cải cách QLHCNN ở Việt Nam, cụ thể là:

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index - PCI)

được xây dựng ở Việt Nam dưới sự hỗ trợ của USAID từ năm 2005 và đưa vào áp dụng đánh giá ở tất cả các tỉnh của Việt Nam từ năm 2006, đây là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh, tiếp cận dưới góc độ cảm nhận của doanh nghiệp đối với việc điều hành của chính quyền địa phương nói chung

- Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (Public

triển khai thực hiện tại tất cả các tỉnh của Việt Nam từ năm 2010, là một bộ chỉ số đo lường khách quan về hiệu quả công tác quản trị, hành chính công và cung cấp dịch vụ công tại địa phương dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của người dân khi tương tác với các cấp chính quyền và trong sử dụng dịch vụ công Có thể đánh giá, đây là chỉ số cho

Trang 19

phép đo lường hiệu quả hoạt động của HCNN của cấp tỉnh PAPI xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa ba quy trình chính sách, bao gồm: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và giám sát thực thi chính sách Hiện nay, có hai phương thức có giá trị bổ sung cho nhau nhằm đánh giá kết quả hoạt động của chính quyền các cấp, đó là: (i) từ góc

độ của đơn vị cung ứng dịch vụ (còn gọi là đánh giá từ phía cung), và (ii) từ góc độ của người dân sử dụng dịch vụ (đánh giá từ phía cầu) PAPI được thiết kế theo phương thức thứ hai nhằm đánh giá hiệu quả của công tác quản trị và hành chính công ở cấp tỉnh dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của người dân

- Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính nhà nước (Public

phát từ đòi hỏi thực tiễn, với sự hỗ trợ của Dự án Hỗ trợ cải cách hành chính của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) để theo dõi, đánh giá cải cách HCNN

áp dụng chung trong cả nước Việc xây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính với mục đích phải trở thành công cụ đánh giá một cách khách quan, chính xác, toàn diện và định lượng kết quả thực hiện chương trình cải cách HCNN ở các bộ, ngành và địa phương trong cả nước theo từng năm hoặc từng giai đoạn được xác định

Bộ chỉ số phản ánh đầy đủ nội dung Chương trình cải cách HCNN đã được ban hành Phương pháp đánh giá kết quả cải cách hành chính gồm: phương pháp đánh giá bên trong, phương pháp đánh giá bên ngoài và phương pháp kết hợp cả đánh giá bên trong

và đánh giá bên ngoài Bộ chỉ số này được triển khai lần đầu tiên vào năm 2012, tới năm 2013 đã được tiến hành ở 19 bộ, 63 tỉnh thành

- Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (Satisfaction Index of Public

của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan HCNN Bộ chỉ số này được ban hành bởi Quyết định số 1383/QĐ-BNV ngày 28/12/2012 phê duyệt Đề án xây dựng Phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của

cơ quan HCNN theo nhiệm vụ đã được đề ra tại Nghị quyết số 30c/2011/NQ-CP Đề

án được xây dựng nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công của cơ quan HCNN Thông qua đó, các cơ quan HCNN nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng phục

vụ và cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân,

tổ chức

Từ những nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh nhận thấy:

kinh tế thông qua thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị

Trang 20

trường trong mô hình nền kinh tế có sự can thiệp của chính phủ như Việt Nam đang áp dụng hiện nay Không chỉ ở phạm vi quốc gia, QLHCNN cấp tỉnh cũng có những ảnh hưởng tích cực tới phát triển kinh tế của địa phương QLHCNN cấp tỉnh tốt sẽ có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương

đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản, trong đó việc thỏa mãn 4 trụ cột của HCNN hiện đại là một trong những yêu cầu quan trọng Bên cạnh đó, việc QLHCNN phải thực hiện đúng chức năng của quản lý nhà nước trong xã hội cũng như nền kinh tế cũng là yêu cầu để đảm bảo QLHCNN tốt Theo xu thế phát triển, Nhà nước hiện nay đã chuyển từ vai trò cai trị sang phục vụ, do vậy QLHCNN cũng phải mang tính phục vụ

hiệu quả thì các cơ quan HCNN ở địa phương phải thực hiện đúng và tốt các chức năng QLHCNN trong nền kinh tế thị trường Các sáng kiến hỗ trợ cải cách HCNN cấp tỉnh để thúc đẩy phát triển kinh tế đã xác định những chức năng cụ thể của QLHCNN cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường, tiếp cận theo quan điểm HCNN phục vụ, gồm:

- Tạo lập môi trường kinh doanh (để tăng cường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm thu hút doanh nghiệp và các nhà đầu tư)

- Cung cấp dịch vụ công thiết yếu (để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của người dân cũng như toàn xã hội)

trong (nội tại của HCNN, chủ thể tác động - đối tượng phục vụ), đánh giá bên ngoài (khách thể của tác động - đối tượng được phục vụ), hoặc kết hợp cả đánh giá bên trong

và bên ngoài Để đảm bảo QLHCNN mang tính phục vụ, đánh giá bên ngoài dựa trên

ý kiến, sự cảm nhận của đối tượng được phục vụ là hết sức quan trọng Đánh giá QLHCNN cấp tỉnh cần thực hiện theo hai chức năng cơ bản của HCNN cấp tỉnh và theo phương pháp đánh giá từ bên ngoài, dựa trên sự cảm nhận của đối tượng được phục vụ hay khách hàng (là người dân và doanhg nhiệp)

Trên thực tế, các kết quả đánh giá kể trên được thực hiện theo phương pháp khoa học và đã được công bố định kỳ tuy nhiên chưa được khai thác và sử dụng một cách triệt để, hiệu quả Điều đó dẫn đến chưa phát huy tác dụng tích cực của các chỉ số

đó trong việc làm căn cứ, cơ sở cho phân tích và tìm ra nguyên nhân của những điểm hạn chế mang tính cốt lõi, sâu xa trong QLHCNN cấp tỉnh ở các địa phương Do vậy chưa xác định được các giải pháp khắc phục một cách triệt để, góp phần xây dựng HCNN và củng cố chức năng QLHCNN cấp tỉnh bền vững và thực chất, góp phần hỗ trợ tích cực cho phát triển kinh tế của địa phương Không những vậy, có những biểu

Trang 21

hiện còn cho thấy việc điều chỉnh để khắc phục những hạn chế về điểm số theo đánh giá của các chỉ số chỉ mang tính nhất thời, hình thức Điều này sẽ không có lợi về lâu dài cũng như mục tiêu từng bước xây dựng và củng cố HCNN theo hướng hiện đại, phục vụ tốt cho sự phát triển kinh tế của địa phương, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các địa phương và đặc biệt hơn nữa đặt trong bối cảnh quốc gia đang tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ Xuất phát từ phát hiện

đó, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu đề tài tập trung vào khai thác một số điểm mới trong hướng nghiên cứu là:

- Hệ thống và làm rõ chức năng của QLHCNN cấp tỉnh theo quan điểm hiện đại đối với phát triển kinh tế của địa phương Mối quan hệ của QLHCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế của địa phương;

- Đánh giá QLHCNN cấp tỉnh theo quan điểm HCNN mang tính phục vụ, dựa trên phương pháp đánh giá căn cứ vào sự hài lòng của đối tượng được phục vụ và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá

- Khai thác và sử dụng các chỉ số đánh giá quản trị và hành chính công cấp tỉnh đang được tính toán hiện nay để chỉ ra những điểm hạn chế trong thực hiện chức năng quản lý của HCNN cấp tỉnh, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương cũng như gợi ý cho các địa phương trong việc sử dụng các chỉ số này một cách hiệu quả và thực chất hơn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Chỉ ra những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến QLHCNN cấp tỉnh đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế địa phương dựa trên sự đánh giá từ các đối tượng phục vụ của HCNN, sử dụng công cụ là PAPI và PCI, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tăng cường QLHCNN cấp tỉnh Đồng thời đưa ra gợi ý cho các địa phương trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả các chỉ số PAPI và PCI để tăng cường QLHCNN cấp tỉnh nhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế của địa phương tốt hơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Là rõ chức năng QLHCNN cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế địa phương dựa trên quan điểm về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và yêu cầu về sự phân cấp trong quản lý nhà nước;

Trang 22

- Hệ thống hoá xu hướng phát triển của HCNN và quan điểm về việc xây dựng HCNN mang tính hiện đại, QLHCNN mang tính phục vụ trên thế giới và ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay;

- Luận giải sự đánh giá QLHCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế địa phương thông qua sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc lựa chọn tiêu chí đánh giá QLHCNN cấp tỉnh dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp Từ đó, đánh giá và phân tích để chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá QLHCNN cấp tỉnh dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp theo các tiêu chí đó

- Nghiên cứu thực tiễn ở Bắc Giang để chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân cụ thể trong đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối với QLHCNN cấp tỉnh, từ đó đề xuất giải pháp để khắc phục nguyên nhân, tăng cường chức năng QLHCNN cấp tỉnh góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của Bắc Giang đến năm 2020 đồng thời đưa ra khuyến nghị cho các địa phương khác trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh đang được tính toán và công bố hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh

tế của địa phương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang;

đến năm 2015 (có một số thông tin sử dụng từ năm 2010) và đề xuất các giải pháp trong định hướng đến năm 2020

cấp tỉnh ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Khung nghiên cứu

Nghiên cứu xác định Nhà nước nói chung, thông qua hệ thống HCNN, thực hiện chức năng QLHCNN có vai trò phục vụ cho sự phát triển của xã hội nói chung trong đó phát triển kinh tế là trọng tâm

Trang 23

QLHCNN tốt cần phải đảm bảo 4 trụ cột theo quan điểm HCNN hiện đại, đó là: Công khai minh bạch, Trách nhiệm giải trình, Tính tiên liệu và Sự tham gia

Sự phân cấp trong QLHCNN đã trao cho chính quyền địa phương những chức năng nhất định đối với phát triển kinh tế, đó là: (1) Tạo lập môi trường kinh doanh và (2) Cung cấp dịch vụ công thiết yếu Chính quyền địa phương thực hiện các chức năng này để thực thi vai trò trong phát triển kinh tế thông qua tác động đến các chủ thể chủ yếu trong phát triển kinh tế của địa phương là: (1) Doanh nghiệp và (2) Người dân

Trên quan điểm Nhà nước phục vụ, kết quả đánh giá của người dân và doanh nghiệp đối với của chính quyền địa phương trong việc thực thi những chức năng cơ bản sẽ cho thấy mức độ đáp hiệu quả trong hỗ trợ phát triển kinh tế của chính quyền địa phương thông qua HCNN cấp tỉnh

- Công khai minh bạch

- Trách nhiệm giải trình

- Tính tiên liệu

- Sự tham gia

Hành chính nhà nước hiện đại

Doanh nghiệp

Phát triển kinh tế

Trang 24

Chính quyền địa phương cần nghiên cứu kết quả đánh giá của người dân và doanh nghiệp thông qua các chỉ số PAPI và PCI, tìm ra các nguyên nhân của những hạn chế trong kết quả đánh giá, từ đó có biện pháp cải thiện một cách tích cực để góp phần tăng cường thực hiện chức năng QLHCNN cấp tỉnh, góp phần hỗ trợ hiệu quả cho phát triển kinh tế địa phương

5.2 Quy trình nghiên cứu

Với khung nghiên cứu như trên, quy trình nghiên cứu được thực hiện như sau:

Trang 25

Các bài viết nghiên cứu, bài báo khoa học của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được xuất bản trên các tạp chí bản in và bản online, trên thư viện điện tử online;

Các luận án của tác giả trong và ngoài nước;

Các dữ liệu này được thu thập và sử dụng cho mục đích xây dựng khung lý thuyết của nghiên cứu (Chi tiết các tài liệu được tham khảo trong phần trích dẫn và danh mục tài liệu tham khảo của Luận án);

+ Thông tin thực tiễn: các luật, nghị định, nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch, văn bản pháp quy khác, báo cáo, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, bài viết, tin tức trên internet, gồm:

Các văn bản pháp luật của Quốc Hội, Chính phủ và các Bộ: Luật, Nghị định, Nghị quyết, Chỉ thị , Chương trình, Kế hoạch…

Các văn bản pháp quy của Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang: Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình, Báo cáo…

Các thông tin và số liệu của các tổ chức quốc tế và Việt Nam: Báo cáo và số liệu về PCI, báo cáo và số liệu về PAPI, báo cáo về PAR-Index …

Các trang thông tin điện từ: Cổng thông tin điện tử chính phủ, website Bộ nội

vụ, Công thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang, website PCI Việt Nam, PAPI Việt Nam…

Các dữ liệu này được thu thập và sử dụng cho mục đích xây dựng khung nghiên cứu cũng như phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu, các hạn chế và nguyên nhân cho những vấn đề nghiên cứu (Chi tiết các tài liệu được tham khảo trong danh mục tài liệu tham khảo của Luận án);

- Dữ liệu sơ cấp:

Đề tài sử dụng dữ liệu sơ cấp từ khảo sát thực tiễn tại địa phương, kết hợp với phỏng vấn tại địa phương đối với các nhà QLHCNN tại tỉnh Bắc Giang, một số doanh nghiệp và người dân thông qua bảng hỏi được thực hiện từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của chính tác giả (KTQD/V2013.21)

5.4 Phương pháp thu thập dữ liệu

- Tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi đối với cán bộ QLHCNN cũng như người dân và doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Giang Mẫu phỏng vấn được lựa chọn ngẫu nhiên tại một số cơ quan có nhiều sự tương tác và cung cấp các thủ tục trực tiếp tới người dân

và doanh nghiệp

Trang 26

+ Phỏng vấn và trao đổi với 25 cán bộ QLHCNN tại 6/17 cơ quan HCNN cấp tỉnh của Bắc Giang (các sở, ban ngành);

+ Phỏng vấn và trao đổi với 25 đại diện doanh nghiệp, tổ chức được lựa chọn ngẫu nhiên khi tới thực hiện thủ tục tại các cơ quan HCNN cấp tỉnh;

- Sử dụng dữ liệu và xử lý kết quả từ cơ sở dữ liệu và báo cáo kết quả tính toán các chỉ số PCI, PAPI trên cổng thông tin PCI và PAPI Việt Nam

- Sử dụng dữ liệu từ Báo cáo thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh giai đoạn 2011-2015; Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh các năm

2011, 2012, 2013, 2014; Báo cáo điều hành phát triển kinh tế xã hội của UBND tỉnh Bắc Giang các năm 2012, 2013, 2014; Báo cáo cải cách hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang năm 2011, 2012, 2013, 2014; Báo cáo thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật của

Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang năm 2012, 2013, 2014; Báo cáo thực hiện Biên chế tình Bắc Giang năm 2014; Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2020; Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020…

5.5 Phương pháp phân tích dữ liệu

Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích chủ đạo là phương pháp phân tích định tính Trên cơ sở khung lý thuyết được tổng hợp từ các nghiên cứu đã được công bố trươc đó, tác giả xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu dựa trên các luận điểm đã được thừa nhận Căn cứ vào những luận điểm đó, cùng với các thông tin, dữ liệu thu thập được trong thực tế từ các nguồn, tác giả thực hiện so sánh và rút ra các nhận xét dựa trên các luận điểm đó Những số liệu được tổng hợp lại và xử lý theo các hình thức mô phỏng để minh hoạ rõ hơn cho các nhận định được đưa ra qua phân tích Một số phương pháp phân tích dữ liệu cụ thể đã được sử dụng là:

Trên cơ sở dữ liệu có được từ các nguồn, đặc biệt từ nguồn tổng hợp với dữ liệu lớn như PCI, PAPI…tác giả thực hiện chọn lọc các thông tin, dữ liệu có liên quan và cần thiết cho nghiên cứu, từ đó thực hiện các báo cáo dựa trên dữ liệu đó theo mục tiêu nghiên cứu, sử dụng các công cụ đồ thị hoá để mô tả kết quả xử lý dữ liệu và minh hoạ cho mục tiêu nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp:

Phương pháp này được áp dụng để làm rõ thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 cũng như thực trạng QLHCNN cấp tỉnh và quá trình cải cách QLHCNN ở tỉnh Bắc Giang Đồng thời, phân tích chỉ rõ thực trạng QLHCNN

Trang 27

cấp tỉnh ở Bắc Giang dựa trên đánh giá của người dân và doanh nghiệp, từ đó thấy được ảnh hưởng của QLHCNN cấp tỉnh trong phát triển kinh tế của địa phương Phương pháp phân tích và tổng hợp cũng được sử dụng để chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế trong QLHCNN cấp tỉnh dựa trên đánh giá theo cảm nhận của người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn 2011-2015

- Phương pháp so sánh:

Phương pháp này được sử dụng để đánh giá QLHCNN cấp tỉnh của Bắc Giang

so với các địa phương khác trên cả nước và trong vùng Các chỉ số được so sánh giữa các năm, giữa các địa phương, giữa các chỉ số để làm rõ mối quan hệ tương quan và xu thế biến động của các yếu tố, qua đó chỉ ra những ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương và nguyên nhân của những hạn chế được xác định theo các chỉ số

- Phương pháp chuyên gia:

Phương pháp được sử dụng để thu thập bổ sung thông tin phục vụ cho đánh giá

và phân tích làm rõ nguyên nhân của những hạn chế Đồng thời phương pháp được sử dụng để khẳng định các nhận định về mối quan hệ giữa các yếu tố với các biến số nghiên cứu

6 Dự kiến các kết quả đạt được:

Kết quả dự kiến Luận án sẽ đóng góp gồm:

- Hệ thống các quan điểm về HCNN và xây dựng mô hình HCNN, xu hướng và quan điểm xây dựng HCNN hiện đại trên thế giới hiện nay và lựa chọn của Việt Nam;

- Chức năng QLHCNN cấp tỉnh và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương, các phương pháp đánh giá chức năng QLHCNN theo các tiêu chí HCNN hiện đại và dựa trên hướng tiếp cận về nhà nước phục vụ;

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá theo sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp đối với cơ quan HCNN cấp tỉnh trong việc thực hiện chức năng QLHCNN tại địa phương;

- Trình bày thực trạng phát triển kinh tế và QLHCNN tỉnh Bắc Giang giai đoạn

2011 - 2015, đánh giá chức năng QLHCNN cấp tỉnh tại Bắc Giang trong giai đoạn này Chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện chức năng QLHCNN cấp tỉnh tại Bắc Giang dựa trên kết quả đánh giá của người dân và doanh nghiệp;

- Đề xuất giải pháp tăng cường chức năng QLHCNN cấp tỉnh qua đó góp phần thức đẩy phát triển kinh tế địa phương tại Bắc Giang đến năm 2020, đồng thời gợi ý để các địa phương khác khai thác và sử dụng hiệu quả các chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh

Trang 28

Trong những kết quả đạt được này, các điểm mới của Luận án là:

- Tiếp cận về QLHCNN nói chung và cụ thể là QLHCNN cấp tỉnh dưới góc độ kinh tế của HCNN, đó là thực thi chức năng quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và theo các xu hướng HCNN hiện đại;

- Chỉ ra mối quan hệ giữa HCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế thông qua thực hiện hai chức năng cơ bản của QLHCNN là tạo lập môi trường kinh doanh và cung cấp dịch vụ công;

- Chỉ ra khung đánh giá ảnh hưởng quản QLHCNN cấp tỉnh tới phát triển kinh

tế địa phương thông qua sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp đối với QLHCNN cấp tỉnh, dựa trên cách tiếp cận nhà nước phục vụ, xây dựng HCNN theo quan điểm quản lý, hướng tới kết quả và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng;

- Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả đánh giá dựa trên sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp đối với QLHCNN ở địa phương theo các công cụ PCI

và PAPI khi sử dụng để đánh giá QLHCNN cấp tỉnh với phát triển kinh tế địa phương

đó là các khía cạnh của ván đề thông tin như: thông tin được cung cấp, phương thức cung cấp thông tin, tiếp nhận và phản hồi thông tin, cơ chế phối hợp xử lý thông tin, cam kết và quyết tâm của lãnh đạo địa phương…

- Đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế trong QLHCNN ở địa phương dựa trên kết quả đánh giá theo sự cảm nhận của người dân và doanh nghiệp nhằm củng cố thực hiện chức năng QLHCNN cấp tỉnh, qua đó góp phần tích cực vào thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Nghiên cứu được tiến hành thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn từ 2011-2015 và gợi ý cho tỉnh để hoàn thiện trong giai đoạn đến năm 2020

- Gợi ý các tỉnh sử dụng chỉ số đo lường HCNN cấp tỉnh để phục vụ việc xây dựng, hòan thiện HCNN cấp tỉnh góp phần nâng cao hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh

tế của địa phương

Trang 29

CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1.1 Quản lý hành chính nhà nước với phát triển kinh tế

1.1.1 Quản lý nhà nước

1.1.1.1 Quan niệm về quản lý nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế đã được các lý thuyết cũng như thực tiễn chỉ ra Các nhà khoa học và các nhà quản lý cơ bản đều đồng ý rằng, một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường cần thiết phải có vai trò của nhà nước trong việc can thiệp, điều tiết để đảm bảo các mục tiêu phát triển chung và dài hạn của cả xã hội và nền kinh tế Theo một cách gọi phổ biến khác, đó là

sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Dù cách gọi có thể khác nhau, nhưng cách hiểu và mục tiêu của hoạt động này là như nhau, đó là sự tác động của chủ thể Nhà nước tới nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường để nhằm đạt được các mục tiêu tổng thể và dài hạn Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách hiểu khác nhau cũng có thể dẫn đến các hàm ý khác nhau và không thống nhất, do vậy, việc làm

rõ nội hàm và thống nhất cách sử dụng các khái niệm sẽ giúp cho việc nghiên cứu và phân tích các nội dung được rõ ràng và nhất quán hơn

Trước hết, về khái niệm “quản lý”, theo từ điển Oxford trích dẫn trong Owen E.Hughes (2003, tr.6) “Quản lý là: việc tiến hành, việc kiểm soát quá trình thực hiện các công việc bằng hành động của chính mình, việc chịu trách nhiệm” Theo Học viện hành chính quốc gia (2014, tr.7) cho rằng “Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định” Như vậy, quản lý là sự tác động vào của chủ thể quản

lý vào đối tượng quản lý để kiểm soát nhằm đạt được mục tiêu và đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả của sự tác động Quản lý bao gồm ba yếu tố:

- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra tác động quản lý Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết;

- Đối tượng quản lý: là đối tượng tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý để vận động, phát triển đạt tới mục tiêu quản lý;

- Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới ở những thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra và chịu trách nhiệm với mục tiêu cũng như kết quả đạt được Đây

là căn cứ để chủ thể quản lý xác định và thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp tác động phù hợp

Trang 30

Phân loại quản lý, theo Học viện hành chính quốc gia (2014, tr.7) thì: “theo đối tượng quản lý, các hoạt động quản lý có thể được chia thành ba nhóm chủ yếu: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật và quản lý xã hội” Như vậy, quản lý xã hội là một

bộ phận của quản lý nói chung, nó thực hiện chức năng quản lý đối với các hoạt động trong xã hội của mỗi con người và mọi người trong xã hội với nhau Ở mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng, quản lý xã hội là nội dung quản lý rất quan trọng, nó đảm bảo cho xã hội đó ổn định, tuân theo các nguyên tắc chung nhất định và phát triển theo mục tiêu xác định Trong một xã hội nhất định, ở tầm quốc gia, có nhiều chủ thể khác nhau cùng tham gia vào quản lý xã hội với những chức năng, vai trò và quyền hạn khác nhau như: nhà nước, các đảng phái (tổ chức chính trị), tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các nghiệp đoàn, các tổ chức kinh tế Nhà nước với vị thế xuất phát từ sự

ra đời của nó và vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội, giữ vai trò là chủ thể trung tâm của xã hội, thực hiện quản lý toàn diện đối với xã hội

Khái niệm quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội Khái niệm quản lý nhà nước cũng có những cách tiếp cận khác nhau Theo Học viện hành chính quốc gia (2014, tr.7):

“Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện của nhà nước” Theo Nguyễn Hữu Hải (2010, tr.2): “Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội” Theo tài liệu Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước (2015) “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan

hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” Nhìn nhận chung lại các quan điểm trên có thể hiểu, quản lý nhà nước là việc nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với xã hội nhằm tác động vào xã hội để thúc đẩy sự phát triển đạt tới các mục tiêu mang tính tổng thể mà nhà nước xác định, đồng thời nhà nước chịu trách nhiệm với các mục tiêu cũng như kết quả đạt được đó Với vị thế là chủ thể đặc biệt trong xã hội, nhà nước cũng được trao những quyền đặc biệt và quản

lý cũng như có trách nhiệm toàn diện đối với xã hội Tiếp cận dưới góc độ quản lý nói chung, các yếu tố cơ bản của quản lý nhà nước được xác định gồm:

- Chủ thể quản lý nhà nước: Nhà nước là chủ thể quản lý, nhà nước tổ chức ra các cơ quan của mình để thực hiện quản lý, trong đó có các cá nhân được ủy quyền của nhà nước để thực hiện các công việc cụ thể trong chức năng quản lý của nhà nước

- Đối tượng quản lý nhà nước: Là tất cả các lĩnh vực, đối tượng, hoạt động của xã hội, cụ thể là các tổ chức, doanh nghiệp và người dân sống và hoạt động trong xã hội

Trang 31

- Mục tiêu của quản lý nhà nước: Là đảm bảo cho xã hội đạt tới các mục tiêu phát triển mang tính toàn diện, ổn định và dài hạn

Khái niệm quản lý nhà nước còn được xem xét dưới góc độ chủ thể quản lý, khi

đó quản lý nhà nước được hiểu là việc thực thi quyền lực của chủ thể quản lý, là nhà nước Theo Nguyễn Hữu Hải (2010, tr.2) “quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội” Theo Học viện hành chính quốc gia (2014, tr.7): “Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước” Cũng theo Học viện hành chính quốc gia (2014, tr.8): “Quyền lực Nhà nước ở mọi quốc gia hiện nay trong quá trình thực thi đều được chia thành ba bộ phận cơ bản là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp” Do vậy, quản lý nhà nước có thể được hiểu là quá trình thực thi quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp của nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước

1.1.1.2 Chức năng của quản lý nhà nước

Từ khái niệm quản lý nhà nước, có những cách xác định chức năng của quản lý nhà nước khác nhau, cụ thể là:

- Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực của nhà nước, quản lý nhà nước có ba chức năng tương ứng với ba bộ phận cơ bản của quyền lực nhà nước là: chức năng lập pháp, chức năng hành pháp và chức năng tư pháp Theo Nguyễn Hữu Hải (2010, tr.2):

“quản lý nhà nước bao gồm 3 chức năng cơ bản: thứ nhất, chức năng lập pháp do các

cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống HCNN đảm nhiệm; và thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện”

- Tiếp cận dưới góc độ đối tượng quản lý, quản lý nhà nước là quản lý toàn diện

về các lĩnh vực của xã hội, do vậy quản lý nhà nước có các chức năng quản lý theo lĩnh vực là: chức năng quản lý về chính trị, chức năng quản lý về kinh tế, chức năng quản lý về văn hóa xã hội, chức năng quản lý về an ninh quốc phòng, chức năng quản

lý về ngoại giao

- Tiếp cận dưới góc độ từ nền kinh tế, đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay ở các quốc gia trên thế giới, Nhà nước có ba chức năng cơ bản và chức năng của quản lý nhà nước là thực thi các chức năng này của nhà nước, theo Lương Xuân Quỳ (2006, tr.15) đó là:

Trang 32

+ Xây dựng và bảo đảm môi trường hoà bình, không để xảy ra chiến tranh; + Thực hiện vai trò trọng tài, đem lại quyền tự do, bình đẳng cho mọi thành viên; + Cung cấp, duy trì và phát triển hàng hoá công cộng”

Như vậy khi nói đến chức năng của quản lý nhà nước, tùy theo mục tiêu nghiên cứu và cách tiếp cận, chức năng của quản lý nhà nước có thể được xác định theo các nội dung khác nhau Về thực thi quyền lực của nhà nước, chức năng được phân chia theo các quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp Về lĩnh vực quản lý, chức năng được phân chia thành các lĩnh vực của xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Dưới góc nhìn của các nhà kinh tế, chức năng được phân chia thành: đảm bảo hòa bình an ninh, tạo lập và duy trì môi trường xã hội bình đẳng, cung cấp hàng hóa công cộng cho xã hội Sự phân chia này được hiểu mang tính độc lập tương đối, nghĩa

là, khi thực thi chức năng theo sự phân chia này thì cũng đồng thời đang thực hiện chức năng theo sự phân chia khác Ví dụ: Khi nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh tế sẽ thông qua đồng thời thực hiện cả ba chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp và thực thi cả ba chức năng: đảm bảo hòa bình an ninh, tạo lập và duy trì môi trường xã hội bình đẳng, cung cấp hàng hóa công cộng cho xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận án sẽ giới hạn ở vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế trong đó tập trung vào hai chức năng cơ bản là: (1) Kiến tạo môi trường luật pháp cho các hoạt động kinh tế và (2) Cung cấp dịch vụ công đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội

1.1.2 Quản lý hành chính nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm quản lý hành chính nhà nước

Quản lý hành chính nhà nước là một khái niệm có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, tùy theo mục đích và cách tiếp cận nghiên cứu

Theo cách sử dụng của các tổ chức quốc tế khi đề cập đến vấn đề quản lý hành chính nhà nước, thuật ngữ được sử dụng phổ biến là Public Administration Public Management, trong đó đề cập đến việc đó là “các bộ phận hành chính của Chính phủ được tổ chức như thế nào, xử lý thông tin và sản xuất ra các chính sách, pháp luật hoặc hàng hoá, dịch vụ” (Owen, 2003, tr.7) UNDP (2004, tr.1) sử dụng thuật ngữ Public Administration với quan niệm đó là “những biện pháp tổng hợp, gồm: chính sách, quy định, quy trình, hệ thống cơ cấu tổ chức nhân sự …do ngân sách nhà nước và chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo các công việc do chính phủ điều hành, tương tác của nó với các cơ quan liên quan khác trong xã hội và môi trường xung quanh”, đồng thời

Trang 33

“quản lý và thực hiện toàn bộ các hoạt động của chính phủ đối với việc thực hiện các luật, quy định và quyết định của Chính phủ và quản lý việc cung cấp các dịch vụ công cộng” Pollitt and Bouckaert (2011) cũng sử dụng thuật ngữ Public Management khi

đề cập đến quản lý hành chính nhà nước với những vấn đề liên quan đến hoạt động của

bộ máy Chính phủ trong việc phụ vụ và đáp ứng các nhu cầu của xã hội

Tiếp cận từ khái niệm và cách phân loại của quản lý nhà nước, QLHCNN được coi là một bộ phận của quản lý nhà nước Theo Mai Văn Bưu (2001) thì “quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)” và do vậy “quản

lý Nhà nước về kinh tế được gọi là quản lý hành chính-kinh tế” Điều này cho thấy, quản lý hành chính, hay QLHCNN là một bộ phận của quản lý nhà nước và QLHCNN, xét dưới sự tác động lên nền kinh tế, là sự thực thi quản lý nhà nước về kinh tế bởi cơ quan hành pháp của Nhà nước

Tài liệu ôn tập nghiệp vụ chuyên ngành (2011, tr.1) cho rằng “Trong quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính là hoạt động có vị trí trung tâm, chủ yếu Đây là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã hội” Cụ thể hơn nữa về khái niệm QLHCNN, tài liệu chỉ ra là: “Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con người và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống HCNN từ trung ương đến cơ sở tiến hành

để thực hiện những mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước” (Tài liệu ôn tập nghiệp vụ chuyên ngành, 2011, tr.1) Theo tài liệu Một số vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước (2015, tr.1) cũng khẳng định: “Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp” Như vậy, các tài liệu đều chỉ ra QLHCNN là một bộ phận của quản lý nhà nước, thực thi một trong ba chức năng quản lý lớn của nhà nước theo ba nhóm quyền lực cơ bản của nhà nước, đó là chức năng hành pháp Đồng thời cũng chỉ ra cụ thể hóa việc thực hiện QLHCNN thông qua hệ thống cơ quan hành pháp của nhà nước các cấp, từ trung ương đến địa phương để đạt được các mục tiêu của nhà nước đã xác định

Theo Diệp Văn Sơn (2004, tr.92) chỉ ra “Trong thuật ngữ quốc tế, hành chính nhà nước còn được gọi là hành chính công hoặc hành chính công quyền” và hành chính công có thể được hiểu là “hoạt động của nhà nước, của các cơ quan nhà nước

Trang 34

mang tính quyền lực nhà nước để quản lý công việc của Nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân” Trong thực tiễn, “Khái niệm hành chính công xuất hiện và được sử dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển mạnh”, “hành chính công là hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực công của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của các công dân” và như vậy “hành chính công bao gồm toàn bộ các cơ quan thuộc chính quyền của bộ máy hành pháp từ Trung ương tới các cấp chính quyền địa phương” (Nguyễn Ngọc Hiến, 2003, tr.9) Những năm gần đây, khái niệm này đã được sử dụng nhiều hơn ở Việt Nam và trong nhiều trường hợp được sử dụng thay thế cho khái niệm HCNN

Bên cạnh khái niệm hành chính công, khái niệm quản lý công cũng được sử dụng phổ biến hiện nay để chỉ về cùng một đối tượng tuy nhiên có sự khác nhau nhất định về nội hàm (tạm gọi chung là QLHCNN), thể hiện xu hướng phát triển trong quan niệm về QLHCNN Cần làm rõ cách hiểu các khái niệm này để việc sử dụng các thuật ngữ trong quá trình nghiên cứu được thống nhất Theo Bùi Trung Hải (2013) Hành

chính hay HCNN, hành chính công được dịch ra từ thuật ngữ tiếng Anh là Public

được sử dụng với nghĩa tương đương và ngày càng trở nên được sử dụng phổ biến thay

thế cho thuật ngữ Public Administration Mặc dù hai khái niệm này hết sức gần gũi và

được sử dụng thay thế cho nhau trong nhiều trường hợp nhưng bản chất có sự khác nhau nhất định Public Administration chỉ những việc tập trung vào quy trình, các trình

tự thủ tục và sự phù hợp, đúng đắn Public Management chỉ những việc liên quan đến nhiều lĩnh vực hơn, thay vì chỉ với các hướng dẫn kèm theo, còn phải tập trung vào việc đạt được kết quả và chịu trách nhiệm với việc làm đó Xu thế sử dụng thuật ngữ quản lý công để chỉ về hoạt động QLHCNN đang được sử dụng thay thế thuật ngữ hành chính công đã khẳng định sự thay đổi trong bản chất của HCNN theo hướng đạt tới mục tiêu, kết quả của hoạt động quản lý và cả chịu trách nhiệm về những kết quả đó Theo Phạm Đức Toàn (2015) thì hành chính công (public administration), quản lí công (public

đồng nhất với nhau và trong nhiều trường hợp, được sử dụng thay thế cho nhau

Như vậy, các khái niệm hành chính công, quản lý công, HCNN có sự tương đồng với khái niệm QLHCNN Về mặt nội hàm và mục tiêu, các khái niệm này đều đề cập đến việc thực thi trực tiếp vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu chung của xã hội cũng như phục vụ các công dân Nguyễn Hữu Hải (2010, tr.4) đã chỉ ra: "Hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành

Trang 35

pháp của nhà nước, đó là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội theo khuôn khổ pháp luật nhà nước nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội" Như vậy, nói đến QLHCNN hay HCNN hoặc hành chính công hay quản lý công đều có thể hiểu là đề cập đến việc thực thi chức năng quản lý của nhà nước thông qua các cơ quan hành pháp của nhà nước Với những cách hiểu và các tên gọi khác nhau như trên, trong Luận án này, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm hành chính công trong sự tương đồng với khái niệm HCNN và QLHCNN, hoặc khi đề cập đến khái niệm QLHCNN, với các nội hàm như

đã trình bày, cũng được hiểu tương đồng với khái niệm hành chính công theo cách gọi tên trong các nghiên cứu được đề cập và quản lý công là khái niệm tương đồng nhưng

ở mức độ phát triển cao hơn và là mục tiêu hướng đến của lĩnh vực Các khái niệm này đều được dùng để đề cập đến việc thực thi chức năng quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thông qua hoạt động của các cơ quan HCNN từ trung ương tới địa phương

1.1.2.2 Quan điểm về quản lý hành chính nhà nước hiện nay

Cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, trong

xã hội có những sự thay đổi, phát triển để phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn Những sự thay đổi này tất yếu dẫn đến những thay đổi trong quan điểm về quản

lý nhà nước cũng như QLHCNN đối với nền kinh tế Về lý luận cũng như thực tiễn, có những quan điểm khác nhau nhưng cùng thống nhất về một số điểm là :

phát trước hết từ yêu cầu về vai trò của nhà nước trong xã hội hiện nay phải chuyển từ

“cai trị” sang “phục vụ” Ngoài ra, sự phát triển của nền dân chủ ở các quốc gia, các xã hội đã đặt ra yêu cầu và áp lực đối với nhà nước trong việc phải nâng cao tính “phục vụ” đối với người dân cũng như toàn xã hội Theo Diệp Văn Sơn (2004, tr.94) “Hiện nay, vai trò của Nhà nước có sự chuyển hướng dần sang phục vụ nhân dân là chính, nhân dân trở thành khách hàng của Nhà nước” Nguyễn Như Phát (2004, tr.44) tiếp cận từ yêu cầu của cải cách HCNN đã chỉ ra “các cuộc cải cách hành chính trên thế giới ngày nay đều đặt ra yêu cầu giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, đưa Nhà nước đến gần nhân dân hơn thông qua việc phục vụ nhân dân tốt hơn” và

“thay vì một nhà nước cai trị, nhà nước hiện đại phải thiết lập một nền hành chính phục vụ hay dịch vụ” Chánh văn phòng Chính phủ (nay là phó Thủ tướng) Vũ Đức Đam (trích dẫn trong Khiết Hưng, 2011) đã khẳng định “Hoạt động của Chính phủ cũng đang chuyển từ quản lý sang phục vụ” Học viện Hành chính Quốc gia (2014, tr.27) đã khẳng định “xu hướng mới trong hoạt động của nhà nước: Nền hành chính không chỉ làm chức năng “cai trị” mà chuyển dần sang chức năng “phục vụ”, cung cấp

Trang 36

các dịch vụ công cho xã hội” Theo Bùi Trung Hải (2014): “yêu cầu cải cách hành chính công ở mọi nền kinh tế, tại mọi quốc gia không chỉ ở các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi để hướng đến một mục tiêu chung là xây dựng một nền hành chính công có hiệu lực hoạt động cao xét dưới góc độ phục vụ tốt cho sự phát triển kinh tế của quốc gia” Theo Học viện Hành chính Quốc gia (2014, tr.28) ghi nhận: “Mục tiêu tổng quát trong cải cách hành chính của tất cả các nước trên thế giới là hướng tới việc xây dựng một bộ máy hành chính gọn nhẹ hơn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn, hướng tới phục vụ tốt hơn cho các nhu cầu của mỗi công dân và cả xã hội” Tài liệu cũng khẳng định một xu thế trong cải cách QLHCNN là: “đưa tinh thần doanh nghiệp

và các yếu tố thị trường vào hoạt động của nhà nước, vận dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý doanh nghiệp vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt vào quản lý cơ quan hành chính nhằm nâng cao tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động hành chính” (Học viện Hành chính Quốc gia, 2014, tr.28) Ngân hàng Phát triển Châu Á (2003, tr.7) nhận định : “Nền hành chính cũng cần phải thoả mãn những nhu cầu của khu vực tư nhân đang phát triển trong nước, đáp ứng được mong đợi của người dân và cần có sử tham gia nhiều hơn, tính minh bạch và trách nhiệm cao hơn từ những cán bộ, công chức”

Như vậy có thể thấy rõ, từ việc thực hiện chức năng cai trị của nhà nước, theo

xu hướng phát triển và đòi hỏi của xã hội, nhà nước phải chuyển sang thực hiện chức năng phục vụ, từ đó, QLHCNN cũng có bước chuyển đổi tương ứng Điều này làm cơ

sở để cho các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan QLHCNN nói riêng thực hiện các cải cách để phù hợp cũng như điều chỉnh trong tổ chức và hoạt động nhằm thực hiện tốt các công việc trong phạm vi quyền hạn của mình, theo đúng bản chất và yêu cầu đối với sự tồn tại và hoạt động của cơ quan, tổ chức

hướng mục tiêu Từ sự thay đổi trong nhìn nhận về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế, nhà nước phải chuyển sang thực hiện việc hỗ trợ và đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho nền kinh tế phát triển đồng thời đạt được các mục tiêu xã hội Kết quả về phát triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã hội sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá về chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà nước, của việc thực hiện chức năng QLHCNN Các nghiên cứu về mô hình hành chính công hiện đại đã chỉ rõ xu thế chuyển đổi trong mô hình hành chính công ở các quốc gia trên thế giới, theo đó, mô hình quản lý công mới (New Public Management-NPM) hay mô hình Quản trị nhà nước tốt (Good Governance) đang là xu hướng và mục tiêu hướng tới trong việc cải cách và xây dựng HCNN ở các quốc gia (Nguyễn Hữu Hải, 2010) Owen (2003, tr.14)

Trang 37

đã nhận định “Một mô hình mới về quản lý công sử dụng những lý thuyết bắt nguồn từ kinh tế học và quản lý khu vực tư nhân đã thay thế và sẽ hoàn toàn thay đổi cung cách hoạt động của khu vực công Quản lý công trong thế kỷ tiếp theo sẽ không còn là bộ máy hành chính truyền thống cứng nhắc đã tồn tại trong phần lớn thế kỷ XX Quản lý công sẽ quan tâm đến các kết quả trên hết mọi thứ” Điều này cũng được ghi nhận ở Việt Nam qua cách nhìn nhận về yêu cầu đối với cải cách hành chính, theo Võ Kim Sơn (2007) thì “Cải cách hành chính là cải cách cả các yếu tố liên quan đến nền hành chính nhưng cần quan tâm nhiều hơn đến sự tác động của hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan HCNN ra bên ngoài đối với xã hội, người dân” Các nghiên cứu đều hội tụ đến điểm chung thống nhất là chỉ ra mục tiêu của chức năng QLHCNN, hay hoạt động của HCNN, là phải đảm bảo hướng tới đạt được kết quả một cách tốt nhất Kết quả ở đây là sự phát triển kinh tế nói riêng và đạt được đồng thời các mục tiêu phát triển nói chung, hay là đạt được sự mong muốn của người dân và xã hội

Như vậy, QLHCNN không chỉ nhằm thực hiện tốt chức năng bên trong mà cần phải thực hiện tốt các chức năng bên ngoài, định hướng và xu thế hiện nay đặt trọng tâm vào việc thực hiện tốt chức năng bên ngoài và hướng đến đạt được mục tiêu cuối cùng là kết quả trong phát triển kinh tế và xã hội Những kết quả đó là căn cứ để đánh giá về chất lượng và hiệu quả của QLHCNN cũng như làm cơ sở cho thực hiện các cải cách

Với những đòi hỏi của quá trình phát triển xã hội, theo xu thế phát triển của thế giới, QLHCNN có những định hướng điều chỉnh để phù hợp Những quan điểm này cho thấy QLHCNN có bước chuyển mạnh mẽ sang hướng lấy đối tượng khách hàng là trung tâm, đặt trọng tâm vào kết quả tác động của hoạt động, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả Điều này đưa ra những cơ sở cho cả việc nghiên cứu và công tác thực tiễn đối với QLHCNN Do vậy, QLHCNN cần đặt trọng tâm vào đối tượng quản

lý, và mục tiêu của quản lý là sự hài lòng của đối tượng được quản lý hay đối tượng được phục vụ

1.1.2.3 Đặc trưng của quản lý hành chính nhà nước hiện nay

Với những thay đổi trong nhìn nhận về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, thay đổi trong quan điểm về QLHCNN Điều này đòi hỏi ở mọi quốc gia đều phải thay đổi để xây dựng HCNN hướng tới mô hình phù hợp, thực thi QLHCNN phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập

Từ thực tiễn đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế cũng như xu thế phát triển trong lĩnh vực hành chính công, mô hình hành chính công truyền thống ở các quốc gia đang chuyển sang mô hình quản lý công mới Owen (2003) đã nhận định rằng mô hình

Trang 38

hành chính truyền thống cứng nhắc hiện nay không còn phù hợp cả trên phương diện

lý thuyết lẫn thực tế, một mô hình mới về quản lý công sử dụng những lý thuyết bắt nguồn từ kinh tế học và quản lý khu vực tư nhân đã thay thế và sẽ hoàn toàn thay đổi cung cách hoạt động của khu vực công Với sự thay đổi trong mô hình hành chính công bằng việc chuyển sang mô hình quản lý công mới hay mô hình chính phủ tốt, QLHCNN sẽ mang các đặc trưng của những mô hình này

Đối với mô hình quản lý công mới, những đặc trưng cơ bản của mô hình này, theo Nguyễn Hữu Hải (2010) là: Đơn giản hóa hệ thống quy định, quy tắc; Đẩy mạnh phân quyền; Áp dụng cơ chế thị trường và nhiều phương pháp quản lý hiện đại của doanh nghiệp vào HCNN; Xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp với những tiêu chuẩn và thước đo rõ ràng về thực thi công vụ; Tư nhân hóa một phần các hoạt động của Nhà nước đặc biệt là đối với các dịch vụ công;

Đối với mô hình quản trị nhà nước tốt, cũng theo Nguyễn Hữu Hải (2010), những đặc trưng cơ bản của mô hình này là: Huy động sự tham gia của các chủ thể trong xã hội vào hoạt động quản lý của Nhà nước; Quản lý theo các quy định của pháp luật; Tính công bằng, minh bạch; Sự thích ứng linh hoạt đối với sự thay đổi của môi trường quản lý; Sự định hướng và đồng thuận; Trách nhiệm báo cáo và giải trình; Hiệu lực và hiệu quả

Cả hai mô hình trên đều có những điểm ưu việt và phù hợp với QLHCNN hiện đại, được các quốc gia lựa chọn áp dụng Như vậy, QLHCNN hiện nay với các đặc trưng của hai mô hình hành chính hiện đại thể hiện những điểm đặc trưng mà tựu trung lại ở một số điểm đáng chú ý, đó là:

- Áp dụng các cơ chế thị trường trong hoạt động quản lý hành chính, điều đó cho thấy việc hướng tới khách hàng được thể hiện rõ nét và coi khách hàng (đối tượng quản lý, đối tượng phục vụ) là trung tâm Như vậy, sự thỏa mãn và hài lòng của khách hàng là tiêu chí và mục tiêu các hoạt động QLHCNN cần phải hướng đến

- Trách nhiệm giải trình và huy động sự tham gia của các chủ thể trong xã hội, điều đó cho thấy tính hướng đích và đảm bảo thực hiện mục tiêu, coi trọng sự tham gia

ý kiến và phản hồi thông tin từ đối tượng quản lý (hay phục vụ) đối với hoạt động QLHCNN

Để QLHCNN thực hiện được tốt theo quan điểm về hành chính công hiện đại,

cơ quan HCNN phải đảm bảo bốn trụ cột: (1) Trách nhiệm giải trình, (2) Tính minh

Trang 39

- Tính minh bạch là sự cho phép tiếp cận và cung cấp thông tin, các thông tin liên quan đến quá trình thực thi công vụ của cán bộ, công chức nhà nước, yêu cầu trước hết phải công khai các hoạt động công vụ, đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin của báo chí, công luận và người dân, trách nhiệm phải cung cấp thông tin cho công chúng được biết Tính minh bạch trong hành chính công bao gồm việc đảm bảo hai nội

dung: trách nhiệm cung cấp thông tin và quyền được tiếp cận thông tin

- Trách nhiệm giải trình là khả năng yêu cầu cán bộ, công chức nhà nước phải chịu

trách nhiệm về hành động của mình Theo đó, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, phải có trách nhiệm thực thi công việc được giao đạt kết quả và phải chịu hậu quả khi chưa làm tròn trách nhiệm Trách nhiệm giải trình là sự ràng buộc đối với lời hứa, hành động của cán bộ, công chức với kết quả công việc mình được giao và đã thực hiện Trách nhiệm giải trình bao gồm hai nội dung: năng lực giải trình và chịu trách nhiệm trước hậu quả xảy ra Trách nhiệm giải trình gồm cả đối với nội bộ và đối với bên ngoài

nhà nước phải có khả năng tiên liệu và định hướng các hành vi, các quá trình, các mối quan hệ xã hội; là khả năng biết trước và bảo đảm các điều kiện để thực thi pháp luật, chính sách của nhà nước một cách thống nhất và có hiệu quả

vào công việc quản lý của nhà nước và sự giám sát của công dân và xã hội đối với hoạt động quản lý nhà nước Đó là việc nhà nước mở rộng việc trao quyền cho các cá nhân

và xã hội Sự tham gia của công dân và xã hội vào quản lý nhà nước sẽ tạo nên một cơ chế giám sát hoạt động quản lý nhà nước Sự tham gia ở tập trung ở hai nhóm đối

tượng cơ bản là sự tham gia của các công chức cấp thấp trong quá trình hoạch định và thực thi các chính sách và sự tham gia của người dân và xã hội với tư cách là người

được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách của chính phủ

Hành chính nhà nước cần duy trì và củng cố đồng thời cả 4 trụ cột này để đảm bảo thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng đối với phát triển kinh tế

1.1.2.4 Chức năng quản lý hành chính nhà nước

Đề cập đến chức năng QLHCNN, có nhiều cách xác định tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu Theo Học viện Hành chính Quốc gia, cách phân loại chức năng HCNN phổ biến nhất là chia thành hai nhóm: chức năng bên trong và chức năng bên ngoài Trong đó “Chức năng bên ngoài bao gồm các hoạt động điều tiết các quan hệ kinh

tế - xã hội theo các quy định của nhà nước và cung cấp các dịch vụ công đáp ứng các nhu cầu thiết yếu phát triển xã hội” (Học viện Hành chính Quốc gia, 2014, tr.23) QLHCNN

Trang 40

khi xem xét dưới góc độ chức năng bên ngoài, sẽ gồm hai chức năng cơ bản là: (1) Điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội và (2) Cung cấp các dịch vụ công đáp ứng các nhu cầu thiết yếu phát triển xã hội Trong đó, chức năng điều tiết xã hội thể hiện nội dung quản lý của nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực và các tổ chức, cá nhân hoạt động trong các ngành, lĩnh vực trong xã hội, là sự điều tiết của nhà nước đối với các hoạt động của các đối tượng trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội để các hoạt động này đi theo đúng hướng, mục tiêu của nhà nước; còn chức năng cung cấp dịch vụ công là một trong những chức năng chủ yếu của nhà nước nhằm đảm bảo các dịch vụ thiết yếu phục vụ quá trình quản lý nhà nước và phát triển xã hội (Học viện Hành chính Quốc gia, 2014)

QLHCNN, với tư cách là hoạt động thực thi quyền lực, chức năng quản lý của nhà nước đối với xã hội và nền kinh tế thông qua hoạt động của hệ thống cơ quan HCNN sẽ tác động đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, lãnh thổ Phù hợp với quan điểm của Lương Xuân Quỳ về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước (2006, tr.69), QLHCNN có hai chức năng hướng ngoại cơ bản trong quản lý kinh tế cụ thể là:

nhà nước đối với các hoạt động của các đối tượng trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội để các hoạt động này đi đúng hướng, mục tiêu xác định của nhà nước Chức năng này được xác định bao gồm những nhiệm vụ chủ yếu như: lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; ban hành và đề xuất các quy định pháp luật; quản lý, giải thích và áp dụng các quy phạm pháp luật để quản lý, điều chỉnh các hành vi của các đối tượng trong xã hội; thực hiện cưỡng chế hành chính đối với các vi phạm…Thực thi chức năng này, QLHCNN đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, bình đẳng cho các chủ thể cùng tham gia hoạt động một cách tự do trong đó và hướng đến đạt được các mục tiêu xác định, thống nhất Bên cạnh đó, chức năng này cũng xác định QLHCNN

có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn để việc thực thi các hoạt động quản lý được thống nhất theo các quy định chung, hướng đến đạt được mục tiêu một cách hiệu quả Như vậy, thông qua tổ chức và hoạt động của các cơ quan HCNN, mối tương tác giữa

cơ quan HCNN với các chủ thể trong xã hội, QLHCNN thực thi chức năng tạo lập một môi trường cho các chủ thể trong xã hội hoạt động trên các lĩnh vực, trong đó hoạt động kinh tế là trung tâm Mục tiêu hướng đến của hoạt động quản lý này là tạo lập một môi trường bình đẳng cho tất cả các chủ thể hoạt động để đảm bảo môi trường cạnh tranh, tính hiệu quả trong hoạt động và đạt được các mục tiêu phát triển

phát triển của xã hội Đây là một chức năng quan trọng của Nhà nước nói chung và QLHCNN nói riêng, không chỉ đối với xã hội mà còn đối với chính Nhà nước “Chất

Ngày đăng: 25/07/2016, 22:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (2006), Báo cáo phát triển Việt Nam 2007, Hà Nội. tr.168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2007
Tác giả: Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam
Năm: 2006
2. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam ( 2009), Báo cáo phát triển Việt Nam 2010, Hà Nội. tr.iv Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2010
3. Bùi Trung Hải (2014), ‘Gợi ý giải pháp hoàn thiện nền hành chính nhà nước cấp tỉnh theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương-nghiên cứu điển hình tại Bắc Giang’, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Xây dựng nền Hành chính nhà nước hiện đại: Bước độ phá chiến lược, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.27-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Xây dựng nền Hành chính nhà nước hiện đại: Bước độ phá chiến lược
Tác giả: Bùi Trung Hải
Năm: 2014
4. Bùi Trung Hải (2013), ‘Giải pháp thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước để hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2013-2015 và thời kỳ tiếp theo’, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế Nhìn lại nửa chặng đường phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và những điều chỉnh chiến lược, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.337-354 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế Nhìn lại nửa chặng đường phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và những điều chỉnh chiến lược
Tác giả: Bùi Trung Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2013
5. Bùi Trung Hải và Đỗ Đức Bình (2011), ‘Một số ý kiến về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay’, Tạp chí Kinh tế Phát triển, số 172, tập II, tr.13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế Phát triển
Tác giả: Bùi Trung Hải và Đỗ Đức Bình
Năm: 2011
6. Bùi Trung Hải (2014), Lựa chọn phương pháp đo lường mức độ phù hợp của nền hành chính cấp tỉnh ở Việt Nam, Đề tài cơ sở, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn phương pháp đo lường mức độ phù hợp của nền hành chính cấp tỉnh ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Trung Hải
Năm: 2014
7. Bộ Nội vụ (2012), Quyết định số 1383/QĐ-BNV phê duyệt Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước”, ban hành ngày ngày 28 tháng 12 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1383/QĐ-BNV phê duyệt Đề án "“"Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2012
8. Bộ Nội vụ (2015), Báo cáo kết quả xác định chỉ số cải cách hành chính – PAR Index các năm 2012, 2013, 2014, truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015, từ http://www.moha.gov.vn/danh-muc.html?cateid=560 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả xác định chỉ số cải cách hành chính – PAR Index các năm 2012, 2013, 2014
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2015
9. Chính Phủ (2004), Nghị quyết 08/2004/NQ-CP về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08/2004/NQ-CP về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2004
11. Chính Phủ (2011), Nghị quyết số 30c/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020, ban hành ngày 08 tháng 11 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 30c/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2011
12. ‘Chi tiết Bắc Giang‘ (2015), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015, từ http://pcivietnam.org/bac-giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Tác giả: ‘Chi tiết Bắc Giang‘
Năm: 2015
13. ‘Bảng xếp hạng‘ (2015), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015, từ http://pcivietnam.org/bang-xep-hang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Tác giả: ‘Bảng xếp hạng‘
Năm: 2015
14. ‘Báo cáo PCI‘ (2015), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015, từ http://pcivietnam.org/bao-cao-pci-c17.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Tác giả: ‘Báo cáo PCI‘
Năm: 2015
15. Diệp Văn Sơn (2004), “Phân biệt hành chính công và dịch vụ công-nhận diện dịch vụ công của một số sở, ngành, quận, huyện”, trong Chu Văn Thành (Chủ biên), Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt hành chính công và dịch vụ công-nhận diện dịch vụ công của một số sở, ngành, quận, huyện”, trong Chu Văn Thành (Chủ biên), "Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Diệp Văn Sơn
Nhà XB: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
16. Doãn Công Khánh (2013), Kinh tế - xã hội Việt Nam nhìn từ bảng xếp hạng và các chỉ số, truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015, từhttp://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2013/22502/Kinh-te-xa-hoi-Viet-Nam-nhin-tu-bang-xep-hang.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - xã hội Việt Nam nhìn từ bảng xếp hạng và các chỉ số
Tác giả: Doãn Công Khánh
Năm: 2013
18. Đinh Văn Mậu, Lê Sĩ Thiệp, Nguyễn Trịnh Kiểm và cộng sự (2010), Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên chính: Phần III, Quản lý Nhà nước đối với ngành lĩnh vực, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên chính: Phần III, Quản lý Nhà nước đối với ngành lĩnh vực
Tác giả: Đinh Văn Mậu, Lê Sĩ Thiệp, Nguyễn Trịnh Kiểm và cộng sự
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2010
19. Đỗ Thành Nam (2015), Bắc Giang: Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2015, từ http://baobacgiang.com.vn/bg/kinh-te/149523/bac-giang--no-luc-cai-thien-moi-truong-dau-tu--nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cap-tinh.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Giang: Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Tác giả: Đỗ Thành Nam
Năm: 2015
20. Edmund Malesky và cộng sự (2010), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2010, Báo cáo Nghiên cứu chính sách - USAID/VNCI, số15, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2010
Tác giả: Edmund Malesky và cộng sự
Năm: 2010
17. Đặng Đức Đạm (2015), Một số vấn đề về đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam, http://www.vnep.org.vn/Modules/CMS/Upload/2/Dich%20vu%20cong%20-Bao%20cao%20anh%20Dam.pdf Link
32. Một số vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước, truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015 tại http://voer.edu.vn/m/dai-cuong-ve-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc/fe6880ff Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Nội hàm khái niệm dịch vụ công - Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang
Hình 1.1 Nội hàm khái niệm dịch vụ công (Trang 42)
Bảng 1.1: Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh - Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang
Bảng 1.1 Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh (Trang 52)
Hình 2.1: Vị trí tỉnh Bắc Giang trong khu vực phía Bắc - Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang
Hình 2.1 Vị trí tỉnh Bắc Giang trong khu vực phía Bắc (Trang 69)
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu giai đoạn 2011-2015 - Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu giai đoạn 2011-2015 (Trang 72)
Bảng 2.2: Các cơ quan HCNN cấp tỉnh của Bắc Giang - Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang
Bảng 2.2 Các cơ quan HCNN cấp tỉnh của Bắc Giang (Trang 79)
Bảng 2.7: Xếp hạng theo các trục của PAPI tỉnh Bắc Giang năm 2011-2013 - Quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tế ở Bắc Giang
Bảng 2.7 Xếp hạng theo các trục của PAPI tỉnh Bắc Giang năm 2011-2013 (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w