Sơn La là vựa ngô lớn của nước ta, sau mỗi vụ thu hoạch ngô lượng cơ chất như lõi ngô dư thừa khá lớn, người dân thường sử dụng làm chất đốt, làm thức ăn gia súc, làm tàn dư che phủ đất chưa sử dụng được tối đa sản phẩm từ nông nghiệp. Mặt khác việc trồng thử nghiệm nấm Sò trên cơ chất lõi ngô cho năng suất cao hơn, thời gian thu hoạch lâu hơn so với rơm rạ, bông phế thải. Chính vì vậy, để mở ra hướng đi mới trong nông nghiệp và tăng thêm thu nhập cho người dân Tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung thì việc nuôi trồng nấm ăn phải được chú trọng đưa vào sản xuất phổ biến và chuyên sâu bởi hiện nay sản phẩm nấm ăn vẫn chưa đủ cung cấp cho thị trường nội địa, giá thành khá cao và ổn định. Nấm Sò dễ thích nghi với nhiều kiểu khí hậu, có hai loại nấm Sò là nhóm nấm Sò chịu nóng (24 – 28oC) và nhóm nấm Sò chịu lạnh (13 20oC). Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất đới với người dân trồng nấm là nguồn giống nấm. Những vùng thuận tiện giao thông đi lại, gần trung tâm thì việc cung cấp và vận chuyển giống nấm dễ dàng, ngược lại ở khu vực vùng sâu, vùng xa trong quá trình vận chuyển giống nấm có thể bị dập nát khi cấy giống không đảm bảo chất lượng giống, chưa kể đến chất lượng gống chưa cao bị nhiễm nấm bệnh gây thiệt hại về kinh tế, cũng do một trong những nguyên nhân này mà một số đề tài nghiên cứu Khoa học của sinh viên khoa Nông Lâm gặp khó khăn, phải phụ thuộc vào giống nấm ở các cơ sở sản xuất nên tiến độ đề tài chậm lại, kết quả thí nghiệm độ chính xác chưa khả quan.Việc phân lập và nhân giống nấm Sò có quy trình tiến hành khá đơn giản, dễ làm. Hơn nữa, hiện nay phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm đã được trang bị đầy đủ thiết bị phục vụ được cho quá trình phân lập và nhân giống nấm Sò. Nhằm đáp ứng nhu cầu giống nấm cho người dân tại địa phương và các vùng lân cận, đặc biệt là chủ động được nguồn giống cho công tác nghiên cứu Khoa học của sinh viên Khoa Nông Lâm được thuân lợi hơn. Tôi quyết định chọn đề tài : “Thử nghiệm phân lập và nhân giống nấm Sò (Pleurotus florida) tại phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm Trường Đại học Tây Bắc Huyện Thuận Châu Tỉnh Sơn La”.
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp đã có truyền thống từ bao đời nay,nền nông nghiệp ngày càng phát triển cùng với quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa Năng suất các sản phẩm nông nghiệp tăng lên đáng kể và trởthành nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo Sản phẩm nôngnghiệp càng tăng cao thì việc sử dụng hợp lý hơn các chất phế thải từ nôngnghiệp như rơm rạ, lõi ngô, thân cây ngô… ngày càng được chú trọng nhằm
sử dụng tối đa sản phẩm và giảm thiểu việc gây ô nhiễm môi trường
Sơn La là vựa ngô lớn của nước ta, sau mỗi vụ thu hoạch ngô lượng cơchất như lõi ngô dư thừa khá lớn, người dân thường sử dụng làm chất đốt, làmthức ăn gia súc, làm tàn dư che phủ đất chưa sử dụng được tối đa sản phẩm từnông nghiệp Mặt khác việc trồng thử nghiệm nấm Sò trên cơ chất lõi ngô chonăng suất cao hơn, thời gian thu hoạch lâu hơn so với rơm rạ, bông phế thải.Chính vì vậy, để mở ra hướng đi mới trong nông nghiệp và tăng thêm thunhập cho người dân Tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung thìviệc nuôi trồng nấm ăn phải được chú trọng đưa vào sản xuất phổ biến vàchuyên sâu bởi hiện nay sản phẩm nấm ăn vẫn chưa đủ cung cấp cho thịtrường nội địa, giá thành khá cao và ổn định
Nấm Sò dễ thích nghi với nhiều kiểu khí hậu, có hai loại nấm Sò lànhóm nấm Sò chịu nóng (24 – 28oC) và nhóm nấm Sò chịu lạnh (13 -20oC).Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất đới với người dân trồng nấm lànguồn giống nấm Những vùng thuận tiện giao thông đi lại, gần trung tâm thìviệc cung cấp và vận chuyển giống nấm dễ dàng, ngược lại ở khu vực vùngsâu, vùng xa trong quá trình vận chuyển giống nấm có thể bị dập nát khi cấygiống không đảm bảo chất lượng giống, chưa kể đến chất lượng gống chưacao bị nhiễm nấm bệnh gây thiệt hại về kinh tế, cũng do một trong những
Trang 2nguyên nhân này mà một số đề tài nghiên cứu Khoa học của sinh viên khoaNông Lâm gặp khó khăn, phải phụ thuộc vào giống nấm ở các cơ sở sản xuấtnên tiến độ đề tài chậm lại, kết quả thí nghiệm độ chính xác chưa khả quan.
Việc phân lập và nhân giống nấm Sò có quy trình tiến hành khá đơngiản, dễ làm Hơn nữa, hiện nay phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm đã đượctrang bị đầy đủ thiết bị phục vụ được cho quá trình phân lập và nhân giốngnấm Sò Nhằm đáp ứng nhu cầu giống nấm cho người dân tại địa phương vàcác vùng lân cận, đặc biệt là chủ động được nguồn giống cho công tác nghiêncứu Khoa học của sinh viên Khoa Nông Lâm được thuân lợi hơn Tôi quyết
định chọn đề tài : “Thử nghiệm phân lập và nhân giống nấm Sò (Pleurotus
florida) tại phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm Trường Đại học Tây Bắc Huyện Thuận Châu - Tỉnh Sơn La”.
- Tuân thủ đúng các nguyên tắc và các bước trong quá trình nuôi cấy
- Theo dõi các chỉ tiêu liên quan ở mỗi giai đoạn
- Đánh giá được một số chỉ tiêu liên quan đến chất lượng giống
Trang 3PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm và sợi nấm, vai trò của giống nấm
2.1.1 Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm
Bào tử của các loại nấm ăn, nấm dược liệu không chỉ khác nhau về màusắc, kích thước mà còn có thể rất khác nhau về hình thái cấu tạo, nhất là cấutạo bề mặt của bào tử [2]
Nấm có nhiều loại, bào tử nấm của các loại nấm Sò cũng khác nhau vềmàu sắc, hình dạng và khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ Trong điềukiện tự nhiên, vào giai đoạn sinh trưởng, thành nấm Sò sẽ phát tán bào tử nhờgió, bào tử rải ra khắp mọi nơi, gặp điều kiện môi trường thích hợp sẽ hìnhthành hệ sợi nấm sơ cấp với một nhân Hệ sợi nấm sơ cấp phát triển đầy đủtạo nên một mạng rời để hình thành hệ sợi nấm thứ cấp, sau đó có sự kết hợpcủa hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể nấm hoàn chỉnh [2]
Căn cứ vào màu sắc của bào tử người ta chia các loại nấm ăn ra thành 5nhóm:
- Nhóm bào tử màu trắng (Lentinus edodes, Pleurotus ostreatus ).
- Nóm bào tử màu đỏ (Volvariella volvacea…).
- Nhóm bào tử màu nâu (Agaricus bisporus, Agaricus bitosquis…).
- Nhóm bào tử màu tím (Stropharia semiglobata, Naematoloma
Sublateritium…).
- Nhóm bào tử màu đen (Coprinus atramentarius, Gomphidius
viscidus…) [2].
2.1.2 Đặc điểm sinh học, hình thái của sợi nấm
Chia làm 2 giai đoạn:
+ Hình thái thể sợi nấm
+ Hình thái thể quả
Trang 4* Hình thái thể sợi nấm:
Nấm ăn có cấu tạo chủ yếu là hệ sợi nấm Các sợi nấm ăn có dạng ốngtròn, đường kính khoảng 2 – 4 µm
Trong sợi nấm có vách ngăn, giữa các vách ngăn có lỗ thông để trao
đổi chất nguyên sinh và thông tin Sợi nấm còn gọi là khuẩn ty (hypha), hệ sợi nấm còn được gọi là khuẩn ty thể (mycelium) Khoảng cách giữa hai vách ngăn ngang khoảng 3 - 10µm được gọi là tế bào (Cell).
Sự hình thành sợi nấm: Khi bào tử nảy mầm, hình thành ống mầm rồiphân nhánh thành sợi nấm, phát triển thành mạng sợi lan khắp nơi trên cơchất để hút dinh dưỡng
Sợi nấm có thể phát triển từ bào tử hay từ một đoạn hệ sợi nấm Bào tửnảy mầm theo nhiều hướng khác nhau, sợi nấm phân nhánh nhiều lần tạo nênmột mạng hệ sợi nấm dày chằng chịt và thường có màu trắng [2]
* Hình thái quả thể:
Quả nấm hay quả thể (fruit body) là cơ quan sinh sản, cũng tức là cơ
quan sinh bảo tử của các loại nấm bậc cao Đó chính là phần thu hái để ăn củacác loại nấm ăn Tùy loại nấm mà quả nấm có hình thái cấu tạo, màu sắc, kíchthước không giống nhau [2]
Quả thể nấm bao gồm: Cuống nấm, mũ nấm, phiến nấm
- Mũ nấm: Là phần trên của quả nấm, phía trên thường hơi lõm Mũ
nấm mọc trên cuống nấm (stipe), mặt dưới của mũ nấm có rất nhiều phiến nấm (gill, lamellae) có kích thước khác nhau.
Hình dạng: Mũ nấm thường có dạng mép phẳng, dạng mép lồi lõm,dạng hình tròn, dạng phễu, dạng chiếc ô, dạng mép cuốn lên, dạng bánnguyệt, dạng vỏ sò…
Trang 5- Phiến nấm: Là mặt dưới của mũ nấm Hình dạng khác nhau: Dạngmép trơn nhẵn, dạng mép răng cưa, dạng mép lượn sóng, dạng tỏa cong, dạngtỏa thẳng, dạng tỏa vươn lên…có độ dài ngắn khác nhau.
- Cuống nấm: Cuống nấm có thể nằm chính giữa mũ nấm, nằm lệchtâm hoặc nằm ở một bên có hình dạng khác nhau: Hình viên trụ, hình chùy,hình cong, hình con thoi, hình sợi mảnh…
Cuống nấm có thể nhẵn, có lông tơ hoặc vẩy, có thể rỗng hoặc là chắc.Ngoài ra trên cuống nấm có khi có vòng nấm, ở gốc cuống nấm có bao nấm.Nấm sò mọc tập chung thành từng cụm, khi già phát tán thành bào tử, nhiềunước dập nát Ngoài ra nấm cò hình thái biến dị như: San hô, cuống dài… [2]
2.1.3 Vai trò của giống nấm
Giống nấm là yếu tố quyết định nhất trong sản xuất, giống nấm tốt đòihỏi các yêu cầu sau:
- Thuần nhất (không lẫn các giống khác)
- Không có mầm bệnh (do nhiễm tạp, sâu bệnh…)
- Hiệu quả kinh tế (nước, khả năng kháng bệnh, giá trị thương phẩm…)Trong thực tế, việc sản xuất giống nấm là một khâu đặc biệt quan trọngtrong toàn bộ quá trình nuôi trồng, quyết định đến sản lượng và chất lượngcủa nấm làm ra Giống tốt không những mọc nhanh và mạnh trên nguyên liệunuôi trồng chống chịu được các mầm bệnh mà còn có nước cao, giá trị thương
phẩm tốt, chậm thoái hoá [2].
2.1.4 Các giống nấm phổ biến
Trên thế giới, nghề trồng nấm đang phát triển mạnh và rộng khắp nhất
là trong 20 năm trở lại đây, 8 loài nấm ăn trồng phổ biến (bao gồm: Nấm Mỡ,Nấm Trắng, Nấm Đông cô, Nấm Rơm, Nấm Kim châm, Nấm Bào ngư, NấmTrân châu, Nấm Mèo, Nấm Tuyết chỉ) và hơn 50 loài nấm khác đang đưa vào
sản xuất [5].
Trang 6Ở Việt Nam, các loại giống nấm được nuôi trồng từ nhiều nguồn khácnhau, một số giống nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, NhậtBản…một số khác sưu tầm trong nước Ngoài các giống nấm phổ biến như:Nấm Sò, Nấm Mỡ, Mộc Nhĩ, Nấm Rơm…thì ở nước ta còn được trồng phổbiến các loại nấm Sò:
- Nấm Sò màu hồng đào (Pleurotus salmoneo stramineus L Vass).
- Nấm Sò hoàng bạch (Pleurotus cornucopiae Roll).
- Nấm Sò kim đỉnh (Pleurotus citrinopileatus Sing)
- Nấm Sò tím (Pleurotus ostreatus Quél) [3].
2.1.5 Giá trị của nấm sò
Nấm Sò không chỉ ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao Trongnấm Sò khô lượng Protein chứa khoảng 20% Trong Protein này có đầy đủ
8 loại axit amin không thay thế và một lượng lớn Vitamin [3].
Lượng chứa một số Vitamin của nấm Sò tính trên 100g nấm khô nhưsau:
Bảng 1: Hàm lượng Vitamin của nấm Sò trên 100g nấm Sò khô
Axit nicotinic
Vitamin B12
Axit pantoteni c
Trang 7Nấm Sò chứa một lượng đáng kể các nguyên tố vi lượng được thể hiệntrong bảng sau:
Bảng 2: Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong 100g nấm Sò khô
thư…[3].
Trong thực tế gặp rất nhiều chủng nấm Sò thích ứng khác nhau vớinhiệt độ môi trường như: Loại ưa lạnh (nhiệt độ thích hợp nhất 8 -13oC), loạichịu rét (nhiệt độ thích hợp 10 -18oC), loại ưa ấm (nhiệt độ thích hợp 12 –
22oC), loại thích nghi khá rộng (12 – 24oC), loại thích nghi rộng (15 -25oC),loại ưa nhiệt (20 – 35oC) [1] Tùy từng điều kiện thời tiết, mùa vụ và tùy
từng vùng sinh thái khác nhau để trồng các loại nấm thích hợp Trồng nấm
sò mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, giúp tăng thêm thu nhập cho người dân
và bổ sung thêm nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng hàng ngày
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước
Trang 8Ngành sản xuất nấm ăn trên thế giới đã phát triển nhanh và mạnh mẽ.Trong đó phải kể đến Trung Quốc là nước có nghề trồng nấm từ xa xưa (cáchđây khoảng 5000 – 4000 năm trước Công nguyên) những cư dân nguyên thuỷcủa Trung Quốc đã biết thu lượm và sử dụng nhiều loại nấm ăn từ thiênnhiên Cho đến nay, tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% tổngsản lượng nấm ăn trên thế giới bao gồm nhiều loại nấm như: Nấm Hương,Nấm Rơm, Nấm Mỡ, Mộc Nhĩ, Linh Chi…Hàng năm Trung Quốc xuất khẩuhàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ba Lan
[5].
Thống kê năm 1990, tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới đạt3.763.000 tấn trong đó các loại nấm được nuôi trồng chủ yếu như: Trong
đó nấm Mỡ là 1.424.000 tấn, nấm hương là 393.000 tấn Năm 1994 tổngsản lượng nấm trên thế giới lên tới 4.909.000 tấn… Trong đó các nước sảnxuất nấm chủ yếu là Trung Quốc 2.850.000 tấn (chiếm 53.79% tổng sảnlượng nấm ăn trên thế giới), Hoa Kỳ 393.400 tấn (chiếm 7.61%), Nhật Bản
360.100 tấn (chiếm 7.34%), Pháp 185.000 tấn [5]
Hiện nay các nước trên thế giới đang tập chung nghiên cứu và pháttriển mạnh mẽ các công trình nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu Khu vựcbắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp là chính.Những nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 - 1000 tấn/năm được cơgiới hoá cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái chế biến do máy móc thựchiện năng suất nấm trung bình của các nước này đạt 40 - 60% so với nguyên
liệu ban đầu (nấm Mỡ, nấm Sò) [5].
Khu vực Châu Á triển khai sản xuất nấm theo mô hình vừa và nhỏ.Nghề trồng nấm của khu vực này cũng phát triển mạnh mẽ, một số loạinấm ăn được nuôi trồng khá phổ biến như: Nấm Hương, nấm Sò, Mộc Nhĩ,
Trang 9Nấm Mỡ Bắt đầu từ những năm 90 tại đây đã phát triển toàn diện và tậptrung quy mô nghiên cứu về sinh vật, di truyền học phòng trừ sâu bệnh hại
và chế biến dược phẩm từ nấm Ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự
đi vào từng hộ nông dân, sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốclớn nhất thế giới, Trung Quốc được coi là nước sản xuất và xuất khẩu vớisản lượng lớn nhất, năm 1995 có sản lượng là 3.000.000 tấn, chiếm 60%tổng sản lượng thế giới Đồng thời Trung Quốc cũng là nước suất khẩu
nấm nhiều nhất với khoảng 1.5 triệu tấn sản phẩm trên một năm [5].
Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, ĐàiLoan và các nước Châu Âu… Tổng sản lượng nấm ăn trên thị trường thế giớivào khoảng 20 triệu tấn sản phẩm trên một năm và đang có xu hướng tăng.Mức tiêu thụ nấm bình quân tính theo đầu người của Châu Âu, Châu Mỹkhoảng 2 - 3 kg/năm Nhật, Đức khoảng 4 - 5 kg/năm Dự kiến mức tiêu thụnày trong tương lai sẽ tăng với mức 3.5% /năm Trên thị trường Châu Âu nấm
Mỡ chiếm 80 - 95%, Mộc Nhĩ khoảng 10% thị trường [5].
2.2.2 Tình hình ngiên cứu trong nước
Từ những năm 70 của thế kỷ 20 vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ănđược bắt đầu Đến năm 1984 thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn tại
trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội [5].
Năm 1985 và 1986 tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh thành lập trung tâm sản xuất nấm thương mại – HàNội (sau này đổi thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà
Nội) và thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh [5].
Cũng trong khoảng thời gian này một số đơn vị sản xuất nấm kháccũng được thành lập như: Công ty nấm Thanh Bình (Thái Bình), Xí nghiệpnấm (Tổng công ty Rau Quả Việt Nam - VEGETEXCO), các Công ty Liên
doanh sản xuất và Chế biến nấm ở Cần Thơ, Đà Lạt [5].
Trang 10Đến nay nghề trồng nấm đang dần đi sâu vào từng vùng từng hộ nôngdân ở nước ta, được phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước từ Bắcvào Nam, với những thành công thu được đáng kể, với công nghệ nuôi trồngcũng được cải thiện rõ rệt, năng suất được nâng lên [5].
Miền Bắc nấm được trồng nhiều ở các tỉnh như: Thái Bình, Ninh Bình,Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội Hiện nay các nhà khoa học đã có trong taymột số lượng lớn khá phong phú về các giống nấm và công nghệ nuôi trồng
nấm thông qua các quá trình nghiên cứu và trao đổi quốc tế [5].
Về giống nấm: Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều giống nấmkhác nhau, nhưng hiện nay nước ta đang tập chung phát triển một số loại nấmchính là nấm Rơm, nấm Sò, Mộc Nhĩ, nấm Mỡ, nấm Hương, nấm Linh Chi.Với điều kiện khí hậu từng vùng khác nhau có thể nói nước ta trồng được nấmquanh năm, nước ta có một số Trung tâm sản xuất giống nấm có uy tín như:Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Trung tâm Công Nghệ Sinh Học Ứng Dụng –Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Sinh học - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ
Chí Minh [5].
Các giống nấm đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồngiống khác nhau, một số giống nấm nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc,Italia, Nhật Bản…Một số khác thì được sưu tầm trong nước
Về năng suất và sản lượng: Năng suất tính theo các loại nấm khác nhau
là rất khác nhau Nấm sò có năng suất cao nhất đạt trung bình 700 kg nấmtươi/1000 kg nguyên liệu khô, Mộc Nhĩ 600 kg, nấm Hương 500 kg, nấm Mỡ
200 kg, nấm Rơm 100 kg, cuối cùng là nấm Linh Chi 75 kg Nhìn chung năngsuất nấm của nước ta chỉ bằng 50 – 70 % với năng suất bình quân trên thếgiới Còn về sản lượng với sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoàinước, cũng như sự mở rộng thị trường, tổng sản lượng nấm các loại được sảnxuất ở nước ta hiện nay khoảng 100.000tấn/năm Trong đó xếp theo thứ tự
Trang 11giảm dần giữa các loại nấm là: Nấm Rơm, Mộc Nhĩ, nấm Sò, nấm Mỡ, Linh
Chi và nấm Hương [5].
Về quy mô sản xuất: Nhìn chung hầu hết các tỉnh trong cả nước hiệnnay đều bắt đầu sản xuất nấm nhưng đều với quy mô nhỏ lẻ, quy mô hộ giađình Những vùng có sẵn các thiết bị như: Máy băm rơm, hệ thống phun mù,máy nghiền lõi ngô, máy đảo ủ nguyên liệu…còn rất hạn chế Số cơ sở sảnxuất nấm tập chung còn chiếm rất ít từ 3 – 5 % tổng số đơn vị tham gia sản
xuất trong cả nước [5].
Về vấn đề chế biến và tiêu thụ: Hiện nay ngoài khoảng 50 % sản lượngđược tiêu thụ dưới dạng tươi, nấm còn được chế biến thành các loại sản phẩmnhư sấy khô (chiếm khoảng 20 % sản lượng nấm các loại) nhưng chủ yếu tậpchung vào nấm Hương và Mộc Nhĩ, nấm Muối (chiếm 20 % tổng sản lượng
giá cao hơn [5]
2.2.3 Tình hình nghiên cứu ở Sơn La
Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam đồng thời là vựangô lớn của nước ta, nguồn phế phẩm nông nghiệp dùng để trồng nấm rấtphong phú vì người dân đa số sống bằng nghề nông (số dân sống ở nông thôn
Trang 12là 853.265 người chiếm 82% dân số trong tỉnh), thu nhập bình quân đầungười chưa cao Đồng thời đây là khu vực có khí hậu rất thuận lợi cho sự pháttriển nghề trồng nấm Có ẩm độ cao (trung bình 80%), nhiệt độ khá ổn định(trung bình 26.7o C).
Nguyên liệu dùng để trồng nấm tại nơi đây rất sẵn có Tính đến năm
2003 diện tích đất nông nghiệp của Sơn La chiếm 191.828ha Trong đó diệntích trồng lúa chiếm 38.465ha, diện tích trồng ngô chiếm 64.664ha Nhữngnguồn nguyên liệu này có thể tận dụng vào nuôi trồng nấm để mang lại giá trịkinh tế cao, giúp tạo công ăn việc làm cho bà con nông dân
Người dân ở đây đã biết trồng nấm từ rất lâu, rất nhiều người đã tự đihọc hỏi nghề trồng nấm từ ở nơi xa về để phát triển kinh tế gia đình, cácgiống nấm được trồng chủ yếu ở đây là nấm Sò và mộc Nhĩ, nấm Rơm Trong
đó chủ yếu người dân trồng nấm Sò, loại nấm này dễ trồng, năng suất cao vànguồn nguyên liệu sẵn có Trong mấy năm gần đây việc trồng thử nghiệmnấm Sò trên cơ chất lõi ngô đã mang lại kết quả rất khả quan, trồng nấm Sòtrên cơ chất lõi ngô mang cho năng suất cao, thời gian cho thu hoạch lâu hơntrên bông phế thải, trên rơm rạ
Tại Sơn La có một xí nghiệp sản xuất giống nấm chất lượng tốt cungcấp giống nấm cho tỉnh và các tỉnh lân cận, ngoài ra trung tâm còn kết hợpvới Trung tâm Khuyến nông tỉnh đi về các huyện mở lớp hướng dẫn nuôitrồng chăm sóc các loại nấm Nguồn giống nấm được cung cấp tại Sơn La chủyếu từ 2 nguồn:
- Xí nghiệp sản xuất giống nấm và chế biến nấm xuất khẩu Sơn La
- Trung tâm Công nghệ sinh hoc thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp
Hà Nội
Hai trung tâm này chủ yếu cung cấp các loại giống nấm sau:
1 Nấm Rơm (Volvariall volvaceae).
Trang 132 Nấm Mỡ (Agaricus bisporus).
3 Nấm sò (Pleurotus spp).
4 Mộc nhĩ (Auricularria spp).
5 Nấm Hương ( Letunus edodes).
6 Nấm linh chi (Ganoderma lucidum).
Nấm sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ dang nấm tươi cung cấp cho các chợđịa phương, tại các chợ nội Thành Phố nơi tập chung đông dân cư hay tại cácchợ thị trấn như: Chợ Trung tâm, chợ bệnh viện, chợ bến xe khách, chợ Quyếtthắng Ngoài hình thức tiêu thụ nấm tươi thì tại xí nghiệp nấm Sơn La cònchế biến thành nấm khô bao gói như nấm Mèo, Linh chi
Ở Thuận Châu nghề trồng nấm được phát triển từ rất sớm cho đến nayđang được phát triển rộng rãi, tuy nhiên cũng gặp nhiều khó khăn và bất cậpnhư: Nguồn phế phẩm nông nghiệp nhiều như lõi ngô lại không có máynghiền, bông phế thải mua ở xa, kĩ thuật người dân chưa nắm vững, nguồngiống nấm mua ở xa Vì thế, người dân chưa mặn mà với cây nấm Trên thực
tế, nhu cầu sử dụng nấm tại tỉnh rất lớn và đường tiêu thụ tại tỉnh cũng rấtthuận lợi ra thị trường lớn như Hà Nội
Hiện nay, tại Thuận Châu chưa có cơ sở nào sản xuất giống nấm cungứng cho bà con nông dân, mặc dù nơi đây người dân đã biết sử dụng nấm ăn
từ lâu đời Việc trồng nấm Sò cũng đã xuất hiện cách đây khoảng chục nămnhưng chủ yếu với quy mô nhỏ lẻ và tập chung chủ yếu vẫn ở một số xã xungquanh thị trấn như: Thị trấn Thuận Châu, Thôm Mòn, Chiềng Ly, Nguồngiống nấm bà con nông dân chủ yếu mua của Công ty xuất nhập khẩu Sơn La
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Trang 14Thí nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm.Trường Đại học Tây Bắc - Huyện Thuận Châu - Tỉnh Sơn La.
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được bắt đầu từ ngày 15/07/2010 đến hết ngày 15/11/2010
3.1.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Giống nấm Sò trắng (Pleurotus florida) mua tại Trung tâm Công nghệ
Sinh học – Viện Di truyền Nông nghiệp Hà Nội
- Phế phẩm lõi ngô
- Khoai tây, thạch Agar, giá đậu xanh, đường Glucose, bột nhẹ, nước
vô trùng, Streptomycin
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Phân lập, nhân giống nấm Sò từ bào tử thu được từ quả thể nấm
- Nuôi cấy bào tử nấm trên môi trường PDA để tạo ra giống cấp 1
- Từ giống cấp 1 một phần nhân thành giống cấp 2, một phần để giữgiống
- Từ giống cấp 2 nhân thành giống cấp 3 (giống thương phẩm)
- Trồng thử nghiệm giống nấm đã phân lập được để đánh giá chấtlượng giống
- Theo dõi một số chỉ tiêu liên quan đến mức độ nhiễm sinh vật hại: Vikhuẩn, nấm mốc, nấm dại, chuột,…
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nuôi cấy cây mẹ
* Nuôi cấy cây mẹ: Cây mẹ được nuôi cấy trên cơ chất bông phế thải.
Bông phế thải được xé ra và ngâm qua nước vôi trong 5 – 10 phút để khửtrùng (theo tỉ lệ 100kg bông phế thải dùng 2kg vôi bột) Sau đó đem hấp ở chế
độ hấp thanh trùng ở 1.5atm trong thời gian 150 phút đạt nhiệt độ 120oC sau
đó để nguội đem ra đóng bịch nilone (mỗi bịch 2kg) và cấy trong túi màng
Trang 15mỏng có kích thước 25 x 35cm Đóng thành 5 bịch và theo dõi cho tới khinấm phát triển Nguồn giống nấm Sò dùng để nuôi cấy cây mẹ mua từ Trungtâm Công Nghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp Hà Nội.
- Phương pháp đóng bịch và cấy giống:
Nguyên liệu đã được hấp thanh trùng đảm bảo ta tiến hành cấy giống.Nhồi nguyên liệu vào túi và ấn chặt tay, cứ khoảng 5cm chiều cao nguyên liệuthì ta cấy một lớp giống xung quanh rìa ngoài nguyên liệu Sau đó lại nhồitiếp lượt nguyên liệu thứ hai và cấy lớp giống thứ hai Cứ tiếp tục như vậy,mỗi bịch ta cấy 3 lớp giống, trên cùng ta rải đều một lớp giống nữa trên bềmặt nguyên liệu Dùng ống nhựa và bông làm cổ túi, lấy dây nịt buộc lại tạomiệng túi có nút bông ở giữa
- Ươm bịch: Sau khi cấy giống ta tiến hành ươm bịch, bịch nấm đặt
trên giá, khoảng cách giữa các bịch là 5 – 10cm Thời gian ươm bịch kéo dàikhoảng 20 ngày (kể từ khi cấy giống) thì tiến hành treo bịch, khi sợi nấm pháttriển mạnh và hệ sợi nấm có màu trắng đồng nhất và rắn chắc
- Rạch bịch: Tháo cổ nút bông và buộc xoáy miệng túi thật chặt, sau
đó treo bịch nấm theo chiều nút bông quay xuống dưới Dùng dao lam sắcrạch 5 – 6 đường chéo xung quanh túi, chiều dài vết rạch dài 4 – 5cm, khôngrạch sâu vào bên trong cơ chất chỉ rạch nhẹ tay ở màng túi Msỗi bịch treocách nhau 10 – 15cm để tránh khi nấm mọc ra chạm vào nhau
- Tưới nước: Sau khi treo bịch và rạch bịch từ 3 – 5 ngày, cụm nấm bắt
đầu mọc lên, ta tiến hành tưới nước bên ngoài túi Tưới ở dạng phun sương,lượng nước ít nhưng kéo dài thời gian tưới sao cho mỗi lần tưới lượng nướcphủ đều trên bề mặt mũ nấm là được
* Thu cây mẹ: Khi cây nấm mẹ phát triển đến thời kì cho thu hoạch, ta
tiến hành hái nấm, chọn cây nấm to khoẻ nhất trên cụm nấm (cây nấm to, dày,
Trang 16cánh nấm mập, cân đối giữa thân gốc thon đều tới cánh nấm) cắt ngang cuốngnấm sát với cụm nấm, lấy các cây nấm này để phân lập giống gốc
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được phân lập trên 5 cây nấm mẹ.
* Các chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sinh trưởng của quả thể nấm mẹ
(ngày)
3.3.2 Nhân giống gốc
Giống gốc được nhân từ bào tử nấm nuôi cấy thành khuẩn lạc và nhân
từ quả thể nấm nuôi cấy thành các dòng, sau đó theo dõi sự phát triển của cácdòng Chọn dòng có khả năng phát triển mạnh nhất làm giống gốc
* Phương pháp làm môi trường thạch nghiêng và thạch đĩa (môi trường thạch – đường – khoai tây (PDA))
Môi trường thạch nghiêng và thạch đĩa là môi trường giàu dinh dưỡngđược làm từ nguyên liệu là Đường Glucose, thạch agar, giá đậu xanh, nước vôtrùng theo công thức:
- Khoai tây: 200g
- Giá đỗ: 200g
- Đường Glucose - 20g
- Thạch agar – 20g và 1lít nước vô trùng
Khoai tây gọt vỏ rửa sạch thái miếng dầy từ 0.3 – 0.5 cm, thêm 1000mlnước vô trùng vào đun sôi trong 20 phút cho khoai tây chín dừ, sau đó cho giá
đỗ vào đun tiếp cho tới khi thấy giá đỗ có hiện tượng tóp lại là được Dùngvải màn lọc lấy nước luộc khoai tây và giá đỗ, thêm nước vô trùng cho dủ1000ml sau đó đun sôi lại lần 2, lần này vừa đun vừa lấy đũa khuấy nhẹ taycho tới khi sôi lại và vớt sạch bọt Bổ sung thêm đường và thạch Agar theo tỉ
lệ, khuấy nhẹ tay cho tan hết tạo thành dung dịch dinh dưỡng đồng nhất
Trang 17Để tạo thạch đĩa ta cho dung dịch dinh dưỡng vào các đĩa Petri, khi đổvào đĩa Petri cần chú ý cho dung dịch trải đều trên mặt đĩa, lớp thạch dày từ 3– 5 mm.
Để tạo thạch nghiêng ta tiến hành đổ dung dịch dinh dưỡng đồng nhấtvào các ống nghiệm có kích thước 1.5 x 20 cm Dùng phễu có gắn ống cao su
để tránh dung dịch dính lên thành ống nghiệm Dung dịch trong cao 1/4 chiềudài ống nghiệm Sau khi đổ xong ta làm nút bông nút chặt miệng ống nghiệm,
cứ 5 ống ta buộc lại và bịt bằng túi nilone chịu nhiệt sau đó cho vào nồi hấpthanh trùng, dựng cho ống nghiệm đứng và hấp ở nhiệt độ 120oC, 1.5atmtrong 150 phút Hấp xong đưa ống nghiệm ra kê lên một thanh gỗ cao 1.5cm
để tạo thạch nghiêng Các ống thạch nghiêng sau khi hấp xong đưa ra để 5phút thì thạch đông lại
Để kiểm tra môi trường PDA nấu có bị nhiễm nấm lạ hay không, ta đưacác ống nghiệm vào trong tủ ấm điều chỉnh tủ ở nhiệt độ 30 – 37oC trong 48 –
72 giờ, đưa ra nếu không thấy có hiện tượng nhiễm nấm lạ nấm có màu cánhdán là đạt Thạch đĩa dùng cấy bào tử nấm khi phân lập giống gốc, thạchnghiêng dùng để nhân giống gốc và giống cấp 1
3.3.2.1 Phân lập giống gốc từ quả thể nấm
Chọn cây nấm to, dày, cánh nấm mập cân đối giữa thân gốc thon đềutới cánh nấm, cắt ngang cuống nấm sát với cụm nấm Gói cây nấm đã chọntrong túi nilone sạch và đưa vào Box cấy Sau đó bật đèn UV trong 30 phút đểđảm bảo thanh trùng tuyệt đối
- Phương pháp cấy: Dùng tay xé đôi cánh nấm theo chiều dọc Dùng
kim khêu mô nấm ở khoang dày nhất của thân nấm rồi chuyển sang ốngthạch Mỗi lần lấy mẩu mô mới ta lại dùng tay xé một phần cánh nấm Sò đểtạo ra một phần mới ở cánh nấm, để lần lấy mẩu mô mới không bị dính vàovết lấy trước đó (trên một cánh nấm có thể phân lập được nhiều mẩu ống
Trang 18giống gốc) Sau khi khêu mô nấm và đưa vào chính giữa ống nghiệm, ta làmnút bông nút lại thật chặt
* Nuôi các dòng nấm: Sau khi cấy xong, chuyển các ống giống gốc
mới cấy vào tủ ấm ở nhiệt độ 25oC Theo dõi sự phát triển và nhiễm nấm lạ,những ống giống nào bị nhiễm nấm lạ phải loại bỏ ngay Đợi khi hệ sợi nấm
ăn lan hết bề mặt thạch là ta có thể đem nhân giống cấp 1
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên 10 ống thạch
nghiêng, 5 cây nấm mẹ, mỗi cây nấm mẹ cấy trên 2 ống thạch
*Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tốc độ ăn lan (cm/2ngày)
- Thời gian sinh trưởng (ngày): Thời gian sinh trưởng của các dòng tính
từ ngày cấy đến khi hệ sợi nấm ăn lan hết bề mặt thạch
3.3.2.2 Phân lập giống gốc từ bào tử nấm
* Nuôi cấy khuẩn lạc: Chọn cây nấm to khoẻ nhất trên cụm nấm cắm
trên một đầu dây thép, đầu kia uốn vòng để có thể đứng trên đĩa petri đựng 3– 5 ml nước vô trùng Đậy một chuông thuỷ tinh lên trên trành cho các bào tửnấm lạ rơi vào Để 1 – 2 ngày khi quả thể nấm chín, bào tử từ các phiến nấmbắn ra rơi vào nước, lấy nước này dùng que cấy gạt lên thạch đĩa để tạo điềukiện tách rời các bào tử ra
Khi khuẩn lạc phát triển ta dùng que cấy đầu nhọn chấm các khuẩn lạc
và cấy lên môi trường thạch nghiêng theo các đường ziczắc thạo thành cácdòng Tránh que cấy chạm vào các khuẩn lạc khác khi cấy
* Nuôi các dòng nấm: Sau khi cấy ta chuyển các đĩa petri này vào tủ
ấm giữ ở nhiệt độ 25oC Đợi khi hệ sợi nấm ăn lan hết bề mặt thạch là ta cóthể đem nhân giống cấp 1
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên 5 thạch đĩa nuôi
cấy khuẩn lạc và 10 dòng nấm cấp 1
Trang 19*Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tốc độ ăn lan (cm/2ngày)
- Thời gian sinh trưởng (ngày)
+ Thời gian sinh trưởng của khuẩn lạc được tính từ ngày cấy đến ngàyhình thành khuẩn lạc dùng để cấy lên thạch nghiêng tạo thành các dòng
+ Thời gian sinh trưởng của các dòng tính từ ngày cấy đến khi hệ sợinấm ăn lan hết bề mặt thạch có thể nhân giống cấp 1
3.3.3 Nhân giống cấp 1
Giống cấp 1 là giống được cấy truyền từ nguồn giống gốc nhân từ bào
tử nấm bằng cách nuôi cấy khuẩn lạc và phân lập từ quả thể nấm Môi trườngnhân giống cấp 1 là môi trường thạch nghiêng (PDA) được làm tương tự môitrường nhân giống gốc Từ một ống giống gốc khi cấy sang môi trường giốngcấp 1 ta nhân với tỉ lệ 1/25
* Kỹ thuật cấy truyền giống gốc sang giống cấp 1: Ta mở miệng ống
nghiệm và hơ trên ngọn lửa đèn cồn, đốt que cấy cháy đỏ sau đó nhúng vàocồn thật lạnh Dùng que cấy chia bề mạt hệ sợi nấm thành từng miếng nhỏnhư hạt đỗ và chuyển sang ống thạch nghiêng mới (đặt vào phần chính giữa
bề mặt thạch) Sau đó hơ miệng ống nghiệm đã cấy giống và dùng bông sạch
đã hấp khử trùng nút miệng ống nghiệm
* Nuôi sợi giống nấm cấp 1: Sau khi cấy, ta đưa các ống giống cấp 1
và bảo quản trong tủ ấm ở 25oC, theo dõi hàng ngày sự phát triển của hệ sợnấm và loại bỏ kịp thời các ống giống nấm bị nhiễm nấm lạ và phát triển kém.Khi hệ sợi nấm ăn lan hết bề mặt thạch ta có thể dùng nhân giống cấp 2
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên 1 ống giống gốc
nhân với tỉ lệ 1/25
*Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tốc độ ăn lan của hệ sợi nấm (cm/2ngày)
Trang 20- Thời gian sinh trưởng (ngày): Được tính từ ngày cấy truyền đến khi
hệ sợi nấm ăn lan hết bề mặt thạch và có thể đem nhân giống cấp 2
3.3.4 Nhân giống cấp 2
Giống nấm cấp 2 được nhân truyền từ giống cấp 1 bằng môi trườngdinh dưỡng khác môi trường giống cấp 1
- Môi trường này bao gồm: Thóc tẻ bảo quản tốt hạt đều (có thời gian
lưu kho từ 6 - 12 tháng, không bị ẩm mốc Rửa sạch và ngâm thóc trong nướcsạch 12h để loại bỏ hạt lép, sau đó vớt ra để ráo nước
- Tiến hành luộc thóc: Cho nước ngập bên trên thóc khoảng 5cm, khi
bắt đầu sôi dùng đũa đảo đều tay cho hạt thóc nhanh nứt và nứt đều thóc nứt2/3 hạt, gạo bên trong chín mềm là được Đổ thóc ra khay để ráo nước và quạtthật nguội
Sau đó bổ sung thêm CaCO3 (bột nhẹ) theo tỉ lệ 0.8 – 1.2g/10 kg thócluộc và trộn đều đảm bảo các hạt thóc tơi đều và không bị dính nát, trộn thấymột lớp bột mịn phủ đều trên hạt thóc luộc là được
- Tiến hành đóng môi trường cấp 2 vào chai thuỷ tinh: Cho thóc đã
trộn bột nhẹ vào chai, lượng thóc cho vào chai là 2/3 chai (0.3kg thóc luộc),tạo nút cổ chai bằng bông sạch và bịt đầu chai bằng nilone chịu áp suất cao.Môi trường cấp 2 phải được hấp thanh trùng ngay Thời gian hấp thanh trùngmôi trường này trong vòng 150 phút, áp suất 1.5atm, nhiệt độ 120oC
Môi trường giống nấm cấp 2 sau khi hấp thanh trùng phải để qua 1ngày mới tiến hành cấy giống Vì sau khi thóc luộc chín và hấp thanh trùng,tinh bột trong thóc chuyển hoá thành đường (quá trình này gọi là quá trìnhCaramen hoá), để qua 1 ngày cho quá trình này ổn định ta mới tiến hành cấygiống Một ống giống cấp 1 khi nhân truyền sang giống cấp 2 với tỉ lệ 1/2
* Kỹ thuật cấy truyền: Giống cấp 1 đạt tiêu chuẩn cấy sang giống nấm
cấp 2 là giống có hệ sợi nấm ăn lan đều trên bề mặt thạch, có màu trắng sữa
Trang 21Ta dùng que cấy nhẹ nhàng nới lỏng hệ sợi nấm và cắt đôi lớp thạchtrong ống nghiệm thành 2 phần đều nhau, gạt miếng thạch sang chai giốngcấp 2, lắc nhẹ tay cho miếng thạch ở chính giữa chai Khi giống cấp 1 đã cấyvào chai, ta hơ nút bông và cổ chai trên ngọn lửa đèn cồn rồi nút chai giống
đã được cấy lại
* Nuôi sợi giống nấm cấp 2: Chuyển các chai giống nấm cấp 2 sang
phòng nuôi cấy hoặc để trong tủ giữ ấm ở nhiệt độ 25oC Theo dõi hệ sợi nấm
ăn lan và loại bỏ những chại bị nhiễm nấm lạ Trong 3 ngày đầu sau khi cấygiống cần theo dõi chặt chẽ, nếu chai giống nào có hiện tượng miếng thạchkhô, các sợi nấm không có hiện tượng ăn lan, hoặc bị nhiễm nấm mốc xanhthì phải loại ngay
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên 7 ống thạch
nghiêng giống nấm cấp 1 và 14 chai giống cấp 2
* Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tốc độ ăn lan của hệ sợi nấm (cm/2ngày)
- Thời gian sinh trưởng: Thời gian sinh trưởng của hệ sợi nấm cấp 2được tình từ ngày cấy đến khi hệ sợi nấm ăn lan kín môi trường trong chaigiống (ngày)
3.3.5 Nhân giống cấp 3 (giống thương phẩm)
Giống nấm cấp 3 được nhân truyền từ giống cấp 2 trên môi trường dinhdưỡng tương đồng môi trường giống cấp 2 chỉ khác ở môi trường giống cấp 3chai thuỷ tinh được thay bằng túi P.E chịu nhiệt
Quy trình làm môi trường giống cấp 3 tương tự như môi trường giốngcấp 2 Sau khi luộc thóc và trộn bột nhẹ theo tỉ lệ 0.8 – 1.2g/10kg thóc luộc, tađóng vào các túi P.E chịu nhiệt, mỗi túi 0.5kg thóc luộc, làm cổ túi bằng nútbông và nắp lại bằng nắp nhựa tránh khi hấp làm ướt nút bông Đem hấpthanh trùng trong 150 phút, nhiệt độ 120oC ở áp suất 1.5atm
Trang 22Hấp xong đưa vào phòng cấy giống để qua một ngày mới cấy, bật đèn
UV để khử trùng phòng cấy và các túi môi trường giống cấp 3 Trước khi cấy
ta cần dùng tay bóp nhẹ các túi thóc luộc cho hạt thóc tơi ra kích thích khi cấygiống vào hệ sợi nấm sẽ phát triển nhanh hơn
Giống nấm cấp 2 đạt tiêu chuẩn cấy truyền có hệ sợi nấm ăn lan đềutrên bề mặt môi trường hạt thóc và có màu trắng sữa Từ một chai giống cấp 2cấy truyền sang giống cấp 3 với tỉ lệ 1/30
* Kỹ thuật cấy truyền: Mở miệng nút bông chai giống cấp 2, hơ qua
ngọn lửa đèn cồn, dùng que cấy gạt bỏ lớp thạch còn sót lại và đánh tơi hạtthóc có hệ sợi nấm cấp 2 trong chai giống (chú ý đánh theo hình tròn xoáy từtrái sang phải hoặc từ phải sang trái tránh làm đứt và làm nát sợi nấm nhiềunhất) Mở nút bông túi giống cấp 3, một tay cầm túi môi trường giống cấp 3,một tay cầm chai giống cấp 2 và lắc nhẹ các hạt giống trong chai cấp 2 sangtúi cấp 3 Cấy xong hơ nút bông và nút túi giống cấp 3 lại Tiếp tục cấy cáctúi giống khác cho tới khi hết chai giống thì lau dọn sạch sẽ Box cấy và quecấy, vì 2 chai giống là 2 hệ sợi khác nhau
* Nuôi sợi giống nấm cấp 3: Cấy xong ta chuyển các túi giống cấp 3
sang phòng nuôi có điều hoà nhiệt độ ở 24 - 26oC Theo dõi sự phát triển của
hệ sợi nấm, phát hiện các túi nhiễm nấm lạ phải lợi bỏ kịp thời
* Bố trí thí nghiệm: Giai đoạn nhân giống cấp 3 (giống thương phẩm)
được tiến hành trên 2 chai giống cấp 2 với tỉ lệ 1/30 Chọn 2 chai giống cấp 2
có hệ sợi nấm ăn lan nhanh, khoẻ mạnh để nhân giống cấp 3
*Các chỉ tiêu theo dõi:
- Thời gian sinh trưởng (ngày): Thời gian sinh trưởng được tính từ ngàycấy đến khi hệ sợi nấm ăn lan hết môi trường thóc luộc trong túi Theo dõingẫu nhiên 10 túi giống cấp 3 từ mỗi dòng nấm cấp 2 nhân sang
Trang 23- Tỉ lệ nhiễm bệnh (%): Tỉ lệ bệnh được tính bằng tổng số bịch giốngnhiễm trên tổng số bịch giống sản xuất.
3.3.6 Trồng thử nghiệm giống nấm cấp 3
Giống nấm cấp 3 (giống thương phẩm) tốt có biểu hiện hệ sợi nấm cómàu trắng đồng nhất, không nhiễm bệnh, khả năng ăn lan nhanh và mạnh,được trồng thử nghiệm cùng giống nấm cấp 3 sản xuất tại Trung tâm CôngNghệ Sinh học Thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp Hà Nội trên nguyênliệu lõi ngô nghiền
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên Với 2 giống nấm Sò (giống tự nhân và giống mua về làm đối chứng)trên hai công thức khác nhau, mỗi công thức 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại làmột ô, mỗi ô bố trí 20 bịch Tổng 2 công thức là 120 bịch Khối lượng mỗibịch là 2kg
* Quá trình trồng thử nghiệm giống cấp 3:
- Phương pháp xử lý nguyên liệu:
Lõi ngô sau khi đã phơi khô đem nghiền nhỏ và ngâm trong nước vôi(100kg nguyên liệu dùng 2kg vôi bột hoà tan với nước sạch để ngâm), nguyênliệu ngâm trong nước vôi từ 3 – 5 phút, sau đó vớt lên kệ để ráo nước và bắtđầu đem ủ Kệ cách mặt đất khoảng 20cm, đặt cột thông khí ở chính giữa kệ,
Trang 24lót ở đáy kệ, để thoáng khí), sau đó đem nguyên liệu đã ráo nước rắc đềuxung quanh cột thông khí và ấn nhẹ tay Sau khi đã cho hết nguyên liệu vào talấy bạt hay nilone phủ kín cột đống ủ nhưng không phủ kín cột thông khí Sau 3 ngày mở đống ủ ra và tiến hành đảo đều, ta nắm nguyên liệunếu không thấy nước ứa ra kẽ tay thì nguyên liệu khô ta phải hoà nước vôitưới thêm, ngược lại nếu nguyên liệu ướt quá ta cần đảo tơi ra rồi để một lúcbay hơi bớt sau đó phủ nilone hoặc bạt kín như ban đầu và ủ tiếp 3 – 4 hômnữa, sau đó đảo lần 2 Thời gian ủ từ 8 – 10 ngày khi đống ủ lên men, nguyênliệu toả nhiệt có màu vàng sáng đạt độ ẩm phù hợp là có thể ươm bịch.
- Kỹ thuật cấy giống, ươm và rạch bịch trong túi nilone màng mỏng:
Kỹ thuật cấy giống, ươm bịch và rạch bịch được thực hiện tương tựnhư giai đoạn nuôi cây mẹ thu bào tử
- Chăm sóc và phòng trừ sinh vật hại:
Sau khi bịch đã rạch được 4 - 5 ngày, nấm bắt đầu chui ra khỏi túinilone khi đó ta bắt đầu tưới nước hằng ngày, tưới theo dạng phun sương Saocho sau khi tưới 1 lượng nước nhỏ vừa phủ khắp bịch nấm và đọng lại mộtlớp nước trên bề mặt mũ nấm
* Các chỉ tiêu theo dõi
Trang 25- Thời gian sinh trưởng phát triển của quả thể nấm (ngày)
+Thời gian từ khi đóng bịch cấy giống đến khi rạch bịch: Khoảng thờigian này được xác định khi các sợi nấm ăn lan trắng bịch tạo một màu trắngđồng nhất, bịch nấm rắn chắc (khoảng 80% các bịch nấm có màu trắng đồngnhất là ta bắt đầu rạch bịch)
+ Thời gian từ đóng bịch cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở cácvết rạch: Thời gian này được xác định khi 30% các bịch nấm có cụm nấm nhô
ra từ các vết rạch
+ Thời gian từ đóng bịch cấy giống đến khi thu hoạch đợt đầu tiên:Thời gian này được xác định khi trong ô thí nghiệm có 30% số cụm của ô thínghiệm cho thu hoạch
+ Thời gian từ khi đóng bịch cấy giống đến khi thu hoạch đợt cuốicùng: Được xác định khi các cụm nấm mọc yếu dần, các sợi trắng trên nguyênliệu giảm dần và bịch nấm chuyển màu vàng và xốp hơn (khoảng thời giannày được xác định khi chỉ còn 20% số bịch cho thu hoạch)
- Các chỉ tiêu sinh trưởng:
+ Chiều dài cuống nấm (cm)
+ Đường kính mũ nấm (cm)
- Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất
+Số cây trên cụm
+ Khối lượng trung bình của một cụm (kg)
+ Năng suất của bịch: Tổng khối lượng thu hái/ bịch theo dõi (kg) Chỉ tiêu này tiến hành theo dõi ở mỗi lần nhắc lại là 5 bịch và theo dõi
2 ngày một lần kể từ khi cụm nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch
3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, IRRISTAT
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trang 26Trong quá trình thực hiện đề tài, điều kiện thời tiết có nhiều thuận lợi,trang thiết bị phòng thí nghiệm đầy đủ phục vụ cho quá trình nhân giống.Nguyên liệu nuôi trồng nấm đảm bảo và nấm được chăm sóc cẩn thận nênsinh trưởng và phát triển mạnh Qua quá trình theo dõi thí nghiệm tôi thuđược các kết quả sau:
4.1 Đặc điểm thời tiết vụ Thu – Đông năm 2010
Quá trình sinh trưởng của nấm cũng chịu sự tác động của điều kiệnngoại cảnh như các loại cây trồng khác Các điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởngnhư: Khí hậu, sinh vật hại, các biện pháp kĩ thuật chăm sóc của con người, Trong các điều kiện ngoại cảnh này thì yếu tố khí hậu có ảnh hưởng rất lớnđến sự sinh trưởng phát triển và quyết định năng suất nấm Sò
Trong các yếu tố khí hậu thì bao gồm các yếu tố có ảnh hưởng trựctiếp: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng Cả ba yếu tố này đều có sự ảnh hưởng nhấtđịnh đến quá trình sinh trưởng phát triển của nấm Sò Nấm thuộc dạng vi sinhvật yếm khí, sinh trưởng phát triển trong điều kiện phòng nuôi cấy mát mẻ,không cần ánh sáng trực xạ, nhiệt độ thấp và ẩm độ cao
Ở giai đoạn nhân giống, hệ sợi nấm được nhân nuôi trong các ốngnghiệm trong điều kiện phòng thí nghiệm có điều hòa nhiệt độ 25oC ẩm độ80% nên hệ sợi nấm phát triển ăn lan khá nhanh trên môi trường thạchnghiêng trong các ống nghiệm Giai đoạn này do hệ sợi nấm được nuôi trongphòng thí nghiệm tốt, thuận lợi nấm không chịu sự tác động của điều kiệnngoại cảnh bên ngoài Hơn nữa trong quá trình nhân giống ở tất cả các khâuđều được xử lý vô trùng nên hạn chế được sự xâm nhập của các bào tử nấm lạvào các ống thạch nghiêng giúp cho hệ sợi nấm phát triển nhanh và mạnh
Ở giai đoạn trồng thử nghiệm, điều kiện phòng nuôi trồng nấm khôngđược như điều kiện của phòng thí nghiệm nhân giống nên nấm chịu sự tácđộng của các yếu tố khí hậu rất rõ rệt Nhiệt độ không khí thấp quá hoặc cao
Trang 27quá đều bất lợi cho sự phát triển của nấm Khi nhiệt độ không khí quá cao cóthể làm cho các cụm nấm lúc này mới mọc còn non yếu dễ bị khô héo, làmgiảm số lượng cây trên cụm, thậm chí có những cụm bị chết dẫn đến làm ảnhhưởng tới năng suất nấm Khi nhiệt độ xuống quá thấp làm cho nấm phát triểnkém, thời gian từ lúc cụm nấm bắt đầu mọc ra cho tới lúc thu hoạch bị kéodài, cây nấm phát triển chậm và khi thu hoạch cụm nấm không được đẹp và
mỡ màng Khi nhiệt độ xuống dưới 10oC nấm tạm ngừng sinh trưởng, cáccụm nấm không mọc ra được Nhìn chung nhiệt độ thuận lợi nhất cho sự pháttriển của nấm là dao động trong khoảng 20 – 25oC, lúc này các cụm nấm mọc
ra nhiều và nhanh cho thu hoạch
Yếu tố ẩm độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển vàquyết định đến năng suất nấm Ẩm độ không khí quá cao hay quá thấp cũngđều ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Khi ẩm độ không khí quá cao, nấmtích nhiều nước và mềm nhũn, có thể bị thối hỏng, làm giảm chất lượng nấm.Ngược lại khi ẩm độ không khí quá thấp làm cho các cụm nấm mọc ra thường
bị khô héo, cây nấm chậm phát triển và có biểu hiện hơi vàng, mũ nấmthường cong lên và xoăn, độ ẩm không khí quá thấp làm giảm năng suất vàchất lượng nấm Nên trong quá trình chăm sóc nấm, cần tưới nước dưới dạngphun sương, các giọt nước nhỏ vừa trải đều trên bịch nấm và mũ nấm là được
Yếu tố nhiệt độ quá thấp đi kèm với ẩm độ thấp hay nhiệt độ cao đikèm với ẩm độ cao đều tạo ra những điều kiện ngoại cảnh bất lợi cho sự sinhtrưởng phát triển của nấm Sò Vụ Thu – Đông vào những ngày nhiệt độ thấp,
ẩm độ thấp có gió khô hanh cần tăng thêm số lần tưới từ 2 lần lên tới 4lần/ngày, tưới bổ sung thêm nước xung quanh tường và nền nhà trồng nấm sẽtạo ra độ ẩm bão hòa cho phòng trồng nấm giúp nấm sinh trưởng thuận lợihơn Nhìn chung, ở diều kiện ẩm độ thuận lợi nhất cho nấm phát triển daođộng từ 80 – 85% lúc này nấm phát triển nhanh và cho năng suất cao
Trang 28Ngoài hai yếu tố trên thì ánh sáng cũng ảnh hưởng góp phần tạo năngsuất nấm, điều kiện ánh sáng tán xạ là thuận lợi nhất cho nấm sinh trưởngphát triển Phòng nuôi trồng nấm cần thoáng nhưng râm mát, kín gió vàkhông có ánh sáng chiếu vào.
Ta thấy rằng, nấm cũng như các loài cây trồng khác, ở một mức độ nào
đó đều chịu sự tác động của điều kiện ngoại cảnh Khi nắm rõ được sự diễnbiến của điều kiện thời tiết và các giai đoạn sinh trưởng của nấm giúp ta cóthể bố trí thời vụ trồng và tác động các biện pháp chăm sóc hợp lý nấm sẽphát triển thuận lợi
Theo dõi khí tượng khu vực tỉnh Sơn La và vụ Thu – Đông năm 2010(qua bảng 3), tôi nhận thấy rằng nhiệt độ và ẩm độ của các tháng tiến hành thínghiệm như sau:
Bảng 3: Điều kiện thời tiết khu vực tỉnh Sơn La vụ Thu – Đông năm 2010
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt
độ Max ( o C)
Nhiệt
độ TB tháng ( o C)
Nhiệt
độ Min ( o C)
Ẩm độ Max (%)
Ẩm độ TB tháng (%)
Ẩm độ Min (%)
Trang 2901 nhiệt độ bắt đầu giảm, nhiệt độ trung bình tháng 12 là 17.2oC, ẩm độ78.5%, tháng 01 nhiệt độ trung bình tháng là 15.9oC, ẩm độ 77.9% Vàokhoảng thời gian này kèm theo những đợt lạnh giá, không khí khô nên ảnhhưởng không tốt cho sự sinh trưởng phát triển của nấm Ta phải điều chỉnhtăng số lần tưới trong ngày cung cấp đủ nước để nấm sinh trưởng thuận lợihơn.
4.2 Kết quả thí nghiệm
4.2.1 Nuôi cấy cây mẹ
Giai đoạn này là tiền đề quyết định rất lớn đến chất lượng giống saunày, chính vì vậy quá trình nuôi cấy cây mẹ rất quan trọng Quá trình hấpnguyên liệu nuôi cấy cây mẹ được hấp khử trùng nghiêm ngặt vì thế cơ chấtkhông bị nhiễm khuẩn, đóng bịch cấy giống đúng kĩ thuật nên giống được cấyvào phát triển nhanh và mạnh Điều này được thể hiện rất rõ qua quá trìnhtheo dõi thời gian sinh trưởng ăn lan của hệ sợi nấm trong bịch nguyên liệu
Thời gian từ khi đóng bịch cấy giống đến khi rạch bịch: Đây là thời kìsinh trưởng sinh dưỡng quan trọng của nấm, trước đó các tế bào sợi nấm sốngtrong môi trường giàu dinh dưỡng (thóc luộc) có sức sống cao, được cấychuyển sang môi trường giá thể khác, sức sinh trưởng sinh dưỡng của nấmtăng mạnh và có sự tích lũy vật chất để chuyển sang giai đoạn sinh trưởngsinh thực Theo dõi thí nghiệm trên 5 bịch nấm không bị nhiễm khuẩn, hệ sợinấm phát triển nhanh và mạnh Thời gian từ đóng bịch cấy giống đến khi rạchbịch là 18 ngày, hệ sợi nấm có màu trắng đều đồng nhất và ăn lan trắng bịch
Thời gian từ đóng bịch cấy giống đến khi thu hoạch cây nấm mẹ:Khoảng thời gian này được xác định khi các bịch nấm có 30% số cụm của ôthí nghiệm cho thu hoạch, khi cây nấm chưa nở xòe ra, cây nấm trên cụmmập, cân đối từ thân nấm tới cánh nấm Thời gian cho thu hoạch cây mẹ ở 5bịch nấm thí nghiệm tương đối đều nhau là 28 ngày
Trang 30* Kết quả thu cây mẹ: Quá trình làm thí nghiệm cho thấy, các cụm nấm
trên 5 bịch nấm phát triển tương đối đều nhau, mỗi một cụm nấm trên mộtbịch nấm, chọn lấy các cây nấm to đồng đều, cùng độ tuổi và là cây nấm đẹpnhất trên cụm làm cây mẹ để nhân giống gốc và sau 25 ngày kể từ đóng bịchcấy giống là thu được cây mẹ
* Kết quả thu bào tử: Qua quá trình làm thí nghiệm cho thấy dung dịch
bào tử thu được có màu trắng Điều này chứng tỏ cây nấm mẹ sinh trưởng tốt,
số lượng bào tử nhiều thuận lợi cho quá trình cấy dung dịch bào tử lên thạchđĩa Lượng bào tử trong dung dịch nhiều ta chỉ cần dung que cấy chấm mộtlượng nhỏ lên bề mặt thạch đĩa
4.2.2 Nhân giống gốc
4.2.2.1 Nhân giống gốc được phân lập từ nuôi cấy bào tử nấm Sò
* Kết quả làm môi trường thạch đĩa: Thạch đĩa sau khi đông lại đem
bảo quản trong tủ ấm ở nhiệt độ 25oC trong 48 giờ theo dõi không thấy cóhiện tượng nhiễm nấm lạ, thạch có màu ánh dán
Theo quá trình theo dõi, khi cấy bào tử lên thạch đĩa chỉ sau 2 – 3 ngàycác bào tử phát triển thành các khuẩn lạc có màu trắng, tuy nhiên cùng với sựhình thành các khuẩn lạc này cũng xuất hiện hiện tượng nhiễm nấm lạ, cácbào tử nấm lạ phát triển cùng với bào tử nấm ăn trên thạch đĩa rất nhanhchóng và có màu xanh rêu, ta không thể dùng khuẩn lạc bị nhiễm nấm lạ này
để cấy giống gốc Thí nghiệm này được tiến hành thực hiện lại 2 lần nhưngcác đĩa thạch đều có hiện tượng nhiễm nấm lạ Trong khi đó thí nghiệm phânlập giống gốc từ quả thể nấm không bị nhiễm nấm lạ Hơn nữa, phương phápnày rất dễ thực hiện (chỉ lấy một mẩu mô nấm và cây trực tiếp lên thạchnghiêng để nhân thành giống gốc) Hệ sợi nấm phát triển tốt có màu trắng, ănlan nhanh và mạnh nên tôi chọn phương pháp nhân giống gốc từ phân lập quảthể nấm Sò tươi làm thí nghiệm chính thức
Trang 314.2.2.2 Nhân giống gốc từ quả thể nấm
Giống gốc được phân lập từ quả thể nấm, dùng kéo và kim khêu bằngthao tác vô trùng cắt một mẩu nhỏ tổ chức ở mũ nấm rồi dùng que cấy đưamẩu mô này vào ống nghiệm thạch nghiêng, sau đó nút lại bằng bông vôtrùng thật chặt Theo dõi sự phát triển của các dòng, chọn dòng phát triểnnhanh và mạnh nhất, hệ sợi nấm có màu trắng đồng nhất làm giống gốc đểnhân truyền giống cấp 1
* Kết quả làm môi trường thạch nghiêng: Quá trình làm môi trường
thạch nghiêng theo đúng quy trình kĩ thuật, kiểm tra và theo dõi các ống thạchnghiêng tôi nhận thấy thạch không bị nhiễm nấm lạ và thạch có màu cánhdán Thạch nghiêng được bảo quản để nhân giống gốc và giống cấp 1
* Động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống gốc (cm): Động thái
tăng tưởng của hệ sợi nấm giống gốc ta theo dõi hàng ngày và 2 ngày đochiều dài của hệ sợi nấm ăn lan trong ống thạch nghiêng để thấy rõ được sựsai khác rõ nhất
Khi mới cấy vào, tổ chức mẩu mô nấm chỉ to bằng hạt gạo, đến ngàythứ 2 theo dõi thấy các sợi nấm có màu trắng như bông bắt đầu bung ra xungquanh mẩu mô và ăn lan dần
Theo dõi động thái ăn lan của các dòng giống gốc đã đo cho thấy dòng 1
và dòng 3 có động thái tăng trưởng mạnh nhất, tất cả các dòng theo dõi chothấy không bị nhiễm nấm lạ, phát triển tương đối đồng đều và có màu trắngđồng nhất Hệ sợi nấm phát triển đồng đều sau 16 ngày ăn lan kín bề mặtthạch trong ống nghiệm
Qua quá trình theo dõi 10 ống giống gốc tôi thu được kết quả trongbảng động thái tăng trưởng sau:
Bảng 4: Động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống gốc
Động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống gốc sau… (cm/2 ngày)
Trang 32* Tốc độ ăn lan của các dòng giống gốc (cm): Tốc độ ăn lan được
biểu hiện bằng độ dài của hệ sợi nấm Hệ sợi nấm có tốc độ ăn lan nhanh vàmạnh, thời gian sinh trưởng ngắn, có màu trắng đồng nhất, không bị nhiễmnấm lạ thể hiện sự sinh trưởng mạnh và là giống tốt
Dựa vào động thái tăng trưởng của các dòng ta có thể biết được tốc độ
ăn lan của các dòng, tốc độ ăn lan được tính bằng cách lấy độ dài hệ sợi nấmcủa 2 ngày sau trừ đi độ dài hệ sợi nấm ăn lan được 2 ngày trước đó Để thấy
rõ được sự ăn lan nhanh của các dòng giống gốc qua các ngày, kết quả đượcthể hiện rõ trong bảng tốc độ ăn lan của các dòng giống gốc (bảng 5)
Bảng 5: Tốc độ ăn lan của các dòng giống gốc (cm) Tốc độ ăn lan của các dòng giống gốc sau…ngày (cm)
-Sau 6 – 8
Sau 8 10
Trang 33Qua bảng trên ta thấy tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm giống gốc sau
2 – 4 ngày tăng từ 1.20 – 2.83cm, sau 4 – 6 ngày tăng từ 0.20 – 2.10cm, sau 6– 8 ngày tăng từ 0.90 – 1.90cm, sau 8 – 10 ngày tăng từ 0.70 – 3.60cm, sau
10 – 12 ngày tăng từ 0.90 – 2.90cm, sau 12 – 14 ngày tăng từ 1.20 – 2.40cm
và sau 14 -16 ngày tăng từ 0.80 – 2.00cm Ta thấy rõ tốc độ ăn lan của hệ sợinấm được thể hiện trong đồ thị sau:
Đồ thị 1: Động thái tăng trưởng hệ sợi nấm giống gốc
Trang 34Nhìn vào bảng số liệu về tốc độ ăn lan và đồ thị 1 cho thấy, dòng 1 vàdòng 3 có tốc độ ăn lan nhanh nhất, sau 14 ngày đã ăn lan kín bề mặt thạch,các dòng còn lại tốc độ ăn lan như nhau và sau 16 ngày lan kín bề mặt thạch.Tốc độ ăn lan giữa các ngày của các dòng không có sự chênh lệch nhiều, chỉduy nhất có dòng 6 từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 10 tăng mạnh nhất là 3.60cm.Nhìn vào biểu đồ ta thấy chỉ duy nhất dòng 6 có tốc dộ tăng trưởng giữa cácngày không đồng đều như các dòng khác, sau 8 – 10 ngày tăng 3.6cm, nhưngsau 10 – 12 ngày chỉ tăng 0.9cm.
Qua theo dõi tốc độ ăn lan và thời gian sinh trưởng của 10 dòng nấm,tôi nhận thấy dòng 1 có tốc độ ăn lan, thời gian sinh trưởng nhanh và mạnhnhất, sự tăng trưởng của hệ sợi nấm tương đối đều nhau sau 14 ngày, lấy dòngnày để nhân truyền giống cấp 1 với tỉ lệ 1/25, dòng 3 cũng có thời gian sinhtrưởng 14 ngày, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng không đồng đều nhau giữa cácngày so với dòng 1 Dòng có tốc độ ăn lan mạnh và đồng đều giữa các ngàycho thấy sức sinh trưởng tốt là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ sợinấm của các cấp giống sau này
* Thời gian sinh trưởng của các dòng (ngày): Tốc độ ăn lan của các
dòng giống gốc cũng thể hiện lên thời gian sinh trưởng của các dòng, dòngnào có tốc độ ăn lan nhanh và mạnh thì có thời gian sinh trưởng ngắn hơn.Qua theo dõi thời gian sinh trưởng của 10 dòng tôi nhận thấy, không có hiệntượng nhiễm nấm lạ hay hư hỏng thạch trong ống nghiệm Qua theo dõi thínghiệm về sự phát triển của 10 dòng nấm tôi thu được kết quả về thời giansinh trưởng của 10 dòng như sau:
Bảng 6: Thời gian sinh trưởng của các dòng giống gốc (ngày)
Qua bảng trên, theo dõi thời gian sinh trưởng của 10 dòng nấm ta thấycác dòng nấm đều ăn lan hết bề mặt thạch nghiêng là 14 – 16 ngày Dòng 1 và
Trang 35dòng 3 có thời gian sinh trưởng là 14 ngày, 8 dòng còn lại có tốc độ phát triểnđồng đều nhau sau 16 ngày thì ăn kín bề mặt thạch, các dòng đều phát triểntốt, hệ sợi nấm có màu trắng đồng nhất, lấy các dòng này để làm giống gốcnhân truyền giống cấp 1 Thời gian phát triển của hệ sợi nấm thể hiện khảnăng ăn lan của dòng nấm đó mạnh hay yếu, những dòng có thời gian sinhtrưởng tăng mạnh và đồng đều giữa các ngày thể hiện dòng đó có sức sinhtrưởng tốt Tuy nhiên ở đây ta nhận thấy, thời gian sinh trưởng giữa các dòngchỉ dao động từ 14 – 16 ngày, sự tăng trưởng như vậy là tương đối đồng đều.
4.2.3 Nhân giống cấp 1
Giống cấp 1 được nhân lên từ giống gốc được phân lập từ quả thể nấm.Môi trường giống cấp 1 là môi trường thạch nghiêng PDA được làm tương tựnhư môi trường nhân giống gốc
* Động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống cấp 1 (cm/2ngày):
Giống cấp 1 được nhân lên từ giống gốc được lựa chọn rất kĩ, là dòng có sứcsinh trưởng mạnh, nhân truyền với tỉ lệ 1/25 (tức một ống giống gốc nhântruyền ra 25 ống giống cấp 1)
Theo dõi động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống cấp 1, ta đo chiềudài của hệ sợi ăn lan trong ống thạch nghiêng 2 ngày một lần để thấy được sự
ăn lan rõ rệt nhất của hệ sợi
Từ bảng số liệu theo dõi trong bảng 7 cho thấy hệ sợi nấm giống cấp 1phát triển tương đối đồng đều, khả năng ăn lan nhanh và mạnh, hệ sợi có màutrắng đồng nhất và không bị nhiễm nấm lạ Các dòng này đều là các dòngkhoẻ dùng để nhân truyền giống cấp 2 Qua theo dõi thí nghiệm, thu được kếtquả về động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm thể hiện ở bảng sau:
Bảng 7: Động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống cấp 1(cm/2ngày) Động thái tăng trưởng của hệ sợi nấm giống cấp 1 sau…ngày