1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề cương ôn môn lí luận vh cổ điển phương đông

28 473 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 287,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vở kịch tiêu biểu của ông là Phong tranh ngộ, Nhan linh giáp,Trung dung giải…tuy không có giá trị cao về chất lượng nhưng từ thực tiễn sáng tác đó đã giúp ông đi đến những khái quá

Trang 1

(Lộc) Chương VII: Một thành tựu ít được biết đến – Lí Ngư bàn về kịch

Gioi thiệu chung:

- Lí Ngư sinh ở đời Minh nhưng sống chủ yếu ở đời Thanh (thời Minh mạt Thanh sơ) Ông không những là nhà lí

luận mà còn là nhà sáng tác kịch Những vở kịch tiêu biểu của ông là Phong tranh ngộ, Nhan linh giáp,Trung dung giải…tuy không có giá trị cao về chất lượng nhưng từ thực tiễn sáng tác đó đã giúp ông đi đến những khái quát lí luận

về kịch, thể hiện qua chuyên luận : Nhàn tình ngẫu kết

- Tại sao tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nở rộ vào đời Minh, đến cuối triều đại này đã được Kim Thánh Thán đúc kết

về mặt lí thuyết, còn kịch Trung Quốc vốn đạt thành tựu rất cao trong đời Nguyên trước đó với những tác phẩm như

Tây sương kí, Đậu Nga oan…và có những tác gia kiệt xuất nhưng đến đầu đời Thanh mới được đúc kết trên bình diện

lí luận:

+ Kịch không thuần túy là một loại hình nghệ thuật,nó là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, phải đợi ít nhiều có một

tư duy tiếp cận liên ngành thì mới nghiên cứu có kết quả được

+ Các nhà nghiên cứu trước Lí Ngư nghiên cứu hí kịch, hí khúc (tương đương với kịch cổ điển ngày nay) thì chỉ chú trọng về “khúc” (lời ca) mà chưa chú trọng đến “hí” (kịch), và cho rằng hí khúc là con cháu của thơ ca

+ Trong Nhàn tình ngẫu kí Lí Ngư chia làm hai tập Từ khúc bộ bàn về lời ca, Diễn tập bộ bàn về nghệ thuật diễn viên,

nhưng vấn đề không phải chỉ là dấu cộng mà là sự liên đới chuyển hóa giữa hai bộ phận này Lời ca viết ra không phải để đọc, mà để diễn, khán giả của kịch là một tập thể công chúng thưởng thức vở diễn trong suốt một thời gian nhất định Lí Ngư đã bàn về lời ca theo những yêu cầu đó

Dưới đây sẽ là những đóng góp của Lí Ngư xét về mặt văn học (trong Từ khúc bộ có cả âm luật), xoay quanh vấn đề

+ Lí Ngư tán dương những vở kịch triển khai “một tuyến đến cùng, không thêm thắt những tình tiết bên cạnh”, “ thủy chung không có hai sự việc,quán xuyến một người”,“đầu chư kị phồn” (đầu mối tránh rườm) là một nguyên tắc viết kịch bản

Trang 2

+ Nhân vật trong kịch phải có hành động kịch, bao gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ, quan hệ, thái độ…Mỗi nhân vật trên sân

khấu sẽ có một hệ thống hành động chính, gọi là hành động xuyên, nhằm thể hiện sứ mạng tư tưởng của mình Toàn

bộ vở kịch sẽ có một hệ thống tập hợp những hành động xuyên thành hành động quán xuyến, thể hiện tư tưởng chủ đề

chung của toàn vở

+ Hành động quán xuyến phải dựa trên cốt truyện của kịch bản Do giới hạn về không gian, thời gian nên hành động quán xuyến phải thật thống nhất, không thể quá phong phú, phức tạp

- Hành động và cốt truyện kịch phải tập trung, thống nhất, nhưng không có nghĩa là đơn điệu, đều đều, phải “thoát khuôn sáo”, phải có những chỗ “tân kì”, “phải diễn những điều người ta chưa hề thấy”

- Theo Lí Ngư, ‘thoát khuôn sáo” đi đôi với “tránh hoang đường”, dù có vượt ra “ngoài sự kiến văn” ( ngoài cái nhìn

và nghe thấy)thì cũng phải có căn cứ của “nhân tình vật lí” (tình cảm con người, lí lẽ của sự vật)

II- Kết cẩu kịch

- Lí Ngư rất chú ý đến vấn đề kết cấu trong kịch Do tính chất thống nhất cao độ trong hành động và cốt truyện nên kết cấu trong kịch chặt chẽ hơn tiểu thuyết (kết cấu cũng như tạo khuôn hình cho sự vật, giống như kiến trúc của côngtrình phải có sự trù hoạch, tính toán trước mới bắt đầu thực hiện)

- Cũng như Kim Thánh Thán,Lí Ngư cho rằng kết cấu phải được “tiền định” trong ý thức sáng tạo của nhà văn “tất cả đều phải suy nghĩ thấu triệt trước, thà nghĩ đến mà không dùng, đừng để phải dùng đến mà quên chưa nghĩ”

- Kết cấu không chỉ là mối tương quan giữa bộ phận với toàn thể mà còn là giữa các bộ phận với nhau Kịch đòi hỏi các tình tiết,sự kiện, nhân vật không những phải cô đúc, gãy gọn mà còn phải liên đới với nhau chặt chẽ, logic, tất yếu, tự nhiên, Lí Ngư nêu ra khái niệm “mật chân tuyến” (đường kim mũi chỉ đều chặt) Sự vật này gọi sự vật kia, cácchi tiết trong kịch được liên kết chặt chẽ theo quy luật nhân quả, theo hình thức trực tiếp và gián tiếp:

+ Trong hình thức nhân quả trực tiếp: bất kì một tình tiết nào cũng là nguyên nhâ và kết quả trực tiếp của cái liền trước và sau nó

Trang 3

+ trong hình thức nhân quả gián tiếp: tác động nhân quả không liền mạch kề nhau mà cách quãng, không có sự kết nốinhưng sau đó mới nhận ra sự kì diệu do có sự liên hoàn nào đó đã mai phục bên trong

- Quy luật nhân quả giúp lí giải chính xác những tình huống bất ngờ trong kịch, nhưng không nên làm cho khán giả bất giờ toàn bằng những việc li kì, ngẫu nhiên Cũng từ quy luật nhân quả này mà xem xét vấn đề kết thúc của kịch, không được miễn cưỡng, phải “có một duyên cớ tổng hợp,phải tự nhiên như nước chảy tích thành”

- Tính chặt chẽ của kịch thể hiện ở việc đặt vai hề trong sự gắn bó hữu cơ, toát lên từ tình huống và kết cấu của toàn

vở kịch, không thể xen vào kịch những lớp hề vô tội vạ để mua vui “vai hề không thể không có,nhưng không thể cho vào tùy tiện”

Chương III – Chị Chiến

III/ QUAN NIỆM CỦA MẶC GIA

1/ Mặt Tử

- Đứng đầu phái Mặc gia

- Đại diện cho tầng lớp thứ dân (nông dân, thợ thủ công, tiểu thương)

- Tư tưởng chính trị của ông thâu tóm trong ba chữ:

+ kiêm ái (thương yêu lẫn nhau): “yêu ngươi như yêu mình…, xem nhà người như nhà mình, trọng nước ngoài như nước mình ”

+ tiết dụng (hạn chế tiêu dùng), phê phán giai cấp thống trị sống xa hoa , lãng phí, đàn áp nhân dân

+ phi công (chống chiến tranh)

- Phương pháp luận của ông là phép “tam biểu”

“Thế nào gọi là tam biểu? Nghĩa là có cái làm gốc, có cái làm nguồn, có cái để làm dùng Gốc ở chỗ nào? Trên thì gốc ở việc của thánh vương đời xưa Nguồn ở chỗ nào? Dưới thì dò xét sự thực ở trước tai mắt của trăm học Dùng ở chỗ nào? Đưa ra làm việc hành chính xem có lợi cho nước nhà trăm họ hay không?”

2/ Quan niệm văn học của Mặc gia:

- Phương pháp tam biểu trên được ông quán triệt vào quan điểm văn nghệ làm cho nó có tính hiện thực, nhất là có

Trang 4

- Mặc Tử không hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của cái đẹp và khả năng của nó tác động vào con người chủ yếu quanghệ thuật, nhưng ông không coi trọng âm nhạc, cho nó là phí của, không cứu được dân, không giúp được vua, lạisinh ra thói xa xỉ

-> khác với Nho gia rất đề cao vai trò cảu âm nhạc trong sinh hoạt của đất nước

-> Gần gũi với quan niệm của Đêmôcrit: “Không phải sự cần thits đã sản sinh ra âm nhạc, nghệ thuật này ra đời vì thói xa hoa đã phát sinh”

- quan niệm có phần cứng nhắc, thô thiển: cái gì không làm no ấm dân thì vô bổ:

“Những thứ nhạc khí , nếu cũng trúng vào chỗ lợi của dân như thế, ta cũng không dám công kích Nhưng dân

có ba điều lo là: đói không được ăn, rét không được mặc, mỏi không được nghỉ; ba điều đó là sự lo lớn của dân Song nếu vì dân mà gõ chuông lớn, đánh trống kêu, gảy đàn cầm đàn sắt, thổi ống vu ống sinh mà múa cái can cái thích, thì sự ăn mặc của dân có được gì đâu?”

=> Tóm lại qn văn học có tính hiện thực tính nhân dân nhưng còn phiến diện, thiển cận

IV/ QUAN NIỆM CỦA PHÁP GIA

1/ Tư tưởng Pháp gia cổ đại Trung Hoa

- bắt đầu từ Thương Ưởng và được Hàn Phi phát triển và hoàn chỉnh

- Đây là một học thuyết về nền chuyên chế cực đoan của vua chúa dựa trên sự tàn bạo, cưỡng bức cả (trong đối nội

và đối ngoại ) và ngu dân nhằm thiết lập và củng cố quyền lợi tối thượng của hoàng đế , không chế toàn bộ xã hội,biến mọi người thành công cụ phục dịch mù quáng

- trên thực tế, sau đó được Tần Thủy Hoàng quán triệt xuất sắc, lập nên đế chế Tần nổi tiếng hà khắc, tàn bạo

- ND chủ yếu của nó thâu tóm trong 3 khái niệm : pháp, thuật, thế.

2/ Về quan niệm văn học của Pháp gia:

Đối với văn học nghệ thuật, Pháp gia thể hiện rõ đường lối , chính sách chuyên chế, bạo lực đó

- bao trùm và nổi bật là chính sách ngu dân nhằm dễ bề cai trị:

“Nếu như mọi người ngu dốt thì dễ cưỡng ép họ lao động nặng nhọc, còn nếu họ thông minh thì cưỡng ép họ không dễ”

- bài bác văn nghệ , cho nó là vô dụng, có hại cho nông nghiệp, binh nghiệp và đặc biệt cho thi hành pháp luật

“Ngày nay nếu dân trong nước đều cho rằng nghề nông và đi chiến trận là những cái đáng trách…, thì các bậc hào kiệt sẽ đều có thể đổi nghề, chỉ chăm việc Thi, Thư…nước sẽ nguy vậy” (Thương Ưởng)

“ Trong nước của bậc minh chúa, không cần sách vở văn chương, chỉ lấy pháp luật dạy dân…Đối với người giỏi văn chương không nên dùng, dùng họ sẽ làm loạn cho pháp độ” (Hàn Phi)

Trang 5

Mai Liên

III Các biện pháp khắc họa nhân vật

Nói về nghệ thuật văn chương mà cụ thể đây là các biện pháp khắc họa nhân vật tuy chưa có những đúc kết rành mạch về mặt lí thuyết song ông cũng đưa ra được một số biện pháp cụ thể như sau:

Nhà tiểu thuyết phải thông qua những chi tiết dồi dào để khắc họa nhân vật

Ví dụ như nhân vật Tây Môn Khánh trong Thủy Hử là tên chim gái có tiếng kim Thánh Thán đã khen Thi Nại

Am như sau: “Tả Tây Môn Khánh mấy phen xoay chuyển, khéo về cứu thế, khéo về đổi thay, khéo về cần gấp, khéo về lạnh lung, khéo về thong thả, khéo về muốn ngay, khéo về phá đi, khéo về mượn lại, khéo về đónlấy, khéo về đẩy ra… thực là một thiên gấm bột màu hoa, rõ ra văn tự”

Nhà thiểu thuyết thông qua ngôn ngữ mà khắc họa nhân vật

 Kim Thánh Thán nói: “Truyện Thủy Hử tịnh không có một chữ chi, hồ, giả, dã Mỗi người mỗi lối nói, tả đúng cho cái giọng nói năng của mỗi người” (Phép đọc)

 Lối viết vô ngôn: Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, cho nên “vô ngôn”, “vô thanh” tức là lúc im lặng, cũng có khi là cách bộc lộ sự suy nghĩ, tính cách bên trong Khác với mọi lần, đến trận Tăng Đầu thị Tiểu cái quyết đi, Tống Giang im lặng không nói câu nào, mặc dù bản thân hiểu rõ sức mạnh của năm hổ ởtăng Đầu thị mạnh đến cỡ nào Cho nên theo Kim thánh Thán, xét cho cùng thì Tiểu Cái đã chết trong tay Tống Giang rồi, không cần chờ đến muuix tên của Sở Văn cung Với cách viết “vô ngôn” này Kim Thánh Thán cũng có lời bàn : “Tác giả với những trận trước thì chép ra Tống Giang khuyên, đến lần này chép thì

bỏ lời khuyên đi, chi rõ cái các tâm của Tống Giang để định tội vậy Đó là thâm ý của tác giả, dung ngòi bút kì quan chép sử cho rõ công ngay.” (Lời bàn hồi 59)

Thông qua hành động mà khắc họa nhân vật

Khắc họa nhân vật Võ Tòng vừa cẩn trọng, vừa thô bạo trong hồi “Máu chảy hổi uyên ương” ông viết:

“ khi giết bồi ngựa, thổi tắt đèn đi, mở của mạch lách vào, khép cánh của lại, giết chết Liễu Hoàn, tắt đèn trong bếp, chạy ra trước cửa… tả những câu đến thế do ngòi bút sắc Mới đầu tả một canh bốn điểm, trước giởbọc lấy áo của Thi Ân và liền sau lại lấy ra dung dây gai, đó là bút pháp được nghiêm Lẻn vào cửa sau giết tên bồi ngựa, rồi đánh nhoàng ra cửa sau, giở đến bọc đao, mở cánh cửa mạch mấy làn lách ra lách vào khép cánh, sấn vào trên lầu, giết chết ba tên, rồi lại xuống thành lầu, nhường cho hai người đi lên, rồi trở lên lầu giếtnốt, rồi trở xuống lầu giết nốt phu nhân, trở lại dưới bếp lao dao, chạy tới trung đường, đi ra khỏi cửa, bao nhiêu lần chuyển hành động, đó là sức bút cứng cáp, lớn lao.” (Lời bàn hổi 30)

Dùng lối đối sánh “phản thấn”

“có phép bối diện phản thấn như những đoạn muốn chứng thực sự gian trá của Tống Giang, bất giác lại tả Lý Quỳ chân thực, và muốn chứng thực Thạch Tú tinh nhanh, bất giác lại tả Dương Hùng là hạng hồ đồ” (Phép đọc)

Trang 6

Kim Thánh Thán phát hiên ra hàng loạt phép đối sánh trong trong việc khắc họa hai nhân vật Tống Giang và

Lý Qùy

 Tống Giang đón cha trong thôn gặp thần, Lý Quỳ đón mẹ trong rừng gặp hổ

 tống Giang gặp Huyền Nữ là gian hủng đảo quỷ, Lý quỳ gặp Bạch Thỏ là thuận hiếu thấu trời

 cha Tống Giang không muốn con làm cường đạo, mẹ Lý quỳ muốn con làm quan

 Tống Giang có em theo giặc, Lý Quỳ có anh là lương dân…

Cũng có khi biện pháp “Bối diện phản thấn” này đưuọc dung để miêu tả tính cách của một nhân vật, từ mặt trái để làm nổi rõ mặt chính diện Ví dụ “ Lý quỳ là người thô mãng, tuy hết sức tả ra cũng không tả nổi, hồi này cốt chép Lý quỳ thô mãng, lại tả lật lại con người gian hoạt, thế mà khiến cho đời thấy càng gian hoạt lại càng chất phác.” ( Lời bàn hổi 53)

Anh Cường

CHƯƠNG III VĂN TÂM ĐIÊU LONG CỦA LƯU HIỆP

III NHÀ VĂN : TÀI ĐỨC, HỌC VẤN, CÁ TÍNH, PHONG CÁCH

- Tài đức :

+ Không chỉ coi trọng đạo đức xã hôi, mà cả tư cách đạo đức cá nhân Ông viết : “Chu thư bàn về kẻ sĩ, so sánh họ

với gỗ Đó là quý kẻ sĩ ở chỗ họ có công dụng lại gồm cả văn thái Vì vậy gỗ đẽo trắng xong thì bôi thuốc nhuộm.Nhưng tượng gỗ dựng xong thì gọt những chỗ mọt Trái lại các nhà từ phú gần đây chỉ lo chuyện hoa mĩ, bỏ mất cáithực tế Cho nên Tào Phi cho rằng văn nhân từ xưa tới nay đều không để ý đến những đức hạnh nhỏ” (Trình khí).+ Lưu Hiệp cho rằng có nhiều người đem lại cái lụy cái xấu cho giới văn sĩ : Tương Như hay ăn của đút, lại tư thôngvới vợ kẻ khác Dương Hùng hay quỵt tiền rượu Đỗ Dộc và Lệ Túy hay xin xỏ Ban Cố lại nịnh Độc Hiến để lấy uy

Mã Dung hám của, thích bè phái… Nhưng ông cho rằng đây không phải chỉ riêng của nhà văn, nên cần xem xét, nhất

là không nên coi đây là nhà văn hư hỏng cả Lưu Hiệp viết : “Các tướng quân, tể tướng xưa, nết xấu cũng thật nhiều.Như Quản Trọng cũng ăn trộm Ngô Khởi tham và dâm Trần Bình tham của đút Quan Anh nịnh hót và ghen tài Cứ

từ đó mà đi xuống thì không kể hết được Khổng Quang giữ địa vị chủ chốt của quốc gia mà còn đi xu nịnh Đổng

Hiền, huống nữa là Ban Cố, Tư Mã Tương Như ở địa vị hèn, Phan Nhạc ở địa vị thấp…” (Trình khí).

- Không chỉ nhấn mạnh đức, ông còn đề cao tài, và cũng nêu cao việc học tập của nhà văn Ông viết : “Gừng và quế ởđất mà ra, nhưng cay là do bản tính Văn chương do học mà có, nhưng làm giỏi là ở thiên tư Cái tài là do từ trong ra,cái lực là do từ ngoài vào Có người học đầy đủ nhưng trí nông cạn; có người trí nhiều nhưng học nghèo nàn, thì sự

nghiệp gay go khó nhọc; người tài kém trì nhọc mệt ở văn từ và tình cảm” (Sự loại).

- Cá tính : “Trường Khanh là người cao ngạo , cho nên lí lẽ văn từ đều quá sức Tư Vân là người sâu sắc cho nên ý tứsâu kín, mà ý vị thì sâu xa Tử Chính là người giản dị cho nên ý tứ, sự viễ trong văn chương đều rõ ràng, sáng sủa

Mạnh Kiên là người trong nhà, cho nên văn chương chặt chẽ , ý tứ thâm trầm…” (Thể tính).

- Cá tính là điều kiện hình thành phong cách, nhưng không phải bất cứ cá tính nào cũng đưa lại phong cách Chỉ cónhững cá tính tạo nên sự độc đáo, đem lại cho con người những cảm xúc thẩm mĩ thì mới làm nên phong cách, là mộtphương diện quan trọng trong giá trị của văn học Lưu Hiệp khen : “Kê Khang lấy tâm làm thầy đi điều khiển lí luận

Trang 7

Nguyễn Tịch lấy khí lực để làm thơ Họ thanh âm khác nhau nhưng tiếng vang hòa hợp, cách lượn khác nhau nhưngcùng bay Phan Nhạc mãn nhuệ, lời và ý đều hòa dịu thông suốt Chung Vinh lời đẹp khi nói về việc tây chính GiảNghị ý dồi dào khi biểu lộ niềm đau xót Lục Cơ tài muốn nhìn sâu, lời muốn nhìn rộng, cho nên tứ mới có thể vàokhéo léo mà không bị rườm rà cản trở Họ không phải là hạng thua kém loài hoa vậy Người nào cũng có chỗ hay

của họ” (Tài lược).

Có thể thấy sáng tác không chỉ dựa vào cá tính Nó phải là sự tổng hợp của tài, đức, cá tính, học vấn, Lưu Hiệpnói : “Tài năng có cao thấp, khí chất có cứng mềm, học vấn có sâu có nông, tập quán có khéo có vụng, đều do bảnchất và sự rèn luyện hun đúc có thành, vì thế mà văn chương có hay có dở, biến hóa vô cùng, vậy cho nên văn lí sắchay cùn, không thể vượt qua khỏi tài năng Mỗi người theo cái thành tâm của mình, sự khác nhau thật giống như

diện mạo của người ta vậy” (Thể tính)

KL : Đúng là mỗi nhà văn có một nét riêng, nhưng chỉ có những cái riêng nào ha, sắc, sâu, tinh,… thì mới đáng gọi làphong cách Phong cách dứt khoát phải muôn màu muôn vẻ Nhưng trong cái muôn màu muôn vẻ ấy thì có hể phânloại theo những nét tương đồng nào đó Ngày nay ta gọi là loại hình phong cách Điều đó Lưu Hiệp trực cảm được

Căn cứ vào sáng tác thời ấy mà ông đưa ra cách chia tám loại phong cách là Điển nhã, Viễn ảo, Tinh ước, Hiển phu, Phồn phục, Tráng lệ, Tân kì, Khinh thị.

CHƯƠNG V : CHUNG QUANH CÔNG THỨC VĂN DĨ TẢI ĐẠO

I LOẠI VĂN NÀO?

a Văn từ thời Khổng Tử :

+ Trong Luận ngữ : Văn học Tử Do, Tử Hạ Nghĩa là Tử Do Tử Hạn là người giỏi văn Văn ở đây được hiểu là học

thuật nói chung, bao hàm cả lịch sử, triết học,… chứ không là khái niệm nghệ thuật ngôn từ như ngày nay

b Thời Hán, các tác phẩm văn học xuất hiện nhiều nên có sự phân chia khái niệm văn và văn chương Khái niệm văn

như thời Khổng Tử, còn văn chương có nghĩa gần như ngày nay Trong Hán Thư : Văn chương thì có Tư Mã Thiên và Tương Như Gần giống nghĩa là có thể gọi Tư Mã Thiên và Tương Như là nhà văn, vì tác phẩm của hai ông có chất

văn, chứ tác phẩm đó không là tác phẩm văn chương

c Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, cùng với Tào Phi, Lưu Hiệp,… thì văn học đã tách ra khỏi kinh học, sử học, huyền học Thậm chí phân biệt văn học mĩ cảm và văn học ứng dụng

d Đến đời Đường thì lại quay lại hiểu văn như thời Hán, tức là những sáng tác văn và trong những sáng tác ngoàivăn Những nhà cổ văn Đường chủ yếu viết văn chính luận Ví dụ như Hàn Dũ

đ Đời Tống, không phân biết văn chương và học thuật như đời Hán nữa Văn mà họ quan niệm như thời Chu Tần :bao gồm cả học thuật nói chung Trình Hạo nói : “Người ta thấy lục kinh liền cho rằng thánh nhân cũng làm văn, đâu

có biết rằng thánh nhân chỉ phát những cái ấp ủ thành văn trong lòng mình Tức là cái gọi là Hữu đức giả, tất hữu ngôn Còn bọn Tư Do, Tử Hạ làm văn đấy thì sao? Đáp : Do, Hạ có lúc nào cầm bút học làm từ chương đâu” (Di thư) Trương Giới : văn thì thiên về nghị luận là không đẹp.

Trần Tử Long : thơ thì nói lí chứ không tả tình.

Vậy văn, theo quan niệm của Tống Nho là chỉ thuyết minh cho kinh kệ, nó không cần phản ánh sư thật và không

cần đẹp

Trang 8

Đạo : là quy luật khách quan tự nhiên : “Đạo trong văn là cùng sinh tồn với trời đất” “Người là tâm của trời đất, tâm

đã sinh thì ngôn lập, ngôn đã lập thì văn sáng tỏ, đó là đạo của tự nhiên vậy” (Nguyên đạo).

- Chương Đạo Thành đời Thanh : “Đạo bắt đầu từ trời” (Nguyên đạo) “Xem trẻ con bập bẹ, có thanh mà không có

lời, xem hình mà đoán được ý muốn của chúng, qua đó mà biết được cái mở đầu cho việc trước thuật văn chương

vậy” (Thuyết lâm) Ông cho rằng, đạo xuất phát từ tự nhiên, bắt nguồn từ thực tiễn trong đời sống, khi thánh nhân nêu

và gọi là đạo mới gọi “lí đương nhiên” Rồi “Sự việc còn thay đổi về sau, lục kinh chưa thể nói hết được, cho nên tốt

nhất là nương theo lục kinh, phải tùy thời viết ra các đạo lớn” (Nguyên đạo).

- Hàn Dũ đời Đường : đạo chính là đạo Nho Vì xã hội Đường bị chiến tranh liên miên, nên ông ta sùng bái đạo Nho,khôi phục địa vị chính thống đạo Nho Ông viết : “Sách Đại học nói rằng : Đời xưa muốn cái đức sáng với thiên hạ,đầu tiên phải trị nước, muốn trị được nước trước hêt phải tề gia, muốn tề gia thì tu thân, muốn tu thân thì trước hếtphải chính tâm, muốn chính tâm trước hết thì thành ý … Về văn chương thì Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, KinhXuân thu Về phép tắc thì lễ nhạc và hành chính Về việc dân thì sĩ, nông, công, cổ Về trật tự thì quân thần, phụ tử,

sư sinh, bằng hữu, tân chủ, huynh đệ, phu phụ,…” (Nguyên đạo).

- Đời Tống, Đạo hoàn toàn không có tính chất quan sát và tổng kết quy luật khách quan, mà hoàn toàn dựa vào kinhbổn của thánh hiền

+ Y Thưởng : Thánh nhân nói gì, tôi nói nấy; nhất cử nhấ động, nhất ngôn, nhất hành, đều phải rập khuôn theo thánhhiền

+ Chu Đôn Di, Trình Di, Trình Hạo đã chú thích Tứ thư, Ngũ kinh theo hướng khai thác những mặt hạn chế, tiêu cựclạc hậu Thậm chí họ còn bổ sung thêm nhiều khắc nghiệt về đạo đức lễ giáo, ví dụ như tiết liệt Trình Di nói :

“Nhưng chết đói là việc cực nhỏ, thất tiết mới là việc lớn”

Tóm lại, “đạo” của Tống Nho không những duy tâm và giáo điều mà còn phản nhân đạo

III VĂN CHỞ ĐẠO RA SAO?

1 Văn dĩ quán đạo

- Nếu “đạo” được hiểu là hiện thực khách quan, thì “văn” không phải chỉ để chở cái “đạo” vốn có, mà người làm văncòn phát hiện thêm sưh thực trong đời sống, bổ sung bồi đắp cho nguồn cái đạo Cho nên “văn” không còn là phươngtiện thuần túy nữa Quan niệm “Văn dĩ quán đạo” manh nha từ Lí Hán đời Đường : “Văn giả, quán đạo chi khí” (Cáigọi là văn, tức là cái khí cụ để quán xuyến đạo” Tuy còn nghĩa công cụ, nhưng ít ra còn bao hàm cái ý là “đạo” phảinhờ “văn” mới thực hiện được Chương Đạo Thành đời Thanh, dù không trực tiếp phát biểu “Văn dĩ quán đạo”, song

ông cũng tán thành “Lời của Lí Hán có ý vị sâu sắc” (Thuyết lâm)

Trang 9

- “Văn dĩ quán đạo” thình hành nhất ở thời Tống Tô Đông Pha nói : “Ngô sở vi văn, tất dữ đạo văn”, nghĩa là “Văn

mà tôi làm ra cùng xuyên thấm với đạo” Điều này rất tiến bộ, “Vì làm văn mà dần dần nói đến đạo lí” – đây đúng làquy luật sáng tác của nhà văn với tư cách là nghệ sĩ đích thực Văn nghiệp của ông nói lên điều đó Thơ, từ, phú củaông là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ đời Tống

- Ngược lại với quan niệm trên là những quan niệm của những người cho rằng “đạo” là sách vở thánh hiền thì mốiquan hệ văn và đạo hiểu theo cách khác

+ Hàn Dũ : Văn dĩ minh đạo “Minh” là gì thì ông không cho biết cụ thể, chỉ nói : “Sư kì ý bất sư kì từ” Nói chungcác nhà cổ văn cùng thời Hàn Dũ đều có quan niệm như vậy Hàn Dũ nói : “Chí của Dũ ở chỗ đạo cổ, không phảithích mà là thích đạo”

+ Chu Đôn Di nói : “Văn là để chở đạo, cũng như xe dùng để chở vật, bánh và cần xe được trang hoàng mà không

dùng đến, đó là trang hoàng phí công, huống chi là xe không” (Thông thư) Như thế theo Tống Nho, văn chỉ là một cỗ

xe chở đạo nằm hoàn toàn bên ngoài Mối quan hệ giữa văn và đạo là hoàn toàn cơ giới, máy móc, không có quan hệgiữa nội dung và hình thức.Theo Tống Nho, trong văn không có đạo, văn chỉ là phương tiện , một công cụ thuần túy,không nhất thiết phải đẹp, và càng không liên quan gì đến nhận thức đời sống Đây là một quan niệm hoàn toàn sailầm, hoàn toàn trái với bản chất và chức năng của văn học

Nguyên nhân : Tống Nho tuyệt đối hóa “đạo”, biến nó thành một thứ cực kì giáo điều và trừu tượng Trình Di nói :

“Trong cái vĩnh hằng của trời đất không nghe, không ngửi được, cái lí của nó là đạo” Đó là cái đạo “thiên lí” nóichung, không phải là bao gồm từng chân lí cụ thể

Hậu quả : Tống Nho đều khinh thị những quan niệm như “Văn dĩ minh đạo”, “Văn dĩ quán đạo”, chê cả Hàn Dũ, dùban đầu coi Hàn Dũ là tổ sư của mình Họ chê rằng ông ta đã đảo lộn quan hệ “văn” và “đạo”, đã “hại đạo” Và họcòn chê tất cả các loại văn chương khác Trình Hạo nói : “Hỏi làm văn là có hại đạo không? Đáp là có hại Phàm làm

văn mà chưa truyền ý ắt chưa dụng công,…” (Di thư) Vì chủ trương “Văn tải đạo”, thì người chân chính khó quán

triệt, còn lũ bất tài noi theo thì sáng tác không thể gọi là văn chương Những người đi theo con đường khác thì bị gọi

là “Văn hại đạo” Ví dụ như Chu Hi công kích Tô Đông Pha : “Văn vốn trong đạo chảy ra, làm gì có cái lí văn lại có

thể quán được đạo Nếu cho văn quán được đạo, tức lấy gốc làm ngọn, lấy ngọn làm gốc vậy” (Ngữ loại).

Về việc tu dưỡng, tích lũy của nhà văn, Tống Nho cho rằng phải “cầu đạo”, nghĩa là phải tụng niệm sách vở thánhhiền Vì tôn sùng đạo Nho một cách giáo điều nên cần “cầu đạo” là đủ

KL : Nếu chỉ căn cứ vào chữ nghĩa thì dễ cảm thấy “Văn dĩ tải đạo” không có gì sai trái, thầm chí diễn đạt gãy gọn,súc tích một chân lí muôn đời : văn chương phải hàm chứa một nội dung đạo đức, đạo lí nào đấy Nhưng phân tíchlịch sử - cụ thể, khảo sát từng yếu tố trong mối quan hệ hữu cơ bên trong chúng, tiến hành so sánh với các quan niệmhữu quan,… thì thấy quan niệm “Văn dĩ tải đạo” phiến diện về nội dung “văn|, tiêu cực nội dung “đạo” và sai lầm vềphương pháp “chở” Nó kết tinh đến cao độ những mặt tiêu cực trong quan niệm của Nho giáo về văn học và để lại dihại, trở ngại cho đổi mới tư duy văn học hiện đại

Trang 10

Em Thảo

Câu 1 (Phần I Chương II)

MỘT THỜI KÌ “TRĂM NHÀ ĐUA TIẾNG” – QUAN NIỆM VĂN HỌC VÀ MĨ HỌC CỦA PHÁI NHO,

ĐẠO, MẶC, PHÁP GIA

Khái quát chung:

- Đây là thời Chiến Quốc (thế kỉ VIII-II TCN) , nhiều vấn đề bức bách của thời đại cần phải giải quyết: Làm thế nàokết thúc phân tranh, thống nhất đất nước, thiết lập chế độ chính trị và pháp luật phù hợp phù hợp xã hội mới…

- Xuất hiện nhiều nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, triết học, pháp luật… tranh biện lẫn nhau > tạo cục diện “Báchgia tranh minh” Lí luận văn học, mĩ học cũng nằm trong tình trạng “tranh minh” như vậy

Quan niệm của Nho gia

1 Người tiêu biểu cho học phái Nho gia: Khổng Tử

2 Những tiến bộ trong tư tưởng của Khổng Tử:

Thứ nhất: Khổng Tử nêu lên học thuyết chữ “Nhân”

(1) “Nhân” ở đây được hiểu là: Điều gì mình không muốn chớ gán cho người; yêu người; mình muốn nên

người thì cũng nên gây dựng cho người, muốn thành đạt thì cũng nên giúp người thành đạt

(2) Điểm cao nhất của “Nhân”: Thi hành rộng rãi khắp cho dân, do đó có thể giúp được nhiều người

(3) Khổng Tử còn chủ trương con người phải nghe thấy nhiều, không nên tin vào quỷ thần…

Thứ hai: Về văn học:

(1) Trong hệ thống thuật ngữ của Khổng Tử có khái niệm “văn học”, nhưng mang hàm nghĩa “học thuật” nói

chung Riêng khái niệm “thi” mà ông dùng trong văn học, nghĩa của nó tới người ngày nay vẫn không đổi

(2) Quan niệm văn học coi trọng đạo đức phong kiến “trung hiếu”:

“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được tên chim muông cây cỏ”

=> Xuất phát từ đạo đức phong kiến, Khổng Tử chê thơ ca nước Trịnh: “Thơ ca nước Trịnh dâm, kẻ tiểu nhân nguyhiểm”

Việc nhấn mạnh tu thân theo đạo đức phong kiến còn được thể hiện trong đối thoại về Kinh Thi giữa Tử Cống

và Khổng Tử hay sự đối thoại giữa Tử Hạ và Khổng Tử

=> Hệ quả của quan niệm văn học trên: Khổng Tử nhấn mạnh nội dung và tác dụng thiết thực của văn học

Trang 11

Ông khuyên nhà văn: “Ngôn từ, đủ đạt ý là được rồi”

Tiếp nhận văn thơ không chỉ là để thưởng thức cái hay cái đẹp mà phải rút ra tác dụng thiết thực của nó: “Đọc thuộc ba trăm bài Kinh Thi, nhưng giao cho nhiệm vụ chính trị không làm được, sai đi sứ nước ngoài lại không biết độc lập tự mình ứng đáp, đàm phán, mặc dù thuộc nhiều nhưng phỏng có ích gì?”

Tiểu kết: Khổng Tử đề xướng quan niệm văn học tuyên truyền, bảo vệ chế độ, đạo đức, lễ giáo phong kiến

(3) Khổng Tử không đối lập gay gắt việc tuyên truyền đạo đức phong kiến với việc nhận thức hiện thực Theo

ông, văn học không những phản ánh chân thực cuộc sống mà còn biểu hiện chân thực tình cảm con người ( “Thơ có thể làm… cây cỏ”) >< quan niệm của Tống Nho thời sau này

(4) Khổng Tử chú ý đến cái hay cái đẹp của văn chương:

“Lời không văn vẻ, không đi xa được”

“Chất nhiều hơn văn thì không tránh khỏi thô thiển, văn nhiều hơn chất thì không tránh khỏi hư rỗng Văn và chất phối hợp thích đáng thì đó mới là người quân tử vậy” (Đây là từ văn mà bàn đến con người)

> Khổng Tử coi trọng sự thống nhất giữa nội dung và hình thức

(5) Khổng Tử cho rằng nội dung của văn chương không chỉ có đạo đức, tư tưởng, lí trí thuần túy, mà còn có

tình cảm, hứng thú ( >< quan niệm Tống Nho sau này):

“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, bày tỏ nỗi sầu oán”

Đặc biệt, Khổng Tử khẳng định thơ ca biểu hiện tình yêu và hạnh phúc lứa đôi Ngay cả với bài “Quan thư” mở đầutập Kinh Thi, ông cũng cho rằng: Bài Quan thư vui mà không tà dâm

(6) Khổng Tử coi trọng đặc trưng, chức năng riêng biệt của văn chương nên ông đề cao tác dụng của nó ( ><

Tống Nho: chủ trương “văn dĩ tải đạo” – gắn với thứ văn chương minh họa cho đạo đức)

“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, giúp quan sát phong tục…”

“Không học thơ, thì không có gì để ăn nói”

Câu 2 (Phần II Chương II)

QUAN NIỆM CỦA ĐẠO GIA

I Lão Tử

1 Khái quát: Cuối thời Xuân thu, sự tranh giành và thôn tính khốc liệt dẫn đến sự suy yếu của một số lãnh chúa vừa

và nhỏ Triết học Lão Tử (thế kỉ VI-V TCN) là đại biểu cho nguyện vọng chính trị-xã hội của lực lượng suy tàn này

Trang 12

2 Triết học Lão Tử:

- Có những yếu tố duy vật, biện chứng thô sơ:

+ Quan niệm bản nguyên thế giới không phải do Chúa Trời, Thượng Đế mà là một khối hỗn mang

+ Thế giới có thay đổi (có sinh, có trưởng) và có tính chất tuần hoàn

- Thuyết “vô vi” (không làm gì cả)

+ Học thuyết này gắn mật thiết với lí tưởng thẩm mĩ của Lão Tử

+ Kêu gọi: Thỏa mãn với những gì thiên nhiên dành cho con người, hạn chế ham muốn, tự giải thoát khỏi đam mê + Lão Tử cụ thể hóa triết học của mình thành những mệnh đề:

“Tuyệt thánh khí trí” (Bỏ thánh hiền, vứt trí tuệ)

“Tuyệt xảo khí lợi” (Vứt cái khéo léo, xa lìa danh lợi)

“Tuyệt học vô ưu” (Bỏ học, không lo lắng gì cả)

Hệ quả:

Ông chủ trương một nền giáo dục “bất ngôn chi giáo” (dạy bằng cách không nói gì cả)

Về tranh luận học thuật, ông khẳng định: “Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện” (Người giỏi không

tranh biện, người hay tranh biện không giỏi đâu)

 Tuy không phủ nhận cái đẹp vốn có trong hiện thực khách quan (xuất phát từ yếu tố duy vật trong tư

tưởng), nhưng ông lại phủ nhận cái đẹp trong thực tiễn của con người:

Theo Lão Tử, cái đẹp cũng phải “vô vi”, như “gỗ chưa qua tay người” > Cái đẹp thoát li thực tiễn sống và đấu tranhcủa con người, phản ánh lí tưởng xã hội muốn quay lại thời hỗn mang của ông

Ông triệt để khẳng định: “Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp thì không còn đẹp nữa”

 Lão Tử phủ định văn nghệ với tư cách hành động sáng tạo của con người, với văn học cũng vậy Ông phủ

định triệt để nhân tố cơ bản của văn học là “ngôn” và “mĩ”:

“Chính ngôn nhược phản” (Lời nói phải cũng như lời nói trái)

“Mĩ ngôn bất tín, tín ngôn bất mĩ” (Lời nói đẹp không đáng tin, lời nói được không đẹp)

> Phủ nhận mĩ ngôn thì tất yếu Lão Tử không thừa nhận văn học

II Trang Tử

 Ông đã tiếp thu và phát triển những tư tưởng mĩ học của Lão Tử

 Thường diễn đạt tư tưởng của mình bằng những chuyện ngụ ngôn/trùng ngôn/chi ngôn…

 Nhất trí với Lão Tử về tư tưởng xã hội, ông phản đối các cuộc tranh luận phải trái

 Trang Tử nêu ra quan niệm tương đối về nhận thức luận, cho rằng trên đời này, dài ngắn, to nhau, phải

trái, tốt xấu đều như nhau… và chân lí là điều rất tương đối

Trang 13

=> Hệ quả: Quan điểm mĩ học của Trang Tử: Khẳng định cái đẹp cũng là tương đối, vì thế giới là vĩ đại, vô cùng màcon người và cả thần linh đều không bao quát được hết vẻ đẹp của nó

(5) Trang Tử đi từ chủ nghĩa tương đối đến quan niệm có yếu tố bất khả tri trong mĩ học Ông nói:

“Thiên hạ có cái đẹp lớn nhưng không thể nói ra, bốn mùa có phép tắc nhưng không bàn luận được, vạn vật có cái lí kết thành nhưng không thuyết minh ra”

Ngay cả việc đọc sách cũng chỉ là “đang tiếp xúc với cặn bã của người xưa” (Truyện “Thiên đạo”)

(6) Tư tưởng mĩ học của Trang Tử cơ bản là duy tâm, nhưng cũng có những yếu tố biện chứng thô sơ

- Ví như truyện “Thiên đạo”, thông qua chuyện đẽo xe để chứng minh cái đẹp, cái tinh là không giảng giải được, tuynhiên nó cũng chứng minh cái đẹp, cái tinh, cái điêu luyện được hình thành trong quá trình rèn luyện và cố gắng lâudài trong thực tiễn

- Ví như chuyện phó mộc Khánh làm giá gỗ, khi ta bỏ đi phần diễn đạt huyền bí thì thấy rõ quan niệm: Nhà nghệ sĩphải đam mê sáng tạo đến mức không quan tâm đến điều gì khác, kể cả quyền lợi rất thiết thân và chính đáng…đểthai nghén đứa con tinh thần cho tượng hình rõ nét trong tư duy sáng tạo, rồi mới bắt tay vào chạm trổ

Mai Huyên : Chương 3: Một công trình tiêu biểu

– “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp

Phần VI – Phê bình văn học

Lưu Hiệp phê phán những khuynh hướng phê bình sai lầm

 Khuynh hướng “quý xưa rẻ nay”: “Thật quả là cái ngay ở trước mắt thì không dùng, chỉ hâm mộ cái tiếngnghe ở xa vậy.”

 Khuynh hướng “trọng mình khinh người”

 Khuynh hướng “nói bừa”

 Ông cho rằng phê bình đúng đắn không phải là việc giản đơn bởi vì:

 Những khuynh hướng sai lầm nói trên

 Trình độ và phong cách của mỗi người khác nhau

 Tính chất phức tạp của tác phẩm văn học

 Do đó mà có hiện tượng “nhận xét sai lạc, các tác phẩm sâu sắc thường bị vứt bỏ, trái lại các tác phẩm nôngcạn thường được ưa chuộng”

 Tuy nhiên không phải là không thể phê bình đúng đắn, vẫn có thể nhận thức được cái “chân lí” của tác phẩm

Muốn phê bình cho đúng thì nhà phê bình phải:

 Tránh những khuynh hướng phê bình sai lầm ở trên

 Rèn luyện cho mình có nhân cách toàn diện

Trang 14

 Có kiến thức sâu rộng và thái độ công bằng

 Biết vận dụng toàn diện các tiêu chuẩn phê bình (mà ông gọi là “lục quan”) :

+ Vị thể: Tìm ra nội dung và hình thức tác phẩm

+ Trí từ: Xem cách dùng từ, đặt câu có xác đáng không

+ Thông biến: Xem nội dung và hình thức có hài hòa hay không

+ Kì chính: (Thầy không giải thích )

+ Sự nghĩa: Xét điển cố, dẫn chứng có ổn thỏa không

+ Cung thương: Xét âm điệu của tác phẩm có hài hòa không

 “Lục quan” bao quát cả nội dung tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm

Bùi Thùy

Câu 18 VIÊN MAI, NHÀ TỔNG HỢP SÁNG TẠO

Viên Mai (1716-1797) là tập đại thành của nền phê bình lí luận thơ ca cổ điển Trung Quốc, là nhà phê bìnhvăn học nổi tiếng đời Thanh Người đời thường gọi ông là Tùy Viên tiên sinh Ông có tự là Tử Tài, hiệu Giản Trai,người đất Tiền Đường, Triết Giang (Hàng Châu) Ông bàn về thơ nổi tiếng với cuốn "Tùy viên thi thoại" gồm 16quyển và "Tùy viên thi thoại bổ di" gồm 10 quyển

Quan điểm văn học của viên Mai tập trung vào thuyết tính linh bao gồm 3 điểm cơ bản: làm thơ phải có cái tôi

"làm thơ không thể không có cái tôi"; tài năng "Nhà thơ không có tài thì không vận chuyển được tâm linh"; trong quan hệ giữa tài và tình thì tình là điều kiện số một "Không có tình thì không thể có tài" Viên Mai phê phán mạnh mẽ lối sùng

bái người xưa, lối dùng điển cố một cách sơ cứng Tuy vậy, ông không phủ nhận ý nghãi của việc học tập người xưa

Ông đề cao tính chân thật trong văn chương "văn chương truyền cái chân thật chứ không truyền cái giả dối"

Viên Mai vươn đến một quan niệm thơ khá toàn diện, gần đạt đến mức thống nhất biện chứng giữa nhiều mặtđối lập, ít rơi vào sai lệch cực đoan Ông quan niệm thơ phải chân thực nhưng phải sống động Lí luận của ông luôn

có sự kết hợp hài hào giữa "chân" với "hoạt" Ông cho rằng nếu "tính tình" cần chân thực, thì cũng phải biểu hiện một cách linh hoạt Ông nói: "Nếu ngòi bút linh hoạt, thì viết việc trung, hiếu, tiết nghĩa vẫn có sinh khí, nếu ngòi bút cứng đờ, thì dù vịnh con gái tỏng phòng khuê, vẫn thiếu tình tứ"; "Tất cả thơ văn đều cần chữ đứng trên giấy, không thể đề chữ nằm trên giấy"; "Người có thể khờ, nhưng thơ không thể khờ"

Trong "Tùy viên thi thoại", Viên Mai nhấn mạnh thơ phải có chất suy nghĩ, sâu xa, gân guốc: "Thơ có thịt mà không có xương là con sâu mùa hè vậy" Sâu sắc nhưng phải thật nhuần nhuyễn, và cần được biểu hiện một cách hồn nhiên, không làm mệt óc, làm giảm sức đồng vọng của người nghe Viên Mai tán thành với Mạn Trai cho rằng: "Thơ dụng ý phải sâu sắc, nhưng hạ bút phải bình dị" Ông nói: "Cái suy nghĩ được mặc dù khổ đắng, nhưng nói ra phải ngọt ngào Cái nói ra có thể bất ngờ với người khác, nhưng vẫn nằm trong ý của họ"; "Ý sâu nhưng lời dễ, nghĩ khó nhọc nhưng lời ngọt ngào" (Ý thâm từ thiển, tứ khổ ngôn cam) Viên Mai còn khái quát những ý nghĩ này thành lời bàn sâu sắc về thơ ca: "Thơ thích nhạt chứ không thích nồng, nhưng phải là sự nhạt sau khi đã nồng" (Thi nghi đạm bất

nghi nồng, nhiên tất tu nồng hậu chi đạm)

Ngày đăng: 25/07/2016, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w