DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU LỜI MỞ ĐẦU.. 1 CHƯƠNG 1:CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 1.1 Tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng thương mại 3 1.1.1 Khái niệm tín dụng trung dài hạn 3 1.1.2. Đặc điểm tín dụng trung dài hạn 4 1.1.3 Các hình thức tín dụng trung dài hạn 6 1.1.3.1 Tín dụng theo dự án đầu tư. 6 1.1.3.2 Tín dụng thuê mua (leasing credit). 8 1.1.4 Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường 9 1.1.4.1 Đối với nền kinh tế:. 9 1.1.4.2 Đối với doanh nghiệp. 11 1.1.4.3 Đối với ngân hàng. 12 1.2 Chất lượng tín dụng trung – dài hạn của các ngân hàng thương mại 13 1.2.1. Khái niệm 13 1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn 14 1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn. 19 1.2.3.1 Nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế. 19 1.2.3.2 Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại. 21 1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung – dài hạn. 21 1.3.1 Những nhân tố chủ quan. 21 1.3.2 Những nhân tố khách quan. 25 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN.. 28 TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NoPT TRÀNG AN.. 28 2.1. Khái quát về chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An 28 2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NH NoPTNT Tràng An 28 2.1.2. Khái quát tình hình hoạt động của chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An 29 2.1.2.1. Nguồn vốn huy động. 29 2.1.2.2. Sử dụng vốn. 31 2.1.2.3. Hoạt động kinh doanh đối ngoại 33 2.1.2.4. Hoạt động đổi mới công nghệ ngân hàng. 33 2.1.2.5 Công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ. 34 2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An. 35 2.2.1. Thực trạng tín dụng trung – dài hạn 35 2.2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An 38 2.2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An. 42 2.2.3.1 Kết quả đạt được. 42 2.2.3.2 Hạn chế và các nguyên nhân. 44 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NoPTNT TRÀNG AN.. 49 3.1. Định hướng phát triển tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An. 49 3.1.1. Định hướng chung 49 3.1.2. Định hướng phát triển tín dụng trung dài hạn 50 3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An. 51 3.3. Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng NoPTNT Tràng An. 59 3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước: 59 3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam. 60 3.3.3 Kiến nghị đối với ngân hàng NoPTNT Việt nam 61 3.3.4 Kiến nghị đối với doanh nghiệp vay vốn 63 KẾT LUẬN.. 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 68
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG - DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Tín dụng trung- dài hạn của Ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm tín dụng trung- dài hạn 3
1.1.2 Đặc điểm tín dụng trung- dài hạn 4
Các hình thức tín dụng trung- dài hạn 6
Tín dụng theo dự án đầu tư 6
Tín dụng thuê mua (leasing credit) 8
Vai trò của tín dụng trung- dài hạn trong nền kinh tế thị trường 9
Đối với nền kinh tế 9 Đối với doanh nghiệp 11
Đối với ngân hàng 12 Chất lượng tín dụng trung – dài hạn của các ngân hàng thương mại 13
1.2.1 Khái niệm 13
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung- dài hạn 14
Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung- dài hạn 19
Nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế 19
Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại 21
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 NHNo&PTNT VN Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tình hình huy động vốn 30
Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn 32
Bảng 4: Cơ cấu cho vay trung- dài hạn theo ngành kinh tế 37
Bảng 5: Cơ cấu tín dụng trung- dài hạn theo thành phần kinh tế 38
Bảng 6: Tình hình nợ quá hạn tại Chi nhánh 39
Bảng 7: Tình hình NQH cho vay trung – dài hạn tại chi nhánh 40
Bảng 8: Nợ quá hạn theo thời gian 41
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta từ sau những năm đổi mới, thực hiện chuyển đổi sang nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đinh hướng xã hộichủ nghĩa đã giành được những thành tựu hết sức to lớn như nước ta đa thoátkhỏi các cuộc khủng hoảng, tốc độ kinh tế phát triển không ngừng, tốc độ pháttriển của các sản phẩm trong nước vượt những kế hoạch đề ra, các kết quả vềkiềm chế lạm phát Mục tiêu phấn đấu của nước ta đến năm 2020 là trở thànhmột nước công nghiệp hiện đại, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đấtnước Muốn vậy, chúng ta cần phải có nguồn vốn trung - dài hạn lớn, đó là vấn
đề hàng đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ trang bị kỹ thuật tiêntiến, đồng thời có sự nâng cấp mở rộng sản xuất kinh doanh đối với các thànhphần kinh tế từ đó tạo đà cho sự phát triển Điều đó cho thấy vai trò hết sức quantrọng của vốn trung- dài hạn trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Nước ta là một nước đang phát triển nguồn lực còn hạn chế nhiều mặt,ngay cả vốn trung- dài hạn cũng vậy nên càng cần phải hết sức tiết kiệm, sửdụng đầu tư đúng mục đích để mang lại hiệu quả cao với các nguồn vốn trung-dài hạn Nên việc mở rộng nguồn vốn trung- dài hạn thôi chưa đủ mà còn càngcần phải nâng cao chất lượng của các nguồn vốn trung- dài hạn để chúng có thểphát huy hết hiệu quả
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường thường xuyên biến đổi liên tục từngngày, từng giờ nên chúng ta không thể nào dự đoán hết được những rủi ro có thểxảy ra tới các hoạt động tín dụng nói chung,tín dụng trung- dài hạn nói riêng củatoàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như của chi nhánh Ngân hàng No&PTNTTràng An
5
Trang 6Đây chính là nguyên nhân mà em đã chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng No&PTNT Tràng An”
Kết cấu chuyên đề của em ngoài phần lời mở đầu, kết luận thì nội dụng được chia làm 3 chương:
Chương 1: Chất lượng tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương
mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung - dài hạn tại chi nhánh
Ngân Hàng No&PTNT Tràng An
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn tại chi
nhánh Ngân Hàng No&PTNT Tràng An
Đây là một phạm vi nghiên cứu rộng lớn và do trình độ còn hạn chế nênbài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự cảmthông và những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè để vấn đềnghiên cứu được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7CHƯƠNG 1:
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG - DÀI HẠN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tín dụng trung- dài hạn của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm tín dụng trung- dài hạn
Đây là một khái niệm đã ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là
sự tin tưởng, sự tín nhiệm Tín dụng được định nghĩa dưới nhiều giác độ khácnhau như :
- Là một quá trình tập trung, phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc hiệnvật trên nguyên tắc có hoàn trả
- Là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả
- Là sự dịch chuyển vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cánhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất địnhtrên nguyên tắc hoàn trả
- Là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sửdụng va sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trịban đầu
Tóm chung lại, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa mộtbên là người đi vay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc vàlãi
Bên cạnh đó, tín dụng không chỉ là chức năng cơ bản của ngân hàng màcòn là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại Định nghĩa
về tín dụng như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản giữa một bên là người cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng
và một bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian
Trang 8nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Các hình thức của tín dụng ngân hàng rất đa dạng nên cũng có rất nhiềutiêu thức để phân chia tín dụng ngân hàng Tiêu thức phổ biến mà các ngân hàngdùng để phân chia các hình thức tín dụng là phân chia theo thời gian dưới đây:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng từ 12 tháng trở xuống thường dùng để tàitrợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước,doanh nghiệp, hộ sản xuất
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng từ trên 1 đến 5 năm, thường được dùng đểtài trợ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xâydựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm Loại tín dụng nàyđược dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệpmới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…
Như vậy, tín dụng - trung và dài hạn thường dùng để tài trợ mua sắmtrang thiết bị công nghệ, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, Với sự phát triển nhanhchóng của khoa học và công nghệ, để tồn tại và phát triển thì nhu cầu mua sắmtrang bị tài sản cố định của các doanh nghiệp ngày càng cao mà nguồn vốn tàitrợ chủ yếu là nguồn dài hạn nên nhu cầu vốn trung và dài hạn đòi hỏi ngày càngcao
Đặc điểm tín dụng trung- dài hạn
• Vốn đầu tư lớn và thu hồi vốn chậm
Nếu như tín dụng ngắn hạn thường tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưuđộng của doanh nghiệp và được hoàn trả trong một thời gian ngắn (dưới 1 năm)thì tín dụng trung- dài hạn phần lớn tài trợ cho bất động sản, nhà máy, hay đổimới công nghệ của doanh nghiệp Do đó việc tài trợ này đòi hỏi một lượng vốnlớn, thời gian đầu tư dài Những khoản tín dụng dài hạn này thì nguồn trả gốc vàlãi chủ yếu dựa vào quỹ khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tư, nên việc thuhồi gốc và lãi của ngân hàng sẽ được chia nhỏ thành nhiều kì phù hợp với khả
Trang 9năng của khách hàng Những khoản đầu tư mà ngân hàng bỏ ra thì cần phải cómột thời gian nhất định mới có thể thu hồi được vốn và lãi do dự án phải trải quarất nhiều các khâu thì mới đi được vào hoạt động ổn định với những thời giankhông phải là ngắn, hơn nữa không phải dự án nào bắt đầu đi vào hoạt độngcũng đều có lãi, mà phần lớn là phải chịu lỗ trong một vài năm đầu Do đó, cáckhoản cho vay trung- dài hạn thường thu hồi vốn rất chậm, đó là điều không thểtránh khỏi, và đi kèm với đó cũng là những rủi ro rất lớn.
• Độ rủi ro cao
Các khoản tín dụng trung- dài hạn thường thường có thời gian kéo dài,quy mô tín dụng thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luônbiến động lại thu hồi vốn chậm nên độ rủi ro cuả tín dụng trung- dài hạn thườngcao hơn nhiều so với các tín dụng ngắn hạn Nên lãi suất của cho vay trung - dàihạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Kết quả đầu tư của một dự án lạichịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Sự phân tích về rủi ro của ngân hàng lạithường có giới hạn Các yếu tố ảnh hưởng tới các khoản tín dụng trung- dài hạnthường mang tính dài hạn Dù cho có thể dự báo được nhưng với thời gian kéodài thì thực tế đôi khi cũng có thể không xảy ra như thế, như tình hình lạm phátvào thời điểm thu hồi gốc và lãi thay đổi tăng cao hơn ngoài dự kiến khiến chocác khoản thu về bị rủi ro giá trị bị giảm, thậm chí tình hình kinh tế có thể thayđổi khiến tình hình kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro làm cho ngân hàngkhông thể thu hồi lại vốn
• Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung- dài hạn lớn
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tưmong đợi càng lớn Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung- dàihạn của ngân hàng cũng phải mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớnhơn so với các khoản tín dụng có thời gian ngắn hơn, và đó cũng là điều màngười gửi tiền đòi hỏi ngân hàng ở ngân hàng bởi họ cũng là một nhà đầu tư,cũng chịu rủi ro Nhưng đối với ngân hàng dù cho có được người vay hoàn trảđúng thời hạn hay không thì vẫn phải có nghĩa vụ trả lãi cho người gửi tiền mộtcách vô điều kiện khi tới hạn Và để đảm bảo có lãi vì thế nên lợi nhuận từ cho
Trang 10vay trung- dài hạn là rất lớn Biểu hiện cụ thể đó là lãi suất các khoản cho vay trung- dài hạn thường rất cao.
Các hình thức tín dụng trung- dài hạn
Tín dụng theo dự án đầu tư
• Cho vay đồng tài trợ (syndicate loan):
- Cho vay đồng tài trợ (cho vay hợp vốn) là hình thức cấp tín dụng thông qua việctham gia tài trợ vốn của từ hai tổ chức tín dụng trở lên, trong đó có một tổ chứctín dụng đứng ra làm đầu mối phối hợp với các bên bên đồng tài trợ để thựchiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng
- Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp khi:
+ Nhu cầu vay vốn hoặc bảo lãnh của chủ đầu tư để thực hiện dự án vượtquá giới hạn tối đa được phép cho vay của một tổ chức tín dụng
+ Nhu cầu phân tán rủi ro trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng.+ Khi dự án quá lớn mà khả năng nguồn vốn của một tổ chức tín dụngkhông đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án.Hơn nữa ngân hàng thường chỉ đượcphép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình vàkhông được đầu tư qúa nhiều vốn vào một công ty để đảm bảo an toàn vốn tàisản Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhưng rủi
ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết Do vậy, cho vay đồng tài trợ làmột họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đanguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn
• Cho vay trực tiếp theo dự án:
Đây là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thịtrường Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn trung- dài hạn để thực hiện dự ánsản xuất kinh doanh thì một trong những yêu cầu đầu tiên của ngân hàng làngười vay phải xây dựng dự án thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quátrình thực hiện dự án Sau đó ngân hàng tiến hành thẩm định dự án để quyếtđịnh phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp Dự ánđược xây dựng gồm nhiều mục như phân tích thị trường, nguồn nhân lực, địa
Trang 11điểm, công nghệ, quy trình sản xuất, phân tích tài chính trong đó phân tích tàichính
Trang 12là mục tiêu quan tâm hàng đầu của ngân hàng khi quyết định cho vay Việc phântích đánh giá hiệu quả tài chính của dự án được tiến hành thông qua các chỉ tiêutài chính như NPV, IRR, thời gian hoàn vốn, tỷ suất thu nhập bình quân vàngân hàng cũng đặc biệt quan tâm tới thời gian trả nợ cũng như các nguồn trả nợcủa khách hàng Trong trường hợp không phải là dự án mới- tạo pháp nhân mớithì ngân hàng luôn phân tích tài chính của người vay kết hợp với phân tích dự
án Một doanh nghiệp có tình hình tài chính mạnh là cơ sở quan trọng để ngânhàng quyết định cho vay để thực hiện dự án Bên cạnh đó ngân hàng xác địnhnhu cầu đầu tư theo dự án từ đó tính toán cụ thể quy mô tín dụng dành chokhách hàng của mình Trong đó:
Nhu cầu đầu tư theo dự án = Nhu cầu đầu tư + Nhu cầu đầu tư
vào tài sản cố định vào tài sản lưu động Tín dụng của ngân hàng = Nhu cầu đầu tư – Các nguồn khác tham
gia tài trợTrong trường hợp để hạn chế rủi ro, ngân hàng có thể yêu cầu tài sản đảmbảo và cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo
Tín dụng của ngân hàng = Giá trị tài sản thế chấp * Tỷ lệ ngân hàng
tham giaSau khi phân tích nhu cầu vốn đầu tư của người vay, ngân hàng sẽ xemxét kĩ lưỡng các nguồn vốn tài trợ như nguồn tự có, chiếm dụng của người cungcấp, vay các tổ chức tín dụng khác Các yếu tố sau sẽ được ngân hàng phân tíchkhi xem xét nguồn tài trợ:
- Qui mô và thời hạn của mỗi nguồn;
- Tính khả thi của mỗi nguồn và các điều kiện để dự án tiếp cận được nguồn
Nhiều nguồn tài trợ được thực hiện dưới hình thái hiện vật như quyền sửdụng đất, quyền khai thác, nhà xưởng và thiết bị có sẵn Việc tính toán giá trịcác loại tài sản này rất phức tạp, tuy nhiên là rất cần thiết đối với ngân hàng.Trong nhiều trường hợp các tài sản này trở thành vật thế chấp cho ngân hàng.Ngân hàng sẽ tính toán các thời kì trả nợ và số tiền gốc và lãi khách hàng phải
Trang 13trả cho ngân hàng căn cứ dựa vào các thời điểm xuất hiện nguồn thu từ dự án hoặc có thể từ các nguồn trả nợ khác ngoài nguồn thu của dự án.
Tín dụng thuê mua (leasing credit)
Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn.Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phảithu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi (thời hạn khoảng80-90% đời sống kinh tế của tài sản) Và hết thời hạn cho thuê khách hàng cóthể mua lại tài sản đó chính vì vậy đây được gọi là tín dụng thuê mua
Cho thuê (thuê- mua) cũng giống như một khoản vay thông thường ở chỗngân hàng phải xuất tiền với kì vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhấtđịnh; Còn khách hàng sẽ trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kì Rủi rocủa ngân hàng cũng giống như cho vay thông thường khi mà khách hàng kinhdoanh không hiệu quả dẫn đến không trả được tiền thuê cho ngân hàng, nhưngđôi khi cho thuê rủi ro hơn rất nhiều với cho vay có tài sản đảm bảo khi mà cáctài sản thuê mang tính đặc chủng rất khó bán, hay khi chi phí thu hồi tháo dỡcao nên ngân hàng thường lập phòng cho thuê hoặc công ty cho thuê để thựchiện và quản lí hoạt động cho thuê Ngân hàng cũng có quyền thu hồi lại tài sảnnếu người thuê không thực hiên đúng hợp đồng với ngân hàng, còn ngân hàngphải có nghĩa vụ cung cấp đúng chủng loại hàng hóa cũng như đúng chất lượngcho người thuê
Đặc biệt, tài sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng vì vậy khôngghi vào bảng cân đối kế toán của người vay, không làm tăng cơ cấu nợ củangười vay, không ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doanh nghiệp, việc cấptín dụng thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phép đầu tư khẩn cấp, đápứng được thời cơ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mặt khácphương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh và điều kiệnsản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi cá nhân Theohình thức thuê-mua khách hàng thuê sẽ nêu yêu cầu về qui cách, chất lượng tài
Trang 14sản thuê với người sản xuất; sau đó ngân hàng kí hợp đồng mua tài sản vớingười sản xuất nên chất lượng tài sản cũng sẽ được đảm bảo hơn bởi ngân hàngcũng phải đảm bảo chất lượng tài sản tốt rồi mới kí hợp đồng với nhà sản xuất,
vì rõ ràng ngân hàng cũng muốn cho hoạt động của công ty luôn thuận lợi để cáckhoản tiền thuê tài sản của mình bớt bị rủi ro Còn đối với ngân hàng đây là hìnhthức tài trợ bổ sung cho các hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nógiúp ngân hàng mở rộng dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi
ro, đảm bảo nguyên tắc vốn vay được sử dụng đúng mục đích
Có thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tếthị trường, nhất là đối với nền kinh tế còn đang phát triển ở Việt Nam hiện nay
Vai trò của tín dụng trung- dài hạn trong nền kinh tế thị trường
Đối với nền kinh tế:
Tín dụng ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tất
cả các thành phần kinh tế để cho các doanh nghiệp, các cá nhân và các thànhphần khác trong nền kinh tế vay để góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh nângcao hiệu quả sử dụng vốn Vốn là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình hoạtđộng của mọi doanh nghiệp Bởi khi có đủ vốn các doanh nghiệp có thể dễ dànghơn trong việc thực hiện các kế hoạch đầu tư, ngược lại khi thiếu vốn các doanhnghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong các quyết định của mình, thậm chí có thểđánh mất cơ hội đầu tư hiệu quả vì thiếu vốn Bên cạnh đó những chủ thể có vốnnhàn rỗi để không thì họ lại mất đi chi phí cơ hội của vốn Trước tình hình đó,doanh nghiệp cần vốn muốn tìm kiếm nguồn vốn để bù đắp, còn những người cóvốn nhàn rỗi lại muốn cho vay Và ngân hàng đã đứng ra làm trung gian giảiquyết điều đó cho các chủ thể trong nền kinh tế
Như vậy, tín dụng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, hoạt độngtín dụng trung - dài hạn có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế -chính trị - xã hội Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trongnền kinh tế tín dụng trung - dài hạn đã thu hút được nguồn vốn dư thừa, tạm thờinhàn rỗi để đưa vào sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanhnghiệp, từ đó góp phần cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Hơn nữa, phát triển
Trang 15cho vay trung - dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ ngân sách chođầu tư xây dựng cơ bản và từ đó giúp giảm bớt thâm hụt ngân sách.
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của ngânhàng là huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức thanh toán cho khách hàng,thì có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất kinhdoanh cũng như khả năng thanh toán chi trả của khách hàng Để tránh rủi ro, thìtrong quá trình cho vay ngân hàng luôn đánh giá, phân tích khả năng tài chính
và thường xuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để
có những điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, hướng cho hoạt động củadoanh nghiệp đi đúng hướng, từng bước tạo tiền đề vật chất cho xã hội
Các ngân hàng quốc doanh mặc dù là một đơn vị kinh doanh nhưng vẫn làmột bộ phận của nhà nước, hoạt động tín dụng trung - dài hạn vì thế cũng nhằmthực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia bằng cách thông qua các chínhsách ưu đãi trong tín dụng Về nguyên tắc, ngân hàng ưu đãi đối với các côngtrình sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá và điều kiện vay vốn sẽ thắtchặt hơn với doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
Đầu tư tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng theo trọng điểm của ngành
và trong nội bộ từng ngành góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Nhữnghoạt động tín dụng theo chiều sâu như xây dựng mới, mua mới trang thiết bịmáy móc hiện đại… đã tạo ra những cơ sở vật chất kĩ thuật vững chắc cho nềnkinh tế phát triển lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trongcạnh tranh trên trường quốc tế Với năng lực sản xuất tăng, hàng hoá sản phẩmnhiều hơn đủ tiêu dùng và dư thừa cho xuất khẩu, từ đó thúc đẩy cho hoạt độngxuất khẩu phát triển Hơn nữa, nhiều xí nghiệp với máy móc hiện đại có thể sảnxuất ra những sản phẩm thay thế hàng nhập, từ đó làm hạn chế nhập siêu, tăng vịthế của hàng hóa trong nước Tất cả các kết quả đó góp phần tiết kiệm chi ngoại
tệ, tăng thu ngoại tệ, tạo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh
Ngoài ra, tín dụng trung - dài hạn đầu tư vào những lĩnh vực mới,cải tạo
và nâng cao năng lực sản xuất nên sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho người laođộng góp phần ổn định đời sống, từ đó làm ổn định trật tự xã hội Bên cạnh đó,
Trang 16do năng lực sản xuất được nâng lên số lượng sản phẩm tiêu thụ nhiều nên nguồnthu nhập của người lao động cũng tăng lên và được đảm bảo hơn, làm cho đờisống của người lao động được cải thiện và nâng cao.
Với những ưu tiên trong từng thời kì, tín dụng trung - dài hạn cũng tạođiều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, làm cho cơ cấu của nềnkinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền đề cho sự ổn định và phát triển lâu dài của
xã hội
Đối với doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết tài sản cố định là tư liệu sản xuất chủ yếu chiếm bộphận lớn trong tổng giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, và cũng là yếu tốquan trọng quyết định tới lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.Vì thế trong môitrường kinh tế mở như hiện nay không chỉ cạnh tranh giữa các doanh nghiệptrong nước mà còn phải đương đầu với các doanh nghiệp nước ngoài, để có thểtồn tại và phát triển được thì các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư muasắm, cải tạo nâng cấp mới tài sản cố định.…Tuy nhiên, giá trị tài sản cố địnhthường rất cao, nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ và các quỹ khấu haothì cần phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới có thể đổi mới được vànhư thế sẽ bị tụt xa lại so với các doanh nghiệp đã có vốn trang bị hiện đại Bêncạnh đó doanh nghiệp cũng có thể phát hàng cổ phiếu, trái phiếu huy động vốndài hạn Nhưng với việc phát hành cổ phiếu sẽ khiến cho chủ sở hữu các doanhnghiệp buộc phải san sẻ quyền lực nên họ sẽ không hài lòng với điều đó; còn đốivới phát hành trái phiếu khi có nhu cầu giảm nợ để thay đổi cơ cấu nguồn vốncủa mình sẽ gặp phải nhiều khó khăn bởi một khi đã phát hành trên thị trườngkhông phải là trái phiếu có khả năng thu hồi thì sẽ phải đợi đến khi đáo hạn, cònnếu phát hành trái phiếu có khả năng thu hồi thì sẽ phải trả lãi suất cao hơn Hơnnữa thị trường chứng khoán ở nước ta còn rất sơ khai và không phải doanhnghiệp nào cũng đủ điều kiện để phát hành các chứng khoán trên đặc biệt là tráiphiếu Vì thế lối thoát cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới Khi tìm kiếm cácnguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản tíndụng trung - dài hạn từ ngân hàng Với các khoản vay doanh nghiệp có thể tiến
Trang 17hành các dự án lớn mà không phải lo san sẻ quyền, không phải đối phó với cáctrái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi doanh nghiệp không còn cần vốn nữa và có ýmuốn thu lại số cổ phiếu này Mặt khác, việc trả nợ trung - dài hạn cũng được ấnđịnh theo định kỳ theo từng kỳ hạn hợp lý và ổn định phù hợp với doanh nghiệp
đó là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm trả nợ của họ
Như vậy có thể nói, tín dụng trung - dài hạn là trợ thủ đắc lực giúp chocác doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình đó là: lợi nhuận, an toàn, pháttriển không ngừng trong khi nguồn vốn trung - dài hạn doanh nghiệp có trongtay không đủ đáp ứng nhu cầu
Đối với ngân hàng
Ngày nay trong môi trường kinh tế cạnh tranh gay gắt, ngân hàng thươngmại cũng là một tế bào trong nền kinh tế nhiều thành phần nên hoạt động củangân hàng cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh Để có thể đứng vững trong môitrường cạnh tranh gay gắt này đòi hỏi mỗi ngân hàng phải thực sự quan tâm tớihiệu quả hoạt động kinh doanh của chính mình, đó là quan tâm tới chất lượngcủa các khoản tín dụng Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường mởdựa trên sự điều tiết của Nhà nước diễn ra vô cùng sôi động với nhu cầu mởrộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiến tới đổi mới toàn bộnền kinh tế đã cho thấy nhu cầu vốn trung- dài hạn là vô cùng cấp thiết và quantrọng Đây là điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình vàngày càng khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường
Khi ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài để đầu tưcho vay dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc cho vay ngắnhạn; bởi tín dụng trung- dài hạn là những khoản tín dụng có quy mô lớn, lãi suấtcao, thời gian dài nên ngân hàng sẽ thu lãi lớn và ổn định Bên cạnh khoản lợinhuận hấp dẫn, tín dụng trung - dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất có hiệu quảgiữa các ngân hàng với nhau Ngân hàng có nguồn vốn dài hạn lớn sẽ thu hútngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng Khi xác định mở rộng cho vaytrung - dài hạn, các ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn nhìnvào lợi ích lâu dài hơn đó là mở rộng tín dụng trung - dài hạn để đẩy mạnh cho
Trang 18vay ngắn hạn Các doanh nghiệp sau khi được ngân hàng cho vay vốn, trang bịmáy móc mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản xuất sẽ tăng lên, doanhnghiệp lại cần có nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất Lúc này,người đầu tiên mà doanh nghiệp tìm đến chính là các ngân hàng đã đầu tư cho
họ Bởi lẽ, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm vì hai bên đã hiểunhau, ngân hàng đã nắm được tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanhnghiệp nên các dịch vụ sẽ tiện lợi hơn
Chất lượng tín dụng trung – dài hạn của các ngân hàng thương
mại
1.2.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh từng ngày từng giờ như hiện nay
để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp thường phải trả lời ba câu hỏi lớn là:sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Đây là ba vấn đề lớn màcác doanh nghiệp luôn phải đối mặt trong quá trình hoạt động của mình trongnền kinh tế thị trường Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh lĩnhvực tiền tệ trên thị trường nên cũng không thể tránh được ba câu hỏi lớn đó, sảnphẩm của ngân hàng là các khoản tín dụng Khi đã trả lời những câu hỏi đó ngânhàng cũng như các doanh nghiệp phải luôn quan tâm tới chất lượng các sảnphẩm của mình để đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình được hiệu quả
Chất lượng của một khoản tín dụng là: “ Mức độ đáp ứng một cách tốt
nhất yêu cầu của khách hàng (cả người vay lẫn người cho vay tiền) trong quan hệ tín dụng, phù hợp với các điều kiện kinh tế- xã hội và điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo an toàn trong việc thu hồi vốn thông qua sự phát huy hiệu quả của phương án cho vay nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro đảm bảo sự an toàn, tăng lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng”
Tương tự đó, chất lượng của một khoản tín dụng trung- dài hạn là mức độđáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng bao gồm cả người vay vàngười cho vay trong quan hệ tín dụng về nhu cầu vốn trung- dài hạn, phù hợpvới các điều kiện kinh tế- xã hội và điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng,đảm bảo an toàn trong việc thu hồi vốn thông qua sự phát huy hiệu quả của các
Trang 19phương án cho vay nhằm hạn chế rủi ro đảm bảo sự an toàn, tăng lợi nhuận và
sự phát triển của ngân hàng
Chất lượng cho vay được xem xét trên những góc độ:
- Đối với khách hàng: Đó là vay được khoản tiền phù hợp với mục đích sử dụng,với các điều khoản về lãi suất, kỳ hạn nợ, với các thủ tục đơn giản, thuận tiệnđảm bảo thanh toán phù hợp với lợi ích của khách hàng và luật pháp hiện hànhnhằm đảm bảo khả năng duy trì và mở rộng sản xuất, tăng cường hiệu quả sảnxuất kinh doanh của khách hàng
- Đối với Ngân hàng thương mại: Đó là các khoản tín dụng cung cấp phải phùhợp với thực lực tài chính và quản lý của ngân hàng khách hàng, phù hợp vớinguyên tắc cho vay, phù hợp với chiến lược khách hàng,chiến lược cạnh tranh
và phát triển, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi với giá thành hợp
ly, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật hiện hành và thực hiện vai trò của ngân hàngtrong nền kinh tế thị trường
- Đối với nền kinh tế: Cho vay cung cấp một nhu cầu vốn lớn cho sản xuất kinhdoanh hàng hóa, đảm bảo cung cấp vốn đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả cho việcduy trì sản xuất, mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng cường hiệu quả và nănglực hoạt động của các doanh nghiệp, từ đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hộinhư tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng các vùng kinh tế mới, tạo điềukiện để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Như vậy, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề về cách tiếp cận khái niệmchất lượng cho vay hay chất lượng tín dụng là:
- Đây là một khái niệm tương đối Nó vừa cụ thể như thể hiện qua các chỉ tiêunhư kết quả kinh doanh, nợ quá hạn Nó lại vừa trừu tượng thể hiện qua nănglực thu hút khách hàng, tác động tới nền kinh tế
- Chất lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp và được xác định qua nhiều yếu tốnhư: lãi, mức độ an toàn vốn, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung- dài hạn
Theo như quan điểm về chất lượng tín dụng trên đây cho thấy trước hết
Trang 20chất lượng tín dụng thể hiện ở sự thỏa mãn của khách hàng khi đến với ngânhàng Tuy không đưa ra những chỉ tiêu cụ thể nhưng qua giao dịch hàng ngàyvới khách hàng ngân hàng sẽ nhận thấy chất lượng các sản phẩm tín dụng củamình thông qua lượng khách hàng qua các thời kỳ, độ thỏa mãn của khách hàngqua thái độ của họ, cũng như thông qua lịch sử giao dịch của khách hàng.
Trước hết một khoản cho vay được xem là đạt chất lượng khi nó phải đápứng được các yêu cầu sau :
- Dự án sử dụng vốn vay trung - dài hạn của ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý, kinh
tế, kỹ thuật để thực hiện được
- Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đảm bảo đủ khả năng trảngân hàng nợ gốc và lãi, trang trải chi phí khác và để lại cho doanh nghiệp mộtkhoản thu nhập
- Cho vay phải tuân thủ ba nguyên tắc: vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sảnđảm bảo nợ vay, phải hoàn trả vốn, lãi đúng thời hạn và theo cam kết tại hợpđồng tín dụng đã ký
- Cho vay phải tuân thủ các điều kiện như lập hồ sơ cho vay, có phương án sảnxuất kinh doanh, có báo cáo tài chính, sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả, cótài sản thế chấp hợp pháp… kèm theo đó là việc kiểm tra trước, trong và sau khivay
Và sau đây là một vài những chỉ tiêu định lượng dùng để xem xét đánhgiá chất lượng của một khoản tín dụng:
- Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi
đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Khi một món nợ không trảđược vào kỳ hạn nợ và không được ngân hàng gia hạn nợ thì toàn bộ nợ gốc cònlại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn Đây là chỉ tiêu cơ bản chobiết chất lượng của một khoản tín dụng
Nợ quá hạn của tín dụng trung – dài hạnChỉ tiêu nợ quá hạn = Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Trên thực tế, các ngân hàng luôn cố gắng tìm cách để hạ tỷ lệ nợ quá hạn
Trang 21tới mức thấp nhất có thể được Bên cạnh đó chúng ta cần kết hợp chỉ tiêu trên với các chỉ tiêu như nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi
Nợ quá hạn của tín dụng trung – dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ này cho biết nợ quá hạn của tín dụng trung - dài hạn chiếm baonhiêu phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ này càng càng nhỏ càng tốt đểcho thấy tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ thấp thì rủi ro tín dụng thấp hay chấtlượng tín dụng cao hơn
- Chỉ tiêu nợ khó đòi: Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn và kèm theo một sốchỉ tiêu khác như quá một kì gia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tàisản không bán được, con nợ thua lỗ triền miên, phá sản
Nợ quá hạn khó đòi của tín dụng trung – dài
hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi = Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Tỷ lệ này cao sẽ cho thấy món vay của ngân hàng có chất lượng thấp hoạtđộng của ngân hàng đang không có hiệu quả và các chỉ tiêu khác để đánh giáchất lượng tín dụng trung- dài hạn trở nên không có giá trị Nên chỉ tiêu nàycàng thấp hoặc bằng không càng tốt
Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độrủi ro tín dụng khác nhau Đối với ngân hàng, việc khách hàng không thanh toánđúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản: Chi phí gia tăng
để tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và tiền vay đúng hợp đồng Chỉ tiêu nợ khóđòi là một lời cảnh báo cho ngân hàng: Hi vọng thu lại tiền vay trở nên mongmanh, ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết
Tuy nhiên với các quan điểm khác nhau, các cách tính toán khác nhau sẽ
Trang 22cho kết quả khác nhau về các chỉ tiêu trên:
Thứ nhất do kì hạn nợ không đúng
Kì hạn trả nợ không phù hợp với chu kì thu nhập của người vay Điều này
có thể do cán bộ ngân hàng không quan tâm thích đáng đến chu kì kinh doanhcủa người vay, hoặc do nguồn ngắn hạn là chủ yếu nên họ đặt kì hạn nợ ngắn đểhạn chế rủi ro Khi đó đến hạn người vay dĩ nhiên sẽ không thể trả nợ được, gây
nợ quá hạn Và khoản nợ này trở thành mối đe dọa tài chính đối với người vay,buộc họ phải trả thêm khoản “phụ phí” để được gia hạn nợ, hoặc phải chịu lãisuất phạt
Thứ hai do đảo nợ, hoặc giãn nợ
Nhiều khoản nợ người vay không có khả năng hoàn trả có thể được đảo
nợ làm giảm nợ quá hạn so với thực tế Để che dấu đối với ngân hàng cấp trên,hoặc không phải chịu lãi suất phạt, khách hàng và nhân viên ngân hàng thỏathuận vay khoản mới để trả nợ khoản cũ Nhân viên ngân hàng cũng có thể thựchiện giãn nợ đối với khoản nợ mà chắc chắn người vay không thể trả được.Những hành vi này làm chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ khó đòi không phản ánh đầy
đủ rủi ro tín dụng
Thứ ba do chính sách cho vay
Rất nhiều các khoản cho vay khó đòi không thể thu hồi bằng phát mại tàisản (doanh nghiệp Nhà nước, người nghèo, tài sản không rõ ràng ) Nhữngkhoản cho vay này phần lớn là cho vay theo chỉ thị của Chính phủ Khi Chínhphủ chưa có biện pháp giải quyết, chúng vẫn tồn tại trên bảng cân đối kế toáncủa ngân hàng, trở thành tài sản “ảo” Xử lí khoản nợ này rất phức tạp Nhiềungân hàng loại chúng ra khỏi chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ khó đòi, xếp vào nợkhoanh (khi được Chính phủ đồng y) Tuy nhiên, chúng thực sự đe dọa thu nhậpcủa các ngân hàng nếu Chính phủ không tìm được nguồn bù đắp
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận từ tín dụng trung – dài hạn
Trang 23Tỷ lệ lợi nhuận = Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạn
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời của tín dụng trung - dài hạn Bất
kỳ một khoản tín dụng nào không thể xem là có chất lượng cao nếu nó khôngđem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng Tuy nhiên đối với một số ngân hàng,đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh thì lợi nhuận nhiều khi không phải là cáiđích để ngân hàng hướng tới mà điều quan trọng là thực hiện được chủ trương,chính sách của Đảng và nhà nước Đối với NHNo & PTNT, với chức năng chovay trung - dài hạn với mức lãi suất ưu đãi để thực hiện các đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước thì trong nhiều trường hợp lợi nhuận không phải làmục tiêu mà ngân hàng cần phải hướng tới Nói như vậy không có nghĩa là ngânhàng không quan tâm tới lợi nhuận đó cũng là vì sự tồn tại và phát triển của bảnthân ngân hàng Nhìn chung nếu như các chỉ tiêu của các dự án cho vay nhưnhau thì dự án nào đem lại lợi nhuận cao hơn vẫn thường được các ngân hàng
ưu ái hơn Thường thì chỉ tiêu này càng cao càng tốt
- Chỉ tiêu vòng quay của vốn:
Doanh số thu nợ trung – dài hạnVòng quay của vốn =
Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạn bình quân
Chỉ tiêu vòng quay vốn càng lớn cho thấy số vốn được quay vòng lớn,khả năng sự dụng vốn tốt, hiệu quả cao vốn ít bị ứ đọng Nó thể hiện được khả
năng tổ chức, quản lý, khai thác vốn tín dụng, đồng thời thể hiện chất lượng
tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn và đáp ứng nhucầu khách hàng
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, các nhà quản lí ngân hàng còn sử dụng cáchình thức đánh giá chất lượng tín dụng khác, gắn liền với chiến lược đa dạnghóa tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập quỹ dự phòng, đặt giá đối với cáckhoản cho vay
- Điểm khách hàng
Thông qua phân tích tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh
Trang 24doanh,hiệu quả dự án, mối quan hệ, tính sòng phẳng ngân hàng lập hồ sơ vềkhách hàng, xếp loại và cho điểm Khách hàng loại A hoặc điểm cao, rủi ro tíndụng thấp; khách hàng loại C, hoặc điểm thấp, rủi ro cao Chỉ tiêu này được xaydựng dựa trên các dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng xây dựng, điểm của khách hàngcho thấy rủi ro “tiềm ẩn”.
- Các khoản cho vay có vấn đề
Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quátrình theo dõi, nhân viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản tài trợ đang có dấuhiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn Khoản cho vay có vấn đềđược xây dựng dựa trên qui định của ngân hàng
- Tính kém đa dạng của tín dụng
Đa dạng hóa là biện pháp hạn chế rủi ro Những thay đổi trong chu kì củangười vay là khó tránh khỏi Nếu ngân hàng tập trung tài trợ cho một nhómkhách hàng, của một ngành hoặc một vùng hẹp thì hẳn rủi ro sẽ cao hơn so vớiviệc có đa dạng hóa
- Mất ổn định vĩ mô
Các chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát cao, tình hình chính trịmất ổn định đều tạo nên những bất ổn kinh tế vĩ mô, tác động xấu đến ngườivay, làm cho chất lượng khoản tín dụng sẽ bị ảnh hưởng xấu
Tóm lại, chất lượng tín dụng phải luôn được xem xét phân tích thườngxuyên cả hai mặt định tính và định lượng và kết hợp giữa các chỉ tiêu, cả về lợinhuận thuần tuý và lợi ích xã hội Thực hiện được điều này sẽ giúp cho bản thâncác ngân hàng cũng như khách hàng đánh giá được chất lượng tín dụng mộtcách chính xác đầy đủ nhất Qua đó có thể giải quyết được những hạn chế,vướng mắc cũng như phát huy được những ưu điểm để nâng cao chất lượng tíndụng trung - dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung- dài hạn.
Nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế.
Xét trên phương diện toàn bộ nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung- dài
Trang 25hạn có hiệu quả sẽ tác động tốt tới mọi lĩnh vực kinh tế- chính trị- xã hội Pháttriển cho vay trung- dài hạn giúp giảm bớt các khoản chi của ngân sách Nhànước cho các hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm giảm thâm hụt ngân sáchNhà nước Ngân hàng với tư cách là trung gian tín dụng “đi vay để cho vay” sẽhuy động giá trị thặng dư nằm rải rác trong các tầng lớp dân cư và các tổ chứctrong xã hội, biến nó thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho vay các dự án có khảthi cao mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho xã hội Như vậy tín dụng nói chung vàtín dụng trung- dài hạn nói riêng đã đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốncủa nền kinh tế thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển, tăng trưởng bền vững, tăngcường uy tín quốc gia Hơn nữa việc tập trung các nguồn tiền nhàn rỗi trong nềnkinh tế sẽ giúp cho việc kiềm chế lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền trongtừng thời kì.
Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai tròtrung tâm thanh toán Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quayvốn tín dụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịchlớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồngtiền
Tín dụng là công cụ thực hiện chủ trưởng của Đảng và Nhà nước về pháttriển kinh tế - xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực Đầu tư tín dụng trung- dàihạn theo trọng điểm của ngành trên cơ sở trong nội bộ từng ngành đã sắp xếp lạicác doanh nghiệp giữa các ngành góp phần hình thành một cơ cấu kinh tế hợp
ly Hoạt động đầu tư tín dụng theo chiều sâu và chiều rộng đã tạo cơ sở vật chất
kỹ thuật vững chắc cho nền kinh tế có thể phát triển lâu dài Như vậy với nănglực sản xuất tăng sẽ tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều hơn, chất lượngtốt hơn vừa để đảm bảo tiêu dùng trong nước lại có dư thừa để xuất khẩu, hơnnữa còn có rất nhiều doanh nghiệp với máy móc hiện đại đã có thể sản xuấtđược những sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu Từ đó đóng góp phần nào chotiết kiệm chi ngoại tệ, tạo cán cân thanh toán lành mạnh Chưa kể tới nhữngkhoản tài trợ từ tín dụng trung- dài hạn còn tạo thêm cơ hội việc làm giải quyết
Trang 26nạn thất nghiệp và các tệ nạn khác cho xã hội Chất lượng tín dụng trung - dàihạn được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự pháttriển cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định và phát triển kinhtế.
Chất lượng tín dụng trung- dài hạn nâng cao với những thủ tục ngày càngđược đơn giản hóa, thuận tiện, vẫn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng được tuânthủ sẽ góp phần mở rộng các đối tượng vay vốn, mọi người đều có thể tiếp cậnđược với những khoản tín dụng của ngân hàng Từ đó góp phần giảm thiểu vàtiến tới xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi, giúp lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng
Tín dụng nói chung và tín dụng trung - dài hạn nói riêng có mối quan hệmật thiết với nền kinh tế - xã hội, thiết lập một mối cơ chế chính sách đồngbộ.có hiệu quả sẽ có tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tế - xã hội, nênviệc nâng cao chất lượng tín dụng trung- dài hạn là một đòi hỏi hết sức bức thiếtđối với nền kinh tế nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng
Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thịtrường, nâng cao chất lượng tín dụng trung- dài hạn sẽ đưa lại nhiều lợi ích chodoanh nghiệp, cho ngân hàng và nền kinh tế Nếu một ngân hàng có một nguồnvốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn này sẽ tạo lợi nhuận cao hơnnhiều so với việc dùng nó cho vay ngắn hạn
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm giảm chi phí nghiệp vụ, chiphí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay Mặtkhác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, là vũ khícạnh tranh rất có hiệu quả giữa các ngân hàng với nhau Với chất lượng sảnphẩm tốt ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các khách hàng và ngày càng nhiềukhách hàng đến với ngân hàng Hơn nữa, khi đã xác định nâng cao hiệu quả chovay trung- dài hạn, các ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà cònmong đợi lợi ích lâu dài từ nó là “Nâng cao tín dụng trung- dài hạn để đẩy mạnh
Trang 27cho vay ngắn hạn”.
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượngtín dụng trung - dài hạn của các ngân hàng thương mại là sự cần thiết kháchquan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các ngân hàng thương mại Vì vậy,chất lượng tín dụng luôn luôn đòi hỏi phải được nâng cao
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung – dài hạn.
- Sự trung thực của khách hàng
Trong các hợp đồng tín dụng thông thường khách hàng sẽ phải cam kếtvới ngân hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng với mục đích đã được ngân hàng chấpnhận Nhưng đôi khi trong quá trình thực hiện dự án vì chạy theo những lợi íchtrước mắt mà rất nhiều doanh nghiệp đã quên đi mất cam kết đó Và đến khi đổ
bể dự án kinh doanh không có lãi họ sẽ không có nguồn để trả nợ cho ngân hàngnhư ban đầu, đó cũng là điều mà ngân hàng không hề mong muốn gặp phải
- Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng
Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc tính toántriển khai dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong khoa học,không thực hiện kỹ càng… Tuy nhiên trong một số trường hợp cho dù phương
Trang 28án sản xuất kinh doanh của người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết,khoa học, chính xác đến mức tối đa thì công việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khảnăng xảy ra rủi ro do những thay đổi bất ngờ, ngoài ý muốn và bất khả khángcủa các điều kiện sản xuất kinh doanh, gây tác động xấu đến công việc làm ăn,mang lại rủi ro cho doanh nghiệp Ví dụ các thiệt hại doanh nghiệp phải gánhchịu do sự biến động của thị trường cung cấp như khi giá cả nguyên vật liệubiến động tăng vọt làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá báncủa sản phẩm không thay đổi nó sẽ làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩmgiảm, làm giảm tổng lợi nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợngân hàng Nếu đảm bảo thu nhập của mình, doanh nghiệp nâng giá bán của sảnphẩm lên thì điều này sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năngthu hồi vốn sản xuất bị chậm trễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặtthời hạn.
• Về phía ngân hàng
Công tác thẩm đinh dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, kháchquan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan tới dự án nhằm khẳngđịnh tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án để quyết định cho vay Nộidung của thẩm định dự án gồm: thẩm định kĩ thuật, thẩm định kinh tế xã hội,thẩm định tài chính Thẩm định tài chính là một nội dung lớn và quan trọngtrong thẩm định dự án.Việc thẩm định nhằm giúp ngân hàng có thể kết luậnđược về tính khả thi của dự án cũng như khả năng trả nợ và những rủi ro có thểxảy ra của dự án để có thể đưa ra quyết định cho vay Bên cạnh đó nhờ có việcthẩm định mà ngân hàng có thể phát hiện ra những thiếu sót để có thể có nhữnggóp y bổ sung cho dự án thêm hoàn thiện Quan trọng hơn công tác thẩm định sẽxác định được số tiền cho vay, thời hạn vay, những kì hạn thu nợ hợp lí chokhách hàng một khi khoản vay được chấp nhận để tạo những thuận lợi chokhách hàng và ngân hàng cũng có thể tránh được nợ xấu Vấn đề đặt ra là thủ tục
và các điều kiện, tiêu chuẩn được sử dụng làm căn cứ để đánh giá khách hàng và
dự án đầu tư có hợp lí hay không Nếu thủ tục rườm rà, các điều kiện tiêu chuẩn
Trang 29quá khắt khe không phù hợp với thực tế thì sẽ rất làm khó cho các doanh nghiệp.Điều đó gây trở ngại cho ngân hàng trong việc tiếp cận khách hàng, mở rộngquan hệ tín dụng Ngược lại, quy trình đặt ra không chặt chẽ sẽ tạo ra những khe
hở dẫn tới những dự án không đủ tiêu chuẩn có thể lọt qua gây tổn hại cho ngânhàng Chính vì vậy trong quá trình hoạt động các ngân hàng thương mại phảikhông ngừng cải tiến, hoàn thiện công tác thẩm định của mình
Chính sách tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng Với tầm quantrọng và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràngđược xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng Chínhsách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướngdẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên
mô hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tíndụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Bên cạnh việc phải phùhợp với đường lối phát triển của nhà nước thì chính sách tín dụng còn phải đảmbảo kết hợp hài hoà quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay và quyền lợi củachính bản thân ngân hàng Chính sách tín dụng phải tạo ra sự công bằng, khôngnhững phải đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng mà còn phải đảm bảo
đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng, và còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt độngcủa ngân hàng để các cán bộ ngân hàng tuân theo
Chất lượng nhân sự
Cho dù là khoa học kĩ thuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hóa trongnhiều lĩnh vực song nhân tố con người vẫn luôn giữ vai trò quyết định Đặc biệttrong hoạt động tín dụng NH, là hoạt động phức tạp, có liên quan đến nhiều vấn
đề của đời sống xã hội thì vai trò của con người lại càng quan trọng Cácphương tiện hiện đại chỉ có thể trợ giúp chứ không thể thay thế được sự nhạycảm hay kinh nghiệm của người cán bộ tín dụng Chất lượng nhân sự ở đâykhông chỉ đơn thuần đề cập đến trình độ chuyên môn mà còn bao gồm cả lươngtâm, đạo đức, tác phong, kỷ lật lao động của người cán bộ Ngân hàng nói chung
Trang 30và cán bộ tín dụng nói riêng Chất lượng nhân sự tốt, biểu hiện ở sự năng độngsáng tạo
Trang 31trong công việc, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật cao của cán bộ, trongmột chừng mực nào đó có thể giúp Ngân hàng bù đắp lại những hạn chế về côngnghệ kĩ thuật, nhớ đó mà Ngân hàng vẫn có thể tồn tại và phát triển được cho dùphải cạnh tranh với những đối thủ có tiềm lực mạnh mẽ hơn về công nghệ, kĩthuật.
Công tác tổ chức của ngân hàng
Bên cạnh chất lượng nhân sự thì công tác quản lý tổ chức của ngân hàngcũng cần đặc biệt chú ý Bởi lẽ công tác tổ chức không chỉ tác động tới chấtlượng tín dụng mà còn tác động tới mọi hoạt động của ngân hàng, nếu công tác
tổ chức không khoa học sẽ làm ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối vớimón vay, không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, không theo dõisát sao được công việc Mỗi một cán bộ đều có những điểm mạnh điểm riêng,diều quan trọng là phải bố trí, sắp xếp công việc cho họ sao cho thật hợp lí để họ
có thể phát huy hết điểm mạnh và hạn chế được những điểm yếu Sự phân côngcông việc nếu không hợp lý, khoa học sẽ dẫn đến sự không rõ ràng, chồng chéokhiến cho các cán bộ tín dụng ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối với công việc củamình Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần phải có những chế độ đãi ngộ hợp línhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động củatừng thành viên trong một guồng máy thống nhất cùng hướng tới một mục tiêuchung là nhu cầu chất lượng tín dụng ngân hàng
Thông tin tín dụng
Trong bất cứ lĩnh vực nào thì thông tin luôn là yếu tố cơ bản hàng đầu và
vô cùng cần thiết cho công tác quản lý Hoạt động tín dụng của ngân hàng cũngvậy nhất là trong công tác thẩm định khách hàng, thẩm định dự án trước hết phải
có thông tin về khách hàng và về dự án đó, và để làm tốt công tác giám sát saukhi cho vay cũng cần phải có thông tin Thông tin càng chính xác kịp thời baonhiêu thì càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết định cho vay,theo dõi việc sử dụng vốn vay và tiến độ trả nợ Không những thế thông tinchính xác kịp thời còn giúp ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinhdoanh, chính sách tín dụng một cách linh hoạt hơn để phù hợp với tình hình thực
Trang 32tế Từ đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Những nhân tố khách quan.
Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh doanh ở Việt Nam còn chưa ổn định, các chính sách và
cơ chế quản lí kinh tế vĩ mô của Nhà nước ta còn đang trong quá trình đổi mới
và hoàn thiện nên thường xuyên có nhiều sự thay đổi Nên đòi hỏi các tổ chứcphải thật năng động Vì thế nhiều doanh nghiệp đã bị thua lỗ do không theo kịpvới quá trình thay đổi chính sách quản lí kinh tế mà hậu quả đó các ngân hàngcho vay cũng phải gánh chịu Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng
ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng là
cơ hội rất tốt cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất do đó nhu cầu tíndụng trong giai đoạn này là rất cao Ngân hàng cũng dễ cho vay vì khả năng gặprủi ro mất vốn là rất thấp Trái lại trong giai đoạn kinh tế đình trệ, giảm phát,thất nghiệp cao, đầu tư không mang lại hiệu quả, nếu có lãi thì chưa chắc lợinhuận mang lại đã cao bằng lãi gửi ngân hàng cùng kì hạn Nên thay vì mangtiền đi đàu tư vào các dự án thì họ lại mang tiền đó đi gửi ngân hàng Ngân hàngkhông cho vay được cũng không thể không nhận tiền gửi của khách hàng nêndẫn tới vốn bị đóng băng, hoạt động của ngân hàng cũng theo đó mà trì trệ
Với sự phát triển của nền kinh tế mở như hiện nay thì không chỉ nền kinh
tế trong nước mà tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng tới các khoản tíndụng của ngân hàng Tình hình kinh tế thế giới thay đổi làm ảnh hưởng trực tiếptới các doanh nghiệp hoạt động xuất- nhập khẩu trong nước.Sự thay đổi ấy thểhiện trực tiếp qua sự biến động về nhu cầu thị trường, sự biến động về tỷ giákhiến cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ ảnh hưởng tớiviệc trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp
Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúcđẩy hoạt động đầu tư và NH cũng có thể mạnh dan cho vay Trong tình hìnhchính trị - xã hội không ổn định như đình công, bãi công, sự đấu tranh giữa cácĐảng phái, thế lực trong xã hội, chiến tranh biên giới thì không chỉ riêng các DN
Trang 33sản xuất mà bản thân NH cũng khó có thể tập trung vào đầu tư, mở rộng sảnxuất kinh doanh Trong điều kiện như vậy để duy trì sự phát triển nhu cũ cũng
đã là khó khăn huống gì nói đến việc mở rộng Vì vậy, hiệu quả tín dụng khó cóthể đảm bảo được Hơn nữa sự bất ổn về chính trị - xã hội sẽ dẫn đến mất lòngtin đầu tư của dân chúng cũng như các chủ DN trong và ngoài nước NH khônghuy động thêm vốn, trong khi có thể xu hướng dân chúng rút tiền gửi NH về tựbảo quản và như vậy NH sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Môi trường pháp lí
Môi trường pháp lý có thể ảnh hưởng tốt hoặc không tốt đến quy mô vàhiệu quả các khoản tín dụng trung – dài hạn Một môi trường pháp lý đồng bộ,đầy đủ thống nhất sẽ tạo điều kiện cho NH trong việc xét duyệt cho vay Trongnền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành bộphận không thể thiếu Với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phầnkinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảocho sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật đầy đủđồng bộ Ngoài ra còn có các quy định chồng chéo có thể gây khó khăn cho NHhoặc các quy định thiếu chặt chẽ có thể tạo ra kẽ hở để các bên trục lợi Việcthay đổi các chính sách cũng có thể la một nguyên nhân gây khó khăn cho côngtác thu hồi nợ của NH
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt động tín dụng điđúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng.Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảokhả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủpháp luật, đường lối chính sách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội.Ngược lại, nếu chính sách tín dụng không hợp lý, chồng chéo sẽ gây khó khăncho ngân hàng khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng điều đó có nghĩa là chất lượngtín dụng trung - dài hạn phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng củangân hàng có đúng đắn hay không
Môi trường tự nhiên
Trang 34Môi trường tự nhiên không tác động trực tiếp tới hoạt động tín dụng của
NH mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mà hoạt động phụ thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên như các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông,ngư nghiệp Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi hay bất lợi sẽ ảnh hưởng tớihiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới khả năngtrả nợ cho NH
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
No&PTNT TRÀNG AN
2.1 Khái quát về chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Tràng An
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NH No&PTNT Tràng An
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà nội thành lập theoQuyết định 51 ngày 27 tháng 6 năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vềthành lập các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội Khi mới thành lậpNgân hàng No&PTNT lúc đó có 12 chi nhánh trực thuộc tại các huyện : ĐôngAnh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Mê Linh, Sóc Sơn, Hoài Dức, Đan Phượng,Thạch Thất, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba Vì Trong quá trình phát triển rất nhiều lầnNgân hàng No&PTNT thay đổi cơ cấu, địa điểm các chi nhánh Ngày 15 tháng
01 năm 2009 Ngân hàng No&PTNT chi nhánh Láng thượng (cũ) chính thứcnhận quyết định đổi tên thành Ngân hàng No&PTNT Tràng An và khai trươngtrụ sở làm việc mới tại đường Nguyễn Phong Sắc (kéo dài) – Cầu Giấy – HàNội
Cơ cấu tổ chức của chi nhánh :
34
Trang 35Phó giám đốc Phó giám đốc
Phòng
kế hoạch
Phòng hành chính
Phòng TTQT
Phòng kinh doanh
Phòng ngân quỹ
Phòng tổ chức cán bộ
Phòng kế toán
Phòng kiểm soát
Khái quát tình hình hoạt động của chi nhánh ngân hàng No&PTNT Tràng An
Nguồn vốn huy động
Nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồnkhác nhau như: vốn điều lệ, vốn vay, vốn huy động, vốn tài trợ, lợi nhuận để lại.Song cơ bản nhất và quan trọng nhất vẫn là nguồn vốn huy động Làm thế nào
để tạo ra một chính sách thu hút vốn, tạo tiền đề cho quá trình đầu tư ngắn hạn,trung hạn, dài hạn đạt được hiệu quả cao luôn là mục tiêu được đặt lên hàng đầucủa NHNo&PTNT Chi nhánh ngân hàng No&PTNT Tràng An cũng đã luônxác định tạo vốn là khâu mở đầu, tạo ra khả năng vốn vững chắc là yếu tố quantrọng của hoạt động ngân hàng Nên trong những năm gần đây, ngân hàng đãluôn chủ động tích cực quan tâm phát triển công tác huy động vốn Các hìnhthức huy động cũng được phong phú hơn, thích hợp với nhu cầu đa dạng củangười gửi tiền như kỳ phiếu, tiết kiệm kỳ hạn từ 1 đến 24 tháng, tiết kiệm gửigóp, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng Mở rộng quan hệ với các tổ chứctín dụng, các tổ chức kinh tế trong và ngoài thành phố, phát huy được nội lực vàtranh thủ ngoại lực Do đó góp phần tăng trưởng nguồn vốn, tạo được cơ cấuđầu vào hợp lí
35
Trang 36%tt +/- Số tiền %tt +/- Số tiền %tt
+/-Tổng nguồn vốn
huy động
10.51 8
52.5 47.5
5912 5636
51.2 48.8
7.2 12.8
8346 7548
52.5 47.5
41.2 34
2.Phân loại theo
tính chất
- TG không kì hạn
- TG có kì hạn
3520 6998
33.5 66.5
3823 7725
33.1 66.9
8.6 10.4
4753 11143
29.9 71.1
24.3 44.2
Trang 373 Phân loại theo
loại tiền
- TG nội tệ
- TG ngoại tệ
9658 860
91.9 8.1
105.67 982
91.5 8.5
9.41 14.1
14275 1622
89.8 10.2
35.1 65.2
(Nguồn số liệu: báo cáo nguồn vốn của chi nhánh ngân hàng No&PTNT Tràng An)
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng đang không ngừng tăng lên vềquy mô và có sự thay đổi trong cơ cấu theo hướng tích cực Các cách thức huyđộng vốn của ngân hàng cũng ngày càng phong phú đa dạng như: tiết kiệm trảtrước, tiết kiệm trả sau, tiết kiệm tích lũy bên cạnh đó là thái độ phục vụ tậntình, chu đáo của ngân hàng nên ngày càng thu hút thêm nhiều khách hàng đếnvới ngân hàng Tính đến 31/12/2010 nguồn vốn mà ngân hàng huy động được
đã tăng 15.896 tỷ đồng tăng 4348 tỷ đồng so với năm 2009 cao hơn so với kếhoạch chung của toàn hệ thống Trong đó tiền gửi có kì hạn chiếm 87% trongtổng nguồn huy động, và có sự phân chia đồng đều giữa các nguồn Sự đóng gópcủa mỗi nguồn ngày một tăng cao theo chiều hướng tích cực
Trong cơ cấu nguồn vốn phân theo khách hàng, tiền gửi tập trung nhiều ởphía các tổ chức tín dụng năm 2010 chiếm 52,5% trong tổng nguồn vốn huyđộng Tiền gửi dân cư cũng khá cao chiếm tới 47,5% trong năm 2010 Tỷ trongtrên là khá đồng đều cho thấy chi nhánh luôn cố gắng tận dụng mọi nguồn cóthể
Trong cơ cấu nguồn vốn phân theo tính chất, năm 2010 tiền gửi không kìhạn chiếm 29,9% và tiền gửi có kì hạn chiếm 71,1% trong tổng nguồn vốn, vàchỉ tiêu tiền gửi có kì hạn có xu hướng tăng mạnh qua các năm
Trong cơ cấu nguồn vốn phân loại theo loại tiền, có thể thấy trong năm
2010 có sự tăng mạnh của tiền gửi bằng ngoại tệ nhưng tiền gửi băng đồng nội
tệ vẫn chiếm tỷ trọng lớn 89,8% năm 2010
Sử dụng vốn
Sự gia tăng không ngừng của các nguồn vốn huy động đã kéo theo sựtăng lên không ngừng của các khoản tín dụng