NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA HỘI CHỨNG HẸP ỐNG SỐNG THẮT LƯNG CÙNG Nguyễn Trung Sơn1, Nguyễn Văn Liệu2 TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của hội chứng hẹp ống sống thắ
Trang 1NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA HỘI CHỨNG HẸP ỐNG SỐNG THẮT LƯNG CÙNG
Nguyễn Trung Sơn(1), Nguyễn Văn Liệu(2)
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của hội chứng hẹp ống sống thắt lưng - cùng Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được
thực hiện trên 40 bệnh nhân hẹp ống sống thắt lưng cùng được điều trị nội trú tại
khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2008 đến tháng 8/2009 Kết quả:
62,5% bệnh nhân 40-60 tuổi, 55% lao động nặng; 77,5% khởi phát tự nhiên âm thầm; dấu hiệu cơ năng gặp ở 100% bệnh nhân là đau và hạn chế vận động cột sống thắt lưng; dấu hiệu rễ Valleix, Lasègue và bấm chuông lần lượt là 52,5%, 47,5% và 45%; 92,5% bệnh nhân hạn chế đi lại nhưng chỉ 32,5% rối loạn vận động; rối loạn cảm giác khu vực dây thần kinh hông to chiếm 32,5%; phản xạ gân gót giảm ở
85%; 80% bệnh nhân có giảm trương lực cơ Kết luận: Bệnh hay gặp ở bệnh
nhân 40-60 tuổi, khởi phát tự nhiên, đau cột sống thắt lưng kèm theo dấu hiệu
rễ, hạn chế đi lại, giảm phản xạ gân xương, giảm trương lực cơ
Từ khóa: hẹp ống sống thắt lưng cùng, valleix, lasègue, bấm chuông
Objective: describe clinical characteristics of lumbar spinal stenosis syndrome
Subjects and method: describtive research on 40 lumbar spinal stenosis patients who
were treated as inpatients in Department of Neurology, Bach Mai Hospital since Oct,
2008 to Sept, 2009 Results: 62% of the subjects was 40-60 years old, 55% had been
worked very hard; it started spontaneously (77.5%); 100% of the patients had low
Trang 2back pain and low back limitation of moving; Valleix sign (52.5%), Lasègue sign (47.5%), “ringing bell” sign (45%) were the nerve root stimulation signs; 92.5% had limitation of walking but only 32.5% had actual movement disorder; 32.5% had sensation decreased along sciatic nerve area; 85% Achilles reflex decreased;
80% had muscle tone decreased Conclusion: The subjects was 40-60 years old,
worked very hard; it started spontaneously; all the patients had low back pain and low back limitation of moving and almost had the nerve root stimulation signs; limitation of walking; sensation decreased; Achilles reflex decreased; muscle tone decreased
Keyword: lumbar spinal stenosis, Valleix, Lasègue, “ringing bell”
-Tác giả chính: Nguyễn Trung Sơn
Email: drnguyentrungson@gmail.com - ĐT:
(1): Bệnh viện 19-8, (2): Đại học Y Hà Nội
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hẹp ống sống gây chèn ép tuỷ sống và rễ thần kinh có thể do bẩm sinh, mắc phải hoặc phối hợp [8] Năm 1954, Verbiest là người đầu tiên mô tả khá đầy đủ hội chứng này với các dấu hiệu kinh điển gồm: Xảy ra trên người lớn tuổi hoặc trung niên, đau lưng và chi dưới, đau xảy ra khi đứng hoặc đi, tăng lên khi duỗi quá [1] Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, hẹp ống sống sẽ ngày càng tiến triển
và không đáp ứng với các biện pháp điều trị Ngược lại, nếu can thiệp sớm bằng phẫu thuật, bệnh nhân có thể được chữa khỏi hoàn toàn Vì vậy, nghiên cứu tìm ra đầy đủ những dấu hiệu của bệnh hẹp ống sống nhằm can thiệp kịp thời là một hướng nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn Ở Việt Nam, hẹp ống sống thắt lưng gây đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ 0,50% tổng số các bệnh nhân nằm điều trị tại khoa Thần kinh Viện Quân y 103 [3] Nhiều thầy thuốc chuyên ngành thần kinh và phẫu thuật thần kinh nghiên cứu về bệnh lý tuỷ sống cũng như vùng cột sống thắt lưng [32], [28], tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung vào đặc điểm lâm sàng cũng như cận lâm sàng của hẹp ống sống đoạn cột sống thắt lưng - cùng, nơi có vận động
lớn, vùng bản lề của cột sống Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm Mô
tả một số đặc điểm lâm sàng của hội chứng hẹp ống sống thắt lưng -cùng.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng: 40 bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch
Mai từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 8 năm 2009 có biểu hiện lâm sàng của hội chứng thắt lưng hông được chụp cộng hưởng từ (CHT) cột sống thắt lưng, và xác định có hẹp ống sống Loại ra khỏi nghiên cứu những bệnh nhân không đủ hai tiêu chuẩn trên hoặc bệnh nhân có hội chứng hẹp ống sống thắt lưng- cùng phối hợp với
Trang 4bệnh lý viêm tuỷ lưng- thắt lưng, xơ cứng rải rác, xơ cứng cột bên teo cơ, viêm
nhiều dây thần kinh
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Các bệnh nhân được lập hồ sơ bệnh án theo mẫu riêng, trong đó khai thác bệnh sử, tiền sử một cách tỉ mỉ, các triệu chứng được trình bày theo trình tự thời gian, mô tả
kỹ các triệu chứng sớm của bệnh Các triệu chứng lâm sàng được khám kỹ nhiều lần khi bệnh nhân đã vào viện Ghi chép, mô tả các kết quả thăm dò, xét nghiệm Chụp lại phim CHT cột sống thắt lưng Theo dõi kết quả phẫu thuật, kết quả giải phẫu bệnh lý (nếu có) Số liệu được làm sạch trước khi tiến hành phân tích bằng phương pháp thống kê y sinh học sử dụng phần mềm Epi Info 6.04
3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới.
Giới
Tuổi
Bảng 1 cho thấy trong số 40 bệnh nhân được nghiên cứu có 19 nam và 21 nữ, tỷ lệ nam/ nữ ≈ 1/1 Tỷ lệ nam/ nữ này cũng phù hợp với nghiên cứu của Fengyu Zheng [9] về hẹp ống sống thắt lưng (26 nam, 24 nữ) Tuy nhiên nghiên cứu về thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng Nguyễn Mai Hương [2] thấy tỷ lệ nam/ nữ là 1,81/1, Hoàng Văn Thuận [4] thấy tỷ lệ nam giới chiếm 65% Ngược lại, Jeffrey N.Katz [6] thấy
nữ giới chiếm 69% số bệnh nhân hẹp ống sống thắt lưng Điều đó cho thấy để đưa
ra kết luận chính xác về đặc điểm giới trong hẹp ống sống thắt lưng và các bệnh lý cột sống nói chung cần phải nghiên cứu thêm trên một số đối tượng lớn hơn
Trang 5Hội chứng hẹp ống sống có thể gặp ở mọi lứa tuổi, theo nghiên cứu của chúng tôi, tuổi nhỏ nhất là 15, tuổi lớn nhất là 75 nhưng lứa tuổi hay gặp nhất là
40-60, chiếm 62,5%, tiếp đến là nhóm đối tượng trên 60 chiếm 29% Tuổi mắc bệnh gặp trong dải rộng cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bo Jonsson [5] Trong nghiên cứu của chúng tôi, lứa tuổi hay gặp nhất là từ 40 đến 60 tuổi, lứa tuổi lao động chủ lực, vì vậy cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời để tránh gánh nặng tàn phế cho mỗi cá nhân và xã hội Thêm vào đó, 29% số đối tượng nghiên cứu là trên
60 tuổi thấy bệnh cũng có thể là hệ quả của một quá trình lao động nặng kéo dài
Bảng 2: Mối liên quan giữa bệnh và nghề nghiệp.
Qua bảng 2 chúng tôi nhận thấy hội chứng hẹp ống sống thắt lưng gặp ở nhiều
ngành nghề khác nhau hay gặp hơn ở những người lao động chân tay chiếm 90%, trong đó lao động nặng (công việc đòi hỏi thường xuyên bê vác, gánh nặng…) chiếm tỷ lệ cao nhất là 55% Hoàng Văn Thuận [4] nghiên cứu 175 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cũng cho thấy, có tới 73,74% bệnh nhân là lao động nông nghiệp, công nghiệp và lao động quân sự Như vậy, tương tự các bệnh lý cột sống khác, điều kiện lao động nặng nhọc kéo dài có lẽ là yếu tố thuận lợi của hẹp ống sống thắt lưng
Trang 6Biểu đồ 1: Triệu chứng khởi đầu.
Triệu chứng khởi đầu điển hình gặp ở 100% các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là đau và hạn chế vận động cột sống thắt lưng (biểu đồ 1) Đây cũng là triệu chứng gặp với tỷ lệ cao trong những nghiên cứu của các tác giả khác [5], [7] Tiền sử đau vùng thắt lưng và mông là dấu hiệu có độ nhạy đến 88% để chẩn đoán hẹp ống sống thắt lưng [6] Một số cách khởi bệnh khác như bệnh nhân có đau kiểu
rễ thần kinh và rối loạn cảm giác khác kiểu rễ, teo cơ, rối loạn cảm giác vùng hậu môn- sinh dục, rối loạn cơ tròn và rối loạn sinh dục
Bảng 3: Đặc điểm đau cột sống thắt lưng.
Đau khi đi bộ 1 đoạn, khi đứng lâu, nghỉ ngơi đỡ đau 28 70
Bảng 3 cho thấy 70% bệnh nhân đau khi đi bộ một đoạn hoặc đứng lâu, đỡ đau khi nghỉ ngơi Số bệnh nhân đau khi xuống dốc nhiều hơn khi lên dốc, và có 30% bệnh nhân đau liên tục, kể cả khi nghỉ ngơi Những biểu hiện này hoàn toàn phù hợp với
y văn kinh điển khi mô tả hội chứng hẹp ống sống thắt lưng Bo Jonsson [5], Jeffrey
Trang 7N Katz [6], Shinichi Konno [7] và Yamashita K [70] cũng thu được những kết quả tương tự
Biểu đồ 2: Các hình thức rối loạn vận động.
Trong số 40 bệnh nhân được nghiên cứu, chúng tôi thấy có 3 bệnh nhân vận động bình thường (có thể đi lại trên 500m liên tục), 33 bệnh nhân hạn chế đi lại (không thể đi lại liên tục dưới 500m) tương ứng 92,5% bao gồm những bệnh nhân hạn chế đi lại do đau và hạn chế đi lại do liệt Có 4 bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng đi lại
Rối loạn vận động cũng được ghi nhận ở nghiên cứu hẹp ống sống thắt lưng- cùng của Bo Jonsson [5] Trong nghiên cứu của tác giả này, 26% bệnh nhân hẹp bên và 66% bệnh nhân hẹp trung tâm không thể đi bộ được quá 500m Kết quả này thấp hơn hẳn so với kết quả của chúng tôi có lẽ một phần do cỡ mẫu chênh lệch nhau, một phần do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại bệnh viện tuyến cao nhất, bệnh nhân đến viện thường muộn và nặng hơn so với các cơ sở khác
3.1 Đặc điểm của các dấu hiệu kích thích rễ:
Bảng 4: Đặc điểm của các dấu hiệu kích thích rễ.
Trang 8Dấu hiệu kích thích rễ Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 4 cho thấy dấu hiệu kích thích rễ gặp nhiều nhất là dấu hiệu Valleix
(52,5%), sau đó đến dấu các hiệu Lasègue 47,5% và dấu hiệu bấm chuông 45% Có 24 (60%) bệnh nhân có ít nhất một trong dấu hiệu này
Bảng 5: Đặc điểm rối loạn trương lực cơ (n=40).
Kiểu rối loạn trương lực cơ Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 5 cho thấy 80% số bệnh nhân bị giảm trương lực cơ, chỉ có 20% trương
lực cơ bình thường, không có trường hợp nào tăng trương lực cơ
Bảng 6: Đặc điểm rối loạn phản xạ.
Các triệu chứng về phản xạ Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) (n=40)
Nhận xét: Bảng 6 cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân bị giảm phản xạ gân xương khá cao
(85% với gân gót và 62,5% với gân gối) 6 bệnh nhân mất cả phản xạ da bìu và phản xạ hậu môn chiếm 15% Không bệnh nhân nào có dấu hiệu bệnh lý bó tháp
Bảng 7: Triệu chứng rối loạn cảm giác ( lúc đã vào viện).
Triệu chứng rối loạn cảm giác Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) (n=40)
Trang 9Cảm giác bị bóp ép 36 90,0
Giảm cảm
giác khách
quan
Theo khu vực chi phối của dây thần kinh hông to
Nhận xét: Bảng 7 cho thấy khi đã vào viện, trên 90% bệnh nhân còn các triệu
chứng đau cột sống thắt lưng, đau cạnh cột sống thắt lưng, đau lan theo rễ thần kinh, cảm giác tê bì, dị cảm, cảm giác bị bóp ép, đặc biệt 100% có đau cột sống thắt lưng Số bệnh nhân có giảm cảm giác khách quan chiếm tỷ lệ thấp hơn, trong số này chủ yếu gặp giảm cảm giác theo khu vực chi phối của dây thần kinh hông to (13 bệnh nhân tương đương 32,5%), 7 bệnh nhân giảm cảm giác vùng yên ngựa (17,5%) và 6 bệnh nhân giảm cảm giác vùng hậu môn (15%)
Qua phân tích các triệu chứng của bệnh, chúng tôi thấy triệu chứng gặp với tỷ lệ cao nhất là đau cột sống thắt lưng- cùng tương ứng với khu vực tổn thương Phần lớn các bệnh nhân có cảm giác đau này từ lâu và kéo dài cho đến khi nhập viện Dấu hiệu hay gặp thứ hai là đau cạnh cột sống thắt lưng và cảm giác tê bì, dị cảm hoặc không rõ ranh giới, hoặc dưới nếp lằn bẹn Bàn về giá trị của chẩn đoán hẹp ống sống của tiền sử và thăm khám lâm sàng, Jeffrey N.Katz và CS [6] cho rằng các triệu chứng lâm sàng thu được cực kỳ hữu ích trong định hướng chẩn đoán hẹp ống sống thắt lưng cho bệnh nhân cao tuổi đau vùng thắt lưng Vì vậy khai thác các dấu hiệu lâm sàng kể trên là những gợi ý cần thiết để kịp thời chấn đoán căn bệnh này
4 KẾT LUẬN
- Bệnh hay gặp ở bệnh nhân 40-60 tuổi, khởi phát tự nhiên, đau cột sống thắt lưng kèm theo dấu hiệu rễ, hạn chế đi lại, giảm phản xạ gân xương, giảm trương lực cơ
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Ngọc Hoa, Lê Văn Phước (2008), CT cột sống, NXB Y học
2. Nguyễn Mai Hương (2001), Đối chiếu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng
hưởng từ của thoát vị đĩa đệm côt sống thắt lưng, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại
học Y Hà nội
3. Hồ Hữu Lương, Nguyễn Văn Chương, Cao Hữu Hân (1991), “Cơ cấu bệnh tật
tại Khoa nội Thần kinh Viện quân y 103 trong 10 năm (1980-1989)”, Công trình
Nghiên cứu Y học quân sự, Học viện Quân y, tr 21-24.
4. Hoàng Văn Thuận (2004), "Nghiên cứu lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng", Tạp chí y học thực hành, (số 4), tr 48-49.
5. Jonsson B, Stromqvist B, (1993), “Symptoms and signs in degeneration of
the lumbar spine”, The Jounal of bone and joint surgery, vol 75-B (3), pp
381-385
6. Katz JN, Dalgas M, Stucki G, et al (1995), “Degenerative lumbar spinal stenosis Diagnostic value of the history and physical examination”, Arthritis
and Rheumatism, vol 38, pp 1236-41
7. Konno S, Kikuchi S, Yasuhisa, et al, (2007), “A diagnostic support tool for
lumbar spinal stenosis: a self- administered, self-reported history questionnaire”, BMC Musculoskeletal Disorders
8. Spivak JM (1998), “Degenerative lumbar spinal stenosis”, J Bone Joint Surg
Am, vol 80, pp 1053-66
9. Zheng F, MD Farmer JC, Sandhu HS, MD, et al (2006), “A Novel Method
for the Quantitative Evaluation of lumbar Spinal Stenosis”, HSSI, vol 2, pp
136-140