1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)

113 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương 4 khi trình bày về công cuộc khai phá dưới thời Pháp thuộc, các tác giả đã dành 7 trang để nêu sơ lược về: diện tích trồng cao su, sự phân bố, năng suất và tác động của đồn

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007

Trang 2

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, quý thầy cô khoa sử đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn TS Lê Huỳnh Hoa, cô đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Phước Vĩnh và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu

Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hầu hết các nhà nghiên cứu về chế độ thuộc địa trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều thừa nhận rằng, chế độ thống trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây là một chế độ áp bức bóc lột tàn bạo đáng bị lên án Nhưng khách quan,

nó cũng thúc đẩy nền kinh tế thuộc địa chuyển sang hình thái kinh tế mới với sự hiện diện của nhân tố mới - nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa

Trong nền kinh tế thuộc địa Việt Nam thời Pháp thuộc, Miền Đông Nam Kỳ là một trong những địa phương phản ánh tập trung những yếu tố kinh tế mới Đặc biệt nhất là hoạt động của “đồn điền cao su” – ngành đại diện cho hoạt động nông nghiệp thực dân hiện đại

Từ nhiều thế kỷ trước, khi Nam Kỳ còn đặt dưới sự kiểm soát của Chân Lạp, Miền Đông Nam Kỳ là một vùng hoang vu nhiều rừng rậm Dưới thời các chúa Nguyễn, cư dân người Việt, người Hoa… vào khai phá, biến nơi đây thành vùng trồng trọt lớn của vùng đất Nam Bộ

Từ khi thực dân Pháp xâm lược và tiến hành khai thác thuộc địa ở nước ta, Miền Đông Nam Kỳ đã có những biến đổi sâu sắc về kinh tế Xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận, tư bản Pháp đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, tận dụng tối đa điều kiện thiên nhiên thuận lợi về đất đai để đầu tư trồng trọt, trong đó cây cao su – một loại nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp, có giá trị kinh tế cao và là sản phẩm đang được thị trường thế giới bấy giờ ưa chuộng – đứng ở vị trí số một, trở thành cây trồng chính trên đồng đất Miền Đông Nam Kỳ

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Miền Đông Nam Kỳ đã nhanh chóng trở thành nơi có diện tích đồn điền cao su lớn nhất cả nước Cây cao su từ đó sớm khẳng định vị trí và vai trò trong nền kinh tế Miền Đông Nam Kỳ nói riêng và cả nước nói chung, trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước, đem lại nguồn lợi rất lớn cho tư bản thực dân Pháp

Với sự xuất hiện của vùng nguyên liệu cây cao su công nghiệp, Nam Kỳ đã hình thành được hai vùng sản xuất nguyên liệu chính phục vụ cho xuất khẩu của thực dân Pháp, đó là lúa gạo ở Miền Tây và cao su ở Miền Đông Trong đó Miền Đông

Trang 4

Nam Kỳ với thế mạnh đặc trưng của mình đã tác động khá lớn đến tổng thể kinh tế Nam Kỳ

Để hiểu rõ vị trí và vai trò của cây cao su trong nền kinh tế Miền Đông Nam

Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung thời Pháp thuộc, tôi đã chọn đề tài « Lịch sử đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc giai đoạn (1898-1939) »

làm đề tài tốt nghiệp luận văn thạc sỹ của mình Mong rằng những hiểu biết lịch sử sau khi nghiên cứu có thể làm cơ sở khoa học và thực tiễn để hiểu, để xác định hướng

đi kinh tế của Miền Đông Nam Kỳ trong hiện tại và tương lai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để thực hiện đề tài, tôi đã tìm đọc và nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu

đề cập đến những nội dung có liên quan đến đề tài Các nội dung này phần lớn được thể hiện hòa lẫn trong các công trình nghiên cứu về nhiều mặt của Nam Kỳ và Miền Đông Nam Kỳ Có thể giới thiệu sơ bộ sau đây

Trước tiên phải kể đến các tác phẩm của người Pháp Họ rất quan tâm nghiên cứu về vấn đề trồng trọt ở Miền Đông Nam Kỳ, đã bỏ không ít thời gian vào việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Miền Đông Nam Kỳ:

- Terres rouges et terres noires basaltiques d’Indochine, nhà xuất bản Hà Nội,

năm 1931 và Economic agricole del l Indochine, nhà xuất bản Hà Nội, năm 1932 của Yves Henry

- Le problem économique Indochinois của P Bernard, xuất bản năm 1934

- Note sur la main d’auvre caoutchouc des plantations de la Cochinchine et du Cambodge của G Wormeser, nhà xuất bản Sài Gòn, năm 1938

Ngoài ra còn có một số bài viết đề cập đến đồn điền cao su ở những góc độ và mức độ khác nhau được đăng trên các tạp chí: Économique Indochinoi, Extrême Asie, Asie francaise, Presse Indochinoise, Chấn hưng kinh tế Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu quý có giá trị tham khảo cao, rất có ít đối với người nghiên cứu

Sau cách mạng tháng tám, nhất là từ sau năm 1954, nhiều tác giả người Việt đã quan tâm khảo cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam, trong đó có những công trình đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của Miền Đông Nam Kỳ nhưng ít nhiều có liên quan đến vấn đề cao su:

Trang 5

- Kinh tế Miền Nam của Phạm Thành Vinh, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội,

1957 Tác giả đã dành phần 2 của chương một để nêu đặc điểm kinh tế ở miền đồi núi thuộc Miền Nam – vấn đề khai thác các vùng đất đỏ và việc trồng cây công nghiệp

- Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam của Nguyễn Khắc Đạm,

nhà xuất bản Văn- sử- địa, Hà Nội, 1957 Ngoài nội dung quá trình bỏ vốn và chính sách cướp đoạt ruộng đất của tư bản Pháp ở Việt Nam, trong chương 3 tác giả đã giành 10 trang để trình bày sơ lược về phương thức kinh doanh đồn điền cao su của

tư bản Pháp, đồng thời còn đưa ra những số liệu cao su xuất cảng

- Trong cuốn Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc của Nguyễn

Công Bình, nhà xuất bản Văn- sử- địa, Hà Nội, 1959 Tác giả cũng đề cập sơ lược đến điền chủ cao su người Việt

- Tư bản Pháp và vấn đề cao su ở Miền Nam Việt Nam của Nguyễn Phong, nhà

xuất bản Khoa Học, năm 1963 Đây là một chuyên khảo về vấn đề cao su Tác phẩm của Nguyễn Phong đã giúp những người không tiếp cận được với các sách tiếng Pháp

có những hiểu biết nhất định về lịch sử đồn điền cao su Bên cạnh đó, những ý kiến nhận xét của ông cũng đáng để người đọc tham khảo Tuy nhiên, đây chưa phải là một công trình nghiên cứu đầy đủ về đồn điền cao su Tác giả chưa trình bày vấn đề một cách có hệ thống, ông chủ yếu trình bày sơ lược việc kinh doanh cao su của tư bản Pháp về: chính sách cướp đất đai của thực dân Pháp, tình cảnh lao động và đời sống của công nhân cao su, phong trào đấu tranh của công nhân cao su Các vấn đề

về sự ra đời và phát triển của các công ty và đồn điền cao su, quy mô của đồn điền, sự phân bố các đồn điền cao su cũng như sở hữu của các điền chủ chưa được tác giả làm

- Tình hình kinh tế Đông Dương(1900-1939) và kế hoạch tái thiết, trang bị canh tân Đông Dương, nguyên tác của ủy ban kế hoạch Pháp do Lê Khoa dịch và

bình, xuất bản năm 1969

- Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh, nhà xuất bản Lửa

Thiêng, năm 1970 và Việt Nam Pháp thuộc sử của Phan Khoang, phủ quốc vụ khanh

đặc trách văn hóa xuất bản, năm 1971 Trong chương 2 trình bày về sinh hoạt kinh tế của Việt Nam, hai tác giả cũng đã nêu sơ lược về diện tích, sản lượng cao su

Trang 6

- Vấn đề cao su Việt Nam của Đỗ Văn Minh, luận văn cao học Quốc gia hành

chính Sài Gòn, năm 1971 Đây cũng là một chuyên khảo về cao su, tuy nhiên tác phẩm của ông chủ yếu nghiên cứu ở giai đoạn từ 1945 trở về sau

- Nền kinh tế Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (1920-1930) của Trịnh Như Kim,

luận văn cao học sử, Đại họcVạn Hạnh, năm 1972

- Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ của Huỳnh Lứa (chủ biên), nhà xuất bản

Tp Hồ Chí Minh, năm 1987 Trong chương 4 khi trình bày về công cuộc khai phá dưới thời Pháp thuộc, các tác giả đã dành 7 trang để nêu sơ lược về: diện tích trồng cao su, sự phân bố, năng suất và tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế, xã hội Miền Đông Nam Kỳ

- Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương 1939) của Jean- Pierre Aumiphine (bản dịch), xuất bản ở Hà Nội, năm 1994 Tác giả

(1859-cũng trình bày một cách khái quát về hoạt động đồn điền cao su

- Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Miền Nam Việt Nam 1975) của Võ Văn Sen, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996 Trong

(1954-chương 1, tác giả đã giành một vài trang để sơ lược về hoạt động kinh doanh của tư bản Pháp trong nông nghiệp ở Nam Kỳ trong đó có cây cao su

- Cây cao su đặc sản của vùng Đông Nam Bộ của Lê Huỳnh Hoa đăng trên tạp

chí xưa và nay, số 45b, 11/1997 Bài viết của tác giả Lê Huỳnh Hoa đã trình bày những nội dung chủ yếu nhất của đồn điền cao su (sự du nhập cây cao su vào Việt Nam, chính sách cướp đất và tuyển mộ lao động, việc khai thác mủ và xuất khẩu cao su) Song, do vấn đề chỉ được đề cập trong một số trang ít ỏi, tác giả chưa thể làm sáng tỏ tất cả mọi mặt

- Góp thêm tư liệu Sài Gòn- Gia Định từ 1859-1945 của Nguyễn Phan Quang,

nhà xuất bản Trẻ Tp Hồ Chí Minh, năm 1998 Tác giả cũng nêu sơ lược về diện tích cao su và sản lượng cao su xuất khẩu

- Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa( 1858-1945) của Nguyễn văn

Khánh, nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, năm 1999 Tác giả cũng đề cập đến hoạt động của đồn điền cao su ở Nam Kỳ về: diện tích cao su, số lượng đồn điền, sản lượng cao su xuất khẩu

- Một trăm năm cao su Việt Nam của Đặng văn Vinh, nhà xuất bản Nông

nghiệp, Tp HCM, năm 2000 Tác phẩm của ông đã trình bày khá rõ về sự ra đời và

Trang 7

phát triển của đồn điền cao su ở nước ta, sự cải tiến kỹ thuật trồng trọt cũng như phong trào đấu tranh của công nhân cao su Tuy vậy, một số vấn đề như: chính sách

và biện pháp cướp đoạt đất đai của thực dân Pháp, hiệu quả kinh tế của đồn điền cao

su, tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế - xã hội Miền Đông Nam Kỳ … chưa được tác giả làm rõ, cần được tìm hiểu thêm

- Cảng Sài Gòn và những biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc(1860-1939)

của Lê Huỳnh Hoa, luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử, Đại học sư phạm Tp.HCM, năm

2002 Tác giả cũng đã trình bày về hoạt động đồn điền cao su

Đặc biệt còn có một số công trình chuyên nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam và bộ phận công nhân cao su như là:

- Địa ngục cao su của Nguyễn Hải Trừng, nhà xuất bản Sự Thật, năm 1955

- Giai cấp công nhân Việt Nam của Trần văn Giàu , nhà xuất bản Sự thật, Hà

Nội, 1961

- Phú Riềng đỏ của Trần Tử Bình, nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 1971

- Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam của Nguyễn Công

Bình, nhà xuất bản Lao động, năm 1974

- Giai cấp công nhân Việt Nam trước khi thành lập Đảng của Ngô văn Hòa-

Dương Kinh Quốc, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1978

- Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1936-1939 của Cao văn Biền, nhà xuất

bản KHXH, 1979

- Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Miền Đông Nam Bộ

của Thành Nam, nhà xuất bản Lao động, năm 1982

- Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906-1990) của Huỳnh Lứa

(chủ biên), Nhà xuất bản Trẻ, năm 1993

- Phú Riềng đỏ trong phong trào công nhân Miền Đông Nam Kỳ của Hà Minh

Hồng, nghiên cứu lịch sử số 5, năm 1999

Những tác phẩm trên giúp chúng tôi nhận biết chân xác hơn về : sự ra đời và phát triển cũng như tình cảnh lao động và đời sống của giai cấp công nhân Việt Nam, đặc biệt là bộ phận công nhân làm việc tại các đồn điền cao su Đồng thời, thấy rõ bản chất bóc lột của tư bản thực dân Pháp

Bên cạnh đó, một số tác giả có những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn

đề cao su ở một số địa phương của Miền Đông Nam Kỳ Nhìn chung các tài liệu này

Trang 8

cũng giúp người nghiên cứu bổ sung thêm một ít tư liệu về đồn điền cao su ở các địa phương

- Lịch sử các đồn điền cao su thuộc miền đất đỏ Bình Long của Lê Linh, Tuần

san Phòng thương mãi Sài Gòn, số 186-187, 1961

- Thực tế khai thác cao su của người Pháp tại Bình Long, của Ngô Viết Đức,

luận văn cao học Quốc gia hành chính Sài Gòn, năm 1972

- Những chặng đường đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Đồng Nai

của Nguyễn Viết Trân, Công ty cao su Đồng Nai xuất bản, năm 1985

- Lịch sử đấu tranh cách mạng Sông Bé (1920-1945) của Lưu Huỳnh Thống,

trong “Địa chí Sông Bé”, nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé, 1991

- Sự hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân cao su Đồng Nai qua các thời kì lịch sử (1906-1991) của Trần Toản, luận án tiến sĩ khoa học

lịch sử, Viện khoa học xã hội tại Tp.HCM, năm 1991

- Tìm hiểu phong trào đấu tranh của công nhân cao su Sông Bé (1933-1975),

luận văn cao học sử, Viện khoa học xã hội tại Tp.HCM, 1991

- Phong trào đấu tranh của công nhân Thủ Dầu Một trong kháng chiến chống thực dân Pháp của Nguyễn Thị Mộng Tuyền, nhà xuất bản Lao Động, năm 2002

- Những biến đổi kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc giai đoạn 1897-1939 của Bùi Thị Huệ, luận văn cao học sử, Đại học sư phạm

Nam Kỳ Vì vậy, nghiên cứu “Lịch sử đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời

Pháp thuộc giai đoạn (1898-1939)” sẽ là một đóng góp thiết thực để hiểu rõ hơn về

hoạt động kinh tế mang tính đặc thù đã từng làm nên thế mạnh kinh tế của Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc

3 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ nhận thức nêu trên, đề tài muốn đặt ra và giải quyết các yêu cầu khoa học cụ thể sau đây :

Trang 9

- Bước đầu tập hợp, thống kê, hệ thống hóa tư liệu, dựng lên bức tranh sinh động về hoạt động trồng trọt chính của Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc, cụ thể

là cây cao su

- Từ thực tế hoạt động của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc, tiến hành xem xét, đánh giá những ảnh hưởng tích cực và hạn chế của đồn điền cao su đối với kinh tế, xã hội của Miền Đông Nam Kỳ

- Trên cơ sở nhận thức về sự khai thác triệt để và những hậu quả mà thực dân Pháp để lại cho thuộc địa Bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển kinh tế Miền Đông Nam Kỳ trong hiện tại và tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu về hoạt động cụ thể của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ giai đoạn (1898-1939) Vì vậy, hoạt động của đồn điền cao su (1898-1939)– ngành sản xuất mang tính đặt thù của kinh tế Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc – là đối tượng nghiên cứu chủ yếu Tuy nhiên được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu như sau:

- Không gian nghiên cứu của đề tài là khu vực Miền Đông Nam Kỳ gồm các tỉnh : Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn Ngày nay thuộc địa phận hành chính các tỉnh : Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn bởi hai mốc :

 Mốc mở đầu là năm 1898 : Đây là năm bắt đầu trồng và lập đồn điền cao

su ở Miền Đông Nam Kỳ

 Mốc kết thúc là năm 1939 : Trên thực tế đây là năm kết thúc công cuộc khai thác thuộc địa lần II Từ năm 1940-1945, phát xít Nhật đã nhảy vào Đông Dương Về danh nghĩa thực dân Pháp vẫn duy trì chủ quyền của mình, nhưng trên thực tế, các hoạt động của thực dân Pháp đã hoàn toàn

bị phát xít Nhật chi phối, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được xác định

là những phương pháp cơ bản để tiến hành nghiên cứu

Hỗ trợ cho phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp thống

kê nhằm hệ thống các số liệu, dữ kiện làm cơ sở để kết hợp đồng thời với phương

Trang 10

pháp tổng hợp rút ra những kết quả tổng hợp, đáp ứng yêu cầu của một đề tài lịch sử kinh tế

Ngoài ra phương pháp so sánh cũng được vận dụng để giúp làm sáng tỏ những hoạt động và biến đổi của kinh tế, xã hội Miền Đông Nam Kỳ so với các thời kỳ trước và sau đó

6 Đóng góp của Luận văn

- Luận văn đã tiếp cận, lựa chọn, thu thập và tổng hợp một số tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau đặc biệt là nguồn tư liệu hiện đang lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II, Tp Hồ Chí Minh có liên quan đến kinh tế, xã hội nói chung và đồn điền cao su nói riêng ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc Việc nghiên cứu đầy đủ và

có hệ thống sự phát triển của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ sẽ giúp phục dựng lại hoạt động của các đồn điền cao su ở đây - một hoạt động mang tính đặt thù của kinh tế Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc

-Trên cơ sở khôi phục lại hoạt động kinh tế tiêu biểu đó, luận văn góp phần giúp đọc giả hiểu rõ vị trí và vai trò của cây cao su đối với kinh tế Miền Đông Nam

Kỳ thời Pháp thuộc

-Qua nghiên cứu luận văn còn làm sáng rõ :

1 Nhận thức về thế mạnh, tiềm năng của vùng kinh tế Miền Đông Nam Kỳ trong quá khứ, làm cơ sở định hướng cho hoạt động kinh tế của Miền Đông Nam Kỳ hiện nay trên bước đường công nghiệp hóa- hiện đại hoá đất nước

Chương 3 : Khai thác đồn điền cao su và hiệu quả kinh tế của đồn điền cao su

ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1898-1939)

Chương 4 : Tác động của đồn điền cao su đối với kinh tế - xã hội của Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1898-1939)

Trang 11

Chương 1 : VÙNG ĐẤT MIỀN ĐÔNG NAM KỲ TRƯỚC VÀ

TRONG THỜI PHÁP THUỘC

1.1 Miền Đông Nam Kỳ trước thời Pháp thuộc

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Miền Đông Nam Kỳ là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam Trong giai đoạn Pháp thuộc, Miền Đông Nam Kỳ bao gồm các tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh Ngày nay thuộc địa phận các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố

Hồ Chí Minh

Về mặt vị trí địa lí: Phía Tây và Tây Nam, nằm kề đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Phía Đông và Đông Nam giáp biển Phía Bắc và Đông Bắc giáp vùng Tây Nguyên

Theo tác giả Huỳnh Lứa trong tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”, Miền Đông Nam Kỳ có diện tích 27.920 km2, là vùng đồng bằng phù sa cổ, tồn tại dưới dạng bán bình nguyên, có địa hình đồi gò lượn sóng, độ cao trung bình từ vài chục mét đến khoảng 200m trên mực nước biển, độ dốc dưới 150 chiếm 80% diện tích, gồm những cao nguyên thấp và những ngọn đồi lượn sóng, rải rác xuất hiện một vài ngọn núi trẻ như núi Chứa Chan (858m), núi Bà Rá (736m), núi Bà Đen (986m)… Miền Đông Nam Kỳ là một vùng đất cao tiếp liền dưới chân phía nam các cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh kéo dài từ Tây Ninh đến Bà Rịa Rìa phía nam đổ thoai thoải xuống đồng bằng sông Cửu Long Đây là vùng của các núi lửa đã tắt và của các bậc thềm sông, khoảng 1/3 diện tích có địa hình hiểm trở, còn lại đất đỏ và đất xám là chủ yếu, rất thích hợp cho cây công nghiệp.[27, tr.17-18]

Đất đỏ ở Miền Đông Nam Kỳ trải rộng ở phía bắc chạy dài thành một dải theo hướng bắc-đông-bắc; nam-đông-nam phủ trên nền đá hoa cương cổ Trước hết người

ta tìm thấy đất đỏ ở gần Kompong-cham (tả ngạn sông Mê Kông), nó đi qua Lộc Ninh, Xa Trạch và từ An Bình xuống phía nam về Bà Rịa Đó là loại đất sét ít chất đá vôi, có nhiều mùn và có một hàm lượng hữu cơ khá lớn Đất không lẫn cuội và sỏi, ở

độ sâu 15-40 mét đất vẫn giữ được đồng chất Đặc điểm của loại đất này là không bị cứng nên dễ hút nước mưa, không để cho nước chảy thành dòng và giữ được độ ẩm rất tốt thích hợp với việc trồng cây công nghiệp Các nhà khoa học Pháp đã phát hiện

Trang 12

riêng ở Miền Đông Nam Kỳ, diện tích đất đỏ tối thiểu là 200.000 ha tạo thành một dải rộng từ 2 đến 20 cây số, dài 200 cây số [35, tr.12]

Vùng đất xám được phân bố từ phía tây đến phía đông Nam Kỳ qua các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa Đây là loại đất chiếm diện tích lớn nhất ở Miền Đông Nam Kỳ Đất xám là loại đất sét có pha nhiều cát nên ít giữ nước, ít đá vôi, ít mùn, lượng hữu cơ có nhưng chua và ít đạm Nếu trồng trọt, phải sử dụng phân bón thích hợp Loại đất này thích hợp cho những loại cây lâu năm, ngoài

ra còn trồng được các loại hoa màu

Dãy đất phù sa mới nằm tiếp giáp vùng đồng bằng châu thổ do các con sông: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé bồi tụ nên chỉ tạo ra những đồng bằng nhỏ hẹp, ngập nước thích hợp cho việc canh tác lúa

Do sự phân bố tự nhiên về mặt đất đai như trên, nguồn tài nguyên chính yếu của Miền Đông Nam Kỳ là lâm sản Ở đây, có khoảng 60 loại gỗ tốt, đặc biệt là các loại gỗ dầu, trắc, cẩm lai, gõ, mun… Rừng tre, rừng tràm, rừng đước, sú, vẹt cũng là những nguồn tài nguyên đáng kể Dưới thời Pháp thuộc, các vùng đất đỏ và các thềm phù sa cổ đã được khai thác thành những đồn điền lớn trồng các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê

Nếu như ở Miền Tây Nam Kỳ có hệ thống sông Cửu Long thì ở Miền Đông Nam Kỳ có hệ thống sông Đồng Nai Hệ Đồng Nai bao gồm sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Sông Đồng Nai là con sông quan trọng thứ nhì ở Nam Kỳ dài

580 km, do hai nhánh sông Đa Dung và Đa Nhim từ cao nguyên Lâm Viên chảy xuống hợp thành nên có nhiều thác lớn Sau khi tiếp nhận sông La Ngà từ bên trái, sông Bé từ bên phải, sông bắt đầu chảy vào đồng bằng qua đợt thác cuối cùng là thác Trị An Sông chảy uốn khúc rồi gặp sông Sài Gòn từ Hớn Quản qua Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Định về mạn Nhà Bè Từ đây sông thông ra biển bằng nhiều nhánh: sông Đồng Tranh, sông Ngã Bảy, sông Lòng Tàu, sông Soài Rạp (sông Nhà Bè) Sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều Nhờ thủy triều mà dòng sông sâu, thuyền lớn có thể ngược hai sông Vàm Cỏ đến biên giới Việt- Campuchia, ngược sông Đồng Nai đến Biên Hòa, ngược sông Sài Gòn đến hết tỉnh Thủ Dầu Một

Các con sông thuộc hệ Đồng Nai đã tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy thuận lợi cho cư dân các tỉnh Miền Đông, đồng thời nó còn thông với các tỉnh Miền Tây và Campuchia qua hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây

Trang 13

Miền Đông Nam Kỳ có đặc điểm khí hậu nhiệt đới cận xích đạo với nền nhiệt

độ cao và hầu như không thay đổi đáng kể trong năm, nhiệt độ tối đa 34o-35o và tối thiểu là 18o Đặc biệt có sự phân hóa sâu sắc theo mùa, phù hợp với hoạt động của gió mùa Ở đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch trùng hợp với gió mùa tây nam, mùa khô kéo dài từ tháng 11đến tháng 4 là khoảng thời gian có gió mùa đông bắc Lượng mưa tương đối dồi dào, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500-2.000mm Nhìn chung, đây là vùng có khí hậu tương đối điều hòa, ít có thiên tai, không gặp thời tiết quá lạnh, ảnh hưởng của bão hạn chế Khí hậu của vùng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là cây công nhiệp lâu năm như cao su

1.1.2 Khái quát lịch sử khai phá vùng đất Miền Đông Nam Kỳ

1.1.2.1 Sự hiện diện đầu tiên của con người trên vùng đất Miền Đông

Nam Kỳ

Những khám phá của khảo cổ học cho biết một cách chắc chắn con người đã

có mặt trên vùng đất Miền Đông Nam Kỳ cổ từ khá lâu đời, cách đây khoảng 4.000 năm đến 2.500 năm Những di cốt đầu tiên được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Số lượng các di tích cư trú, các khu mộ cổ của lớp cư dân đầu tiên có đến hàng trăm địa điểm Đặc biệt là khu đất đỏ bazan và vùng hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn, vùng ven sông Vàm Cỏ Đông có mật độ cư trú các di tích khá dày Từ các di tích Vườn

Dũ, Cù Lao Rùa, Dốc Chùa đến những di tích được chôn trong hầm đá cự thạch (Xuân Lộc), trong các ngôi mộ chum gốm ở di tích Phú Hòa (cách nay khoảng 3000-

2500 năm) trên vùng đất đỏ bazan, các ngôi mộ chum ở Cần Giờ (cách ngày nay khoảng 3.000-2.000 năm)… Các di cốt ấy đã ghi nhận một cách có căn cứ về lớp cư dân đầu tiên khai phá vùng đất Miền Đông Nam Kỳ nói riêng và Nam Kỳ nói chung

Vùng phù sa cổ - Miền Đông Nam Kỳ - là nơi lớp cư dân đầu tiên cư trú đông nhất lúc bấy giờ không phải là đồng bằng châu thổ sông Cửu Long – vùng phù sa mới Cho đến nay, khảo cổ học chưa tìm thấy những di tích cư trú đích thực của lớp người đầu tiên ấy ở vùng châu thổ sông Cửu Long

Cư trú ở vùng cao của Nam Kỳ, những cư dân đầu tiên này đã lấy nghề trồng trọt làm nghề sản xuất chính trong đó chủ yếu là trồng lúa rẫy Đây có thể coi là một trong những đặc điểm của quá trình phát triển kinh tế buổi đầu của cư dân Miền Đông Nam Kỳ

Trang 14

Trên cơ sở trình độ kỹ thuật kim khí phát triển, vào những thế kỷ đầu công nguyên, lớp người đầu tiên này bắt đầu tiến xuống chinh phục đồng bằng sông Cửu Long, xây dựng nên vùng đô thị Óc Eo – Ba Thê, một hải cảng khá nổi tiếng của vương quốc Phù Nam Tuy nhiên thế kỷ VI, Phù Nam bị Chân Lạp thôn tính Do đó

từ thế kỷ VI-XVI, người Khơme là cư dân chủ yếu ở Miền Tây và một phần của Miền Đông Nam Kỳ lan tới lưu vực sông Bến Nghé Họ sống rải rác trên các giồng đất cao Trên lưu vực sông Đồng Nai còn có một số dân tộc ít người (Stiêng, Châu

Mạ, Châu Ro, Mơ nông, Tàmun…) sinh sống trên vùng đồi núi Lớp cư dân thứ hai này tiếp tục khai phá vùng đất này Nhưng do dân số ít, kỹ thuật sản xuất thấp kém cho nên ngoại trừ một vài vùng đất cao ở bìa rừng và một số gò đồi thì đại bộ phận đất đai còn lại đều là rừng rậm chưa hề được khai phá

Vì vậy cho đến cuối thế kỷ XIII, vùng đất này về cơ bản vẫn là một vùng hoang vu, chưa được khai phá bao nhiêu mặc dù thế kỷ XIII là đỉnh cao của thời đại Ăngkor Điều này được thể hiện khá rõ qua sự mô tả quang cảnh vùng duyên hải và đồng bằng Nam Kỳ của Châu Đạt Quan, một sứ thần của triều đình nhà Nguyên được

cử sang kinh đô Ăngkor(1296) để giao thiệp với vua Chân Lạp: “ Bắt đầu vào Châu

Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay), gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê, khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong sông, thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây Xa nữa, tằm mắt chỉ toàn thấy cỏ cây đầy rẩy Hàng trăm hàng nghìn trâu rừng tụ hợp từng bầy Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre

chạy dài hàng trăm dặm”.[27, tr.37]

1.1.2.2 Sự xuất hiện của lưu dân người Việt với qúa trình khai phá vùng

đất Miền Đông Nam Kỳ trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp

Như đã nêu ở trên, vùng đất Miền Đông Nam Kỳ mặc dù từ lâu đã là nơi sinh sống của những lớp cư dân thuộc nhiều thành phần chủng tộc và dân tộc khác nhau Nhưng cho đến thế kỷ XVI, về cơ bản đây vẫn là vùng đất hoang vu chưa được mở mang khai phá gì nhiều

Từ đầu thế kỷ XVII, Miền Đông Nam Kỳ cũng như toàn bộ vùng đất Nam Kỳ trở nên rầm rộ và sôi động, do có sự xuất hiện của cư dân mới, chủ yếu là người Việt

từ miền Thuận Quảng di cư vào Nguyên nhân của hiện tượng xã hội này chính là do

Trang 15

những cuộc chiến tranh tương tàn của hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn Dân chúng không sống nổi trong tình cảnh binh đao, nô dịch, thiên tai, đói nghèo Họ quyết định rời bỏ làng mạc, xiêu tán vào phương Nam, hội nhập cùng với cư dân bản địa khai hoang, lập ấp, mưu cầu cuộc sống an bình, no ấm

Theo chân người Việt, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, một số người Hoa

“phản Thanh phục Minh” cũng được chúa Nguyễn cho lánh nạn vào đây sinh sống Đến giữa thể kỷ XVIII, lại có thêm người Chăm gia nhập vào lớp cư dân mới Họ cùng cộng cư với người dân bản địa và cư dân người Việt sinh sống lâu dài

Số lưu dân người Việt khi vào tới đất Đồng Nai – Gia Định thì địa điểm dừng chân đầu tiên của họ, theo sử cũ “Gia Định thành thông chí” là vùng Mô Xoài-Bà Rịa Vì đây là vùng đất địa đầu nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại tiếp giáp biển

Từ Mô Xoài – Bà Rịa, di dân người Việt tiến dần về phía nam vào vùng Đồng Nai – Biên Hòa, nơi có trục đường giao thông thủy bộ gặp nhau, định cư và khai khẩn Tuy nhiên, phần lớn đất đai ở đây là rừng rậm và những đồi cỏ tranh nên việc khai phá gặp nhiều khó khăn, lưu dân người Việt chỉ tập trung khai phá vùng dọc sông, vùng đất cao ráo, vùng phụ cận dinh Trấn Biên như: Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá,

cù lao Rùa, Tân Triều, Cù lao Tân Chánh, rạch Lá Buông [27, tr.49] Đến cuối những năm 70 của thế kỷ XVII, vùng này nhận thêm lưu dân người Hoa Họ là những người Trung Hoa không thần phục triều đình Mãn Thanh chạy sang nước ta xin lưu trú được chúa Nguyễn chấp nhận và đưa vào đây

Ngoài ra cũng có một bộ phận lưu dân vào cửa Cần Giờ ngược sông Bình Phước (sông Lòng Tàu) lên vùng Sài Gòn – Bến Nghé và vùng ngày nay là huyện Thuận

An, Bến Cát của Bình Dương Theo các nguồn sử liệu phương Tây, thì từ đầu thế kỷ XVII, người Việt đã đến định cư và khai phá vùng này Họ cùng với cư dân địa phương- người Khơ me, khai phá các vùng đất cao như khu vực kéo dài từ Chợ Quán đến gò Cây Mai, Chùa Gò, khu vực từ Tân Định, Bà Chiểu, Gò Vấp…kéo dài đến Hóc Môn và dọc theo trục lộ đi về phía Tây Ninh.[27, tr.49-50]

Ở phía Bắc của Bến Nghé, ngược lên tiếp giáp với Chân Lạp, mức độ khai phá còn ít, chỉ có vùng Bến Tầm Long đã được lưu dân người Việt và cư dân người Khơ

me hợp tác khai khẩn Theo “Gia Định Thành thông chí”, vùng bến Tầm Long, nơi có con đường qua lại giữa Việt Nam –Chân Lạp “có nhiều người Cao Miên… và người

Trang 16

Kinh ở lẫn lộn với nhau, rừng rú rậm rịt, nay đã khai khẩn đều thành ra những cách

mở rộng và xây dựng thêm Công cuộc khai hoang được đẩy mạnh, các vùng khai khẩn của nông dân, của binh lính được mở rộng trên qui mô lớn

Như vậy đến những năm cuối thế kỷ XVII, cùng với người Hoa, người Chăm, người Khơ me, lưu dân người Việt đã định cư và khai phá cả một vùng đất rộng lớn ở Miền Đông Nam Kỳ từ địa đầu Mô Xoài – Bà Rịa cho đến Sài Gòn – Bến Nghé Dân

số đã hơn 40.000 hộ (khoảng 200.000 người) Đó chính là cơ sở xã hội để năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh vào thiết lập chính quyền ở vùng này

“lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế đinh

điền và lập hộ tịch đinh điền” [27, tr.46]

Huyện Tân Bình lúc đó bao gồm các quận 1,3,4,5,6,8,10,11,Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Hóc Môn, Cần Giờ, Củ Chi, toàn tỉnh Tây Ninh và một phần tỉnh Long An ngày nay Huyện Phước Long bao gồm một vùng rộng lớn từ Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, một phần tỉnh Bình Thuận, Thủ Đức, Thủ Thiêm, Nhà Bè, Giồng Ông Tố [49, tr.16] Như vậy phủ Gia Định khi ấy đã bao trùm lên khắp vùng Miền Đông Nam Kỳ

Tuy nhiên, những người đi khẩn hoang trong buổi đầu phần lớn là dân nghèo phiêu bạt, phương tiện thiếu thốn, trình độ kỹ thuật hạn chế, nên những điểm định cư

và khai phá mới chỉ rải rác đây đó Đất hoang, rừng rậm vẫn còn nhiều

Sang thế kỷ XVIII, các địa điểm định cư và khai phá ở khu vực Bến Nghé, chung quanh Sài Gòn tiếp tục được mở rộng Nhiều thôn ấp được phát triển thành xã như xã An Lộc (1716), xã An Phước (1746), xã Phú Thọ (1747), xã Tân Sơn Nhất (1749), xã An Lợi Đông (1751) [27, tr.51]

Trang 17

Ngoài những cuộc khai phá do dân chúng tự động tiến hành, từ cuối thế kỷ XVII các chúa Nguyễn còn sử dụng binh lính khai phá đất đai canh tác ở khu vực trú quân và mộ dân lập đồn điền khẩn hoang Việc làm này của chính quyền họ Nguyễn

đã góp phần thúc đẩy quá trình khai phá đất đai ở Miền Đông Nam Kỳ trong thế kỷ XVIII

Như vậy, trong hai thế kỷ khai phá vùng đất mới, lưu dân người Việt, người Hoa cùng cư dân tại chỗ người Khơme đã từng bước khai phá được một vùng đất rộng lớn

ở Miền Đông Nam Kỳ Cho đến cuối thế kỷ XVIII, những người đi khai phá đã tạo ra được những diện tích canh tác đáng kể, đặt cơ sở vững chắc cho việc mở rộng công cuộc khai phá sau này Theo con số thống kê của Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục”, thì vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, huyện Tân Bình có ruộng thực trưng hơn 1.451 mẫu, huyện Phước Long có ruộng thực trưng hơn 787 mẫu, đó là chưa kể các khoản ruộng núi, đất dâu, đất mía, đất vườn trầu, ruộng các họ, ruộng quan đồn điền Huyện Phước Long còn có trường Gian Thảo có ruộng đất ngoài 6.000 sở [27, tr.72]

Những số liệu thống kê nói trên của Lê Quý Đôn tuy chưa đầy đủ và rõ ràng lắm nhưng cũng cung cấp một hình ảnh khá đậm nét về tình hình khai phá đất đai ở Miền Đông Nam Kỳ trong các thế kỷ XVII, XVIII

Phần lớn diện tích khai khẩn được đưa vào sản xuất nông nghiệp trồng lúa Người dân lưu tán cùng với cư dân địa phương đã đưa ngành nông nghiệp trồng lúa vùng này phát triển lên một bước mạnh cả về qui mô lẫn năng suất, sản lượng Địa bàn trồng lúa ngày càng mở rộng, không chỉ giới hạn ở những giòng đất cao mà còn tỏa ra các vùng đất trũng, đất ven sông

Ở vùng Bắc và Đông Bắc Bến Nghé bao gồm Hóc Môn, Gò Vấp, Phú Thọ, Hạnh Thông, Giồng Ông Tố, dọc sông Vàm Cỏ Đông, Trảng Bàng, Khê Lăng, nền nông nghiệp trồng lúa chiếm vị trí hàng đầu.[27, tr.73-74]

Nhờ đất đai màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, lại nhờ biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật cày cấy và sử dụng giống lúa thích hợp với từng loại ruộng, đồng thời chọn đúng thời vụ kết hợp với làm thuỷ lợi nhỏ, người nông dân Miền Đông Nam Kỳ

đã sớm đưa năng suất lên khá cao Vào cuối thế kỷ XVIII cấy một hộc thóc giống gặt được 100 hộc [27, tr.79] Với năng suất khá cao như thế, lại được thực hiện trên một diện tích canh tác rộng lớn Miền Đông Nam Kỳ trong nửa cuối thế kỷ XVIII đã sớm

Trang 18

trở thành một vựa lúa lớn, nguồn cung cấp thóc gạo quan trọng cho các phủ phía ngoài của xứ Đàng trongnhất là xứ Thuận Hoá

Piere Poivre trong đoạn nhật kí 27-10-1749 của mình cũng nhận xét rằng: “Hiện nay Đồng Nai là một vựa lúa lớn của cả xứ Đàng trong Vùng này đã cung cấp cho toàn xứ một khối lượng lớn về thóc” [27, tr.80]

Những nhận xét như thế cho thấy hoạt động nông nghiệp trồng lúa ở vùng đất phù sa cổ Miền Đông Nam Kỳ đã phát triển nhanh trong nửa đầu thế kỷ XVIII

Nhìn chung, công cuộc khai phá vùng đất Miền Đông Nam Kỳ trong thế kỷ XVIII có nhiều khởi sắc, tuy nhiên tình trạng đất hoang rừng rậm ở đây vẫn còn khá

nhiều Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quí Đôn đã ghi lại rằng: “ ở phủ Gia Định, đất

Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [27, tr.37]

Năm 1802, sau khi thắng Tây Sơn và lên ngôi hoàng đế, trên cơ sở những thành quả đạt được từ thời các chúa Nguyễn, vua Gia Long tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang ở cả Miền Đông lẫn Miền Tây của Nam Kỳ

Bằng những biện pháp cụ thể, nhà nước Nguyễn đã chú trọng khuyến khích dân chúng đi khai hoang với nhiều thủ tục dễ dãi như: người đi khai hoang tự do lựa chọn nơi khai phá; miễn thuế cho người đi khai phá đất hoang trong vòng 3 năm hoặc lâu hơn; cấp không hoặc cho mượn nông cụ, thóc giống, trâu bò; quy định đất đai khai phá được thuộc sở hữu của người khai phá Thúc đẩy dân chúng khẩn hoang là công việc thường xuyên của quan lại địa phương và là tiêu chuẩn để nhà vua thực hiện thưởng phạt Năm 1836 và 1839, vua Minh Mạng đã ban hành lệ thưởng phạt đối với việc đôn đốc khai hoang ở Nam Kỳ.[27, tr.98]

Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn còn đứng ra tổ chức dân chúng, binh lính…tiến hành khai hoang qua hình thức đồn điền và khai hoang lập ấp

Với những biện pháp tích cực nêu trên, công cuộc khai hoang ở Nam Kỳ nói chung và Miền Đông Nam Kỳ nói riêng đã được đẩy mạnh Diện tích đất nông nghiệp tăng lên đáng kể so với 2 thế kỷ trước Theo kết quả đo đạt vào năm 1836 được ghi trong Quốc triều chính biên toát yếu thì tổng diện tích đất đai khai phá được của toàn Nam Kỳ tính đến năm này là “ nguyên trưng điền thổ 20.197 sở 13 giây, 8 đám và linh tinh 3.464 mẫu, nay đo đạc thành điền thổ khoảng hơn 630.075 mẫu, lại

Trang 19

nguyên trước là ngạch ruộng hơn 65 sở, nay khám thành ao nuôi cá cả thảy 1.017 miếng”

Ở Miền Đông Nam Kỳ, dưới triều Tự Đức, sách Đại Nam nhất thống chí cho biết diện tích khai phá của tỉnh Biên Hòa là 14.932 mẫu; Gia Định là 175.063 mẫu Theo số liệu do thực dân Pháp thu lượm được và công bố trên Niên giám Nam kỳ năm 1868 về diện tích khai phá vào năm 1868 ở các khu vực thuộc Miền Đông Nam

Kỳ như sau:

- Sài gòn: 7.277 ha

- Chợ Lớn: 10.008 -

- Tây Ninh 103 -

- Trảng bàng 809 -

- Biên Hòa 1.964 -

- Bà Rịa 1.624 -

- Thủ Dầu Một 1.058 -

- Long Thành 1.709 -

- Thủ Đức 4.087 -

Nguồn: [27, tr.132-133]

Nhìn chung, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, hoạt động khẩn hoang diễn ra mạnh

mẽ ở vùng ven sông Phước Long ( Đồng Nai), sông Tân Bình ( sông Sài Gòn) Ở đây, dưới sự tổ chức của chính quyền, cư dân người Việt cùng với người Hoa, người Khơ me… vừa mở rộng các vùng đất đã được khai phá trước đây, vừa tiến sâu vào những vùng đất còn hoang vu Nhờ đó đã nối liền được các trung tâm định cư hình thành trong các thế kỷ trước thành một vùng ruộng vườn chạy dài từ Bà Rịa, Biên Hòa đến Gia Định Tuy nhiên ở phía bắc của Miền Đông Nam Kỳ, mức độ khai phá vẫn còn chậm Vì vậy trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân tư bản Pháp đã đẩy mạnh khẩn hoang nơi này lập ra những đồn điền rộng lớn

1.2 Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc

Tháng 2/1859, sau khi gặp thất bại trong cuộc tấn công vào Đà Nẵng (8/1858), thực dân Pháp đưa quân vào đánh chiếm Sài Gòn, cửa ngõ của Nam Kỳ Sau đó, từng phần đất của Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp Năm 1862, thực dân Pháp chiếm ba tỉnh Miền Đông Vào cuối năm 1867, toàn bộ lục tỉnh Nam Kỳ nằm gọn

Trang 20

trong tay Pháp Nam Kỳ đã bị cắt khỏi phần đất của Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp

Từ đây, công cuộc khai phá Nam Kỳ nói chung và Miền Đông Nam Kỳ nói riêng bước sang một giai đoạn mới trong một hoàn cảnh mới

1.2.1 Công cuộc khai phá đất đai ở Miền Đông Nam Kỳ của thực dân Pháp

1.2.1.1 Mục đích của chính sách khai thác đất đai của thực dân Pháp

Trong lịch sử thuộc địa của thực dân Pháp, dù là ở đâu việc chiếm và khai thác đất luôn là mục tiêu hàng đầu Tiếp nối giai đoạn chinh phục bằng quân sự là giai đoạn khai thác đất đai, bởi đó là cơ sở của toàn bộ chính sách khai thác thuộc địa Năm 1894, trong Thông tư gởi toàn quyền các thuộc địa, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Deleasse bày tỏ: “khai thác những vùng lãnh thổ rộng lớn mà chúng ta đã chiếm được thiết lập ở đó các đồn điền, phát triển sức sản xuất của thuộc địa và bằng chính con đường đó phát triển mối quan hệ về thương mại với chính quốc” [43, tr.11]

Tại Việt Nam, thực dân Pháp đã không chậm trể chiếm lấy những vùng đất đai

có thể khai thác Chúng đã đề ra và thực hiện nhiều chính sách khác nhau để khai thác và cướp đoạt nguồn tài nguyên đất đai giàu tiềm năng của đất nước ta Nam Kỳ

là nơi thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất sớm nhất, vừa mới đặt chân vào Nam Kỳ, tư bản Pháp đã đặt vấn đề “mở mang kinh tế” bằng cách, thu tóm những vùng đất đai tốt nhất Thực dân Pháp nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề sở hữu đất đai vì chế độ tư hữu ruộng đất là một trong những phương tiện sản xuất đảm bảo đủ nguồn hàng phục vụ xuất khẩu Nam Kỳ là thuộc địa khai thác – chủ yếu là khai thác nông nghiệp (lúa, cao su), nếu không nắm chắc trong tay đất đai thì tư bản Pháp sẽ không thu được những món lãi khổng lồ Vì vậy, vấn đề sở hữu và phân phối ruộng đất đối với chính quyền thực dân là điều rất quan trọng Trong điều kiện như vậy, sự cố gắng để làm chủ một diện tích ruộng đất lớn chính là “nhiệm vụ chính trị”

là “trọng tâm hoạt động” của thực dân Pháp trong thời kì khai thác thuộc địa

Năm 1897, triều đình Huế kí điều ước nhượng cho thực dân quyền khai khẩn đất hoang Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến để dễ cướp đoạt ruộng đất của nông dân

Chính sách chiếm đất của chính quyền thực dân ngày càng được xúc tiến mạnh

mẽ Đó là một chế độ được hợp pháp hóa bằng việc ban hành những văn bản pháp lý

Trang 21

về quy chế nhượng đất nhằm khẳng định quyền quản lý đối với những đất đai đó và tạo thuận lợi cho việc bao chiếm đất đai

Thuật ngữ “nhượng” tuy được giải thích khác nhau, nhưng luôn có cùng một

nội dung giống nhau Nó chỉ ra việc nhà nước nhượng cho các nhà thực dân đất công,

và đổi lại các nhà thực dân này phải chịu một số nghĩa vụ được quy định theo quy chế của nhà nước [43, tr.28]

Theo Pierre Delhoumeau: “hợp đồng về nhượng địa ở thuộc địa không phân tích theo luật dân sự cũng như luật hành chính Đó là một hợp đồng tương đối kém xác định- một hợp đồng có đi có lại trong đó chính quyền nhượng, giao một số quyền cho điền chủ để đổi lấy một số nghĩa vụ của họ” [43, tr.29]

Còn Emile Couzinet thì cho rằng: “nhượng địa là một sự giao nhượng bởi một

tư cách pháp nhân công cộng dưới danh nghĩa cho không hay phải trả tiền với điều kiện là phải khai thác các quyền của những vật phụ thuộc khối tài sản tư và có thể dẫn đến sở hữu vĩnh viễn” [43, tr.29]

1.2.1.2 Tính pháp lý của việc nhượng đất công nông nghiệp

Trong buổi đầu, chưa có một quy chế chung cho Đông Dương về việc nhượng đất Ở mỗi kỳ, chính quyền địa phương đề ra những nghị quyết riêng Ở Nam Kỳ, ban đầu phương thức chuyển nhượng đất thông dụng nhất là mua bán bằng tiền Về sau, nhiều luật lệ về trưng khẩn ruộng đất ra đời

Nghị định ngày 30/3/1865 quy định thống đốc Nam Kỳ có quyền đem cho và bán đấu giá “đất công” Giá bán đất công được quy định là 10 francs (fr)/1 ha Về sau, Nghị định năm 1874 xác nhận hệ thống sang nhượng đất đai không phải trả tiền Muốn khẩn thì làm đơn, ghi diện tích, ranh giới, rồi đóng thuế Năm 1882, một nghị định thứ hai đã phân biệt thành hai loại đất chính để sang nhượng:

1 Các đất làng bỏ hoang, thuộc diện nhượng không thu tiền cho những người có đơn xin

2 Các đất đai có thể chuyển nhượng bằng đấu giá công khai

Về diện tích nhượng, nghị định ngày 9/11/1886 của chính quyền thuộc địa quy định: mỗi người Pháp khi xin đất làm nghề nông, chỉ có thể xin một lần không quá 10

ha Nhưng nghị định này đã bị các nhà thực dân phản đối Do đó, không bao lâu, các nghị định ngày 6/10/1889 và ngày 15/10/1890 đã bổ sung cho nghị định trên nhằm

Trang 22

mở rộng quyền chiếm đất cho những tên thực dân, quy định những tên thực dân được quyền xin và chính quyền địa phương được quyền cấp mỗi lần 500 ha [15, tr.58]

Nghị định ngày 15/10/1890 bắt buộc trong vòng 5 năm, đất nhượng phải khai khẩn xong và chính quyền thực dân có quyền lấy lại bất cứ lúc nào những thửa đất cần thiết cho các công trình công cộng [33, tr.190]

Từ năm 1913, Toàn quyền thủ tiêu các nghị quyết địa phương và ra nghị định 27/12/1913 chung cho toàn Đông Dương Từ đây trở đi, quy chế về đất đai mới thực

sự có những điểm đồng nhất, hạn chế tình trạng quá lạm trong việc nhượng đất, điều hòa sự phát triển của Đại, Trung và Tiểu điền chủ cũng là để xoa dịu mâu thuẫn xã hội qua việc nhượng đất

Nghị định 27/12/1913 đưa ra nguyên tắc: nhượng phải trả tiền là phổ biến với tất cả những đất nhượng có diện tích trên 300 ha Nhượng dưới hình thức cho không chỉ là ngoại lệ với những đất nhượng dưới 300 ha Người được nhượng đất phải tiến hành khai thác theo thời hạn quy định trong điều lệ đấu thầu đối với trường hợp cấp phát có trả tiền, và trong 5 năm đối với trường hợp cấp phát không trả tiền Về đối

tượng xin nhượng đất đã mở rộng hơn, gồm các “công dân, thần dân và dân bảo hộ

Pháp” Như vậy với nghị định này, người bản xứ được hưởng chế độ nhượng đất như

công dân Pháp Nhưng trên thực tế, chỉ có những người đã vào làng Tây hay nắm giữ những trọng trách trong bộ máy thuộc địa, làm tay sai cho người Pháp mới được cấp nhượng đất, còn phần lớn người Việt đều không đủ thế và lực để cạnh tranh với công dân Pháp trong việc xin nhượng đất Riêng đối với người nước ngoài, nghị định này

đã loại bỏ hoàn toàn họ ra khỏi việc xin đất làm đồn điền ở Đông Dương Về thẩm quyền cấp đất, Thống đốc có quyền hạn tới 1.000 ha, từ trên 1.000 ha do Toàn quyền cấp nhượng

Tuy nhiên do chiến tranh, nghị định ngày 27/12/1913 chưa phát huy được mấy hiệu lực Vả lại, giá đất mà chính quyền bán cho các điền chủ nhiều khi còn rẻ hơn giá ấn định 1 fr/1 ha đối với các đồn điền cho không Vì thế, nghị định này vẫn tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của các đại đồn điền

Trên thực tế, trong các năm 1924-1925 đã có những đồn điền mà diện tích lên đến 50.000 ha được cấp nhượng Theo báo cáo của Hội đồng chính phủ Đông Dương 20/9/1926 thì năm 1925 có 100.000 ha đất hoang được khai thác và hơn 500.000 ha được xin làm đồn điền trồng cây công nghiệp [44, tr.51]

Trang 23

Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công cuộc khai thác thuộc địa

và chống lại hiện tượng đầu cơ đất, bảo vệ lợi ích của nhà nước và quyền lợi của những người xin đất có ý thức, nghị định ngày 19/9/1926 ra đời, trong đó giữ lại một

số quy định của nghị định ngày 27/12/1913, như quy định về đối tượng được nhượng đất là tất cả các “công dân, thần dân và dân bảo hộ Pháp” và nguyên tắc nhượng đất phải trả tiền Mặt khác, để tránh tình trạng đầu cơ, tích trữ đất trong giới điền chủ, nghị định 19/9/1926 hạn chế diện tích tối đa được nhượng tạm thời cho mỗi điền chủ

là 15.000 ha và mức tối đa cho một đồn điền liền khoảnh là 6.000 ha và quy định rằng chỉ những người có khả năng tài chính để mua đất và khai thác đất mới được cấp nhượng đất Đối với trung và tiểu điền chủ, nghị định này giữ quy định đối với đồn điền cho không tới 300 ha, đồn điền bán theo giá thỏa thuận tới 1.000 ha và được trả dần từ 5 đến 10 năm

Nghị định 19/9/1926 được ban hành, nhưng tình hình không mấy được cải thiện Theo nghị sĩ Nam Kỳ là Outray, trong cuộc trao đổi tại phòng dân biểu Nam

Kỳ 18/3/1927, thì: “người ta đặc biệt tìm kiếm những biện pháp tốt nhất để ngăn chặn tình trạng đầu cơ trên những vụ áp phe ở thuộc địa là tình trạng có quy mô đáng kể,

đe dọa sự dè sẻn của người Pháp”

Sắc lệnh 4/11/1928 ra đời, nó hoàn thành gần như về cơ bản chế độ nhượng đất

ở Đông Dương, quản lý việc nhượng đất công nông nghiệp ở đây cho mãi đến sau này

Trên thực tế Sắc lệnh 4/11/1928 phát triển nghị định 19/9/1926 Sắc lệnh quy định chỉ có người Pháp và người thuộc địa Pháp mới được xin khẩn đất Sắc lệnh này buộc các điền chủ lệ thuộc vào sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền và phải chịu nhiều thể thức, nghĩa vụ, đặc biệt là những quy định về khả năng tài chính của người xin Mặt khác nó còn quy định một cách chi tiết hơn so với các văn bản khác về thẩm quyền của các cấp chính quyền trong việc quản lý đất công Sắc lệnh 4/11/1928 đảm bảo cho chính phủ chính quốc một thứ quyền hạn ngày một tập trung hơn trong việc quản lý và chuyển nhượng đất công Từ đây, chính quyền thuộc địa chỉ được cấp những nhượng địa từ 4.000 ha trở xuống Những nhượng địa trên 4.000 ha sẽ thuộc quyền cấp nhượng của tổng thống Pháp thông qua một sắc lệnh

Trang 24

Có thể nói, với sắc lệnh 4/11/1928 giai đoạn tự do – tự do cấp nhượng đất – đến đây đã kết thúc Từ đây, chính phủ Pháp đã can thiệp vào công việc này bên cạnh chính quyền thuộc địa

Sự giảm sút về quyền hành của những người cầm đầu cấp Liên bang và cấp xứ đối với đất công song song với quá trình tập trung quyền quản lý việc khai thác thuộc địa về nông nghiệp vào tay chính phủ chính quốc là một đặc trưng của chế độ nhượng đất, khẩn hoang ở Đông Dương từ năm 1928 trở đi [44, tr.60]

Như vậy, với sắc lệnh 4/11/1928, việc thành lập các sở hữu lớn trở nên chính thức Nó loại bỏ mọi hạn chế về diện tích các đất đai công cộng có thể được cấp, loại

bỏ cùng một lúc cho các tư bản nước ngoài có khả năng chiếm hữu Như vậy, “việc khai thác nhỏ” bị mờ nhạt dần trước sở hữu lớn được khai thác chủ yếu bởi các vốn của các công ty vô danh

Sắc lệnh 4/11/1928 được áp dụng vào Đông Dương bằng nghị định 28/3/1929 của Toàn quyền Pasquyer Tuy nhiên, trước sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân ta, một số văn bản được bổ sung cho những quy định trên như: Nghị định 26/3/1929 của Toàn quyền quy định rằng có một vùng xa xôi, trong nội địa mà tư bản pháp không nên và không được xin làm đồn điền, cũng không được làm đồn điền ở vùng nào mà nhân dân đã khai khẩn và trồng tỉa rồi và không được đi vào những nơi nào mà Pháp chưa lập được chính quyền của nó; Nghị định ngày 25/6/1930 quy định những vùng được và không được khai khẩn đồn điền Trong đó, phần lớn các tỉnh Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một đều được mở ra cho bọn thực dân tự do chiếm đất lập đồn điền [15, tr.143]

Nhìn chung, với các nghị định trên trong hai thời kỳ khai thác thuộc địa, thực dân Pháp không chỉ xác lập về mặt pháp lý quyền hạn về đất đai của mình mà còn gạt người ngoại quốc ra khỏi việc xin đất lập đồn điền, tránh cho thực dân Pháp một sự cạnh tranh với tư bản ngoại quốc ở Nam Kỳ nói riêng và Đông Dương nói chung

Càng về sau, những quy định về đất đai càng cụ thể, chặt chẽ hơn Chính quyền thuộc địa đã cố gắng đưa ra một quy chế nhượng đất công nông nghiệp với mục đích khuyến khích việc cấp nhượng đất và khai thác thuộc địa trên lĩnh vực nông nghiệp ở Nam Kỳ Nhưng nhìn chung các nghị định này đều có đặc điểm là bổ sung cho nhau, đồng thời các nghị định sau bao giờ cũng nhằm vào mục đích mở rộng quyền chiếm đoạt đất đai cho bọn tư bản thực dân

Trang 25

1.2.2 Những biện pháp khác thúc đẩy việc lập và phát triển đồn điền

Bên cạnh việc sử dụng pháp luật để tư bản Pháp mở rộng việc cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta lập đồn điền, chính quyền thuộc địa còn thi hành nhiều biện pháp khác nhằm thúc đẩy việc lập và phát triển đồn điền như: Chính sách thuế khóa ưu đãi, chính sách khen thưởng khá hậu hĩnh đối với các điền chủ, việc lập ra một số cơ sở kĩ thuật và đầu tư xây dựng hệ thống giao thông vận tải sẽ được trình bày dưới đây

1.2.2.1 Chính sách thuế khóa và khen thưởng

 Chính sách thuế

Để khuyến khích việc lập đồn điền, chính quyền thuộc địa có chính sách thuế khóa rất ưu đãi đối với các điền chủ trồng cao su Ngày 4/6/1910, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định miễn thuế 6 năm cho đất trồng các loại cây công nghiệp Trong sáu năm đầu, đất được cấp nhượng không phải nộp thuế Đến năm thứ bảy chỉ đóng thuế trên 1/10 diện tích được cấp với mức thuế 6.48 francs (fr)/1ha Từ năm thứ 10 trở đi thì người chủ đồn điền cao su hàng năm phải nộp cho nhà nước mức thuế là 3,7 Fr/1ha [50, tr.53]

Ông Octave Dupuy đã làm một bảng so sánh giữa Nam Kỳ và các nước trồng cao su khác trên một diện tích 2.000 ha, bảng so sánh này có tính thuyết phục cao:

Ở Malaysia, trong 6 năm đầu, mỗi ha đất trên số 2.000 ha được cấp phải đóng: 7,50 x 2000 x 6 = 90.000 fr

Từ năm thứ 7 trở đi, mỗi ha nộp 30 fr tiền thuế: 30 x 2.000 = 60.000 fr

Ở Nam Kỳ, trong 6 năm đầu, 2.000 ha đất được cấp không phải nộp thuế, đến năm thứ 7 chỉ đóng thuế trên 1/10 diện tích được cấp với mức thuế 6,48 fr/1ha

Với diện tích đất ngang nhau là 2.000ha đến năm thứ 10 sau khi được cấp đất, thì người chủ đồn điền cao su ở Malaysia đã phải nộp cho nhà nước đến 270.000 Fr tiền thuế đất, còn ở Nam Kỳ thì số thuế đất chỉ lên đến 19.440 fr, tức chỉ bằng 7% số thuế của người đồng nghiệp ở Malaysia

Từ năm thứ 10 trở đi, thì người chủ đồn điền Malaysia hàng năm phải nộp cho nhà nước số thuế đất 60.000 fr còn ở Nam Kỳ thì chỉ nộp có 7.384 fr tức bằng 12% thuế của chủ đồn điền Malaysia trên diện tích 2.000 ha

Vào thời điểm này ông Octave Dupuy ước tính giá thành cao su ở Nam Kỳ có thể vào khoảng 1,25 fr/1kg trong khi ở Malaysia trong các đồn điền tốt nhất có thể lên đến 1,86 fr/1kg [50, tr.53]

Trang 26

 Chính sách trợ cấp và khen thưởng

Trong quá trình hình thành và phát triển, đồn điền cao su cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1918-1923 Những năm này các nước như Nam Dương, Malaysia tung ra thị trường rất nhiều cao su Do đó, giá cao su hạ hẳn xuống, năm 1913 giá cao su là 64 fr/1kg, sang năm 1920 còn có 26,5 fr/1kg Vì vậy, chính quyền thực dân đã lập một quĩ trợ cấp cho các chủ đồn điền cao su để họ

có thể tiếp tục đứng vững và phát triển thêm đồn điền Riêng năm 1921, chính quyền thực dân đã trợ cấp cho họ 1.700.000 đồng Đông Dương [9, tr.89] Chính quyền đứng

ra bảo lãnh để nhà băng Đông Dương cho các đồn điền vay với lãi suất 5%/1 năm Tiếp sau, nhà nước còn đặt ra chế độ cho vay có hoa hồng cho cao su xuất khẩu, lãi suất 3%/1năm Chính nhờ sự giúp đỡ của chính quyền, các đồn điền cao su, nhất là các đồn điền lớn sống được để chờ cao su lên giá [50, tr.64]

Năm 1922, kế hoạch Stevenson ra đời, giá cao su lại lên Tư bản Pháp tăng cường bỏ vốn vào kinh doanh cao su đã tạo cho cao su Việt Nam một thời kỳ “vàng son”, một giai đoạn khởi sắc thực sự Trong 4 năm (1925-1929) Đông Dương có diện tích cao su trồng mới đạt 43.500 ha Có thể nói đây là thời kỳ trồng mới lớn nhất của cao su Đông Dương, trong 4 năm đã trồng bằng 20 năm về trước Nhưng tới năm

1928, kế hoạch Stevenson bị phá sản, giá cao su ngày càng hạ Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, giá cao su liên tụt giảm Năm 1928, 1 kg cao su chỉ có

20 fr, nhưng đến năm 1930 thì lại tụt xuống còn 5 fr; 1931: 4 fr; 1932: 2.5 fr; 1933: 2

fr Trong khi các ngành sản xuất khác bị đình trệ và trong khi các nước láng giềng để mặc cho cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra những hậu quả đối với các đồn điền cao su, thì phủ Toàn quyền Đông Dương và nhà nước Pháp lại có chính sách giúp đỡ không

để cho các đồn điền cao su bị suy sụp Hai biện pháp sau đây được áp dụng:

- Thứ nhất: cho các nhà trồng cao su vay tiền để duy trì các đồn điền

- Thứ hai: thành lập một quỹ trợ cấp đặc biệt [35, tr.28]

Toàn quyền Đông Dương Pasquier kí nghị định ngày 8/2/1930, lấy ở “ quỹ dự trữ Đông Dương” một khoảng tiền cho vay đầu tiên 1 triệu đồng bạc để ứng trước cho chủ các đồn điền cao su lập ra dưới 7 năm Về sau, khoản tiền này tăng lên và lấy hình thức cho vay để duy trì, hợp với những đảm bảo thế chấp

Đạo luật ngày 31/3/1931 quy định thành lập quỹ cho vay đặt dưới quyền của

Bộ trưởng thuộc địa nhằm duy trì việc sản xuất cao su ở các thuộc địa Với đạo luật

Trang 27

này, các thuộc địa, các xứ bảo hộ, đất hải ngoại hay ủy quyền được phép thành lập quỹ dự trữ cho những việc ứng trước cần thiết Số tiền ứng trước được quy định bởi đạo luật 31/3/1931 là 40 triệu cho Đông Dương

Ngày 8/4/1932 chính phủ Pháp ra đạo luật cho Đông Dương vay tiền [1, tr.329] Đạo luật này được ban hành ở Đông Dương bằng nghị định ngày 14/6/1932 của Toàn quyền Đông Dương nhằm khuyến khích và tăng cường sự đầu tư của chính quốc vào Đông Dương, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, số tiền cho vay là 250 triệu fr

Chính quyền thuộc địa cũng có chính sách khuyến khích việc cải tiến kĩ thuật trồng trọt Đối với việc chọn giống tốt bằng lối ghép cây, tháng 4/1931 chính quyền Pháp quy định mức vay là 120 đồng /ha cho đồn điền cao su đất đỏ trồng cây ghép và

60 đồng/ha cho đồn điền đất xám đang tiến hành việc trồng tỉa theo lối ghép cây [35, tr.28-29]

Ngoài ra từ năm 1931, chính quyền còn thành lập “quỹ trợ cấp đặc biệt” nhằm khen thưởng cho các chủ đồn điền có cao su xuất cảng “việc xuất cảng sản phẩm của các thuộc địa được quyền hưởng một số tiền thưởng trích ở quỹ trên Số tiền thưởng

sẽ theo từng quý, dựa vào sự chênh lệch giữa giá thành do luật trên quy định là 6,5 fr/kg với giá thành bình thường của từng quý nhưng mỗi lần không quá 3 fr/1kg” [35, tr.29] Số tiền thưởng cho mỗi kg cao su xuất cảng năm 1931: 2 fr; 1932: 3 fr; 1933:

1 fr; 1934: 0,6 fr [9, tr.91]

Ngoài ra, để có thêm tiền thưởng cho các điền chủ cao su ở Việt Nam, năm

1931, chính phủ Pháp đã đặt một loại thuế đặc biệt đánh vào cao su ngoại quốc nhập cảng vào Pháp

Với chính sách thưởng cho xuất khẩu cao su, từ giữa năm 1930-1934 số tiền giúp đỡ cho những người trồng cao su lên đến gần 10 triệu đồng bạc [3, tr.101]

Theo niên giám thống kê Đông Dương năm 1935, thì số tiền cho các điền chủ đồn điền cao su vay lên tới 9.072.000 đồng Đông Dương, chia ra như sau: năm 1931: 2.487.000 đồng; 1932: 3.040.000 đồng; 1933: 1.393.000 đồng; 1934: 362.000 đồng.[35, tr.29]

Như vậy tổng số tiền chính phủ Pháp giúp đỡ cho các điền chủ cao su lên đến khoảng 19 triệu đồng tức là 190 triệu fr Tuy nhiên, trên thực tế thì con số ấy cao hơn nhiều

Trang 28

Báo Petit Bleu ở Paris tiết lộ bí mật rằng, trong một năm, 14 công ty cao su lớn

ở Đông Dương lĩnh 102 triệu fr, nghĩa là trên 10 triệu đồng bạc chứ không phải một triệu, còn công ty “Cây trồng nhiệt đới” riêng năm 1934 lĩnh đến 10.495.000 fr tiền trợ cấp Như vậy, mỗi năm hàng chục triệu đồng bạc Đông Dương, 10 lần số tiền mà chính phủ công khai tuyên bố [15, tr 24-25]

Người ta biết rằng, chỉ một năm 1932, Nam Kỳ xuất cảng 14.580.000 kg mủ cao su, tức là các chủ vườn cao su được thưởng khoảng 40 triệu fr [15, tr.25] Như vậy 40 triệu fr tiền thưởng với 100 triệu tiền cho vay mượn là 140 triệu/1 năm gấp nhiều lần so với số tiền chính phủ thuộc địa công bố

Nói về sự giúp đỡ cho các chủ đồn điền cao su, quyền thống đốc Nam Kỳ Europe trong khóa họp Hội đồng thuộc địa đã nêu rõ: “việc trồng cao su đã được chính phủ hết sức giúp đỡ Nhờ sự giúp đỡ đó, nên những thiệt hại về việc không bán được sản phẩm cao su do hậu quả nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra,

đã được hạn chế đến mức tối thiểu Những nhà trồng tỉa cao su, không thất vọng và không tăng thêm diện tích trồng trọt, nói chung, đã tổ chức cải tiến phương pháp khai thác cao su, giảm chi phí sản xuất, hoàn thiện hơn nữa kỷ thuật trồng trọt, thí dụ như thực hiện một cách phổ biến lối trồng cao su theo phương pháp ghép cây… một cơ quan đặc biệt sẽ được thành lập để giúp đỡ các nhà trồng tỉa cao su, chè, cà phê…

trước hết nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của quỹ bồi thường” [35, tr.29-30]

1.2.2.2 Biện pháp khoa học kỹ thuật

Để thúc đẩy việc lập đồn điền và khai thác tối đa nguồn lợi từ cây cao su phục

vụ xuất khẩu, chính quyền thuộc địa còn áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất

 Trạm thí nghiệm

Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer cho thành lập hai trung tâm nghiên cứu thí nghiệm cây cao su Một ở trạm thực nghiệm Ông Yêm tại Bến Cát (Thủ Dầu Một)

do E Raoul, một dược sĩ chuyên nghiên cứu thực vật chí ở vùng nhiệt đới phụ trách

và một ở Suối Dầu thuộc viện Pasteur Nha Trang do bác sĩ Yersin chăm sóc

Việc trồng cao su ở các vườn thí nghiệm đã mang lại kết quả khả quan, các nhà nghiên cứu đã rút ra kết luận: đất trồng cao su là đất dễ thoát nước, không phải là vùng đất thấp, nước ứ động hay là đầm lầy [50, tr.31] Các kết luận của họ về cao su

đã đặt cơ sở cho các nhà nông học Pháp đi đến kết luận và khẳng định điều kiện khí

Trang 29

hậu, đất đai ở Nam Kỳ có thể phát triển thuận lợi cho cây cao su Kết luận này đồng thời còn bác bỏ những ý kiến cho rằng cây cao su vốn sinh trưởng ở vùng Amazon là vùng ở sát sông, thường hay bị ngập nước, nên khó có thể thích ứng với những vùng đất khô, tương đối cao của Nam Kỳ [35, tr.8-9]

Các nhà khoa học đã bỏ không ít thời gian vào việc nghiên cứu về mặt vật lí, hóa học những vùng đất trồng cao su Và cùng với sự nghiên cứu đó, họ còn tiến hành nghiên cứu những điều kiện khí hậu, các loại phân bón hóa học phù hợp với cây cao su và phương pháp lấy mủ cao su, chế biến cao su

Những công trình nghiên cứu đất đai về mặt vật lí của các nhà khoa học Pháp

đã giúp cho tư bản pháp nắm được cấu tạo vật lí của đất, sự thấm nước của đất, độ ẩm của không khí và sự cần thiết phải tiêu và tưới nước Việc nghiên cứu về mặt hóa học của đất, giúp cho các chủ đồn điền cao su nắm được những yếu tố dinh dưỡng của đất như: a-zốt, a-xít-phốt-pho-rích, pô-tát… do đó, họ có thể hiểu được tỉ lệ các loại phân bón cần thiết để đạt được năng suất cao

Từ những hiểu biết về lí tính và hóa tính của đất, người ta đi đến kết luận vùng đất phù sa cũ đất đỏ đất xám của Nam Kỳ nằm từ vĩ độ Bắc 140 (An Khê) đến vĩ độ Bắc 10030 (Bà Rịa) là thích hợp cho cây cao su Riêng về chất lượng đất đỏ Nam Kỳ tốt hơn đất đỏ ở Tích Lan và Mã Lai, hàm lượng chất đạm tuy có ít hơn nhưng hàm lượng pô-tát gần như nhau và có nhiều a-xít-phốt-pho-rích [35, tr.11-12]

Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Pháp đã được các nhà tư bản Pháp áp dụng ngay vào việc lập và khai thác đồn điền cao su ở Đông Dương nói chung và Đông Nam Kỳ nói riêng

 Xây dựng hệ thống giao thông vận tải

Hệ thống giao thông vận tải ngay từ đầu được coi là phương tiện cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương Thực dân Pháp rất chú trọng xây dựng hệ thống đường sá Trong chương trình khai thác thuộc địa, Doumer đã khẳng định: “xây dựng cho Đông Dương một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt, đường giao thông, sông đào bến cảng, những cơ sở cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương” [26, tr.115] Vì vậy, cùng với hành động xâm lược mở rộng vùng kiểm soát, thực dân Pháp cũng đã tiến hành xây dựng hệ thống giao thông vận tải, tạo hạ tầng cơ sở cho việc khai thác kinh tế Đông Dương Đường sá được mở rộng đến những khu vực hầm

mỏ, đồn điền, bến cảng và các vùng biên giới xa xôi

Trang 30

Ở Nam Kỳ, tại khóa họp đầu tiên của Hội đồng quản hạt Nam Kỳ vào năm

1880 đã bỏ phiếu chấp thuận dự án thiết lập khoảng 3.000 km đường thuộc địa và đường tỉnh Các trục giao thông đường bộ được đặc biệt lưu tâm tới trong giai đoạn này là đường từ Sài Gòn đi Biên Hòa và Thủ Dầu Một, Sài Gòn - Tây Ninh, Sài Gòn – Mĩ Tho, Biên Hòa – Bà Rịa, Sài Gòn – Phan Thiết, Sài Gòn – Đà Lạt, Gò Công –

Mĩ Tho Như vậy chính quyền thực dân đã có sự quan tâm rất đặc biệt đối với Miền Đông Nam Kỳ Đến năm 1913, Biên Hòa đã có được 324km; Thủ Dầu Một: 316km [27, tr.173]

Năm 1919, Pháp hoàn thành xây dựng đường thuộc địa số 13 và 14 nối liền vùng đất đỏ Thủ Dầu Một với Sài Gòn và Tây Nguyên

Ngoài ra, nhiều đường xe lửa được thiết lập: đường xe lửa xuyên Đông Dương, các đường chạy từ Sài Gòn đến các trung tâm sản xuất cao su như Sài Gòn – Lộc Ninh hay các tuyến đường nối liền các đồn điền như Bến Đồng Sổ - Lộc Ninh

Có thể nói, hệ thống giao thông ở Miền Đông Nam Kỳ được chính quyền thực dân xây dựng khá tốt đáp ứng được nhu cầu của công cuộc khai thác cao su đang bắt đầu phát triển ở Miền Đông Nam Kỳ

Nhìn chung, ở mỗi giai đoạn lịch sử, công cuộc khai phá vùng đất Nam Kỳ nói chung và Miền Đông Nam Kỳ nói riêng diễn ra dưới những mức độ khác nhau nhưng đều trong chiều hướng gia tăng Ở mỗi giai đoạn lịch sử, các chính quyền đều có những biện pháp để đẩy mạnh công cuộc khai hoang tại đây Đặc biệt dưới thời Pháp thuộc, nhịp độ khai phá đất hoang ở Nam Kỳ diễn ra với tốc độ nhanh chóng Từ năm

1890, diện tích Pháp chuyển nhượng được ở Nam Kỳ là cao hơn cả và cao liên tục Năm 1913 số ruộng đất chúng chiếm để lập đồn điền lên đến 470.000 ha trong đó Nam Kỳ là 308.000 ha, năm 1930 là 909.300 ha trong đó Nam Kỳ là 606.400 ha [9, tr.74] Riêng ở Miền Đông Nam Kỳ, tư bản thực dân Pháp không ngừng mở mang thêm rất nhiều đồn điền cao su Tính đến năm 1930 diện tích đất mà thực dân Pháp chiếm đoạt trồng cao su là 94.999 ha [53] và đến năm 1938 là 97.136 ha [55]

Trang 31

Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒN ĐIỀN CAO

SU Ở MIỀN ĐÔNG NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1898-1939)

2.1 Giới thiệu về nguồn gốc cây cao su

2.1.1 Trên thế giới

Cây cao su có tên khoa học là Hévéa brasiliensis thuộc họ Euphorbiaceae (họ thầu dầu) Họ Euphorbiaceae gồm rất nhiều cây có mủ dưới dạng cây đại mộc, cây loại nhỏ và cây cỏ sống ở vùng nhiệt đới và ôn đới Về phương diện thực vật học, họ này có đặc điểm chung là có hoa đơn tính và đồng chu với hoa cái có tâm bì dính nhau thành một bầu noãn có ba ngăn, mỗi ngăn chứa một noãn, quả khi chín là quả khô tự động nứt để tung hạt ra ngoài

Cây Hévéa brasiliensis được tìm thấy trong tình trạng hoang dại tại vùng châu thổ Amazone (Nam Mỹ) trong một vùng rộng lớn bao gồm các nước: Brazin, Bôlivia, Pêru, Côlômbia, Ecuado, Guyana… nói chung là ở khu vực vĩ độ 30 Bắc và Nam Đây là một vùng nhiệt đới ẩm ướt, lượng mưa trên 2000 mm, nhiệt độ cao và đều quanh năm có mùa khô kéo dài 4 đến 6 tháng, đất thuộc loại đất sét tương giàu chất dinh dưỡng, có độ PH: 4.5-5.5 với tầng đất canh tác, thoát nước trung bình

Cây cao su trong tình trạng hoang dại là một cây rừng lớn, thân thẳng, cao trên 30m có khi đến 50m, vành thân có thể đạt từ 5 đến 7m, tán lá rộng và sống trên 100 năm

Cây cao su Hévéa Brasiliensis là một trong số 10 loại cây cho mủ trong họ Euphorbiaceae Nó có giá trị kinh tế rất cao, được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và sinh hoạt Từ cao su đã tạo ra nhiều mặt hàng phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của con người từ những mặt hàng tiêu dùng: vỏ ruột xe đạp, xe máy, ô tô, đồ nhựa… đến nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp: hóa chất, phân bón, xây dựng, sản phẩm y tế, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, hàng không vũ trụ…

2.1.2 Ở Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã tìm cách mang cây cao su vào trồng ở nước ta Năm 1877, lần đầu tiên cây cao su được đưa vào Việt Nam do Louis Pierre – một nhà thực vật học người Pháp – đem hạt giống từ Singapor

về trồng ở vườn Bách Thảo Sài Gòn, nhưng không thành công Tháng 12/1881, kỹ sư Seeligman đi các vùng Malaysia, Sumatra, Borneo nghiên cứu khả năng nhập giống

Trang 32

cây cao su để trồng ở Nam Kỳ Ông đã gởi về Sài Gòn 50 cây trồng thử nghiệm cũng không mang lại kết quả khả quan Năm 1884, một số cây cao su con được gởi từ Indonesia về Sài Gòn, những cây này được mang trồng tại cơ sở 2 của vườn Bách Thảo Sài Gòn, ở một vùng ao hồ, vì vậy cũng không có kết quả [50, tr.14-15]

Phải đợi đến năm 1897, Raoul – một dược sĩ hải quan Pháp – mang khoảng 2.000 hạt giống cao su từ vườn thực nghiệm Buiterzorg (Java) về ươm tại vườn Bách Thảo Sài Gòn Trong số này, có 200 cây được đưa đi trồng tại trạm thí nghiệm Suối Dầu - Nha Trang (1897) do bác sĩ Yersin chăm sóc, 1000 cây được trồng tại trạm thí nghiệm Ông Yệm – Thủ Dầu Một (1898) Ngoài ra, cây cao su còn được giao cho một số nhà trồng tỉa tư nhân Pháp trồng thử nghiệm ở một số nơi khác

Phần lớn các hạt giống được trồng ở các vườn thí nghiệm đã mang lại kết quả tốt, cây cao su tăng trưởng đều Nhưng với các cây cao su được các nhà trồng tỉa tư nhân thực hiện thì không thành công

Năm 1898, ông Belland – một viên cảnh sát – cũng tiến hành trồng thử nghiệm cây cao su ở đồn điền Phú Nhuận cách Sài Gòn một km Đến năm 1909, vườn cao su của ông đã phát triển được 15.300 cây đứng trên diện tích 45 ha [50, tr.35]

Như vậy, cây cao su được đưa lẻ tẻ vào nước ta từ năm 1884 trở về trước đã không để lại dấu vết Phải đợi đến năm 1898 mới xuất hiện những đồn điền cao su đầu tiên Ngoài trạm thí nghiệm Ong Yem (Thủ Dầu Một) còn có đồn điền cao su của Belland Cây cao su chính thức có mặt ở Việt Nam

2.2 Thực dân Pháp lập các đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, lịch sử ra đời và phát triển của đồn điền cao su gần như tương ứng với tiến trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương Quá trình trồng thử nghiệm cao su đồng thời cũng là quá trình hình thành các đồn điền cao su Do điều kiện đất đai và khí hậu ở Miền Đông Nam Kỳ khá thích hợp cho cây cao su sinh trưởng và phát triển nên hầu hết các đồn điền cao su đều tập trung ở đây

Theo Philippe Franchini, đồn điền cao su lâu đời nhất ở Miền Đông Nam Kỳ là đồn điền của Belland Năm 1898, ông Belland đã lập ra đồn điền Phú Nhuận với diện tích 45 ha để trồng thử nghiệm cây cao su [36, tr.95] Thành công của Belland mở đầu cho việc lập đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ

Trang 33

Sau khi trồng thử nghiệm thành công, tư bản thực dân Pháp bắt đầu hùn vốn thành lập các công ty, đây có thể được xem là bước đi đầu tiên chuẩn bị cho việc khai thác đồn điền trồng cao su ở Miền Đông Nam Kỳ Các công ty ấy gồm có:

- Công ty cao su Đồng Nai tiền thân của nó là Công ty kỹ nghệ và rừng Biên Hòa thành lập năm 1908, trụ sở đóng tạ Paris Đối tượng kinh doanh là khai thác đồn điền cao su vùng Trãng Bom, Cây Gáo, Túc Trưng Số vốn ban đầu 500.000 fr, gồm 5.000 cổ phần, mỗi cổ phần 100 fr Năm 1911 số vốn tăng lên thành 2 triệu fr và đến năm 1919 là 6 triệu fr

- Công ty đồn điền Đất Đỏ (Societe de plantations des Terres Rouges) thành lập năm 1910 Công ty này là sự hợp vốn của nhóm tư bản Rivaud (Pháp) và Hallet (Bỉ) Trụ sở đóng tại Sài Gòn, đối tượng kinh doanh là khai thác các đồn điền cao su

ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa Số vốn ban đầu là 2.300.000 fr, gồm 23.000 cổ phần, mỗi cổ phần 100 fr Năm 1923 số vốn tăng lên thành 36 triệu fr, năm 1925 là

46 triệu fr, năm 1935 là 110 triệu fr

- Công ty cao su Viễn Đông (Societe de caoutchoues d Extrêne- Orient), tên thường gọi là công ty CEXO thành lập năm 1910 trên cơ sở sáp nhập giữa công ty cao su Đông Dương và công ty cây trồng nhiệt đới Đông Dương, trụ sở đặt tại Paris Đối tượng kinh doanh là khẩn hoang và canh tác đất đai ở Viễn Đông đặc biệt là Đông Dương và chủ yếu là trồng cao su Số vốn ban đầu là 1.500.000 fr gồm 15 nghìn cổ phần, mỗi cổ phần 100 fr Năm 1912 số vốn tăng lên thành 4.500.000 fr, năm 1917: 6 triệu fr, năm 1920: 8 triệu fr và đến năm 1934 là 28 triệu fr

- Công ty đồn điền Xuân Lộc thành lập năm 1911, trụ sở đóng tại Sài Gòn Đối tượng kinh doanh là trồng cao su và các loại cây công nghiệp khác Số vốn ban đầu là 360.000 $ gồm 7.200 cổ phần, mỗi cổ phần 50$ Năm 1914 tăng thêm 800 cổ phần nữa, nâng số vốn lên thành 400.000$

- Công ty cao su Padang thành lập năm 1911, trụ sở đóng tai Sài Gòn Đối tượng của nó là kinh doanh nông nghiệp và chủ yếu về trồng cây cao su Công ty này

có nhiều đồn điền ở Đông Dương, Sumatra và Malaysia Số vốn ban đầu là 6.500.000

fr, gồm 65.000 cổ phần, mỗi cổ phần 100 fr Năm 1918 số vốn tăng lên thành 8 triệu

fr, năm 1920: 15 triệu fr, năm 1922: 20 triệu fr, năm 1930: 41 triệu fr

- Công ty cao su Tây Ninh (Societe des Héveas de Tây Ninh) thành lập năm

1913, có trụ sở ở Sài Gòn Đối tượng hoạt động của công ty là kinh doanh đồn điền

Trang 34

cao su ở Tây Ninh Vốn ban đầu 3.800.000 fr, gồm 38.000 cổ phần, mỗi cổ phần 100

fr Năm 1931, số vốn tăng lên thành 6 triệu fr và đến tháng 9-1937 là 8.750.000 fr

- Công ty đồn điền cao su Đông Dương (Societe Indochinoise des plantations Héveas) gọi tắt là S.I.P.H, được thành lập năm 1906 Trụ sở đóng tại Suối Tre (Biên Hòa) Đối tượng hoạt động là kinh doanh đồn điền cao su ở Biên Hòa và Bà Rịa

- Công ty các đồn điền cao su Michelin (Societe des plantations et pneumatiques Michelin au Viet Nam) ra đời năm 1917, trụ sở đặt tại Dầu Tiếng Đối tượng hoạt động là kinh doanh đồn điền cao su ở vùng đất xám ở Miền Đông Nam

Kỳ [28, tr.12-13]

Những công ty kể trên, tuy số vốn ngày một tăng, nhưng hoạt động của chúng trong thời kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất mới chỉ giới hạn ở việc trồng thử nghiệm, chưa đi vào khai thác quy mô lớn Diện tích trồng cao su chưa phát triển được bao nhiêu so với diện tích đất mà các công ty bao chiếm Trong thời kỳ này, chủ yếu vẫn là những nhà thực dân cá thể hoạt động kinh doanh khai thác đồn điền cao

su

Đến đầu năm 1911, đã có 51 đồn điền được thành lập với tổng diện tích bao chiếm là 61.268 ha nhưng mới chỉ có 34 đồn điền trồng cao su trên diện tích 4.887 ha với 1.760.000 cây (xem phụ lục1)

Tính đến năm 1918, tổng số diện tích đất mà tư bản thực dân Pháp chiếm để lập đồn điền cao su ở Nam Kỳ là 184.700 ha nhưng mới trồng được khoảng 7.000 ha cao su [28, tr.13]

Như vậy trong giai đoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cây cao su đã được đưa vào trồng ở Việt Nam, chủ yếu là ở Miền Đông Nam Kỳ Nhưng mức độ đầu tư vào cao su trong giai đoạn này chưa cao, chỉ thu hút từ 8-10% khối lượng đầu

tư của tư bản Pháp ở Việt Nam [3, tr.148] Vì vậy, diện tích trồng cao su không lớn

và sản lượng mủ khai thác cũng chưa cao khoảng 1.000 tấn [45, tr.16]

Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, công cuộc khai thác ngành cao su ở Miền Đông Nam Kỳ của tư bản thực dân Pháp đã có sự chuyển biến lớn, từ chỗ đầu

tư cầm chừng chuyển sang đầu tư ồ ạt Lí do là vì sau chiến tranh, nhu cầu cao su thiên nhiên của nền công nghiệp Pháp ngày càng to lớn, cần dùng tới trên 10 vạn tấn cao su mỗi năm, nên giới tư bản thực dân Pháp tăng cường bỏ vốn đầu tư vào ngành kinh tế cao su

Trang 35

Đồn điền cao su đã thu hút hầu hết toàn bộ số vốn đầu tư của tư bản Pháp, chiếm khoảng 2/3 tổng số vốn của tư bản Pháp đầu tư vào Nam Kỳ [35, tr.6] Năm

1919, vốn Pháp đầu tư vào cao su là 40 triệu fr, thì đến năm 1924 số vốn này lên tới gần 100 triệu fr Trong những năm “chạy đua nước rút” (1925-1929), tư bản Pháp đầu tư khoảng hơn 700 triệu fr vào việc trồng cao su [18, tr.177]

Hệ thống ngân hàng đã huy động vốn chính quốc cần thiết cho việc thành lập ngành cao su ở Miền Đông Nam Kỳ nói riêng và Đông Dương nói chung và sau đó

nó không ngừng tài trợ cho các công ty Dưới sự hậu thuẫn vững chắc của các tập đoàn tư bản tài chính cực kỳ mạnh như: Nhà băng Đông Dương, nhóm tài chính Rivaud – Hallet, nhóm tài chính Pháp và thuộc địa Mặt khác, nhờ những nghị định miễn thuế, khuyến khích canh tác cao su của chính quyền Đông Dương, đồn điền cao

su đã phát triển với tốc độ khá nhanh ở Miền Đông Nam Kỳ Các công ty cao su lớn đua nhau lập mới và sáp nhập hàng loạt đồn điền cao su trên khắp vùng đất đỏ Miền Đông Nam Kỳ, trong đó có những đồn điền khá quy mô, điển hình là:

- Công ty S.I.P.H : tiền thân của công ty S.I.P.H là các đồn điền cao su Suzannah (1907) với 1.644 ha, đồn điền An Lộc (1908) với 1.784 ha và đồn điền Bình Lộc với 1.069 ha Sau chiến tranh, được sự tài trợ vốn của ngân hàng Đông Dương, S.I.P.H ngày càng lớn mạnh và đã triển khai chiến lược bành trướng của mình bằng cách nhắm tới các đồn điền bên cạnh Năm 1925, đồn điền Cam Tiêm với 1.139 ha được sáp nhập vào S.I.P.H Bộ ba Suzannah – An Lộc – Cam Tiêm trở thành nồng cốt của S.I.P.H Năm 1934, S.I.P.H thu nhận thêm đồn điền Bến Củi (1.221ha) Năm 1937, đồn điền Ông Quế (1.000 ha), đồn điền Helena (400 ha) và đồn điền Long Thành (976 ha) đã gia nhập vào công ty S.I.P.H Năm 1938, S.I.P.H lại mua đồn điền Gia Nhàn (100 ha) và đầu năm 1939 đồn điền Mỹ Hưng (430 ha) cũng được sáp nhập vào đây S.I.P.H trở thành công ty có diện tích đồn điền cao su lớn nhất trên địa bàn hai tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa với 9.763 ha

- Công ty các đồn điền Đất Đỏ: Trong thời kỳ sơ khởi, ông Haffner, cựu giám đốc vườn Bách Thảo Sài Gòn, đã thiết lập đồn điền Xã Trạch (1907) với diện tích 1.613 ha Sau đó, một số đại điền khác lần lượt ra đời dưới sự hậu thuẫn tài chính của Công ty tài chính cao su thuộc nhóm Rivaud- Hallet như: Courtenay (1912) với 1.134

ha, Xa Cam (1913) với 3.100 ha, Quản Lợi (1916) với 5.626 ha, An Viễng (878 ha),

Trang 36

Long Thành (1.627 ha) Công ty này khai thác cao su tập trung ở hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa

Công ty các đồn điền Đất Đỏ không chỉ có đồn điền ở Việt Nam mà còn có

600 ha cao su ở Java Đây là công ty có diện tích đồn điền cao su lớn nhất Nam Kỳ với 13.978 ha

- Công ty cao su Viễn Đông (CEXO) ra đời trên cơ sở sáp nhập giữa công ty cao su Đông Dương và công ty cây trồng nhiệt đới Đông Dương CEXO đặt dưới sự kiểm soát của nhóm tài chính Pháp và thuộc địa, lần lượt lập ra 6 đồn điền với 12.686 ha: Lộc Ninh (1911) với 5.368 ha, Xa Cát (1925) với 2.581 ha, Bù Đốp (1925) với 1.808 ha, Minh Thạnh (1927) với 1.728 ha, Đa Kia (600 ha), Phú Riềng (601ha)

Năm 1929 công ty CEXO với vốn liếng của mình đã xây dựng con đường xe lửa nối liền Lộc Ninh với Sài Gòn dài 142 km, có tác dụng tốt đối với vùng cao su Bình Long và vùng biên giới Việt Nam – Campuchia

- Công ty cao su Đồng Nai (Les caoutchoucs du Donai) bắt đầu khai thác cao

su từ năm 1926 lập ra 3 đồn điền lớn: Trảng Bom (613 ha), Cây Gáo (741 ha), Túc Trưng (799 ha)

- Công ty Michelin trong thời gian từ năm 1917-1935, đã xây dựng được các đồn điền cao su lớn là Dầu Tiếng (1917) với 7.371 ha, Phú Riềng (1.692ha), Bến Cỏ (120ha) Đây là công ty có diện tích đồn điền cao su lớn nhất trên vùng đất xám Công ty này nổi tiếng do thái độ đối xử vô nhân đạo đối với công nhân và là nơi xảy

ra liên tục những cuộc đấu tranh của công nhân chống giới chủ Đến năm 1943, Michelin chiếm 7% toàn bộ diện tích khai thác và đảm bảo một sản lượng bằng 11% tổng sản lượng toàn Đông Dương

- Công ty cao su Tây Ninh cũng lần lượt lập ra các đồn điền Vên Vên, Trà Võ, Hiệp Thành, Cầu Khởi

Bên cạnh các công ty ra đời trước chiến tranh đi vào khai thác ồ ạt, còn xuất hiện một số công ty mới như công ty cao su Phước Hòa, trụ sở đặt tại Phước Hòa, huyện Châu Thành tỉnh Thủ Dầu Một Công ty này bắt đầu khai thác cao su từ năm

1927, với diện tích ngày càng mở rộng gần 2.000 ha cao su Công ty này tuy nhỏ nhưng có đặc điểm nổi bật là mủ cao su sau khi lấy được, không đem bán ra thị trường dưới dạng nguyên sinh hay sơ chế, mà giữ lại để chế biến thành các loại săm lốp ô tô và xe đạp…

Trang 37

Ngoài ra, các đồn điền cao su có quy mô vừa và nhỏ của tư bản cá thể Pháp cũng không ngừng phát triển

Người Việt cũng tham gia vào công cuộc khai thác cao su Tuy nhiên, đồn điền của họ chiếm một diện tích rất nhỏ bé Đến năm 1915, người Việt mới lập được

14 đồn điền với 240 ha trồng được khoảng 20.000 gốc cao su [27, tr.205] Năm 1929, năm mà việc trồng cao su đã phát triển đến mức khá cao, người bản xứ cũng chỉ có 5.700 ha [35, tr.19] Từ năm 1930 trở đi do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, diện tích đồn điền cao su của Người Việt cũng giảm: năm 1930 là 5.497.5 ha; 1931: 5.536 ha; 1932: 4.906.5 ha [53] Tính đến năm 1938 người Việt đã có 350 đồn điền nhưng với diện tích rất nhỏ bé 7.168 ha (tức 51.62% tổng số đồn điền và 7.37% tổng diện tích đồn điền cao su).[55]

Nhìn chung, hoạt động kinh doanh cao su trong cả nước nói chung và tại Miền Đông Nam Kỳ nói riêng tập trung chủ yếu vào các công ty lớn như: công ty đồn điền Đất Đỏ, công ty S.I.P.H, công ty CEXO và công ty Michelin

Sự mở rộng hoạt động của các công ty cao su lớn và tư bản cá thể Pháp ở Miền Đông Nam Kỳ, đã làm diện tích đồn điền cao su tăng lên nhanh chóng Chỉ trong vòng ba năm từ 1918 đến 1921 diện tích cao su tăng từ 7.000 ha lên đến 29.000

ha [28, tr.14] Đặc biệt trong thời kỳ của sự “chạy đua nước rút” (1925-1929) diện tích đồn điền cao su đã tăng “nhảy vọt”, trung bình mỗi năm trồng được khoảng 15.000 ha Tình hình cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Thống kê diện tích đồn điền cao su (1927-1929)

Diện tích đồn điền cao su trồng được (ha) Năm

Miền Đông Nam Kỳ Nam Kỳ

1927 49.762 50.726

1928 66.400 67.700

1929 82.850 84.100 Nguồn:[18, tr.178]

Từ năm 1930, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã gây ra sự giảm sút về cao

su khiến cho việc mở rộng diện tích mới bị ngưng lại Sự gia tăng diện tích trồng cao

su rất thấp Từ tháng 6/1934, khi quy ước quốc tế về việc hạn chế diện tích trồng cao

su trên thế giới để giải quyết khủng hoảng bắt đầu có hiệu lực ở Đông Dương, các nhà trồng cao su tại Đông Dương nói chung và Đông Nam Kỳ nói riêng không còn

Trang 38

được phép mở rộng diện tích canh tác cao su Các con số về diện tích trồng cao su vào những năm sau 1934 tuy có cao hơn diện tích năm 1934, nhưng đó chỉ là kết quả của sự điều chỉnh lại số diện tích của các đồn điền

Tác giả Huỳnh Lứa đã cho một kết quả thống kê về sự phát triển diện tích cao

su trong giai đoạn này tại Nam Kỳ như sau:

Bảng 2.2 Diện tích đồn điền cao su trong các năm (1929-1938)

Năm 1929 1930 1931 1932 1933 1934 1935 1936 1937 1938 Diện

tích

(ha)

83.332 88.101 90.044 88.800 96.130 97.029 97.072 98.168 98.373 98.373

Nguồn: [28, tr.209]

Dựa vào niên giám nghiệp đoàn những người trồng cao su ở Nam Kỳ năm

1937, tác giả Jean- Pierre Aumiphin cũng đã công bố con số 902 đồn điền cao su và 98.168 ha [3, tr.149]

Nhưng theo tác giả Nguyễn Văn Khánh, thì tính đến năm 1937 trên toàn lãnh thổ Đông Dương đã thành lập được 814 đồn điền cao su với 127.382 ha, trong đó người Pháp có 382 đồn điền nhưng chiếm đến 93.4% tổng diện tích Trong số 814 đồn điền có 31 đồn điền rộng từ 1.000 ha đến 10.000 ha; những đồn điền nhỏ (dưới

40 ha) chủ yếu của người Việt [21, tr.87]

Tuy nhiên giữa kết quả điều tra của chúng tôi và các kết quả công bố trên, có

sự chênh lệch ít nhiều về số lượng đồn điền cũng như diện tích cao su Theo kết quả điều tra dựa trên cơ sở tổng hợp từ các báo cáo của các tỉnh trưởng các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Bà Rịa trong tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II, thì số lượng và diện tích đồn điền cao su ở Miền Đông Nam

Kỳ tính đến năm 1938 là 678 đồn điền và 97.136 ha.[55]

Bảng 2.3 Thống kê số lượng đồn điền và diện tích được trồng cao su ở Miền Đông

Trang 39

Một đồn điền có thể chuyển nhượng qua tay hai, ba thậm chí bốn hay năm điền chủ khác nhau Một đồn điền cũng có thể được thống kê theo các tỉnh khác nhau tùy thuộc vào lúc tiến hành thống kê chỗ đất đó được nhập vào đơn vị hành chính nào

Dẫu có sự chênh lệch nhưng cho phép có một nhận xét về sự hình thành và phát triển của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ trong thời Pháp thuộc Đồn điền cao su được thực dân Pháp thiết lập khá sớm, ngay từ những năm đầu của đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất Tuy nhiên, nó chỉ thực sự phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, khi có sự đầu tư tư bản từ các nhóm tài chính cực kỳ mạnh của Pháp, đặc biệt là trong thời kỳ “chạy đua nước rút”

2.3 Quy mô của đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ thời Pháp thuộc

Trong thời kỳ khai thác thuộc địa, người Pháp chia các đồn điền cao su thành 3 loại theo tiêu chuẩn diện tích:

- Tiểu điền (cơ sở sản xuất nhỏ) có từ 100 ha trở xuống

- Trung điền (đồn điền vừa) có từ 101-500 ha

- Đại điền có từ 501 ha trở lên

Chúng tôi cũng xin lưu ý, sự phân loại này chỉ dựa trên diện tích đồn điền đã được trồng cao su

Theo thống kê của Hiệp hội các nhà trồng tỉa cao su Đông Dương, đến ngày 1/11/1911 ở Nam Kỳ có 34 đồn điền cao su với diện tích được trồng là 4.887 ha được phân loại như sau:

Bảng 2.4 Thống kê qui mô đồn điền cao su ( tính đến ngày 1/11/1911)

Trang 40

% diện tích 18.9 56 25.1

Nguồn: [35, tr.95]

Đến năm 1926, người ta thấy các đồn điền cao su có quy mô diện tích trên 20

ha chiếm 62% trong tổng số các đồn điền trồng cây cao su Sau đây là những biểu hiện cụ thể

Bảng 2.5 Tầm cỡ các diện tích được trồng cao su (năm 1926)

- 416 tiểu điền chiếm 74.41% tổng số đồn điền với diện tích là 12.363 ha chiếm 13% tổng diện tích Bình quân mỗi tiểu điền có diện tích là 29.71 ha Trong số

416 tiểu điền này, có 328 cái có từ 0 đến 50 ha chiếm diện tích 5.881 ha

- 101 đồn điền loại vừa, chiếm 18.06% tổng số đồn điền với diện tích 21.232

ha chiếm 22.34% tổng diện tích Diện tích trung bình của mỗi đồn điền là 210.21 ha

- 34 đại điền, chiếm 6.08% tổng số đồn điền với diện tích 61.404 ha chiếm 64.6% tổng diện tích Bình quân mỗi đại điền có diện tích là 1.806 ha

Ngày đăng: 25/07/2016, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Quốc Anh (1988), Việt Nam những sự kiện lịch sử, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những sự kiện lịch sử
Tác giả: Dương Quốc Anh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1988
2. Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Nxb Lửa Thiêng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb Lửa Thiêng
Năm: 1970
3. Jean – Pierre Aumiphin (1994), Sự hiện diện tài chính và kinh tế Pháp ở Đông Dương (1858-1939), Hội khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hiện diện tài chính và kinh tế Pháp ở Đông Dương (1858-1939)
Tác giả: Jean – Pierre Aumiphin
Năm: 1994
4. Cao Văn Biền (1981), Giai cấp công nhân Việt Nam thời kì (1936-1939), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam thời kì (1936-1939)
Tác giả: Cao Văn Biền
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1981
5. Nguyễn Công Bình (1959), Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thờiPháp thuộc Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thờiPháp thuộc
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Văn Sử Địa
Năm: 1959
6. Nguyễn Công Bình (1974), Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1974
7. Trần Tử Bình (1965), Phú Riềng đỏ, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phú Riềng đỏ
Tác giả: Trần Tử Bình
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 1965
8. Phạm Cao Dương (1967), Thực trạng giới nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc, Nxb Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giới nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc
Tác giả: Phạm Cao Dương
Nhà XB: Nxb Khai Trí
Năm: 1967
9. Nguyễn Khắc Đạm (1957), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Nhà XB: Nxb Văn Sử Địa
Năm: 1957
10. Nguyễn Đình Đầu (1997), Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ (dịch của Trương Vĩnh Ký), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1997
11. Lê Quí Đôn (1964), Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quí Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1964
12. Trần Ngọc Định (1970), “chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam Bộ trong thời đế quốc Pháp thống trị”, Nghiên cứu lịch sử, (số 132) Sách, tạp chí
Tiêu đề: chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam Bộ trong thời đế quốc Pháp thống trị”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Trần Ngọc Định
Năm: 1970
13. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, bản dịch Tư Trai Nguyễn Tạo, Nha văn hóa phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Năm: 1972

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Diện tích đồn điền cao su trong các năm (1929-1938) - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.2. Diện tích đồn điền cao su trong các năm (1929-1938) (Trang 38)
Bảng 2.5. Tầm cỡ các diện tích được trồng cao su (năm 1926) - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.5. Tầm cỡ các diện tích được trồng cao su (năm 1926) (Trang 40)
Bảng 2.6. Phân loại đồn điền cao su ở Đông Nam Kỳ năm 1930 - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.6. Phân loại đồn điền cao su ở Đông Nam Kỳ năm 1930 (Trang 41)
Bảng 2.7. Phân loại đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ năm 1938 - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.7. Phân loại đồn điền cao su ở Miền Đông Nam Kỳ năm 1938 (Trang 42)
Bảng 2.9. Thống kê sự phân bố số lượng và diện tích đồn điền cao su ở Miền Đông - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.9. Thống kê sự phân bố số lượng và diện tích đồn điền cao su ở Miền Đông (Trang 44)
Bảng 2.8. Sự phân bố diện tích cao su ở các tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (1927-1933) - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.8. Sự phân bố diện tích cao su ở các tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (1927-1933) (Trang 44)
Bảng 2.10: Nhân công Bắc và Trung Kỳ vào Nam từ  (1919-1930) - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.10 Nhân công Bắc và Trung Kỳ vào Nam từ (1919-1930) (Trang 54)
Bảng 2.11: Nhân công Bắc và Trung Kỳ vào Nam từ năm (1931-1939) - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 2.11 Nhân công Bắc và Trung Kỳ vào Nam từ năm (1931-1939) (Trang 55)
Bảng 3.1. Thống kê số lượng cao su xuất khẩu qua cảng Sài Gòn               (1898- - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 3.1. Thống kê số lượng cao su xuất khẩu qua cảng Sài Gòn (1898- (Trang 77)
Bảng 3.2. Thống kê số lượng cao su xuất khẩu qua cảng Sài Gòn               (1932- - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 3.2. Thống kê số lượng cao su xuất khẩu qua cảng Sài Gòn (1932- (Trang 78)
Bảng 3.5. Thống kê sự tiến triển của tiền lãi ròng ở một số công ty và đồn điền cao - LỊCH sử đồn điền CAO SU ở MIỀN ĐÔNG NAM bộ THỜI kỳ PHÁP THUỘC GIAI ĐỌAN (1898 1939)
Bảng 3.5. Thống kê sự tiến triển của tiền lãi ròng ở một số công ty và đồn điền cao (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w