Nghiên cứu chuyên đề này nhằm đạt được các mục đích sau: Giúp giáo viên và học sinh củng cố thêm kiến thức cơ bản về môn Ngữ văn nói chung, phân môn văn học phần các văn bản thơ nói riêng, nhất là về “nhãn tự thần cú” trong thơ. Rèn kỹ năng cảm thụ thơ ca của cả giáo viên và học sinh thông qua các chi tiết nghệ thuật ngôn ngữ, nhãn tự, thần cú của bài thơ, đoạn thơ
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Luật Giáo dục năm 2005 ( Điều 5) đã quy định: “Phương pháp giáo dục phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡngcho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chívươn lên”
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cácnhân, tính năng động và sáng tạo, hình dáng, nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếptục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/3006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng
đã nêu “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phùhợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh phương pháp tự học, khảnăng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đếntình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học sinh”
Đối với môn Ngữ văn THCS, mục tiêu của môn học này là trang bị cho họcsinh mặt bằng trí thức và năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm văn chương nhằmbồi đắp, nâng cao nhu cầu và khả năng hưởng thụ, thẩm mĩ cho học sinh cấp họcnày; giúp các em “tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc
về văn hóa, cảnh vật, cuộc sống, con người Việt Nam và thế giới thể hiện trong cáctác phẩm văn học và trong các văn bản được học”, “để có kĩ năng nghe, đọc mộtcách thận trọng, bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng, tình cảm và một
số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học, để từ đó hình thành ý thức và kinhnghiệm ứng xử thích hợp đối những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó”
Trang 2Tuy nhiên, môn Ngữ văn trong chương trình Ngữ văn THCS đã không tựgiới hạn ở mục tiêu đó Với tư cách là môn học công cụ, môn Ngữ văn THCS cònphải hướng tới mục tiêu hình thành cho học sinh phương pháp đọc - hiểu các kiểu,loại văn bản, nhất là các văn bản ở dạng thức sáng tạo nghệ thuật trong và cả ngoàisách giáo khoa, nhưng bắt đầu từ sách giáo khoa ngữ văn phổ thông Học sinh “biếtđọc các kiểu văn bản theo đặc trưng kiểu văn bản, nâng cao năng lực tích hợp đọc
và viết các văn bản thông dụng”; “Khuyến khích tính tích cực chủ động sáng tạocủa học sinh Tiến tới kiểm tra cách đọc, cách học bằng bài tập có nội dung cảm thụnhững văn bản ngoài sách giáo khoa”
Để đạt được những mục tiêu trên đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm ra cácbiện pháp hữu hiệu nhất và phải vận dụng, kết hợp tốt các phương pháp dạy họctheo đặc trưng bộ môn trong việc nâng cao giảng dạy môn Ngữ văn nói chung vàphân môn văn học và các văn bản thơ nói riêng Trong đó các phương pháp nhưthuyết minh “Giảng bình”, phương pháp tổ chức học tích, cắt nghĩa, khái quát cácchi tiết nghệ thuật…” cần phải kết hợp nhuần nhuyễn để học sinh nắm bắt một cáchsâu sắc nội dung tin tưởng mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm, trong đó phân tíchcắt nghĩa các “nhãn tự - thần cú” của bài thơ, đoạn thơ cũng rất quan trọng
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu chuyên đề này nhằm đạt được các mục đích sau:
- Giúp giáo viên và học sinh củng cố thêm kiến thức cơ bản về môn Ngữ vănnói chung, phân môn văn học phần các văn bản thơ nói riêng, nhất là về “nhãn tự -thần cú” trong thơ
- Rèn kỹ năng cảm thụ thơ ca của cả giáo viên và học sinh thông qua các chitiết nghệ thuật ngôn ngữ, nhãn tự, thần cú của bài thơ, đoạn thơ
- Đề ra một số cách cụ thể trong quá trình phân tích, cắt nghĩa, giảng bìnhcác “nhãn tự - thần cú” thơ trong chương trình Ngữ văn THCS
Trang 3- Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong các tiết học văn bản thơ
và góp phần nâng cao hiệu quả giờ học
I.3 THỜI GIAN - ĐỊA ĐIỂM
Thời gian thực hiện chuyên đề:
Địa điểm: Trường PTDT Bán trú TH&THCS Hà Lâu huyện Tiên Yên, tỉnhQuảng Ninh
Phạm vi đề tài:
Giới hạn đối tượng nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảngdạy môm Ngữ văn thông qua “nhãn tự - thần cú” của bài thơ đoạn thơ
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Giới hạn về khách thể khảo sát: Học sinh THCS
I.4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm và phát hiện nhãn tự và thần cú của bài thơ, đoạn thơ để góp phần đổimới phương pháp và nâng cao chất lượng giờ dạy
I.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.5.1 Thống kê, phân loại.
Với phương pháp này tôi chia cách tìm hiểu đối tượng thành hai nội dung: “nhãn tự và thần cú” để đi sâu vào tìm hiểu từng nội dung của vấn đề
I.5.2 Miêu tả và phân tích.
Dùng phương pháp này để chỉ rõ những phương pháp cơ bản, cách thức tiếnhành bài dạy có sử dụng “nhãn tự - thần cú” trong chương trình Ngữ văn THCS ởtrường PTDT Bán trú TH&THCS Hà Lâu từ đó đề xuất những nhiệm vụ, yêu cầucùng với những biện pháp cho phù hợp
Trang 4II NỘI DUNG II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN II.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Văn học là môn học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Nó
có khả năng đi vào tâm hồn con người nhất là lớp trẻ, những tâm tư tình cảm,những hoài bão ước mơ Đồng thời đây là môn kích thích sự sáng tạo, trí tưởngtượng bay bổng của người học
Học văn là học cách làm người Học văn giỏi không chỉ giúp học sinh khámphá thế giới nghệ thuật, hiểu biết cuộc sống sâu sắc mà còn ứng xử tốt hơn trongmối quan hệ hàng ngày mà còn giúp các em học tốt các môn học khác
Nghị quyết hội nghị lần thứ IX xác định rõ: “Để đáp ứng yêu cầu và con người về nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời ky công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục đào tạo” Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định
số 16/2006,QD-BGĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Luật giáo dục 2005 nêu rõ: “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”.
Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sángtạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên
Từ trước đến nay thơ ca đã đóng góp một vai trò rất quan trọng trong việc táihiện những tình cảm, cảm xúc của các nhà thơ trong từng giai đoạn lịch sử của dântộc Với tính chất là môn học công, các tác phẩm thơ đã góp phần giáo dục bồi
Trang 5dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mỹ và định hướng thị hiếu lànhmạnh để hoàn thiện nhân cách Vì vậy các biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạymôn ngữ văn thông qua “nhãn tự - thần cú” của bài thơ ngày càng được chú trọng.
II.1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự pháttriển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phảiđổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng Nhiệm vụ đổimới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội,trong Luật giáo dục
Nghị quyết 40/200/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đãkhẳng định mục tiêu là xây dựng chương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổthông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lựcphục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với truyền thống ViệtNam, tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực
và trên thế giới
Luật giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổthông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sứckhỏe thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dânđáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiếnthức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt lànăng lực hành động, năng lực thực tiễn Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã
được đổi mới theo hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
Trang 6vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh (Luật giáo dục).
Mục tiêu của môn Ngữ văn THCS là trang bị cho học sinh mặt bằng tri thức
và năng lực cảm thụ, phân tích các tác phẩm văn chương nhằm bồi đắp, nâng caonhu cầu và khả năng hưởng thụ thẩm mĩ cho học sinh ở cấp học này; giúp các emtiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hóa, cảnhvật, cuộc sống, con người Việt Nam và thế giới được thể hiện qua các tác phẩm vănhọc nói chung, các bài thơ, đoạn thơ nói riêng để từ đó các em có kĩ năng nghe,đọc, nói, viết một cách thận trọng, bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởngtình cảm và các giá trị nghệ thuật của các bài thơ, đoạn thơ, khơi dậy sự nỗ lực họctập của học sinh góp phần xây dựng những tình cảm tốt đẹp nuôi dưỡng tâm hồncon người
II.2 CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN
THÔNG QUA NHÃN TỰ VÀ THẦN CÚ CỦA ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ II.2.1 Thuận lợi
Tiên Yên là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, nhưng trong nhữngnăm gần đây đã có nhiều sự đổi mới, đặc biệt về giáo dục Các trường học tronghuyện đều được trang bị ngày càng đầy đủ và đồng bộ về đồ dùng, thiết bị dạy học.Không những vậy, Phòng Giáo dục và Đào tạo còn thường xuyên tổ chức các hộinghị chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học theo cụm trường, toàn huyện đểgiáo viên toàn huyện tham dự, cùng trao đổi, thảo luận, rút kinh nghiệm; cử giáoviên tham dự các chuyên đề do Sở giáo dục và Đào tạo tổ chức để học hỏi kinhnghiệm giảng dạy các bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng
Về phía học sinh có nhiều cố gắng vươn lên trong học tập đạt kết quả đángkhích lệ, nhiều em đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh
Trang 7100% học sinh dân tộc Chính vì lẽ đó nên khả năng, trình độ nhận thức củacác em chậm hơn, kém hơn so với đối tượng học sinh ở các xã vùng thấp hoặc Thịtrấn Song so với kết quả chất lượng trước đây thì chất lượng hiện nay đã cao hơn.
Có được như vậy là nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với học sinh dântộc vùng khó khăn Đặc biệt là sự quan tâm của huyện và Phòng Giáo dục TiênYên Ban giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo sát sao, tạo điều kiện, đầu tư chochuyên môn, thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp để tìm phương pháp giảng dạyphù hợp với học sinh dân tộc
II.2.2 Khó khăn
II.2.2.1 Về phía giáo viên
- Việc nắm bắt và thể hiện hết các phương pháp dạy học văn mới hiện nay cònnhiều lúng túng
- Hơn nữa giọng giảng bình (phong cách giảng văn) của một số đồng chí trongviệc phân tích cắt nghĩa các chi tiết nghệ thuật, các “nhãn tự - thần cú” bài thơ,đoạn thơ là chưa tốt
- Phần lớn giáo viên Ngữ văn trong nhà trường đều là những giáo viên trẻ nênchưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy:
+ Chưa có kinh nghiệm trong việc xác định các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, cáchình tượng thơ và các nhãn tự thơ quan trọng chi phối nên toàn bộ nội dung tưtưởng của cả bài thơ, đoạn thơ Vì thế khi dạy các bài thơ dài, các đoạn thơ dài còndàn trải, lan man, chưa đúng trọng tâm nên dẫn đến thiếu thời gian, cháy giáo án,kết quả giờ dạy chưa thành công
+ Năng lực cảm nhận các hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật, các “nhãn tự (mắtthơ) - thần cú” trong các bài thơ còn nhiều hạn chế nên việc phân tích, cắt nghĩa,giảng bình và khắc sâu nội dung tư tưởng của các tác phầm nói chung và các vănbản thơ nói riêng là chưa tốt
Trang 8+ Năng lực sư phạm: như tổ chức, điều khiển, dẫn dắt các em học sinh trong mộtgiờ giảng văn theo hướng dạy học tích cực của chúng tôi còn nhiều hạn chế.
II.2.2.2 Về phía học sinh
- 100% học sinh (HS) là con em của đồng bào các dân tộc cùng cao nên:
+ Kĩ năng hành văn yếu
+ Nhiều HS kĩ năng đọc, viết còn hạn chế
+ Trong giờ học còn thụ động
+ Ý thức và khả năng tư duy còn nhiều hạn chế
+ Hầu như phụ huynh HS không quan tâm đến việc học của con em
- Thái độ thờ ơ với môn học, khi làm văn thì một số còn học vẹt, sao chép
- Việc soạn bài ở nhà chỉ mang tính chất đối phó, soạn sơ sài
- Mặt khác, đối với các em đây là một môn học khó, nên việc phân tích, cảmnhận, nhất là cảm nhận được ý nghĩa sâu xa từ các “nhãn tự - thần cú” thơ lại càngkhó
Xuất phát từ thực trạng trên, để góp phần nâng cao hiệu quả của các giờ dạyvăn học, giúp các em cảm thụ và hiểu một cách sâu sắc ngôn ngữ nghệ thuật trongthơ ca và nắm chắc nội dung tư tưởng mà người viết đã gửi gắm vào các văn bảnthơ Ngữ văn THCS nên tôi đã mạnh dạn chọn chuyên đề: Một số biện pháp nângcao hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn thông qua “nhãn tự - thần cú” của bài thơ,đoạn thơ ở trường PTDT Bán trú TH & THCS Hà Lâu
II.2.2.3 Đối với môn học.
Nhiều bài thơ trung đại rất khó, thời gian phân bổ còn chưa đủ, thơ khó đọc,khó hiểu, lại nhiều từ Hán – Việt, phải tìm hiểu từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau
II.2.2.4 Giải pháp khắc phục
a Đối với giáo viên
Trang 9- Cần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc các phương pháp dạy học vănmới hiện nay để thiết kế các bài soạn giảng có chất lượng và phù hợp với từng đốitượng HS.
- Cần luyện tập để có được phong cách giảng văn đĩnh đạc hơn, cần nắm thậtchắc kiến thức của bài dạy và các kiến thức liên quan để làm chủ giờ dạy hoặc tăngcường dự giờ các đồng nghiệp (nhất là các đồng chí là giáo viên giỏi cấp huyện ,tỉnh ) để học hỏi phong cách, giọng giảng
- Hướng dẫn học sinh phong cách tự chiếm lĩnh tri thức, không đọc, chép, hạnchế thuyết giảng
- Tăng cường vấn đáp, thảo luận, phân tích, cắt nghĩa và kết hợp giảng bình, nhất
là phân tích giảng bình các “nhãn tự - thần cú” trong thơ
- Quan tâm đến HS yếu qua từng tiết học, đặt các em vào những tình huống cóvấn đề để phân tích cắt nghĩa các nhãn tự thơ
- Để tích lũy thật nhiều các tri thức của bộ môn cần :
+ Cần tích cực trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nhất là việc tựtìm hiểu ở các tài liệu chuyên sâu, ở mạng internet, tạp trí văn học tuổi trẻ … đểhiểu được thật nhiều các “nhãn tự - thần cú”, các chi tiết nghệ thuật ngôn từ quantrọng trong thơ
+ Hoặc là học hỏi, tham khảo các đồng nghiệp có thâm niên về giảng văn,các đồng chí là giáo viên giỏi cấp tỉnh, cán bộ chuyên môn phòng giáo dục ……
b. Đối với học sinh:
- Cần đọc và soạn bài đầy đủ, nghiêm túc trước khi đến lớp
- Tích cực tham gia phát biểu, xây dựng bài, chỗ nào chưa hiểu, chưa rõ cần hỏingay thầy để nắm được bài
Cần chú ý lắng nghe và tham gia vào việc phân tích, cắt nghĩa các “ nhãn tự thần cú” thơ và qua đó có thể mạnh dạn cảm thụ và cảm nhận cái hay, cái đặc sắc
-và độc đáo của nội dung tư tưởng của bài thơ thông qua nhãn tự của bài thơ, đoạn
Trang 10thơ đó (Học sinh có thể tự phát biểu ý kiến để bình luận cái hay, cái đẹp của nhãn
tự trong thơ)
- Cần trau dồi vốn ngôn ngữ của bản thân để hiểu một cách tốt nhất nhãn tự, thần
cú của bài thơ, đoạn thơ
II.3 CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY BỘ MÔN
NGỮ VĂN THÔNG QUA “NHÃN TỰ-THẦN CÚ”
CỦA BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ II.3.1 Tìm hiểu về “Nhãn tự-thần cú ” và vai trò của “Nhãn tự-thần cú” trong thơ.
II.3.1.1 “Nhãn từ - thần cú ” trong thơ là gì ?
a, Nhãn tự :
- “Nhãn tự” hay “từ mắt” được sử dụng phổ biến, trở thành một khái niệmquen thuộc Cần giải nghĩa các từ này để hiếu thấu đáo Từ “mắt” trong tiếng việtxuất phát từ từ “mục” trong tiếng Hán Từ “ mắt” theo từ điển Tiếng Việt có nhữngnghĩa sau :
1. Cơ quan để thấy để nhìn đưa mắt, mắt gà mờ … )
2. Chỗ lồi ở đốt cây nhỏ như con mắt (mắt tre , mắt mía … )
3. Lỗ đan tròn như con mắt (mắt lưới )
4. Cục sưng lồi hai bên cổ chân ( mắt cá chân )
5. Xét vê cách nhìn nhận, sự lựa chọn của người phụ nữa ( mắt xanh)
- Nếu Tiếng Việt chỉ có một từ “mắt” có nghĩa là nhìn, xem, ngó, ngắm…thìtrong Tiếng Hán có hai từ là “nhãn” và “mục”
- Chữ “mục” trong Tiếng Hán có thể đi với 60 từ, chữ thuộc bộ “mục” cóđến hàng trăm chữ Chữ “mục” có 18 nghĩa :
1 Là con mắt, quẻ Tốn trong Kinh Dịch cũng thuộc con mắt
2 Xem ngó, nhìn thấy
3 Dùng mắt để biểu thị sự phẫn lộ hay bất mãn , cũng có nghĩa lànhận thức từ bên trong, im lặng
4 Dùng mắt để biểu hiện ý
Trang 1117 Hạt khô dưới gốc cây
4 Theo dõi (tiếng Hoa nghĩa là giám thị )
5 Hướng đạo (là dẫn đường, có nghĩa nữa là tuyến sách tức manh mối)
6 Hang động
7 Then chốt hay là yếu điểm
8 Chỉ cho hoa văn trong trang trí
9 Chỉ cho lá liễu non
Trang 12chốt”, mắt có thần nên nó không thể hiện được ý chữ hay, chữ then chốt làm nổi
bật ý nghĩa của câu thơ
- Song, trong từ điển Trung Quốc, người ta không sử dụng từ “nhãn tự” mà chỉ có từ “thi nhãn” Theo Thương Lang thi thoại, làm thơ dụng công ở ba yếu tố:
viết khởi kết, viết cú pháp và viết tự nhãn (ba điểm chính trong thơ là một là mở
đầu, kết luận, hai là cú pháp, ba là tự nhãn) Cách nói “nhãn tự ” cũng là cách
Việt hóa xuất phát từ người Việt xưa Và cách dừng từ “từ mắt” cốt để dễ hiểu, nhưng từ này không thể hiện được tinh thần của khái niệm “nhãn tự” trong thơ ca
cổ Cách gọi “nhãn tự” là phù hợp nhất khi phân tích hay bàn luận về thi pháp
Kết luận : Như vậy “nhãn tự” chính là “tự mắt” của bài thơ, là chữ then chốt làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ, đoạn thơ, bài thơ
b, Thần cú:
“Thần cú ” (danh cú ) Cú = câu; thần = chỉ cái hay, đặc sắc, cái hồn của câu
thơ, bài thơ
Vậy “ thần cú” là câu thơ, câu văn hay, nổi tiếng.
II.3.1.2 Vai trò của “ nhãn tự - thần cú” trong thơ.
a, Vai trò của “ nhãn tự” :
- Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ Điều này càng đúng với thơ Mỗitác phẩm thơ luôn là một công trình nghệ thuật, mỗi chữ đặt xuống phải có sự cânnhắc kĩ lưỡng, thể hiện dụng công của người thi sĩ Nên không lạ khi để có đượcmột câu thơ bất hủ:
“ Củi một cành khô lạc mấy dòng”
- Thơ luôn quý sự hàm súc, chữ ít mà ý nhiều, ý ở ngoài lời (ý tại ngônngoại) cho nên phải cân nhắc chọn lọc, tìm chữ hạ câu phải đa tư đa lự Một chữ hạxuống đôi khi là then chốt, trụ cột cho toàn bài thơ, một chữ là tinh hoa là cột đỡ
Trang 13cho cả một cung điện ngôn từ Nếu thiếu đi hay mất đi một từ ấy thôi bài thơ sẽ trởnên thật xoàng xĩnh đôi khi chằng còn chút thơ nào Cũng bởi thế, nhìn vào một
“nhãn tự” phải kể đến Bác Hồ Trong bài thơ “Mộ” (Chiều tối), từ “hồng” đã được
hạ xuống thật đắc địa khi khép lại toàn bộ bài thơ:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng)
Từ “hồng” không chỉ diễn tả ngọn lửa hay ánh lửa trong bài, với một chữ
“hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uểoải, sự vội vã, sự nặng nề diễn tả trong ba câu thơ đầu, đã làm sáng rực lên khuônmặt của cô em sau khi say ngô tối Chữ “hồng” đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệtmỏi, nhọc nhằn nữa đâu mà chỉ thấy màu đỏ nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình,
cả lao động của cô gái đáng yêu kia Đó là màu đỏ của tình cảm Bác Không thểtưởng tượng được bài thơ “Mộ” (Chiều tối) là một bài trong tập “Nhật kí trong tù”của Hồ Chí Minh mà không hề có bóng dáng của nhà tù, không thấy hình ảnh của
tù nhân mà cứ tưởng rằng đây là thơ của thi sĩ tự do Ánh hồng của lò than đượcnhắc tới cuối bài thơ (qua chữ hồng - nhãn tự trong tác phẩm) cho thấy tâm trạngBác đang chuyển biến từ buồn sang vui Quan trọng hơn nó giúp ta hiểu được niềmlạc quan đáng quý của nhà cách mạng, rõ ràng trong hoàn cảnh nào Bác cũnghướng tới phần tươi sáng của cuộc đời
- Mặt khác, nói đến bài thơ là phải nói đến cái “tôi” trong sáng tạo nghệthuật Việc lựa chọn từ ngữ thể hiện rõ tài năng, cách tinh luyện ngôn ngữ của từngtác giả Cá tính mạnh mẽ của người thi sĩ phả vào tác phẩm, qua nhiều tác phẩmhình thành nên nét độc đáo hiếm có đôi khi là cái nhìn mới lạ, có thể là khác sựkhác người, khác đời nhưng chính điều đó tạo nên sức sống, khả năng lan tỏa củatác phẩm thơ Bởi có “nhãn tự” như thế, có những từ được dùng là mãi mãi gắn bóvới tên tuổi của một người Điều này thấy rất rõ ràng qua những sáng tác củaNguyễn Khuyến - nhà thơ của làng thơ Việt Nam Bài thơ “Thu điếu”:
Trang 14“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
Mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê Chiếc aothu nước trong veo có thể nhìn thấy được rong rêu tận đáy tỏa ra khí thu lạnh lẽonhư bao trùm không gian Không có cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thumạt rồi nên mới lạnh lẽo như vậy Trên mặt ao thu một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
đã có từ bao giờ “Một chiếc” gợi tả sự cô đơn của thuyền câu bé tẻo teo nghĩa làrất nhỏ bé, âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự hun hút của cảnh vật (trong veo - bétẻo teo) Đó là một nét thu đẹp và êm đềm Hai câu thực tả không gian hai chiều
“ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Màu sắc hòa hợp, có sóng biếc với lá vàng gió thổi nhẹ cũng đủ làm chochiếc lá thu màu vàng cũng khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từnglàn hơi gợi tí Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thu, tô đậm cái nhìn thấy và cáinghe thấy Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận, cáilăn tăn của sóng hơi gợi tí phối cảnh với độ bay xoay xoay khẽ đưa vèo cùa chiếc láthu Chữ “vèo” là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục vừa tâm
đắc Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: “vèo trông lá rụng đầy sân” (Cảm thu - thu tiễn)
Vì vậy trong thơ không thể thiếu được “nhãn tự” hay nói cách khác, một bài thơ thực sự thành công hay không, lột tả được tâm trạng của thi nhân trong cuộc đời con người hay không, khơi gợi được những nỗi niềm đồng cảm của người đọc hay không, nhờ một phần rất lớn vào những “nhãn từ” có trong bài.
b, Vài trò của “thần cú” (danh cú)
Thần cú là những câu văn hay, đặc sắc, có giá trị quan trọng nhất, bao trùmnhất trong việc thể hiện nội dung tư tưởng nghệ thuật ngôn từ (tính nhạc, tính họa,nhịp điệu, giọng điệu…) trong bài thơ, đoạn thơ (Tức là thần cú góp phần thể hiệncái hồn cảu bài thơ, cái hồn của nhà văn khi phản ánh hiện thực vào trong thơ)
Trang 15Giống như “nhãn tự”, “thần cú” cũng lột tả được tâm trạng của nhà thơ, khơigợi nỗi niềm đồng cảm của bạn đọc, tạo ra ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc, cógiá trị nhân văn cao cả, giá trị lịch sử, giá trị văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc đượcthể hiện.
Như vậy, khi tìm hiểu “thần cú” trong thơ, người đọc cảm nhận và hiểu hếtgiá trị nghệ thuật ngôn từ, giá trị từng từ ngữ mà tác giả lựa chọn hoặc tạo ra trongvăn cảnh Mặc khác còn hiểu hết những giá trị nêu trên của tác phẩm
II.3.2 Một số cách tìm hiểu “ nhãn tự - thần cú ” trong thơ :
Việc phân tích như trên đã cho thấy, muốn tìm hiểu một bài thơ không thể bỏ
qua các “nhãn tự” Cổ nhân từng dạy: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, soi vào
đôi mắt sẽ thấy được hồn người, cái ẩn chứa sâu kín bên trong, cái vô danh khôngthể nói bằng lời, và với nhãn tự, qua đó có thể thấy được tất cả thông điệp ngườiviết nhắn nhủ, tâm tư kí thác, “đọc” được cái hồn của tác phẩm Cho nên việc dạycác tác phẩm thơ cũng cần cân nhắc và tôn trọng thủ pháp này của thơ ca Ngườigiáo viên qua việc phân tích “nhãn tự” để giúp học sinh tiếp cận gần nhất với tácphẩm và người học qua đó nắm được kiến thức nhanh nhất, chính xác nhất để phục
vụ cho học và viết bài (nhất là với kiểu bài nghị luận về tác phẩm thơ)
Trong phạm vi chuyên đề này, tôi xin đề xuất một số gợi ý để khám phá
“nhãn tự” trong thơ, hỗ trợ cho việc đọc - hiểu văn bản trong nhà trường
II.3.2.1 Tìm hiểu bằng cách sử dụng các từ thay thế.
Trong Tiếng Việt có hệ thống các từ đồng nghĩa hoàn toàn, các từ đồngnghĩa còn lại vẫn luôn mang một sự khác biệt dù ít hay nhiều về sắc thái, khả năngkhêu gợi cảm xúc với người đọc Với một từ được đặt xuống trong một câu thơ,người viết có thể lựa chọn những từ ngữ tương đương (quan hệ liên tưởng của ngôn
ngữ), việc giáo viên thay thế các từ tương đương không là thay đổi thanh điệu,
sự hòa kết của âm luật trong câu sẽ giúp làm nổi bật được chọn lựa của tác giả Ví dụ trong bài “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải viết :
Trang 16Mọc giữa dòng song xanh
Một bông hoa tím biếc
Từ “mọc” là một nhãn tự, nó góp phần thể hiện sự sống mùa xuân đang lan
tỏa, bao trùm và dào dạt trong cảnh vật, đất trời Có thể thay thế bằng các từ như:thấy, nở, trôi… rồi giáo viên đưa ra so sánh
Các từ: nở, thấy, trôi… đều có thể miêu tả hình ảnh bông hoa và sự phát hiệncủa nhà thơ Nhưng nếu dùng các từ trên thì hình ảnh thơ tuyệt đẹp mang tâm hồn
xứ Huế “hoa tím biếc” là cái đã có, nở sẵn giữa dòng sông, nhân vật trữ tình chỉ tìm
ra mà thôi
Từ “mọc” không chỉ cho thấy sự xuất hiện của sự vật mà cả sự vươn lên bấtngờ mạnh mẽ (từ nụ, vươn dậy, nở thành hoa), không chỉ thấy sự phát hiện tinh tếcủa tác giả mà ẩn chứa trong đó cả niềm vui của con người khi cảm nhận được sứcxuân và sắc xuân tràn lan khắp đất trời, vạn vật
II.3.2.2 Tìm hiểu bằng cách so sánh và liên tưởng.
Khả năng gợi cảm trong đoạn thơ là rất cao, đặc biệt với các “nhãn tự” muốn
làm toát lên cai hay, cái mới và độc đáo có thể so sánh với những cái đã quen
dùng, hay dùng đã trở thành ước lệ (đôi khi là khuôn sáo).
Trong “Sang thu” - Hữu Thỉnh, khổ 1 của bài thơ đã vẽ lên một bức tranhthiên nhiên xinh xắn về làng quê lúc giao mùa :
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Hình ảnh “Hương ổi” có thể xem là một phát hiện của nhà thơ Thơ xưa và
cả thơ hiện đại khi viết về mua thu, những tín hiệu mùa thu thương lấy những hình
ảnh như: là ngô đồng rụng (Ngô đồng một lá lìa cành / Báo cho thiên hạ tin lành sang thu – Thơ Đường), hoa cúc nở (Khóm cúc tuôn đôi dòng lệ cũ/ Con thuyền
Trang 17buộc chặt mối tình ta – Đỗ Phủ), nếu lấy một làn hương để nhắc ta rằng đã mùa thu
thì có thể là hương hoa sữa nồng nàn con phố nhỏ hay hương cốm mới theo nhữnggánh hàng rong đi khắp nơi Nhưng riêng Hữu Thỉnh, ông lựa chọn “hương ổi” đểthấy được cái mộc mạc giản dị, cái chân chất qua màu trong bức tranh thu Đây lànét mới mà ông đóng góp với thi liệu khi viết về mùa thu
Giáo viên cũng có thể vận dụng chính liên tưởng của mình để bình giảng
cái hay của từ ngữ hay hình ảnh thơ có trong bài Đây là cách nâng cao hay tạo
mẫu cho học sinh vì dạy thơ không chỉ là những phương pháp khoa học có sẵn màcòn là chính rung động của tâm hồn người dạy
Trở lại với ví dụ trên (bài thơ “Sang thu”), cần lưu ý từ láy: “chùng chình”diễn tả làn sương sớm trôi đi thật chậm Cái mỏng manh, êm nhẹ của làn sương thu
có thể cho chúng ta liên tưởng tới bước chân của người thiếu nữ nửa muốn ra đi,nửa muốn ở lại, lưu luyến Từ đó làm toát lên vẻ đẹp lãng mạn và thơ mộng củamua thu xứ Bắc Đồng thời giáo viên sẽ so sánh với những vần thơ thu quen thuộc
II.3.2.3.Tìm hiểu bằng cách giải thích, cắt nghĩa từ.
Giáo viên sau khi cho học sinh phát hiện “nhãn tự” - từ ngữ then chốt có tính
gợi hình và gợi cảm, cần cắt nghĩa của các từ Thường các từ ngữ ấy mang nhiều
lớp nghĩa hoặc khi đặt trong bài sẽ mang thêm những nét nghĩa mới – đây mới
là cái đích mà tác giả hướng tới Việc cắt nghĩa như vậy giúp các em hiểu một cách tưởng tận về nghĩa của từ và khả năng biểu cảm của từ ngữ đó.
Như trong bài thơ “ Tức cảnh Pắc Bó “ – Hồ Chí Mình :
Cuộc đời cách mạng thật là sang
Câu thơ là sự tổng kết ý thơ của ba câu trước - tổng kết cuộc đời cách mạng
mà Bác đã trải qua Sức nặng của câu thơ dồn ở từ “sang ” Song hiểu theo nghĩa
thông thường là điều kiện đầy đủ thoái mái về cả vật chất lần tinh thần, nếu hiểunhư vậy sẽ không hợp lí với ý thơ của Bác Trong những ngày tháng lịch sử Bácsống trong cái hang đơn sơ, với bữa cơm đạm bạc và những trang bị sợ sài thì sao
Trang 18có thể nói “sang” như vậy được Phải chăng cái sang phải hiểu theo nghĩa khác:
Sang là được sống, làm việc và chiến đấu cho lí tưởng, cho đất nước Đó là niềm
hạnh phúc nhất đời của Bác Từ “sang ” làm sáng bừng ý thơ, nâng cao tầm tư
tưởng cho tác phẩm
Tương tự như vậy trong câu thơ :
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
( Viếng lăng Bác – Viễn Phương )
Đây là khát vọng cao đẹp và chân thành nhất của tác giả Viễn Phương khi rời
xa vị Cha già muôn vàn yêu quý Hai chữ “trung hiếu” vốn xuất phát tư quan niệmcủa Nho giáo; trung với vua, với chủ; hiếu với cha mẹ Đặt nó vào hoàn cảnh sángtác tác phẩm, ta cần hiểu; trung với Đảng, với đất nước; hiếu không chỉ với cha mẹ
mà với cả nhân dân Viễn Phương mong làm “cây tre trung hiếu” cũng là muốnbước tiếp con đường Bác chọn, làm theo lời Bác dạy “ta bỗng lớn ở bên Người mộtchút” Niềm khát khao đó không của riêng thi sĩ mà hòa chung nhịp đập với trái timbiết bao người
II.3.2.4.Vận dụng phương pháp nêu vấn đề :
Giáo viên phát hiện và nêu vấn đề dưới dạng câu hỏi mở như: Cảm nhận củaem…? Em có suy nghĩ gì về cách dùng từ…?
Từ đó thúc đẩy học sinh thoải mái trình bày cách hiểu, cách nghĩ của mìnhrồi giáo viên tổng kết và thống nhất kiến thức chuẩn với các em Vì sao ta có thểvận dụng cách này? Bởi lẽ, các “nhãn tự” sẽ gợi nhiều chiều liên tưởng và nhiềutầng ý nghĩa, tuy theo trình độ và khả năng cảm thụ giúp các em phát hiện và bóctách các lớp nghĩa ấy, từ đó giáo viên tổng hợp lại, đưa ra kiến giải cặn kẽ hơn hayđiều chỉnh cái nhìn, cảm nhận chưa phù hợp Đây là phương pháp tích cực đòi hỏingười giáo viên vận dụng khéo léo và kiểm soát các ý kiến cũng như kiến thức đưa
ra, tổ chức quản lý lớp học, tránh đẩy cuộc “tranh luận” quá xa nội dung bài
Trang 19Trong bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật) hình ảnh
“trái tim” khép lại bài thơ là hình ảnh đặc sắc có sức gợi cao có thể vận dụng cách
hỏi này để các em có thể nêu nên các ý:
- Nghệ thuật hoán dụ
- Biểu tượng cho trái tim yêu nước và dũng cảm của người lính lái xe
- Sự hòa nhập 2 hình ảnh thơ: Chiếc xe và người lính, nói đến hình ảnh này lànói đến hình ảnh kia
- Chiêc xe có tâm hồn và trái tim riêng với sức mạnh tuyệt vời
- Liên tưởng tới hình ảnh “trái tim Đan Kô” của thế kỷ XX
II.3.2.5.Tìm hiểu bằng phương pháp thuyết trình (giảng giải - giảng bình)
Giáo viên có thể kết hợp phương pháp này với việc phân tích, cắt nghĩa, haynêu vấn đề để giúp học sinh hiểu sâu nội dung tư tưởng của bải thơ, khổ thơ Bởigiảng bình sẽ kích thích sự chú ý, sự cảm nhận của HS về thần cú và giá trị củathần cú tạo ra, muốn vậy giáo viên cần có giọng giảng hay, sâu lắng và thu hútngười nghe
Trên đây là một số gợi ý về cách tiếp cận các “nhãn tự - thần cú” trong bài làmột trong những phương pháp dạy Đọc – Hiểu văn bản Sau khi tìm hiểu giáo viêncần cho học sinh bình giá được về tài năng, sự lựa chọn từ ngữ tinh tế và tài hoacủa người viết, sức lay động và ý nghĩa của một “nhãn tự - thần cú” với cả tácphẩm và thấy được phong cách của tác giả
Có thể thấy được thông qua phong cách sử dụng nghệ thuật ngôn từ củaNguyễn Du khi xây dựng những nhân vật phản diện Ông có thể lột tả chân thực vàsắc xảo cá tính, bóc trần bản chất bên trong của chúng chỉ với một từ Lấy nhân vật
Mã Giám Sinh làm ví dụ :
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra
( Đoạn trích “ Mã giám sinh mua kiều” )