BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNGHỌC VIỆN QUÂN Y BÙI THỊ NGA THỰC TRẠNG, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ VÀ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
BÙI THỊ NGA
THỰC TRẠNG, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ VÀ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
Trang 2BÙI THỊ NGA
THỰC TRẠNG, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ VÀ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN
CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình của riêng tôi, do chính tôi thực hiện, tất
cả các số liệu, kết quả trong luận án này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án.
Trang 3Tác giả luận án
Trang 4CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 48
2.2.3 Kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu 54
2.6 Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 67
3.1.Thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm
nghiện chích ma túy tại Hà Nội
68
3.1.1 Mô tả thực trạng nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tham gia
điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
68
3.1.2 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy 69
3.2 Đánh giá hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng Methadone tại Hà Nội
80
3.2.1 Mô tả thực trạng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone
80
3.2.2 Hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hà Nội
4.1.3 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm nghiện chích ma túy 101
4.2 Đánh giá hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hà Nội
110 4.2.1 Thực trạng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc 110
Trang 5Methadone 4.2.2 Hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hà Nội
116
4.3 Tính bền vững và khả năng áp dụng mô hình can thiệp ở cộng đồng 135
HBV : Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)
HCV : Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)
HIV : Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn
dịch ở người) IBBS : Integrated Biological and Behavioral Surveillance (Giám sát
kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học)
Trang 6KCB : Khám chữa bệnh
LTQĐTD : Lây truyền qua đường tình dục
MMT : Methadone Maintenance Therapy (Điều trị thay thế bằng
Methadone) NCMT : Nghiện chích ma tuý
OR : Odds Ratio (Tỷ suất chênh )
QHTD : Quan hệ tình dục
STIs : Sexually transmitted infections (Các nhiễm trùng lây qua
đường tình dục) TCMT : Tiêm chích ma tuý
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTYT : Trung tâm y tế
TVXNTN : Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
UNAIDS : United Nations Acquired Immunodeficiency Syndrome (Tổ chức
phòng, chống AIDS Liên Hợp Quốc) UNODC : United Nations Office on Drugs and Crime (Cơ quan phòng chống
Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc) WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Phân bố số người nhiễm HIV theo quận/huyện 20 1.2 Phân bố số bệnh nhân điều trị Methadone theo quận/huyện 43 3.1 Một số đặc trưng cá nhân của người nghiện chích ma túy 69 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp của người nghiện chích ma túy 70
Trang 73.3 Thời gian sử dụng ma túy 70
3.6 Số tiền mua ma túy trong lần tiêm chích gần nhất 74
3.8 Hành vi quan hệ tình dục với các bạn tình trong 12 tháng qua 75 3.9 Nhận thức về triệu chứng các bệnh lây truyền qua đường tình dục 76 3.10 Nhận thức về biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV 77
3.13 Kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm ma túy trong 30 ngày gần nhất 81
3.15
3.16
Thay đổi về cân nặng, ngoại hình, lối sống
Tỷ lệ bệnh nhân biết các nguồn thông tin về cơ sở điều trị
82 85
3.18 Hiệu quả thay đổi về biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV 86 3.19 Hiệu quả thay đổi nhận thức về hành vi lây nhiễm HIV 87 3.20 Hiệu quả thay đổi nhận thức về triệu chứng các bệnh lây truyền qua đường
3.23 Tỷ lệ bệnh nhân gặp các tác dụng phụ trong thời gian điều trị 92
3.25 Hiệu quả cải thiện cân nặng của bệnh nhân 94 3.26 Thay đổi tỷ lệ rất hài lòng của bệnh nhân về thái độ làm việc của
cán bộ y tế trước và sau can thiệp
95
Trang 91.1 Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm nghiện chích ma túy qua kết quả giám sát
trọng điểm và điều tra IBBS (từ 2006 - 2015) tại thành phố Hà Nội
3.17
Đánh giá của bệnh nhân về việc hàng ngày đến điều trị
Tỷ lệ bệnh nhân chưa hài lòng về chất lượng dịch vụ
84 84 3.18 Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các dịch vụ chuyển tiếp 85
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.19 Hiệu quả thay đổi tỷ lệ sử dụng ma túy trong 1 tháng qua 88 3.20 Hiệu quả thay đổi tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong lần tiên chích
gần đây nhất
89
3.21 Hiệu quả thay đổi tần suất sử dụng bao cao su trong
quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua
90
3.23 Kết quả XN nước tiểu tìm heroin trong 30 ngày gần nhất 92 3.24 Hiệu quả thay đổi tần suất sử dụng heroin giai đoạn duy trì 93 3.25 Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau can thiệp 94 3.26 Thay đổi việc làm của bệnh nhân trước và sau can thiệp 95 3.27 Hiệu quả thay đổi tỷ lệ chưa hài lòng với chất lượng dịch vụ trước và
sau can thiệp
96
Trang 103.28 Đánh giá của bệnh nhân về mức độ phiền hà với việc hàng ngày phải
đến cơ sở điều trị trước và sau can thiệp
96 3.29 Tỷ lệ bệnh nhân tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chuyển tiếp trước và
sau can thiệp
97
Trang 11DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Bùi Thị Nga, Nguyễn Anh Quang, Nguyễn Thanh Long (2014), “Mô tả hành vi
nguy cơ nhiếm HIV và xác định tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm nghiện chích ma túy than
Trang 12gia chương trình dùng thuốc thay thế Methadone tại Hà Nội”, Tạp chí Y học Việt Nam,
421 (1), tr 48 - 52
2 Bùi Thị Nga, Nguyễn Anh Quang, Nguyễn Thanh Long (2014), “Mô tả thực trạng
cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng thuốc thay thế Methadone can thiệp
trong nhóm nghiện chích ma túy tại Hà Nội”, Tạp chí Y học Việt Nam, 421 (1), tr 84
-88.
3 Bùi Thị Nga, Nguyễn Thanh Long, Hoàng Hải (2016), “Hiệu quả chương trình điều
trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại Hà Đông và Từ Liêm, Hà Nội, năm
2012 - 2013”, Tạp chí Y học Việt Nam, 421 (2), tr 50 - 55.
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS đã và vẫn đang là vấn đề toàn cầu, nó không chỉ ảnh hưởngđến tính mạng, sức khoẻ của con người, mà còn gây tác hại lớn đến sự pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội của các quốc gia Sau hơn 30 năm mặc dù cácnước đã có nhiều biện pháp phòng chống tích cực nhưng dịch vẫn gia tăng,với tính chất ngày càng phức tạp Đến nay, có khoảng 34 triệu người đangsống chung với HIV và gần 30 triệu người đã chết vì AIDS [103]
Hiện nay, tiêm chích ma túy vẫn là phương thức lây truyền HIV chủyếu ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Theo báo cáo của cơ quanphòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc ước tính có khoảng 14triệu người tiêm chích ma túy trên toàn cầu và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómtiêm chích ma túy là (10% - 13%) [115], [116]
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm HIV qua đườngtiêm chích ma túy vào loại cao trên thế giới Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómnghiện chích ma túy toàn quốc năm 2010 là 17,5% Tuy nhiên, tại một sốtỉnh/thành phố tỷ lệ này lại cao gấp 2 - 3 lần: thành phố Hồ Chí Minh 36%,Cần Thơ 35,7%, Điện Biên 34% Tiêm chích ma túy là nguyên nhân chínhlàm tăng số nhiễm HIV mới hàng năm Theo báo cáo của Bộ Công an đếntháng 6 năm 2013, cả nước có trên 180000 người nghiện, trong đó sử dụngheroin chiếm 84,7% [61]
Do vậy, nỗ lực phòng, chống lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích
ma túy có ý nghĩa rất quan trọng để ngăn chặn đại dịch này Điều trị nghiệncác chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone là một trong các biện phápcan thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV Trong nhiều năm qua,Methadone được áp dụng điều trị tại nhiều nơi trên thế giới và đã đạt đượcnhững kết quả khả quan Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các bằngchứng về điều trị thay thế bằng thuốc Methadone giúp người nghiện các chất
Trang 14dạng thuốc phiện giảm tần suất sử dụng ma túy, giảm hành vi tội phạm, giảm
tử vong do quá liều và tăng hiệu quả điều trị [114]
Hà Nội là thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm nghiện chích
ma túy, kết quả giám sát trọng điểm trong 10 năm (2006 - 2015) tỷ lệ nhiễmHIV không thay đổi, trung bình là 23,9% [48] Như vậy, trong nhiều năm qua
tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm này tại Hà Nội cao và không giảm, trong khi côngtác cai nghiện ma túy ở cộng đồng và trong các Trung tâm Giáo dục Lao động
xã hội còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm đúng mức [6], [61] Vấn đề đặt
ra ở đây là thành phố đã triển khai nhiều chương trình can thiệp cho nhómnghiện chích ma túy nhưng hiệu quả chưa cao, chưa có tính bền vững? Dovậy, nghiên cứu các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và đánh giá hiệu quảchương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadonetrong nhóm nghiện chích ma túy là hết sức cần thiết, mang tính thời sự, có ýnghĩa khoa học và thực tiễn cao Từ những lý do trên, trong khuôn khổ dự án
“Dự phòng chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam” do Chính phủ Hoa
Kỳ tài trợ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng, hành vi nguy
cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Hà Nội (2012 – 2013)" nhằm mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
trong nhóm nghiện chích ma tuý tại Hà Đông và Từ Liêm, Hà Nội, năm 2012.
2 Đánh giá hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại Hà Đông và Từ Liêm, Hà Nội, năm
2012 - 2013.
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH HIV/AIDS
1.1.1 Một số khái niệm
AIDS là chữ viết tắt từ tiếng Anh “Acquired Immune DeficiencySyndrome” nghĩa là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” do nhiễmHIV (Human Immunodeficiency Virus)
AIDS lần đầu tiên được phát hiện vào tháng 6 năm 1981 Trung tâmphòng chống bệnh tật - Atlanta của Mỹ xác định từ 5 nam thanh niên đồng
tính luyến ái bị viêm phổi nặng do Pneumoci carini ở Los Angeles (Mỹ) HIV
tấn công và tiêu huỷ dần các tế bào miễn dịch, làm suy giảm hệ thống miễndịch của cơ thể Do hệ thống miễn dịch bị tổn thương, cơ thể không tự bảo vệchống lại các nhiễm trùng mà một người bình thường có thể chống đỡ được.Các nhiễm trùng phổ biến mà những bệnh nhân AIDS thường mắc phải là lao,viêm phổi, ỉa chảy, các bệnh nấm, zon
AIDS không phải là một bệnh mà là một hội chứng, AIDS là giai đoạncuối của quá trình nhiễm HIV Do hệ thống miễn dịch bị tổn thương, cơ thểkhông tự bảo vệ trước các bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc các biến đổi tế bào
mà một người bình thường có thể chống đỡ được Những bệnh này là nguyênnhân dẫn đến tử vong Cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu hayvacxin phòng, chống AIDS có hiệu quả [38], [45]
Hành vi nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như dùng chungbơm kim tiêm (BKT) và quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn [45]
Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Khi đưa vào cơthể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý Nếulạm dụng ma tuý, con người sẽ bị lệ thuộc vào nó Ma tuý gây tổn thương,nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
Trang 16Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện,thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này Những người sử dụng lặp đilặp lại nhiều lần chất ma tuý với liều ngày càng tăng dẫn đến trạng thái nhiễmđộc chu kỳ, mạn tính bị lệ thuộc thể chất, tâm thần vào chất đó [46], [58].Nghiện chích ma tuý là những người đã từng sử dụng các loại ma tuýkhông phải thuốc y tế kê theo đơn bằng cách tiêm/chích trong một tháng qua,đang sống và sinh hoạt tại cộng đồng [46], [58].
Methadone là một chất dạng thuốc phiện tổng hợp, có tác dụng dược lýtương tự như các chất dạng thuốc phiện khác (đồng vận) nhưng không gâynhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, cóthời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trongngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổnđịnh nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài Điều trị nghiện chất dạng thuốcphiện (CDTP) bằng thuốc Methadone cần tuân thủ điều trị lâu dài, có kiểmsoát, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng sirô nên giúp dự phòng bệnhlây truyền qua đường máu như: HIV, HBV, HCV đồng thời giúp người bệnhphục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và hòa nhập cộng đồng [8], [12]
1.1.2 Dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS
1.1.2.1 Tác nhân gây bệnh
HIV được phát hiện đầu tiên do một nhóm nhà khoa học Pháp ở ViệnPasteur Paris phân lập từ máu của một bệnh nhân vào năm 1983 và gọi là virút có liên quan với viêm hạch (Lymphadenopathy Associated Virus) Năm
1984, Gallo và các nhà khoa học Mỹ cũng phân lập được vi rút gây AIDS vàđặt tên là vi rút hướng tế bào Lympho T ở người (Human T - cellLymphotropic Virus III - HTLV III) Năm 1986, Hội nghị danh pháp Quốc tế
về vi rút đã thống nhất tên gọi là HIV (Human Immunodeficiency Virus)Tuýp 1 hay HIV-1 Năm 1986, các nhà khoa học Pháp lại phân lập một loại virút khác ở Tây Phi cũng gây suy giảm miễn dịch ở người, có cấu trúc kháng
Trang 17nguyên khác với HIV-1 gọi là HIV-2 Như vậy, HIV có 2 Serotype là HIV-1
và HIV-2 HIV là một Retrovirus (Vi rút sao mã ngược), thuộc họ Lentivirus(vi rút chậm) HIV-1 phân bố khắp thế giới, HIV-2 chỉ khu trú ở một số nướcTây Phi và Ấn Độ HIV-2 có thời gian ủ bệnh dài hơn, nguy cơ lây truyềnthấp hơn và bệnh diễn biến nhẹ hơn HIV-1 và HIV-1 có sự đa dạng di truyềnnên có thể ảnh hưởng đến các loại đột biến kháng thuốc [38], [62], [108]
1.1.2.2 Đường lây truyền
Các nghiên cứu cho thấy: do phân lập được HIV từ máu, tinh dịch, dịchtiết từ âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơthể Mặc dù HIV có mặt ở mọi mô và dịch của người bị nhiễm, song tập trungnhiều nhất trong máu và dịch tiết của cơ quan sinh dục Chính vì vậy, HIVchủ yếu lây qua 3 đường chính: đường máu, đường QHTD và đường mẹ sangcon [38]
* Lây truyền theo đường QHTD: Đây là phương thức lây truyền phổ
biến trên thế giới Nguy cơ lây nhiễm HIV qua một lần giao hợp với mộtngười nhiễm HIV là từ 0,1% đến 1% Nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽvới nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STIs), STIs làm tăng cảmnhiễm và tăng nguy cơ lây nhiễm HIV [38], [62]
* Lây truyền theo đường máu: Nguy cơ lây truyền HIV qua đường
truyền máu rất cao, trên 90% HIV cũng có thể truyền qua việc sử dụng chungBKT với người bị nhiễm HIV mà không được tiệt trùng, nếu BKT đó lại đượcdùng chung với một người khác thì máu của người nhiễm HIV sẽ đi thẳng vàomáu của người chưa nhiễm, ngay khi chỉ còn một lượng máu nhỏ sót lại trongBKT và được tiêm trực tiếp cũng sẽ làm lây truyền HIV Ngoài ra, HIV cònlây truyền trong chăm sóc y tế (do dụng cụ không đảm bảo, lây truyền quaviệc cấy ghép các bộ phận của cơ thể và cho tinh dịch), qua các dịch vụ thẩm
mỹ (xăm, trổ), lây truyền từ bệnh nhân sang nhân viên y tế và đặc biệt ởngười nghiện chích ma túy (NCMT) [38]
Trang 18* Lây truyền từ mẹ sang con: Sự lây truyền HIV có thể xảy ra trong thời
kỳ mang thai, trước và trong một thời gian ngắn sau đẻ Theo kết quả nghiêncứu trên thế giới; nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con khác nhau tùy từngnước, từ 12% - 32% ở các nước công nghiệp phát triển, 25% - 50% ở cácnước đang phát triển [38]
1.1.2.3 Khối cảm thụ bệnh
Khối cảm thụ trong lây truyền HIV là trẻ em trong thời kỳ bào thai và tất
cả những người có hành vi nguy cơ Như vậy ai cũng có thể bị nhiễm HIVnếu người đó có hành vi không an toàn, đặc biệt là những người NCMT.Những người NCMT có nguy cơ cao bị lây nhiễm HIV qua đường máu vàdịch thể khác khi sử dụng chung BKT và các dụng cụ tiêm chích ma túy(TCMT) khác Nguyên nhân khiến cho người NCMT có nguy cơ nhiễm HIVcao là: sử dụng chung BKT để tiêm chích trực tiếp vào đường tĩnh mạch, cácđiểm tiêm chích thường dùng chung một BKT cho nhiều người Sử dụng matuý có thể làm tổn thương thần kinh và suy giảm chức năng nhận thức vì vậyngười sử dụng ma túy thường không kiểm soát được hành vi khi tiêm chích
và QHTD không sử dụng các biện pháp để bảo vệ, những người NCMTthường có sức đề kháng kém Nguồn truyền nhiễm càng chứa nhiều vi-rút thìkhả năng truyền bệnh càng cao; khối cảm thụ càng yếu kém thì vi-rút HIVcàng dễ xâm nhập [38] Kết quả một nghiên cứu tại Việt Nam và Trung Quốccho thấy: sử dụng BKT sạch trong TCMT sẽ làm giảm mạnh tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm NCMT: tại Lạng Sơn từ 46% xuống 23% với p < 0,001, NingMing: từ 17% xuống 11% với p = 0,003 và Hà Giang: từ 51% xuống 18% với
p < 0,001, Kết quả này cho thấy nếu nhóm người NCMT sử dụng chung dụng
cụ TCMT sẽ có nguy cơ bị lây nhiễm HIV rất cao từ (49% đến 83%) [79]
* Các yếu tố ảnh hưởng tới lây nhiễm HIV
+ Yếu tố sinh học: So với những người không mắc STIs, người mắcSTIs không gây loét có nguy cơ lây truyền HIV từ 2 - 5 lần và người mắc
Trang 19STIs có gây loét khả năng nhiễm HIV cao gấp 5 - 11 lần Ngoài ra, giai đoạnnhiễm HIV cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng lây truyền HIV: nguy cơ lâynhiễm rất cao ngay sau khi nhiễm HIV (giai đoạn cửa sổ) và giai đoạn AIDS.
Ở giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng, nguy cơ lây nhiễm thấp hơn, sốlượng HIV giai đoạn này chỉ khoảng 20 - 40 vi rút/1ml máu [62]
+ Yếu tố hành vi: Vai trò của nam và nữ trong QHTD, sự chấp nhận của
xã hội về lối sống có nhiều bạn tình, phương thức sinh hoạt tình dục (miệng,hậu môn) hay các phong tục xăm mình, xâu lỗ tai, TCMT [62]
+ Yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội: Trình độ văn hóa, nhận thức, sự hiểubiết về HIV/AIDS, tác hại ma túy, an toàn tình dục; yếu tố về kinh tế nhưnghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với AIDS, mặt tiêu cực củakinh tế thị trường; yếu tố về chính trị như thái độ của xã hội, luật pháp với cácnhóm nguy cơ cao; thái độ đối với giáo dục tình dục, với vị thế của người phụ
nữ trong xã hội, sự chấp nhận của xã hội với phương pháp xét nghiệm HIVgiấu tên và việc cho phép cung cấp BCS, BKT, điều trị cai nghiện bằng thuốcthay thế [48]
1.2 THỰC TRẠNG TIÊM CHÍCH MA TÚY VÀ HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
Trang 20[66] Theo báo cáo Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên HợpQuốc (UNODC) đến cuối năm 2011, toàn thế giới có khoảng 167 đến 315
triệu người trong độ tuổi từ 15- 64 sử dụng các loại ma túy bất hợp pháp,
chiếm từ 3,6% - 6,9% dân số trên thế giới Ở những nước mà hình thức lâytruyền HIV chủ yếu qua QHTD khác giới và TCMT thì đây vẫn là một trongnhững nguyên nhân chính làm tăng số nhiễm HIV mới hàng năm Trong sốhầu hết các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV do dùng chung BKT khi TCMT làphổ biến trong những người tiêm chích trên toàn thế giới [68], [116] Loại matuý thường sử dụng; ngoài thuốc phiện dùng để tiêm chích chủ yếu thìCocain, Amphetamin cũng được sử dụng bằng con đường tiêm chích tại cácnước có tỷ lệ nhiễm HIV cao Ở Đông Nam Châu Á, các chế phẩmMethamphetamin, thuốc lắc cũng đang được ưa chuộng và hình thức sử dụngbằng đường tiêm cũng ngày càng tăng Ở Nam Á, bên cạnh heroin, ngườiNCMT cũng thường tiêm chích các chất giảm đau tổng hợp, Benzodiazepines
và các hoạt chất khác [115], [116]
Các đường lây truyền HIV ở người TCMT: sử dụng chung BKT là yếu
tố nguy cơ lớn nhất làm lây truyền HIV trong nhóm TCMT Dùng chungdụng cụ tiêm chích với từ hai người bạn chích trở lên trong vòng 6 tháng làyếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê trong nhiễm HIV tại Bangkok Mộtnghiên cứu cho thấy: HIV sống ở giọt máu trong BKT của người NCMTkhoảng 2 tuần, tỷ lệ HIV còn tồn tại trong BKT từ 5% - 60% trong vòng 15
- 30 ngày và có nguy cơ lây nhiễm cho bạn chích từ 0,3% - 0,7% Cácnghiên cứu cho thấy tiêm chích chung tại các tụ điểm chích là yếu tố làmtăng nguy cơ nhiễm HIV vì tại các tụ điểm này, ma túy được bán và cácdụng cụ tiêm chích được chuẩn bị sẵn để thuê hoặc để dùng chung Hàngchục, thậm chí hàng trăm người NCMT có thể đến các tụ điểm tiêm chíchtrong một ngày và dùng chung một số lượng nhất định các dụng cụ tiêm
Trang 21chích [80], [95]
Cận Sahara Châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng dịch AIDS nặng nềnhất Trong năm 2007 đã có trên 75% người nhiễm HIV trên toàn cầu sốngtrong khu vực này Tiêm chích ma túy và sử dụng chung các dụng cụ tiêmchích là nguyên nhân chính làm lây nhiễm HIV ở khu vực này [107], [112].Đến năm 2010, Cận Sahara Châu Phi vẫn chiếm 70% các ca nhiễm HIV mới
và dịch tiếp tục xảy ra nghiêm trọng nhất là ở miền Nam Châu Phi, Nam Phi.Tại hai khu vực này hiện có khoảng 5,6 triệu người sống chung với HIVnhiều hơn bất kỳ tại quốc gia nào khác trên thế giới Gần một nửa số ca tửvong do các bệnh liên quan đến AIDS trong năm 2010 xảy ra ở Nam Phi.AIDS đã cướp đi ít nhất một triệu người mỗi năm ở tiểu bang Sahara ChâuPhi kể từ năm 1998 Caribbean là nơi có tỷ lệ nhiễm HIV cao đứng thứ haisau cận Sahara Châu Phi, mặc dù dịch đã diễn biến chậm lại đáng kể từ giữanhững năm 1990 Ở khu vực Caribbean, số nhiễm HIV mới đã giảm một phần
ba từ năm 2001 và tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm khoảng 25% ở Cộng hòaDominica và Jamaica [104]
Ở Đông Âu và Trung Á, gần 90% số ca nhiễm HIV mới là từ hai quốcgia: Cộng hòa Liên bang Nga (chiếm 66,0%) và Ukraine (chiếm 21,0%) Tạinhững nơi khác; Azerbaijan, Georgia, Kyrgyzstan, Cộng hòa Moldova vàUzbekistan số ca nhiễm HIV mới hàng năm cũng đang tăng Trong số canhiễm HIV mới năm 2006 có 62% là do TCMT và chỉ có 37% do QHTD.Đông Nam Ukraine vẫn tiếp tục là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đặcbiệt tại các vùng Dnipropetrovsk, Donetsk, Mikolaiv, Odessa, Cộng hòa tự trịCrimea, thủ đô Kiev Trong các cuộc điều tra trọng điểm tại sáu thành phốtrong năm 2007, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm TCMT từ 10,0% ở Lugansklên đến 13,0% ở Kiev và 89% ở Krivoi Rog [106] Theo báo cáo Tổ chứcphòng, chống AIDS Liên Hợp Quốc năm 2008, ở khu vực này 62% ngườinhiễm HIV là do hành vi dùng chung BKT khi TCMT Tại Nga tỷ lệ nhiễm
Trang 22HIV trong nhóm tiêm chích là hơn 70% ở Biysk vào năm 2005 Tại Ukraine,
tỷ lệ cũng khá cao trong nhóm NCMT: các khảo sát ở nhóm TCMT cho thấy
tỷ lệ tăng từ 11% năm 2001 lên 17% vào năm 2006 [107] Tần suất dùngchung BKT, số lượng bạn chích chung, và tại nơi có hiện tượng dùng chungBKT đều ảnh hưởng tới nguy cơ lây nhiễm HIV
Theo báo cáo UNAIDS năm 2012 có khoảng 3 triệu người nhiễm HIVtương ứng với khoảng 30% thuộc các khu vực khác bên ngoài Châu Phi cậnSahara được cho là do tiêm chích ma túy Ở Đông Âu và Trung Á, 80%trường hợp nhiễm HIV là người NCMT Tỷ lệ nhiễm HIV mới ở khu vực này
đã tăng lên hơn 250% từ năm 2001 đến năm 2010 [100]
Tại Châu Á, Đông Nam Á là nơi có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất, vớinhiều xu hướng dịch khác nhau Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm tại Cam-pu-chia,Myanmar và Thái Lan có dấu hiệu giảm, thì tại In-đô-nê-xi-a (đặc biệt tại tỉnhPapua) và Việt Nam, tỷ lệ này lại đang tăng cao Trong năm 2007, trên toànChâu Á có khoảng 4,9 triệu người sống với HIV, trong đó có 440000 ngườinhiễm mới Tại Trung Quốc, tất cả các tỉnh đều có ca nhiễm HIV và tập trungnhiều nhất ở Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Tân Cương, Vân Nam.Khoảng 1/2 số người sống với HIV tại Trung Quốc năm 2006 bị lây nhiễmqua dùng chung dụng cụ TCMT Nguyên nhân chính gây dịch hiện vẫn là quađường TCMT và sự chồng chéo giữa người NCMT có QHTD với GMD làmột yếu tố quan trọng gây ra dịch ở Trung Quốc Tại Ấn Độ, HIV dường nhưđang lan tràn chủ yếu qua QHTD không an toàn giữa người bán dâm, kháchmua dâm và bạn tình của họ Tại một số bang: Tamil Nadu, Maharashtra,Karnataka và Andhra Pradesh, nhiễm HIV tập trung chủ yếu trong nhómGMD Nhưng tại một số bang khác thì tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhómTCMT và sử dụng chung BKT là yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV phổ biếnnhất ở Đông Bắc Ấn Độ Tại Pakistan, tỷ lệ nhiễm HIV cũng chủ yếu trongnhóm TCMT Nghiên cứu ở Karachi cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm
Trang 23TCMT đã tăng từ dưới 1% vào đầu năm 2004 lên 26% vào tháng 3 năm 2005,một số nghiên cứu khác cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã lêntới 24% tại Quetta, 12% tại Sargodha, gần 10% tại Faisalabad [106] Đến năm
2010, Châu Á vẫn là nơi có số người NCMT nhiều nhất, chiếm 1/4 số ngườiNCMT trên thế giới Nguyên nhân chủ yếu của dịch HIV ở nhiều quốc giaChâu Á là do sử dụng ma túy và 16% số người TCMT đang sống với HIV[67] Tại Thái Lan, một nghiên cứu ở 3 tỉnh/thành phố Bangkok, Chiang Mai
và Songkla cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV ở người TCMT là 21,9%, tỷ lệ sử dụngBKT sạch là 77,8% và sử dụng BCS là 46,1% [94]
Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV ở một số quốc gia có giảm nhất định, nhưng sốngười sống chung với HIV vẫn tiếp tục tăng trên thế giới Năm 2005, có thêm
5 triệu ca nhiễm mới Số người sống chung với HIV trên toàn cầu đã đạt mứccao nhất với khoảng 40,3 triệu người vào năm 2002, tăng từ khoảng 37,5 triệuvào năm 2003 [111] Theo báo cáo toàn cầu năm 2006 dịch AIDS tiếp tục xấu
đi tại nhiều quốc gia Ấn Độ là nơi có số lượng mắc AIDS nhiều nhất: 5,7triệu vào năm 2005 Sub-Saharan Africa là nơi có tỷ lệ bình quân người bịnhiễm HIV/AIDS cao nhất trên thế giới [105] Năm 2009 ước tính Châu Á cókhoảng 4,9 triệu người sống chung với HIV Ở nhiều khu vực trên thế giới, tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT đã tăng trên 40% Người NCMT lạithường xuyên có hành vi tình dục không an toàn và họ có rất nhiều bạn tình,HIV lan truyền qua đường tình dục từ những người NCMT bị nhiễm HIVsang các bạn tình của họ cũng đã trở thành một đường lây truyền quan trọng.Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa TCMT, mại dâm và cáchành vi tình dục có nguy cơ dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao trong số nhữngngười mại dâm đồng thời có sử dụng ma tuý [66] Một số kết quả các nghiêncứu cho thấy: ở Trung Quốc khoảng 56% phụ nữ bán dâm có TCMT và nhiềungười nam giới tiêm chích mua dâm và họ thường không sử dụng BCS Mộtcuộc khảo sát tiến hành vào năm 2005 - 2006 tại một số khu vực ở Việt Nam,
Trang 24cho kết quả từ 20% đến 40% số người TCMT đã mua dâm trong 12 thángtrước đó và đến 60% cho biết họ thường xuyên có QHTD với bạn tình thườngxuyên và chỉ có 16% - 36% nói rằng họ luôn sử dụng bao cao su với bạn tìnhthường xuyên Sự chồng chéo giữa TCMT và QHTD cũng là một hiện tượngđáng lo ngại làm gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV [107].
Tiêm chích ma túy hiện nay xảy ra ở ít nhất 158 quốc gia và vùng lãnhthổ trên thế giới Các dữ liệu mới nhất ước tính 15,9 triệu (khoảng 11 đến 21triệu) người TCMT trên toàn cầu Các quần thể TCMT lớn nhất tập trung chủyếu ở Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nga Trong đó 120 nước có báo cáo về nhiễmHIV ở những người TCMT Tám nước: Argentina, Brazil, Estonia, Indonesia,Kenya, Myanmar, Nepal và Thái Lan có tỷ lệ nhiễm HIV ở những ngườiTCMT là hơn 40% [67] Tại Argentina, TCMT chỉ chiếm khoảng 5% sốnhiễm HIV mới ở Buenos Aires từ năm 2003 và 2005, mức độ lây nhiễmHIV ở những người TCMT đã giảm ở một số thành phố của Brazil Đáng chú
ý lây nhiễm HIV đã xảy ra trong nhóm TCMT tại các thủ đô của Paraguay là12,0% và Uruguay là 19,0% Nhiễm HIV mới trong nhóm TCMT Tại Hoa Kỳ
là 18,0% (năm 2005) và tại Canada là 19,0% (năm 2006) [107], [113] Tuyên
bố Chính trị năm 2011 của Tổ chức phòng, chống AIDS Liên hợp Quốc(UNAIDS) đã đặt ra mục tiêu 15 triệu người sống chung với HIV được điềutrị và loại bỏ các ca nhiễm HIV mới ở trẻ em vào năm 2015, nhưng hành độngcần thiết hơn là giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm GMD và HIV trongnhững người TCMT [110]
1.2.2 Tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến 30 tháng 6 năm 2015, trên toànquốc lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống 227114 người, số bệnhnhân AIDS là 71115 và số tử vong 74442 người So sánh với cùng kỳ năm
2014, số ca nhiễm HIV phát hiện của năm 2015 giảm 47% (1341 trường hợp);
số AIDS được phát hiện giảm 49% (797 trường hợp); số trường hợp tử vong
Trang 25được phát hiện tăng gấp 2,2 lần (772 trường hợp) Trong số người nhiễm HIVphát hiện tập trung chủ yếu ở nam giới (66%), nữ giới (34%) Mặc dù trongnhững năm gần đây lây truyền HIV qua đường tình dục ngày càng gia tăngmạnh mẽ, lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý không an toàn vẫn là nguyên nhânchủ yếu Có gần 40% người được phát hiện nhiễm HIV là người tiêm chích
ma tuý Rất nhiều trường hợp lây nhiễm qua đường tình dục là bạn tình củangười đã từng tiêm chích ma tuý Vì vậy tiêm chích ma tuý không an toànđóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tiếp tục duy trì dịch HIV tạiViệt Nam Mặt khác diễn biến của việc sử dụng ma tuý ở Việt Nam ngày càngphức tạp trong đó việc sử dụng các chất ma tuý tổng hợp như ma tuý đá(crystal methamphetamine), ecstasy hay ketamine là những chất có ảnh hưởnglâu dài đến sức khoẻ (bao gồm nguy cơ lây nhiễm HIV do quan hệ tình dụckhông an toàn) ngày càng trở nên phổ biến hơn trong giới trẻ ở các thành phốlớn [21], [51] Theo báo cáo của Bộ Công an, cả nước có trên 180000 ngườinghiện, số người nghiện đang ở cộng đồng chiếm tỷ lệ 64,5%; số người đangcai nghiện trong các cơ sở Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội là 22,4%; sốđang trong các trại giam, trại tạm giam, Nhà tạm giữ là 13,1% Tại Hà Nội, cótrên 10% số người nghiện có sử dụng ma túy tổng hợp như Amphetamin, hồngphiến Dự báo trong thời gian tới, tình hình và hoạt động của tội phạm matúy vẫn tiếp tục phức tạp và có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ
Số lượng người sử dụng ma tuý cũng đang phát triển và được báo cáo ở hầuhết các tỉnh thành của Việt Nam [6] Sự lan truyền HIV trong quần thể ngườiNCMT tùy thuộc vào việc dùng chung BKT và việc thực hiện khử trùngBKT Nhiều nghiên cứu khẳng định khi đứng trước một sự lựa chọn là khôngtiêm hoặc tiêm với một kim tiêm nhiễm khuẩn, thì người NCMT sẽ chọn tiêmvới chiếc kim tiêm nhiễm khuẩn [48], [55]
Thuốc phiện và heroin là hai loại ma túy cũng được sử dụng khá phổbiến ở Việt Nam Hiện nay ma túy được sử dụng nhiều nhất là heroin chiếm
Trang 26trên 80% và chủ yếu bằng đường tiêm chích chiếm trên 90%, có nhiều lý do
để những người nghiện chuyển từ hình thức hút, hít sang tiêm chích và đây làhành vi nguy cơ cao thúc đẩy tốc độ lây truyền HIV Tần suất tiêm chích matúy có liên quan đến loại ma túy và thời gian sử dụng ma túy Do cơ chế tácđộng của ma túy nên người sử dụng thường có nhu cầu tăng liều vì vậy ngườiNCMT lâu năm thường có tần suất tiêm chích cao, điều này sẽ làm tăng nguy
cơ lây nhiễm HIV/AIDS cho người nghiện chích ma túy HIV có thể lây lannhanh chóng và xảy ra ngay sau khi có sự xuất hiện của HIV trong quần thểnhững người tiêm chích Một khi HIV đã tồn tại trong quần thể những ngườitiêm chích thì quần thể này là nguồn truyền HIV cho vợ, bạn tình của họ quađường tình dục [43], [61], [63]
Trên thực tế ở hầu hết các nước phát triển, những người NCMT là nguồntruyền HIV thường gặp nhất, đồng thời TCMT không chỉ làm tăng nguy cơnhiễm HIV ở quần thể những người NCMT mà còn tăng nguy cơ nhiễm HIV
ở bạn tình và con cái của họ qua đường tình dục và đường từ mẹ sang con.Một số quan niệm cho rằng: người NCMT thường giảm hoạt động tình dục,trên thực tế không hoàn toàn như vậy, do tác động của ma túy nên giai đoạnđầu sử dụng ma túy nhu cầu tình dục ở người NCMT thường rất mạnh vàngười NCMT thường có QHTD với GMD và số GMD có QHTD với NCMTngày một tăng Kết quả chương trình Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ sốsinh học (IBBS) năm 2009 cho thấy: tỷ lệ người NCMT có QHTD với bạntình thường xuyên trong 12 tháng qua là từ 31,0% - 75,3% và có QHTD vớiGMD từ 9,0% - 45,0% Trong khi đó tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trongQHTD với bạn tình thường xuyên lại rất thấp, ở một số tỉnh/thành là 21,6%
và cao nhất cũng chỉ chiếm 55,6% Điều đáng quan tâm là người NCMT bịnhiễm HIV vẫn có QHTD trong 12 tháng qua với các loại bạn tình [15], [56]
Tệ nạn ma túy đã lan tới mọi vùng, miền của 63/63 tỉnh/ thành phố trong
cả nước Ma tuý đã xâm nhập vào mọi tầng lớp dân không chỉ tập trung ở các
Trang 27nhóm đối tượng có trình độ thấp, không nghề nghiệp, có tiền án tiền sự màcòn lan sang cả những đối tượng là đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn, bằngcấp, có việc làm; tệ nạn ma tuý len lỏi ở khắp mọi nơi từ thành thị, nông thônđến các vùng miền núi, hải đảo, độ tuổi ngày càng trẻ Một số tỉnh/thành phốnhư Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương cũng cho biết tỷ lệ người nghiện dưới
30 tuổi chiếm 80% - 90% tổng số người nghiện Loại ma túy sử dụng ngàycàng đa dạng trong đó 87% người nghiện sử dụng heroin Cách thức sử dụng
ma túy phổ biến trước đây tại phía Bắc là hút thuốc phiện và tại phía Nam làhút cần sa, uống tân dược có chất ma túy Hiện nay, người nghiện tiêm chích
ma túy ngày càng phổ biến và là nguyên nhân chính làm lây nhiễm HIV vàcác bệnh qua đường máu [58] Năm 2012, tình hình sử dụng ma tuý vẫn còndiễn biến rất phức tạp Toàn quốc có 171400 người nghiện có hồ sơ quản lý
Số lượng người NCMT hàng năm vẫn tăng lên, kỹ năng dự phòng lây nhiễmHIV chưa cao vì vậy dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV trong nhóm này và từ
đó có nguy cơ lây ra cộng đồng Công tác cai nghiện đã được xã hội hoá bằngnhiều hình thức, số người được tiếp cận dịch vụ cai nghiện ngày càng tăng,tuy nhiên tỷ lệ tái nghiện vẫn còn ở mức rất cao khoảng 70% - 95% [16] Nguyên nhân chính nhiễm HIV ở Việt Nam và một số nước ở khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương là việc sử dụng chung BKT ở nhóm ngườiTCMT Theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 tại 40 tỉnh/thành phố, tỷ
lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 11,6% Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm NCMT tại các tỉnh triển khai giám sát lồng ghép hành vi lại có sựkhác biệt rất lớn: thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Cần Thơ , Hà Nội,Quảng Ninh, Cao Bằng là những tỉnh có tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất từ 21,2% -38,8%, ở một số tỉnh còn lại thì tỷ lệ hiện nhiễm rất thấp, từ 1.3% - 3,5%.Hình thái lây nhiễm vẫn chủ yếu qua TCMT: tỷ lệ người NCMT dùng chungBKT trong một tháng qua là 16,7% Tỷ lệ này cao ở các tỉnh như Sóc Trăng là80,3%, Bà Rịa - Vũng Tàu 67,3%, Kiên Giang 35,2% Một số tỉnh có tỷ lệ
Trang 28thấp dưới 15% là Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hà Tĩnh, Lạng Sơn Tỷ lệhiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm là 2,7% Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễmHIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tại các tỉnh triển khai giám sát lồng ghéphành vi lại có sự khác biệt rất lớn, Hà Nội và Cần Thơ là hai tỉnh có tỷ lệ hiệnnhiễm HIV trong nhóm này cao nhất lần lượt là 22.5% và 12%, Lạng Sơn là6,47%, các tỉnh còn lại đều có tỷ lệ hiện nhiễm HIV dưới 5% [18] Sử dụng
ma tuý bằng đường tiêm chích rất phổ biến ở Việt Nam, tỷ lệ người sử dụngqua đường tiêm chích là trên 70% Hình thái lây nhiễm HIV vẫn chủ yếu quaTCMT và dùng chung BKT là lý do chính giải thích tại sao tỷ lệ hiện mắcHIV trong nhóm sử dụng ma tuý tại các thành phố của Việt Nam lại tăngnhanh [125]
Theo kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy: phần lớn ngườiNCMT tiêm chích lần đầu ở độ tuổi dưới 25 (chiếm tỷ lệ 64%), tỷ lệ tiêmchích lần đầu ở độ tuổi từ 25 đến < 30 tuổi là 17% Tỷ lệ người NCMT cóthời gian TCMT trên 3 năm chiếm 69%, nhóm TCMT từ 3 năm trở xuốngchiếm 31% [18] Người NCMT có tuổi lần đầu sử dụng ma túy hiện naythường trẻ hơn, thay đổi khá nhanh từ hút sang tiêm chích heroin và có hoạtđộng tình dục mạnh, tuy nhiên tỷ lệ luôn sử dụng BCS với các loại bạn tìnhlại rất thấp và họ có QHTD với nhiều bạn tình khác nhau, trong đó có cảGMD Các cuộc điều tra, nghiên cứu cho thấy: có 67,4% người NCMT thamgia nghiên cứu trả lời có quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm trong 12 thángqua, trong đó chỉ có 67,5% người NCMT thường xuyên sử dụng bao cao sukhi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm trong 1 tháng qua Tỷ lệ ngườiNCMT thường xuyên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với phụ nữ bándâm cao ở các tỉnh Hà Tĩnh (88,5%), Thái Nguyên (85,7%), Đồng Nai(85,7%), Quảng Ninh (85,1%) Nhưng tỷ lệ này lại rất thấp ở một sốtỉnh/thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh (36,5%), Bà Rịa - Vũng Tàu(31,3%), đặc biệt thấp ở Kiên Giang (16,4%) và Sóc Trăng (8,1%) và tỷ lệ
Trang 29GMD có sử dụng ma túy ngày càng gia tăng [18]
Nghiên cứu giám sát hành vi năm 2006 cho thấy tỷ lệ người NCMT sửdụng chung BKT còn rất cao: tại thành phố Hồ Chí Minh là 37%, An Giang là33%, Đà nẵng là 29%, Cần Thơ là 25% [7] Nghiên cứu tại Bắc Kạn, HòaBình và Tuyên Quang cũng cho thấy việc Sử dụng chung BKT tại các tỉnhtham gia đánh giá là đáng báo động Việc sử dụng “lại” BKT diễn ra phổbiến nhất tại Hoà Bình với 52,3% người TCMT có dùng lại BKT của ngườikhác trong 1 tháng trước điều tra, kế tiếp là Bắc Kạn với 40% và ở TuyênQuang với 35,7% Một yếu tố nguy cơ nữa cần quan tâm là tần suất sử dụnglại BKT so với số lần tiêm chích là tương đối cao: có tới 90% trong số ngườidùng lại BKT của người khác đã dùng lại BKT trong từ 25% đến 50% số lầnTCMT trong tháng trước khi tiến hành đánh giá Về biện pháp làm sạch BKT,trên 70% là xúc bằng nước sôi và nước lã, để luộc sôi hay dùng các loại nướcsát khuẩn khác chỉ chiếm tỷ lệ 30% Điều này cho thấy nguy cơ lây truyền cácbệnh đường máu như: HIV, HBV, HCV, nhiễm khuẩn huyết…là rất lớn vàkết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng 70% số người nhiễmHIV/AIDS là do tiêm chích ma túy là phù hợp [13] Năm 2007, tiêm chích matúy và mại dâm vẫn là nguyên nhân chính tạo thành dịch HIV ở Việt Nam.Trên toàn quốc, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm NCMT là 20%, tỷ lệ này rấtcao ở một số tỉnh/thành phố: Quảng Ninh là 33,0%, thành phố Hồ Chí Minh
là 50,0%, Cần Thơ là 46,0% Tỷ lệ hiện nhiễm ở nhóm GMD tại Hải Phòng là10,0%, Hà Nội là 12,0% và thành phố Hồ Chí Minh là 8,0% [125] Các sốliệu điều tra năm 2009 cho thấy: Với những tỉnh có tỷ lệ dùng chung BKT caovẫn chứa đựng nhiều tiềm ẩn lây truyền HIV trong nhóm gia tăng và Tỷ lệ sửdụng chung BKT tăng có thể là một dấu hiệu cảnh báo sớm sự gia tăng tỷ lệhiện nhiễm trong thời gian tới Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT
đã giảm trong thời gian qua, song vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy cơ làmgia tăng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này trở lại do mức độ hành vi sử dụng
Trang 30chung bơm kim tiêm vẫn còn cao, đặc biệt trong nhóm đã bị nhiễm HIV tỷ lệ
sử dụng chung BKT còn quá cao như Hà Nội, Quảng Ninh, Yên Bái, ĐồngNai, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ [59] Kết quả nghiên cứu trên 378học viên tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số10 tại Hà Nội cho thấy;những người nghiện ma túy qua đường tiêm chích có nguy cơ nhiễm HIV caogấp 2,77 lần so với người nghiện không tiêm chích Những người NCMTdùng lại BKT có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 1,58 lần so với những ngườicũng TCMT túy nhưng dùng BKT sạch Những người NCMT có QHTD vớiGMD nhưng không dùng BCS có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 3 lần so vớingười NCMT có QHTD với GMD dùng BCS [24]
Ở Việt Nam, sử dụng ma tuý bất hợp pháp được coi là hành vi nguy hạigây hậu quả với xã hội Những người sử dụng ma tuý bị xã hội kỳ thị lên án
Ở cộng đồng, trong gia đình của họ, những người sử dụng ma tuý thường bị
xa lánh Do vậy, người nghiện ma tuý thường ít được tiếp xúc và chia sẻnhững dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ và HIV/AIDS cũng như các can thiệp dựphòng lây nhiễm HIV [57], [59]
1.2.3 Tại thành phố Hà Nội
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước với 3vùng sinh thái: đồng bằng, trung du, miền núi, tiếp giáp 5 tỉnh là những vùngkinh tế đang trên đà phát triển và văn hoá truyền thống nổi tiếng: Thái Nguyên,Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc Với diện tích hơn 3300 km2, dân số
6533938 người, với 12 quận, 18 huyện và 1 thị xã gồm 584 xã/phường/thị trấn.Với những đặc điểm địa lý thuận lợi đang thu hút một lượng lớn khách du lịch
và đầu tư nước người vào Hà Nội Chính điều này làm cho di dân lao động tự
do từ các tỉnh đổ về Hà Nội ngày càng đông, nhu cầu về các mối quan hệ xã hộingày càng lớn kéo theo các tệ nạn ma túy, mại dâm ngày càng phát triển Đó lànguyên nhân làm cho hình thái lây nhiễm HIV diễn biến ngày càng phức tạp,khó kiểm soát tập trung chủ yếu trong nhóm NCMT và QHTD [3]
Trang 31Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại Hà Nội được phát hiện vào năm
1993, số nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS đã không ngừnggia tăng trên địa bàn thành phố trong các năm qua Đến nay, Hà Nội vẫn làmột trong 5 tỉnh có số người nhiễm HIV cao nhất toàn quốc Hình thái dịchvẫn trong giai đoạn tập trung Tỷ lệ nhiễm rất cao ở nhóm có hành vi nguy cơcao như NCMT, GMD Tính đến 30/6/2015, số trường hợp nhiễm HIV hiệncòn sống là 18081 người, trong đó có 8347 bệnh nhân AIDS và 4498 người tửvong do AIDS Số người NCMT cũng liên tục gia tăng qua các năm, đa số ở
độ tuổi trẻ Trên thực tế, hành vi sử dụng chung BKT là nguyên nhân làmtăng lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT và các giải pháp dự phòng lây nhiễmHIV trong nhóm này còn nhiều hạn chế Phân bố các trường hợp nhiễm HIVmới phát hiện theo nhóm đối tượng: trong 6 tháng đầu năm 2015 các trườnghợp nhiễm HIV mới phát hiện cao nhất vẫn là nhóm người NCMT chiếm61,9%, tiếp đến là nhóm QHTD chiếm tỷ lệ là 24,4% Su hướng thực hiện cáchành vi không an toàn là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV Kết quảgiám sát IBBS cho thấy: tỷ lệ từng dùng chung BKT trong 6 tháng qua củanhóm NCMT năm 2009 là 23,0% tăng hơn so với 2006 là 11,7%; 49,7% Namgiới TCMT từng QHTD với GMD trong vòng 12 tháng qua, 40,0% khôngdùng BCS thường xuyên khi QHTD với GMD trong 1 tháng qua Theo kết
quả dự báo tình hình dịch HIV của các chuyên gia Việt Nam và quốc tế, nếu
không có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ và tích cực thì trong thời giantới Hà Nội sẽ có thêm khoảng 2500 - 3000 trường hợp nhiễm HIV mới hàngnăm [33], [48], [49]
Trang 32Bảng 1.1 Phân bố số người nhiễm HIV theo quận/huyện
Quận/huyện Số mới phát hiện
nhiễm
Số tử vong
do HIV /AIDS
Số BN AIDS
Số người nhiễm HIV hiện còn sống đến 30/6/2015
Trang 33NCMT qua GSTĐ NCMT qua IBBS
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm nghiện chích ma túy qua kết quả giám sát trọng điểm và điều tra IBBS từ năm (2006 - 2015) tại Hà Nội
* Nguồn: theo Báo cáo Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội 2015[49].
Theo số liệu giám sát trọng điểm trong nhóm NCMT và kết quả giám sátIBBS về tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm NCMT từ năm 2006 - 2015 của Hà Nộiđều ở mức cao so với tỷ lệ nhiễm HIV chung toàn quốc Tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm NCMT cao nhất vào năm 2010 là 32% và trong 10 năm với mọibiện pháp can thiệp đã triển khai và tỷ lệ nhiễm HIV trung bình là 23,9%[48]
1.3 CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới, Methadone là loại thuốc chính được sử dụng trongphương pháp điều trị cai nghiện thay thế Tổng số người nhận dịch vụ điều trịcai nghiện các chất ma tuý dạng thuốc phiện thay thế bằng Methadone theoước tính vào khoảng hơn một nửa triệu người Con số này tiếp tục gia tăngnhanh chóng tại nhiều khu vực khác nhau Methadone đang được sử dụng đểđiều trị cai nghiện cho những người nghiện heroin tại Hoa Kỳ, Ac-hen-ti-na,
Trang 34Australia, Ca-na-đa, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, I-ran, Tân Tây Lan, xi-a, Thái Lan, cũng như một số nước khác Methadone là một loại thuốc cóthể dùng qua đường uống và hấp thụ tốt qua đường uống Thuốc có tác dụngnhanh chóng và có hiệu quả mạnh trong khoảng 2 - 4 giờ kể từ khi uống Tácdụng của thuốc kéo dài trong 24 giờ Sau 3 ngày thuốc mới có hiệu quả tối đa.Thuốc được hấp thụ qua gan và đào thải qua thận [64], [91], [92].
Ma-lay-Vào giữa thập niên 1960, Methadone đã được phát hiện là có đặc tínhđộc đáo như một loại thuốc điều trị nghiện heroin: không tăng liều theo thờigian (mặc dù căng thẳng gây ra thay đổi sinh học thần kinh có thể yêu cầutăng liều hoặc giảm theo thời gian); không tạo cảm giác hưng phấn; làm giảmcăng thẳng và sự thèm muốn; tác dụng thuốc kéo dài (24 - 36 giờ); tính antoàn tương đối cao; ít tác dụng phụ; và chi phí thấp [78], [123].Tại New Yorkđầu năm 1965, nhiều nghiên đã đánh giá hiệu quả của methadone là một loạithuốc điều trị nghiện ma túy Do nhu cầu ngày càng tăng về điều trị và bằngchứng cho thấy giá trị của methadone trong điều trị năm 1980 và đầu năm
1990, Chương trình Methadone được xem là một quốc sách và được triển khaitrong cả nước [114] Nhằm đánh giá tầm quan trọng và hiệu quả của việc điềutrị thay thế bằng Methadone, Tổ chức Y tế thế giới đã bổ sung Methadone vàodanh mục các loại thuốc thiết yếu để điều trị nghiện vào năm 2005 [16]
Mục đích của phương pháp điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiệnbằng thuốc Methadone bao gồm:
- Giảm hoặc ngừng sử dụng ma tuý bất hợp pháp và làm giảm hoạtđộng phạm tội
- Giảm hoặc ngừng việc tiêm chích ma tuý và nguy cơ lây truyền cácbệnh truyền nhiễm qua đường máu
- Giảm các nguy cơ do sử dụng quá liều
- Cải thiện tình trạng sức khoẻ và các vấn đề xã hội
Trang 35Methadone là một loại thuốc có tác dụng giống như heroin nên đượcgọi là thuốc đồng vận toàn phần Loại thuốc này có tác dụng đối nghịch sovới những loại thuốc như naltrexone vì naltrexone làm cho heroin không còn
có tác dụng nữa Cả hai loại thuốc này có tác dụng trên cùng một vùng nãogiống như đối với heroin Hội chứng cai của Methadone nhẹ hơn rất nhiều sovới hội chứng cai heroin nhưng thời gian lại kéo dài hơn Nhìn chung, cácchương trình điều trị cai nghiện thay thế bằng chất đồng vận như Methadone
và buprenorphine có tỷ lệ bệnh nhân theo chương trình cao hơn so với cácchương trình điều trị bằng phương pháp sử dụng thuốc đối kháng nhưnaltrexone Đây là một yếu tố rất quan trọng vì bệnh nhân tham gia vàochương trình càng lâu dài thì hiệu quả càng cao, khả năng thành công cànglớn Thông thường, các chương trình điều trị thay thế bằng thuốc đồng vậnMethadone cần đòi hỏi bệnh nhân phải theo chương trình lâu dài và ít nhất từ
1 năm trở lên [58], [70], [86]
Trên thế giới, có ba loại thuốc dùng để điều trị lệ thuộc heroin, đó làmethadone, buprenorphine và naloxone Methadone và buprenorphine đượccoi là những thuốc dùng để điều trị thay thế nghiện CDTP (OST) Thuốc cótác dụng loại bỏ những triệu chứng cai/cắt cơn, giảm đáng kể và loại trừ sựthèm muốn sử dụng heroin và ngăn chặn tác dụng gây "phê" khi dùng thêmheroin trên bệnh nhân đang được điều trị Tuy nhiên, để có được những tácdụng kể trên, điều quan trọng nhất là phải xác định được liều đủ dùng chobệnh nhân Liều này có thể cao hơn so với liều chỉ có tác dụng loại trừ triệuchứng cai Thời gian điều trị càng dài thì hiệu quả của OST càng rõ rệt Điềutrị bằng Methdone liên tục giúp làm giảm đáng kể tỷ lệ sử dụng heroin (trongmột số trường hợp bệnh nhân hoàn toàn ngừng sử dụng heroin); giúp bảo vệbệnh nhân khỏi nguy cơ lây nhiễm HIV qua việc giảm hành vi nguy cơ lâynhiễm và giúp giảm được nguy cơ tử vong cho bệnh nhân sử dụng heroin quáliều cũng như làm giảm hành vi phạm tội Thái Lan đưa chương trình điều trị
Trang 36nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone vào hoạt động từ năm 1979 Hiện cókhoảng 4000 - 10000 người đang được điều trị và dự kiến Buprenorphine sẽđược đưa vào sử dụng trong năm tới Thái Lan là một nước đã không quantâm mở rộng chương trình Methadone và do đó, tỉ lệ nhiễm HIV vẫn tiếp tụctăng cao trong nhóm người NCMT Theo ước tính, hiện tại Thái Lan cókhoảng 57000 người NCMT là 50% trong số đó nhiễm HIV [70], [78], [120].
Hồng Kông triển khai chương trình điều trị nghiện CDTP bằng thuốcMethadone từ năm 1972 trong nỗ lực đối phó với tình trạng tội phạm có xuhướng gia tăng Cho đến nay đã có 20 phòng khám được đưa vào hoạt độngvới hơn 9000 người bệnh đang được điều trị Buprenophine cũng được kê đơntại một số phòng khám tư nhân Việc áp dụng liệu pháp điều trị bằngMethadone đã có những ảnh hưởng đáng kể giúp làm giảm mức độ hành viphạm tội trên quốc đảo này và từ đó ngăn ngừa đại dịch HIV [87]
Điều trị thay thế CDTP bằng Methadone hoặc Buprenorphine có hiệuquả cao so với không điều trị thông qua việc giảm sử dụng heroin, giảm nguy
cơ bị giam giữ, tăng cường việc tuân thủ điều trị và tăng cơ hội việc làm Biệnpháp điều trị này cũng chứng minh được hiệu quả vượt trội so với điều trị cắtcơn hoặc tư vấn điều trị lạm dụng ma tuý về khía cạnh giảm sử dụng heroincũng như giảm hành vi phạm tội và hành vi tình dục không an toàn Cuốicùng, OST đã được chứng minh là có hiệu quả hơn về mặt tuân thủ điều trị sovới cộng đồng trị liệu, điều trị bằng naloxone và điều trị ngoại trú [70]
Nhìn chung, nghiện ma tuý đồng nghĩa với việc cơ thể dần dần thíchnghi với sử dụng ma tuý trường diễn, nên nếu một người đã nghiện mà muốncai thì cơ thể sẽ vật vã vì thiếu thuốc, hội chứng xảy ra khi cơ thể không tiếptục được tiếp nhận ma tuý và sự thích nghi với việc sử dụng ma tuý trườngdiễn khi này lại bị đảo ngược Bản chất và độ nghiêm trọng của cơn vật vãthuốc phụ thuộc vào lịch sử sử dụng ma tuý của từng người cũng như dược lýtính của loại ma tuý mà họ nghiện Trong giai đoạn cắt cơn cần phải cung cấp
Trang 37các dịch vụ can thiệp nhằm bảo đảm giúp người nghiện có thể vượt qua giaiđoạn khó khăn này một cách an toàn và ít đau đớn Điều trị cai nghiện thaythế bằng Methadone là một phương pháp điều trị khác so với điều trị cainghiện cắt cơn ở chỗ tập trung vào cả dịch vụ hỗ trợ các vấn đề về tâm lý chứkhông chỉ tập trung vào tình trạng thể chất và tập trung vào những vấn đềxung quanh việc sử dụng ma túy Điều trị cai nghiện thay thế bằngMethadone giữ được bệnh nhân theo chương trình trong thời gian dài và giúp
họ có thêm điều kiện để giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe, tâm lý,gia đình, nơi ăn chốn ở, công ăn việc làm, các vấn đề tài chính và pháp luật[58], [102], [116]
* Điều trị bằng thuốc đối kháng
Naloxone là một thuốc đối kháng cạnh tranh với các chất dạng thuốcphiện tại các Receptor của nó, làm mất tác dụng của các chất dạng thuốcphiện Naloxone có hiệu quả đối kháng với các chất dạng thuốc phiện trongvòng 24 giờ Điều trị naloxone làm giảm việc sử dụng heroin và giảm hành vitội phạm Kết quả nghiên cứu trên Thế giới cho thấy gia đình của nhữngngười nghiện ma túy rất thích được điều trị bằng naloxone bởi vì kết quảminh chứng rất rõ ràng rằng nếu người nghiện uống naloxone thì sẽ không sửdụng heroin Đồng thời khi các thành viên gia đình trực tiếp theo dõi việc sửdụng thuốc naloxone, làm cho họ quan tâm hơn đến việc điều trị cai nghiện
ma tuý của con em mình Tại Việt Nam, cũng đã thực hiện nghiên cứu thửnghiệm điều trị chống tái nghiện CDTP bằng naloxone tại Viện Sức khoẻTâm thần - Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện tâm thần Trung ương nghiêncứu về an toàn và độc tính, tác dụng hỗ trợ điều trị chống tái nghiện chất dạngthuốc phiện của naloxone Hiện nay, Chương trình điều trị bằng thuốc đốikháng naloxone được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và thu được nhữngkết quả nhất định Phương pháp này có ưu điểm là ngăn cản các tác dụng củaCDTP là một phương pháp rút ngắn thời gian thải độc làm cho bệnh nhân
Trang 38chán chất ma tuý Tuy nhiên, phương pháp này có một số nhược điểm là: làmngười bệnh lên cơn vật vã, khó chịu, táo bón, độc với gan và thận, có thể tăngnguy cơ tử vong do quá liều CDTP ở bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma tuý saukhi đã được điều trị bằng naloxone [14], [58], [120].
Methadone là một CDTP tổng hợp được phát triển trong thời kỳ chiếntranh thế giới thứ II nhằm thay thế cho morphine Đến năm 1965, Methadonđược sử dụng để điều trị lệ thuộc heroin Methadone có tác dụng dược lýtương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thầnkinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷdài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần/ngày là đủ để không xuấthiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liềukhi điều trị lâu dài [8], [12], [69]
Chương trình dùng thuốc thay thế Methadone hay Chương trình điều trị
thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trị lâu dài, cókiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng sirô nêngiúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, HBV, HCVđồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái
hoà nhập cộng đồng Methadone được chỉ định điều trị thay thế nghiện các
CDTP, là một giải pháp can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV, cónhiều ưu điểm, đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới Việc sử dụng
thuốc thay thế Methadone sẽ là một biện pháp hữu hiệu giúp người NCMT
trước hết là tự bảo vệ mình sau nữa là bảo vệ cộng đồng khỏi nguy cơ lâynhiễm HIV [81], [82], [84] Để Chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng
thuốc thay thế Methadone đạt được hiệu quả cao, hầu hết các trường hợp đòi
hỏi phải được điều trị lâu dài, thậm chí điều trị suốt đời Như vậy mục đíchcủa điều trị không chỉ là việc làm giảm hoặc dừng sử dụng ma tuý mà còn làhồi phục sức khoẻ, tái hòa nhập với xã hội và cộng đồng, đồng thời giúpngười nghiện phòng tránh được các nguy cơ do sử dụng ma tuý gây ra
Trang 39Ngày nay, nhờ sự chứng minh của các nhà khoa học, quan điểm, nhậnthức và trách nhiệm của xã hội về nghiện ma tuý đã có nhiều thay đổi Vớinhững tiến bộ của khoa học thần kinh, tâm thần, cơ chế sinh học của ngườiNCMT, những thay đổi về não bộ, hành vi của người NCMT đã được khámphá Các nhà khoa học đã thống nhất rằng nghiện chích ma tuý là một bệnhnão mãn tính, tái phát, thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi và diễn ra trongbối cảnh xã hội cụ thể Với đa số các trường hợp nghiện, các yếu tố sinh học,
di truyền, hoàn cảnh xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển củabệnh Dựa trên những nhận thức mới về nghiện, các nhà khoa học đã đưa ranhiều giải pháp phòng ngừa có hiệu quả và các liệu pháp điều trị đã đượcchứng minh có hiệu quả đối với người nghiện chích ma tuý, gia đình và cộngđồng [73], [86], [88], [119]
Phương pháp can thiệp dự phòng toàn diện không chỉ giới hạn ở cáchoạt động: truyền thông thay đổi hành vi, tiếp cận cộng đồng, cai nghiện matuý, chương trình BKT, chương trình dùng thuốc thay thế Methadone, tư vấn
và xét nghiệm HIV tự nguyện và dự phòng lây nhiễm HIV do QHTD mà cònđược lồng ghép với các dịch vụ trong hệ thống pháp luật và các dịch vụ chămsóc, điều trị HIV cho người NCMT bị nhiễm HIV Các mô hình can thiệp dựphòng HIV chủ chốt cho người NCMT bao gồm: tiếp cận cộng đồng, chươngtrình trao đổi BKT, điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện, tư vấn
và xét nghiệm HIV tự nguyện, dự phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục
Để đạt hiệu quả cao trong can thiệp dự phòng thì hầu hết các mô hình canthiệp phải triển khai một cách đồng bộ và triển khai chủ yếu ở cộng đồng [9],[10], [96] Điều trị thay thế bằng Methadone đối với xã hội Rất nhiều nghiêncứu khác nhau đều cho những kết quả thống nhất cho thấy điều trị cai nghiệnthay thế bằng Methadone cho những người nghiện heroin sẽ giảm việc sửdụng heroin, giảm tội phạm, và giảm tình trạng tử vong do sốc thuốc quá liều,cũng như giảm những hành vi nguy cơ cao dẫn đến lây nhiễm HIV Những
Trang 40người sử dụng ma tuý tham gia điều trị bằng Methadone giảm được chi phí dokhông cần phải mua heroin, không cần tiêm chích ma tuý và có thể sinh hoạtnhư những người bình thường, tham gia lao động, dành thời gian cho gia đình
và trở thành một thành viên có ích trong gia đình sau khi uống một liềuMethadone mỗi ngày [70], [72], [89], [102]
Tác động của chương trình điều trị thay thế bằng Methadone đối vớiviệc sử dụng heroin và tình hình tội phạm: kết quả các nghiên cứu chính vềkết quả của chương trình điều trị cai nghiện thay thế đã được thực hiện tạinhiều nước cho thấy, trong chương trình điều trị thay thế bằng Methadone, tỷ
lệ dùng heroin và vi phạm pháp luật trong số những người tham gia chươngtrình giảm rõ rệt Một nghiên cứu tại 3 thành phố lớn của Mỹ là New York,Philadelphia và Baltimore cho thấy, sau 6 tháng điều trị bằng Methadone,77% bệnh nhân đã ngừng sử dụng ma túy đường tĩnh mạch Sau 4,5 năm điềutrị, tỷ lệ bệnh nhân ngừng sử dụng heroin là 92,0%; tỷ lệ bệnh nhân báo cáokhông sử dụng thuốc an thần, chất kích thích là 96,0% và 83,0% bệnh nhânkhông sử dụng Cocain Nghiên cứu này cũng chỉ ra sau 6 tháng điều trị, tỷ lệbệnh nhân sử dụng ma túy vi phạm pháp luật đã giảm 79,0%; bệnh nhân thamgia điều trị Methadone trên 3 năm phạm tội ít hơn so với bệnh nhân có thờigian điều trị dưới 3 năm [76], [83]
Năm 2002, Bộ Y tế Canada đã công bố các tài liệu thực hành tốt nhấtcho dịch vụ điều trị Methadone tại Canada Khắp các tỉnh đều có dịch vụ điềutrị Methadone và đây là điều kiện lý tưởng cho các bệnh nhân điều trị dài hạn.Hội đồng điều hành của Canada về nghiện được ủy nhiệm chương trình này
để giải quyết những nhu cầu ngày càng cao về sự phụ thuộc opioid.Methadone đã được phổ biến và đưa vào điền trị cho người nghiện opioid trênkhắp Canada Điều trị duy trì bằng Methadone là điều trị hiệu quả cho sự phụthuộc opioid, đặc biệt là đối với nghiện heroin Đến cuối năm 2009, Canada