Xin chia sẻ với các đồng nghiệp Đề tài rèn kĩ năng vẽ biểu đồ cơ bản, nâng cao hướng dẫn học sinh lớp 9. Với nhiều dạng và các hình ảnh màu đi kèm, có thể bổ sung mới làm phong phú thêm tài liệu. Đây là đề tài đã hoàn thiện tải về là có thể chỉnh sửa nộp
Trang 1I/ PHẦN MỞ ĐẦU I.1/ Lý do chọn đề tài
I.1.1/ Cơ sở lý luận.
Hiện nay nhân loại chúng ta đang bước vào kỉ nguyên mới, đó chính là kỉnguyên của khoa học và công nghiệp, Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoàivòng xoáy đó Đứng trước tình hình như thế thì đòi hỏi sự nghiệp giáo dục củanước nhà cần phải có sự cải biến mạnh mẽ, cả về nội dung và phương pháp dạyhọc, để từ đó mới có thể phát huy hết các kĩ năng học tập của học sinh
Trong nghị quyết Trung ương hai khoá VIII cũng đã xác định: giáo dục - đào tạo làquốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.Phát triển giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội
Để phát huy hết các kĩ năng học tập của học sinh thì phải cần đến nhà giáo dục, đểđổi mới phương pháp, chương trình đào tạo và dạy học cho người học, để từ đómới có thể khắc phục được lối truyền thụ một chiều cho học sinh Phải rèn luyệnđược nét tư duy và sáng tạo của người học, lúc đó mới có cơ sở từng bước áp dụngcác phương pháp tiên tiến và hiện đại vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điềukiện, thời gian tự học, tự tìm tòi sáng tạo, tư duy và nghiên cứu của người học.Cùng với các bộ môn khác, Địa lí là môn học có vai trò quan trọng trong nhàtrường phổ thông Thông qua bộ môn này cung cấp cho học sinh những kiến thức
cơ bản, cần thiết về Trái Đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốcgia và quốc tế, làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởngtình cảm đúng đắn; đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hành động, ứng
xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và
xu thế của thời đại Môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức tráchnhiệm, lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con người và đất nước.Theo đó, mục tiêu của môn Địa lí chú trọng đến việc hình thành và rèn luyện chohọc sinh các năng lực cần thiết của người lao động mới
Trang 2I.1.2/ Cơ sở thực tiễn.
Hiện nay, ở các trường THCS một số giáo viên dạy địa lý mới ra trường cònrất lúng túng trong việc rèn luyện kỹ năng địa lý cho các em Đặc biệt đối với họcsinh thì việc rèn luyện kỹ năng địa lý chưa hình thành thói quen thường xuyên vàcác em còn gặp nhiều khó khăn khi rèn luyện kỹ năng biểu đồ
Từ kinh nghiệm bản thân qua nhiều năm giảng dạy địa lý và qua thực tế dự giờđồng nghiệp, kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu tôi đưa ra một số kinh nghiệm
“Rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý lớp 9” trong đề tài này Theo cá nhân tôi nhận
thấy, việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh gồm: kỹ năng đọc biểu đồ, kỹnăng vẽ biểu đồ, kỹ năng nhận xét, giải thích biểu đồ,…Từ đó sẽ giúp học sinh hiểu
và khai thác được một cách dễ dàng các bảng biểu môn địa lí
I.2/ Mục đích của đề tài :
Mục đích chính của đề tài là giúp cho việc dạy và học địa lý lớp 9 có hiệu qủa hơnqua việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ Đây là cơ sở tốt để các em học lên THPT và ratrường trở thành người lao động mới
I.3/Thời gian, địa điểm, phạm vi nghiên cứu:
I.3.1/ Thời gian: Nghiên cứu trong năm học 2013-2014
I.3.2/ Địa điểm: Trường PTDT Bán trú TH và THCS Hà Lâu
I.3.3/ Phạm vi nghiên cứu
Đề tài xây dựng trong phạm vị chương trình địa lý lớp 9 ở THCS
I.4/ Đóng góp mới về mặt lý luận thực tiễn:
Trong việc dạy học địa lý theo phương pháp dạy học tích cực hiện nay, việcrèn luyện kỹ năng địa lý cho học sinh là việc rất cần thiết không thể thiếu được chomỗi bài học, tiết học và xuyên suốt toàn bộ chương trình dạy và học địa lý ở cáccấp học đặc biệt là cấp Trung học cơ sở (THCS)
Việc rèn luyện kỹ năng địa lý tốt cho các em giúp học sinh chủ động nắm bắtkiến thức, hiểu bài sâu hơn, phát huy được trí thông minh sáng tạo và hình thànhphương pháp học tập bộ môn tốt hơn
Trang 3Kỹ năng địa lý ở THCS gồm nhiều loại như kỹ năng bản đồ, biểu đồ, kỹnăng phân tích nhận xét tranh ảnh, nhận xét giải thích bảng số liệu, kỹ năng so sánhphân tích tổng hợp….
Trang 4II/ PHẦN NỘI DUNG.
II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
II.1.1/ Cơ sở lý luận.
Để giảng dạy địa lý theo phương pháp dạy học tích cực thì việc rèn luyện kỹnăng vẽ biểu đồ cho học sinh là một việc rất quan trọng, đặc biệt đối với học sinhlớp 9 vì biểu đồ có chứa dựng nhiều nội dung kiến thức mà kênh chữ không biểuhiện hết Rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh lớp 9 giúp các em hiểu vànắm bắt kiến thức một cách có hiệu quả hơn, chủ động hơn, nhớ kiến thức lâu hơn.Bên cạnh đó, còn rèn cho học sinh khả năng tư duy logic, kỹ năng so sánh các đốitượng địa lý và rèn cho học sinh tính tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác trong việc học địa
lý, từ đó giúp các em yêu thích bộ môn hơn, say mê nghiên cứu khoa học địa lý
Việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh lớp 9 còn có khả năng bồidưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học,
tự nghiên cứu cho học sinh giúp cho bộ môn địa lý bớt khô cứng, đồng thời giúpngười thầy có điều kiện để phối hợp nhiều phương pháp dạy học và các hình thứcdạy học đa dạng, hiệu quả hơn, nâng cao khả năng tư duy và khả năng độc lập sángtạo của học sinh Dựa vào biểu đồ người thầy có thể nêu ra những vấn đề cho họcsinh suy nghĩ, nhận thức, phát triển tư duy địa lý và khai thác những nét đặc trưngquan trọng của địa lý
II.1.2/ Cơ sở thực tiễn.
Khi rèn kỹ năng biểu đồ cho học sinh tốt thì những con số, những cột,đường, miền… không còn bị khô cứng mà trở nên sống động giúp học sinh có thểphán đoán, suy xét sự phát triển hoặc không phát triển của một ngành, một lĩnh vựcđịa lý hoặc cả một nền kinh tế của một đất nước
Trang 5II.2/ CHƯƠNG II: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1/ Thực trạng khi rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh lớp 9.
II.2.1.1/ Thuận lợi.
- Đa số học các tiết học thực hành về vẽ biểu đồ, học sinh đều có hứng thú tham giahọc tập tốt, bới những giờ học này không nặng về kiến thức lý thuyết, mà chủ yếurèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hành Thông qua những bài thực hành về vẽbiểu đồ học sinh sẽ thấy được mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng địa lí đã học,thấy được xu hướng phát triển cũng như biết so sánh, phân tích đánh giá được sựphát triển của các sự vật, hiện tượng địa lý đã học Đó cũng là một biện pháp rất tốt
để các em ghi nhớ, củng cố kiến thức bài học cho mình
- Thông qua các bài tập thực hành về vẽ biểu đồ học sinh cũng có cơ hội để thểhiện khả năng của mình, các em không chỉ biết ghi nhớ, củng cố kiến thức lý thuyết
đã học mà còn biết mô hình hóa các kiến thức đó thông qua cấc bài tập biểu đồ
- Bản thân người giáo viên giảng dạy môn địa lý khi thiết kế những bài tập thựchành về vẽ biểu đồ cho học sinh cũng nhẹ nhàng hơn, bới không nặng nề về nộidung kiến thức lý thuyết mà chủ yếu đi sâu về các bước tiến hành, dẫn dắt học sinhcác thao tác để các em hoàn thành được bài tập của mình
- Thông qua các bài thực hành về vẽ biểu đồ, giáo viên có cơ hội để đánh giá vềviệc rèn luyện kỹ năng địa lí của học sinh, phát hiện ra những học sinh có kỹ năngthực hiện tốt hoặc thực hiện còn yếu để kịp thời có biện pháp điều chỉnh khắc phụcnhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn này
II.2.1.2/ Khó khăn:
- Với học sinh các trường ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn như trường PTDT Bántrú TH&THCS Hà Lâu thì việc hi kỹ năng thực hành Địa lí cho các em trong mộtbài học gặp không ít khó khăn: ví dụ với một bài tập thực hành vẽ biểu đồ có yêucầu phải xử lí số liệu, thì đa phần các em thực hiện vẫn còn chậm, mất nhiều thờigian do máy tính không có, hoặc còn ít trong một lớp học, khiến cho việc so sánh,đánh giá kết quả giữa các tổ, nhóm hoặc cá nhân với nhau còn rất hạn chế Từ đó
Trang 6cũng ảnh hưởng nhiều tới thời gian hoàn thành bài tập của học sinh, bởi thôngthường sau khi vẽ biểu đồ, học sinh còn phải nhận xét, đánh giá các sự vật, hiệntượng địa lí từ biểu đồ đã vẽ.
- Nhiều em chưa có ý thức chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập chuẩn bị cho bài thựchành như thước kẻ, bút chì, compa, hộp màu… còn coi nhẹ yêu cầu của bài thựchành nên cũng ảnh hưởng nhiều tới các bài tập về vẽ biểu đồ như: hình vẽ chưađẹp, vẽ chưa chuẩn xác
- Khi giáo viên hướng dẫn các bước tiến hành, một số học sinh vẫn chưa chịu để ý,quan tâm dẫn đến các em lúng túng khi tiến hành các thao tác: ví dụ cách xử lý sốliệu hoặc cách chọn tỷ lệ
- Thời gian một bài thực hành có 45 phút: có rất nhiều các bước cần thực hiện,nhưng quan trọng nhất là việc kiểm tra, đánh giá kết quả bài tập của học sinh Tuyvậy công việc này thường được thực hiện sau khi học sinh đã hoàn thành hết cácyêu cầu của bài tập nên giáo viên bị hạn chế rất nhiều về thời gian để sửa chữa uốnnắn cho các em, nhất là học sinh yếu
- Bên cạnh các bài tập thực hành biểu đồ trên lớp còn có rất nhiều các bài tập thựchành vẽ biểu đồ ở nhà, nếu không có biện pháp kiểm tra, đánh giá kịp thời thì nhiều
em sẽ coi nhẹ việc thực hiện các bài tập này, hoặc có những lỗi sai sót mắc phải củahọc sinh mà mà giáo viên không kịp thời phát hiện ra để giúp các em sửa chữa
- Thông qua các phương pháp quan sát, điều tra, nghiên cứu sản phẩm thực hành(kết quả các bài kiểm tra vẽ biểu đồ) của các em học sinh, còn hay mắc một số lỗisau:
+ Chia tỷ lệ chưa chính xác ( ví dụ với biểu đồ hình tròn với số liệu nhỏ 8% mà họcsinh chia tới 1/4 hình tròn là chưa hợp lí)
+ Hoặc với biểu đồ hình cột khoảng cách giữa các năm học sinh vẫn chia khôngđều: kích thước của các cột to, nhỏ khác nhau làm cho hình vẽ không đẹp Một số
em chỉ nìn qua số liệu để áng khoảng và dựng hình vẽ luôn làm cho biểu đồ đã vẽkhông đảm bảo độ chính xác
Trang 7+ Học sinh kí hiệu không rõ ràng, hoặc nhầm lẫn các kí hiệu này với kí hiệu kháccho nên yêu cầu đưa ra khi vẽ Biểu đồ là học sinh phải lập luôn bảng chú giải ngaybên cạnh hoặc phía dưới biểu đồ đã vẽ.
+ Một số học sinh khi vẽ biểu đồ cột còn có sự nhầm lẫn giữa hai trục dọc vàngang: trục dọc ghi các mốc thời gian, trục ngang lại ghi đơn vị của đối tượng đượcthể hiện Như vậy học sinh đã nhầm sang dạng biểu đồ thanh ngang (Một biến thểcủa biểu đồ hình cột)… lỗi này nếu giáo viên giảng dạy bộ môn phát hiện và sửachữa kịp thời thì lần sau học sinh sẽ không mắc phải
+ Một số học sinh thường quên ghi đơn vị, hoặc tên biểu đồ thể hiện cái gì? lỗi nàycũng làm mất đi một phần điểm của học sinh
+ Có một số bài tập sau yêu cầu học sinh sau khi vẽ biểu đồ phải rút ra nhận xét sựthay đổi của các đại lượng hoặc sự vật, hiện tượng địa lí đã vẽ, song một số em vẫnchưa coi trọng, hoặc chỉ nhận xét sơ sài thì cũng sẽ mất điểm hoặc không đượcđiểm tối đa vì thế bước nhận xét sau khi vẽ biểu đồ cũng rất quan trọng, giáo viên
bộ môn cũng cần quan tâm, hướng dẫn cho học sinh thấy được vai trò quan trọngcủa các công việc này
- Nếu người giáo viên bộ môn nào thực hiện được tốt các công việc dẫn dắt, chỉđạo các bước tiến hành cho học sinh và học sinh thực hiện tốt thì bài thực hành rèn
kỹ năng vẽ biểu đồ sẽ đạt kết quả cao
II.2.2/ Các giải pháp rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh lớp 9.
Đối với bộ môn địa lí quá trình giảng dạy đã có sử dụng phương pháp rèn kỹnăng vẽ và nhận xét biểu đồ vào các tiết dạy, nhưng tôi thấy hiệu quả chưa cao.Dựa trên cơ sở đó bản thân tôi đã có phương pháp riêng cụ thể giúp học sinh hiểusâu sắc hơn về cách vẽ biểu đồ
Bước 1: Công tác chuẩn bị:
a) Đối với giáo viên: tôi tổng hợp những vấn đề kiến thức căn bản về cách vẽ biểu
đồ thông qua nội dung các bài dạy ở địa lí lớp 9 Bản thân tôi đã sắp xếp, hệ thốngkiến thức kĩ năng qua từng mục
Trang 8b) Đối với học sinh: đưa ra các phương pháp để học sinh học tập đạt hiệu quả như:Thực hành làm bài tập trên lớp, qua các bài tập ở sgk bản thân, tôi gọi một số họcsinh đưa ra cách vẽ biểu đồ thích hợp tương ứng ở từng bài tập, đưa một số dạngbài tập yêu cầu học sinh về nhà vẽ …
Bước 2: Tiến hành khảo sát :
Tôi đã dành thời gian cho các em làm một số bài thực hành đầu năm học
2013-2014 Tôi đã khảo sát, nhận thấy kết quả chưa cao:
Tổng số học sinh: 46
* Tỉ lệ học sinh biết xác định và vẽ đúng biểu đồ: 8 em đạt 17,3%
* Tỉ lệ học sinh chưa xác định và vẽ đúng biểu đồ : 38 em đạt 82,7%
Sau khi khảo sát xong tôi lập danh sách để theo dõi sự chuyển biến của các
em, thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau như hỏi nhanh, chianhóm, tranh luận, cho bài tập về nhà làm
Tôi tiếp tục khảo sát trong nửa cuối năm học 2013-2014, học sinh đã cóchiều hướng tiến bộ hơn, đa số các em đã tiếp thu những kiến thức về kĩ năng vẽ
và nhận xét biểu đồ một cách nhanh nhẹn, hiệu quả hơn
Bước 3: Vận dụng: Cho học sinh lựa chọn, phát hiện các dạng biểu đồ.
+ Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ.
+ Đọc bảng chú giải để biết cách thể hiện nội dung của biểu đồ.
Trang 9+ Căn cứ vào bảng chú giải và nội dung thể hiện của biểu đồ để hiểu từng nội dung
của biểu đồ và mối quan hệ giữa các nội dung địa lý trên biểu đồ
- Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ :
+ Trước khi vẽ biểu đồ cần viết tên biểu đồ một cách chính xác.
+ Vẽ trục tọa độ: Trục dọc biểu thị đối tượng địa lý nào? Trục ngang biểu thị đối
tượng địa lý nào?
+ Dựa vào trục dọc và trục ngang để biểu thị các đối tượng địa lý dưới dạng đường,
cột, miền….theo yêu cầu của đề bài
+ Vẽ biểu đồ xong cần chú ý chú giải cho biểu đồ.
- Nhận xét :
+ Sự tăng (giảm) đối với biểu đồ đường.
+ Sự giảm (tăng) đối với biểu đồ cột, so sánh giữa các cột.
+ Biểu đồ tròn cần nhận xét độ lớn (nhỏ) của hình quạt, nếu biểu đồ nhiều hình
tròn thì nhận xét tăng (giảm) của đối tượng địa lý
+ Biểu đồ miền thì nhận xét theo hàng ngang, rồi đến hàng dọc.
+ Dựa vào kiến thức đã học để giải thích các yếu tố trên biểu đồ xem tại sao đối
tượng này lớn hơn đối tượng kia…
II.2.2.2/ Các bước rèn kỹ năng cụ thể của từng biểu đồ
II.2.2.2.1/ Biểu đồ cột
- Cách đọc biểu đồ :
+ Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ.
+ Đọc bảng chú giải (nếu có).
+ Đọc hiểu các đối tượng địa lý được biểu hiện trên biểu đồ.
- Cách vẽ biểu đồ: Cần lưu ý một số điểm như sau :
+ Đánh số đơn vị trên trục tung phải cách đều nhau và đầy đủ (Tránh ghi
lung tung không cách đều)
+ Vẽ đúng trình tự bài cho không được tự ý sắp xếp từ thấp đến cao hay
ngược lại Trừ khi đề bài yêu cầu sắp xếp lại
Trang 10 Không nên vạch chấm - hay vạch ngang _ từ trục tung vàođầu cột vì sẽ làm biểu đồ rườm rà, cột bị cắt thành nhiều khúc, không cótính thẩm mỹ.
Cột đầu tiên phải cách trục tung ít nhất là một đến hai dòng kẻ(Không vẽ dính như biểu đồ đồ thị)
Độ rộng (bề ngang) các cột phải đều nhau
Nên ghi số lượng trên đầu mỗi cột để dễ so sánh và nhận xét Số ghiphải rõ ràng ngay ngắn
Cách nhận xét :
- Trường hợp cột đơn (Chỉ có một yếu tố) :
+ Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu để trả lời câu hỏi tăng hay giảm
và tăng giảm bao nhiêu? Lấy số liệu năm cuối trừ đi số liệu năm đầu hay chia cũngđược
+ Xem số liệu trong khoảng trong để trả lời tiếp là tăng (hay giảm) liên tục haykhông liên tục? (Lưu ý năm nào không liên tục)
+ Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh, giai đoạn nào chậm Nếu khôngliên tục thì năm nào không còn liên tục
- Trường hợp cột đôi, ba (Có từ hai yếu tố trở nên)
+ Nhận xét từng yếu tố một : giống như trường hợp một yếu tố (cột đơn)
+ Sau đó kết luận (Có thể so sánh, hay tìm yếu tố liên quan giữa các cột)
Ví dụ :
Ví dụ 1 : Biểu đồ cột đơn:
Vẽ biểu đồ cột độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên năm 2006
Hướng dẫn :
Cách vẽ :
Vẽ trục tọa độ:
Trang 11- Trục dọc biểu thị độ che phủ (%).
- Trục ngang là các địa phương
Cột đầu tiên phải cách trục tung từ một đến hai đường kẻ
Vẽ đúng trình tự bài cho, bề ngang các cột phải bằng nhau
Ghi số lượng trên đầu các cột để dễ so sánh
Viết tên biểu đồ
Dựa vào bảng 18.1 vẽ biểu đồ hình cột và nhận xét về giá trị sản xuất công nghiệp
ở hai tiều vùng Đông Bắc và Tây Bắc
Bảng 18.1: Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ
(đơn vị tỉ đồng).
Trang 13Hình 4 :Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung du và miền núi Bắc Bộ qua các năm 1995, 2000, 2002
Nhận xét :
- Giá trị sản xuất công nghiệp ở hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc đều liên tục tăng
năm 2002
- Từ 1995 – 2002 giá trị sản xuất công nghiệp ở hai tiều vùng Đông Bắc và Tây
Bắc đều liên tục tăng 2002
- Đông bắc tăng gấp 2,17 lần so với năm 1995
- Tây Bắc tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995
+ Giá trị sản xuất công nghiệp ở tiểu vùng Đông Bắc luôn cao hơn giá trị sản xuấtcông nghiệp ở Tây Bắc
+ Năm 1995 gấp 19,3 lần
Trang 14+ Năm 2000 gấp 19,7 lần.
+ Năm 2002 gấp 20,5 lần
Ví dụ 5: Dạng đặc biệt với số phần trăm và có tổng là 100% còn gọi là cơ cột
cơ cấu hay cột chồng.
Căn cứ vào bảng số liệu dưới đây, hãy vẽ biểu đồ cột thể hiện cơ cấu giá trịsản xuất ngành chăn nuôi
Bảng 8.4 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (%)
trứng, sữa
Phụ phẩm chăn nuôi
- Trục ngang biểu thị năm
+ Bước 2: Vẽ hai cột năm 1990 và 2002 đều là 100%
+ Bước 3:Chi tỷ lệ phần trăm từng cột theo số lượng trong bảng
+ Bước 4: Ghi tên biểu đồ
+ Bước 5: Chú giải: Mỗi ngành một ký hiệu khác nhau
Biểu đồ :
Trang 15Hình 5 :Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất.
Nhận xét :
+ Cả hai năm 1990 và 2002 ngành chăn nuôi gia súc có giá trị sản xuất
lớn nhất, sau đó đến chăn nuôi gia cầm, thứ ba là sản phẩm trứng sữa, thấp nhất làphụ phẩm chăn nuôi
+ Từ năm 1990 – 2002 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi gia súc giảm 1,1%, ngànhchăn nuôi gia cầm giảm 1,8%, ngành sản phẩm trứng sữa tăng 4,4%, ngành phụphẩm chăn nuôi giảm 1,1%
II.2.2.2.2/ Biểu đồ đồ thị (còn gọi là biểu đồ đường hay đường biểu diễn)
+ Trục tung thể hiện đơn vị
+ Trục hoành biểu thị thời gian (cần chính xác cao)
Trang 16+ Đường biểu diễn là đường nối các tọa độ đã được xác định bởi trục thời gian vàtrục đơn vị (Chấm như xác định tọa độ điểm A, điểm B trong toán học nhưngkhông có chấm ngang từ trục đến điểm A hay điểm B như trong toán học).
Chú ý : Chỉ nên chấm nhẹ (Không đậm, không to quá, và trên hoặc dưới các chấm
ghi giá trị của từng năm tương ứng (ghi số)).
+ Ghi tên biểu đồ : Có thể trên hay dưới biểu đồ đều được nhưng nên ghi trên biểu
đồ để không bị quên
+ Nếu có hai đường biểu đồ trở nên, phải vẽ hai đường phân biệt (vẽ nhánh khác
nhau) và có ghi chú theo đúng thứ tự đề bài giao cho
- Cách nhận xét, giải thích :
Trường hợp biểu đồ chỉ có một đường :
+ So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu hỏi :
Đối tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm? Nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) baonhiêu? (Lấy số liệu năm cuối trừ đi số liệu năm đầu hay chia xem gấp bao nhiêu lầncũng được)
+ Xem đường biểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không liên tục (năm nào
không liên tục) Nếu liên tục thì giai đoạn nào tăng nhanh, giai đoạn nào tăng chậm.Nếu không liên tục thì năm nào không còn liên tục
Trường hợp có hai đường trở lên :
+Ta nhận xét từng đường một giống như trên theo đúng thứ tự trong bảng số liệu
cho: Đường A trước, rồi đến đường B, rồi đường C và đường D
+ Sau đó chúng ta tiến hành so sánh, tìm mối liên hệ giữa các đường biểu diến.
Ví dụ :
Ví dụ một: Loại biểu đồ đồ thị đơn
Vẽ đồ thị biểu hiện sự tăng trưởng diện tích lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long (đơn vị : triệu ha).
Trang 17- Trục dọc biểu thị triệu ha.
- Trục ngang biểu thị số năm
- Chú ý: Lấy năm 1990 trùng với trục tung
Trang 18+ Diện tích trồng lúa của Đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL) tăng
liên tục từ năm 1990 đến 2002 tăng 1,25 triệu ha
Ví dụ hai : Loại biểu đồ 4 đường
Cho bảng số liệu: Bảng 10.2 : Số lượng gia súc, gia cầm
a) Vẽ biểu đồ thể hiện chỉ số tăng trưởng của đàn gia súc, gia cầm qua các năm trên
Trang 19Theo ta đó ta tính được bảng số liệu đã được xử lý như sau (đơn vị %) :
- Trục tung (biểu thị số phần trăm) có vạch trị số lớn nhất trong số liệu (182,6%)
- Gốc tọa độ thường lấy 0, nhưng có thể lấy một trị số phù hợp nhỏ hơn hoặc bằng100
- Trục hoành ghi rõ năm: gốc tọa độ trùng với năm gốc (năm 1990 )
- Vẽ đồ thị: Mỗi đường vẽ một ký hiệu riêng
- Chú giải: Trình bày riêng thành bảng chú giải hoặc ghi trực tiếp vàocuối các đường biểu diễn
+ Bước 3 Viết tên biểu đồ
+ Bước 4: Lập bảng chú giải
Biểu đồ :