1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SINH HỌAT VĂN HÓA DÂN GIAN XÃ NHƠN HẢI HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN

11 715 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 214,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung người dân xã Nhơn Hải tần tảo làm ăn, tuy cuộc sống chưa thực sự giàu có nhưng trong xã số hộ khá giả chiếm số đông, chỉ còn 3% số hộ nghèo được nhận trợ cấp của chính quyền d

Trang 1

SINH HỌAT VĂN HÓA DÂN GIAN XÃ NHƠN HẢI HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

1 Nhơn Hải - đất và người

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức đặt tên cho các địa danh từ Thuận Hoá trở vào Vùng đất thuộc dinh Bình Thuận, đạo Phan Rang được lập ra, qua hơn 300 năm lịch sử với nhiều lần tách - nhập, đến sau Cách mạng tháng Tám, xã Nhơn Hải trở thành một đơn vị hành chính thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

Nhơn Hải là một xã ven biển nằm cách thị xã Phan Rang 20km, cách trung tâm huyện Ninh Hải 11km Xã có 7 thôn là Mỹ Tường 1, Mỹ Tường 2, Khánh Nhơn 1, Khánh Nhơn 2, Mỹ Phong, Mỹ Tân, Mỹ Hiệp Là xã ven biển nên diện tích đất nông nghiệp chỉ

có 1025 ha trên tổng diện tích 3750 ha toàn xã Diện tích đất đó lại chủ yếu là loại đất pha cát nên không thích hợp trồng lúa, chủ yếu trồng hành tỏi, thuốc lá, ớt, bông v.v là những cây màu quen chịu hạn, không đòi hỏi nguồn nước tưới vốn hiếm hoi trên vùng Ninh Thuận với đặc thù nóng hạn Diện tích đồng muối khoảng 31 ha (gần 100 hộ dân làm nghề này), trừ diện tích đất ở trong xã, còn lại là những cánh đồng cỏ và diện tích mặt đầm (Đầm Vua), núi đồi v.v phục vụ chăn nuôi gia súc như bò, cừu, dê và chăn nuôi gia cầm; trại nuôi tôm giống, tôm thịt Nghề đánh bắt hải sản khá phát triển với đội tàu chủ yếu từ 10-90CV, trong đó có 5 chiếc công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ từ 90-150CV đã đưa hoạt động ngư nghiệp trở thành mũi nhọn kinh tế, đóng góp 20-25% tổng nguồn thu/năm của xã Nghề chế biến hải sản tương đối phát triển, nhiều hộ dân mở lò hấp cá khô xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Đài Loan Nhiều hộ làm nước nắm, phơi mực v.v cũng cho thu nhập khá

Ngoài lực lượng làm nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, còn có một số ít người gắn bó cuộc sống với lâm nghiệp, sống bằng nghề trồng rừng, khai thác sản phẩm núi rừng như kiếm củi, mật ong v.v và khai thác đá Một bộ phận dân cư nữa làm các nghề buôn bán nhỏ, phu hồ, thợ thủ công - mà có tiếng hơn cả là nghề đan võng bằng sợi dứa được khách hàng ưa chuộng một thời (nay vẫn còn nhưng không phát triển vì sự cạnh tranh của các loại võng dệt bằng chất liệu mới, giá rẻ từ thành phố nhập về) Nhìn chung người dân xã Nhơn Hải tần tảo làm ăn, tuy cuộc sống chưa thực sự giàu có nhưng trong xã số hộ khá giả chiếm số đông, chỉ còn 3% số hộ nghèo (được nhận trợ cấp của chính quyền) do hoàn cảnh gia đình neo người (mẹ goá, con côi) hoặc bị bệnh tật kinh niên (tâm thần) không đủ sức khoẻ lao động Xã có 1 trường THCS, 3 trường tiểu học, 1 nhà mẫu giáo, có một lớp học mở buổi tối chống tái mù chữ cho lớp người trung niên, cao tuổi ở địa phương là lực lượng không được đến trường trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Trạm y tế xã và hội đông y liên kết trở thành lực lượng đông tây y kết hợp chăm sóc sức khoẻ toàn dân

Xã Nhơn Hải nằm ở phía đông của huyện, cũng là xã nằm sát ven biển, với Hòn Rồ, Hòn

Đỏ, Hòn Chông; sau lưng phía tây là CK 19 với các ngọn núi bao quanh như núi Ông Kinh, Ông Thuẫn, Ông Câu, Ông Chống, Bà Chèo , phía nam giáp xã Tri Hải, phía bắc giáp xã Vĩnh Hải Nhơn Hải là xã có núi, có đồng, có ruộng muối, mặt nước rất đa

Trang 2

dạng, đó là tiền đề cho người dân nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển trong quá trình thích nghi, chinh phục, khai thác tự nhiên phục vụ cuộc sống con người Xóm làng trù mật của 3.380 hộ dân với 16.907 nhân khẩu (số liệu thống kê năm 1998), chỉ có 3 hộ gia đình người Hoa làm nghề buôn bán nhỏ nên có thể nói Nhơn Hải là xã khá điển hình cho văn hóa làng Việt ven biển Nam Trung Bộ Nguồn gốc dân cư khá thuần nhất, tuy chưa tìm được những văn bản ghi chính xác thành phần cư dân của xã nhưng gốc gác lâu đời

từ vùng Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên theo đường biển đến định cư lâu đời vẫn được nhân dân khẳng định đinh ninh Truyền ngôn về vùng đất này thủ thỉ với ta rằng vào một ngày đẹp trời, sóng nước êm ả, trên ghe kia có 9 người - hay 9 gia đình từ vùng ngoài cặp

vô bến Hòn Đỏ Họ cất lán dựng trại rồi từ đó, xóm làng dần trù phú sinh sôi Cái trại bé nhỏ khiêm nhường ấy được người xưa đặt tên là Cửu hữu - tức là chín người (gia đình) là bạn bè, bằng hữu để cùng khai phá vùng đất mới trên tinh thần tương thân tương ái Những vị này về sau được con cháu tôn làm thành hoàng bổn cảnh, thờ phụng tại đình làng Ngày nay, địa danh Xóm Trại thuộc thôn Mỹ Hiệp được nhân dân cho biết đó là dấu vết của cái trại xưa kia

Xã Nhơn Hải có 7 ngôi chùa, nổi tiếng hơn cả chùa Thiên Tràng toạ lạc trên Núi Một Hai ngôi đình trong xã là Khánh Nhơn và Mỹ Tường đều có tiếng trong vùng Đình Khánh Nhơn thờ thành hoàng bổn cảnh Trước kia đình có sắc phong nhưng nay đã bị mất hoàn toàn Cùng nằm trong cụm di tích đình Khánh Nhơn còn có miếu lăng Bà, nhà thờ Tổ sư tiên sư, nhà đòn đám Thông thường miếu lăng Bà là nơi thờ bà Ngũ Hành nương nương, bà Thiên Hậu, Bà Thuỷ song ở đây đối tượng thờ phụng lại là Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị - Hai Bà Trưng ngự trên khám chính giữa lăng Hai bên khám chính là ban thờ tả hữu bộ hạ Về miếu lăng Bà ở cụm di tích đình Khánh Nhơn, hiện nay chưa có manh mối tư liệu để khẳng định hoặc phác dựng ra con đường tín ngưỡng thờ phụng Hai

Bà Trưng vì lý do gì mà lại xuất hiện ở vùng đất đầy nắng gió Ninh Thuận Chắc đây chỉ

là lớp văn hóa muộn được chồng lấp lên những lớp văn hóa có từ trước?(1) Chỉ biết rằng dạng kiến trúc đình cùng nằm trong khuôn viên với miếu, chứng tỏ đình được dựng sau khi đã có miếu thờ, bởi lẽ: “việc xây dựng đình trên phần đất của miếu chứng tỏ khi dựng miếu các vị tiền bối đã chọn kỹ và thuật “Phong, thuỷ” luôn được áp dụng triệt để trong xây cất Muốn làng yên ổn, sung túc, thì đình phải được xây dựng trên đất ấy”(2) Trong tổng số 48 ngôi đình ở toàn tỉnh Ninh Thuận, Khánh Nhơn là ngôi đình có phần kiến trúc đầy đủ các hạng mục của ngôi đình tiêu biểu Toà chánh điện phát triển theo trục dọc bao gồm: Nhà võ ca, tiền đường/tế, nhà ghè (ống muống), nhà hậu tẩm

Đình Mỹ Tường còn có tên là đình Cổ Hữu, là ngôi đình thứ hai trong xã, được người dân đồng nghĩa với ngôi miếu thờ “Thổ công, hà bá” từ những ngày đầu khi các vị tiền bối đặt chân lên mảnh đất này Năm tháng qua đi, từ tranh tre nứa lá, bàn tay con người tạo dựng khiến ngôi đình ngày càng to đẹp hơn Năm 1820 - Minh Mạng nguyên niên, đình được sắc phong Hạ đẳng chi thần Năm 1888-Thành Thái thứ nhất, được sắc phong Trung đẳng chi thần Năm 1916 - Khải Định thứ nhất, được sắc phong Thượng đẳng chi thần(3) Trong vòng gần 100 năm, đình Mỹ Tường được nhà nước phong kiến sắc phong ba lần cho vị thần thành hoàng làng, đình được trùng tu nhiều lần nên ngày càng to đẹp, như câu ca:

Thùng thình, thùng thình như ngôi đình Cổ Hữu.

Trang 3

Đến năm 1946, khi giặc Pháp chiếm đóng Mỹ Tường, chúng đã san phẳng ngôi đình lịch sử này Mãi đến năm 1960, mặc dù đất nước vẫn còn chiến tranh chia cắt, nhân dân Mỹ Tường đã cùng nhau góp của góp công, phục dựng lại ngôi đình trên nền cũ Cho

dù không đồ sộ, uy nghi như trước kia nhưng đó là nơi để bà con có thể hương khói thờ phụng chư vị thánh thần và những người con trung hiếu của quê hương đã vì mảnh đất

mà hy sinh Cho đến nay, nhất là thời điểm từ năm 2000, sau khi đình Mỹ Tường tổ chức

lễ khánh thành và ca diên, diện mạo một ngôi đình đã tương đối hoàn thiện nhờ tấm lòng hướng về cội nguồn của nhân dân trong và ngoài xã thì những lễ nghi tập tục kính nhớ tổ tiên, thành hoàng bản thổ - là lực lượng thiêng phù trợ cuộc sống nhân dân, bắt đầu đi vào nề nếp và trở thành nét văn hóa tâm linh không thể thiếu trong các kỳ tế lễ

Cũng giống như bao làng chài khác, xã Nhơn Hải có lăng thờ cá voi - cá ông ở làng

Mỹ Hiệp và Mỹ Tân Lăng ông Nam Hải ở Mỹ Tân nằm sát biển, xây vào năm 1932 - thời điểm ông lụy vào địa phận của làng Bộ ngọc cốt của ông hiện nay vẫn trang trọng cất giữ ở nơi tôn nghiêm nhất của lăng Lễ cầu ngư ở Mỹ Tân được tổ chức 3 năm một lần, trở thành địa chỉ văn hóa của ngành văn hóa thông tin tỉnh Ninh Thuận

Tuy là làng Việt nhưng trên địa phận xã Nhơn Hải còn có những di tích thuộc văn hóa người Chăm Khu mộ Chăm ở Gò Sạn trên đường 702 và lăng ông Đỏ ở thôn Mỹ Tường 1 Năm 1983 di tích Hòn Đỏ được khai quật lần đầu, năm 2000 được khai quật lại

Di tích Hòn Đỏ là nơi thờ hoàng hậu Bia Sôi của người Chăm Hằng năm vào khoảng tháng 4 dương lịch, người Chăm thường đến lăng ông Đỏ làm lễ, sau đó làm lễ cầu đảo tại Hòn Đỏ Trong cụm di tích Hòn Đỏ còn có giếng cổ Chăm và những di vật bôn đá, mộ chum, mảnh gốm Sa Huỳnh và những tô, chén, bình tráng men Trung Quốc đã bị vỡ vụn mà niên đại phổ biến ở thế kỷ X - XIII Di tích Hòn Đỏ được các nhà khảo cổ kết luận là nơi dừng chân để lấy nước ngọt cho các tàu buôn Trung Quốc(4) trên đường

2 Vài nét về sinh hoạt văn hóa dân gian xã Nhơn Hải

Cũng như nhiều làng xã thuộc các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ khác, lịch sử hình thành vùng đất Nhơn Hải, cho đến nay vẫn chưa tìm được tài liệu ghi chính xác và đầy đủ những điều mà hậu thế muốn biết về các vị tiền nhân Do tình hình thiếu vắng của tư liệu nên phương pháp phổ biến nhất vẫn là sự liên hệ tuyến tính theo thời gian (lịch đại) kết hợp những hiện tượng, di tích đang hiện hữu (văn hóa vật thể và phi vật thể - theo lát cắt đồng đại) để đối chiếu, so sánh để rồi nghĩ suy, phỏng đoán, phác dựng chân dung cuộc sống thời xưa

Mấy trăm năm sinh tồn trên vùng đất Nhơn Hải, ngư dân xã Nhơn Hải đã tiếp nối truyền thống tâm linh của dân cư vùng biển là tín ngưỡng thờ cúng cá ông Thờ cúng cá ông với ước mong mùa cá bội thu, công việc lao động ngoài biển khơi gặp trời yên biển lặng Vả chăng, nếu sóng gió bất thường thì cũng được cá ông giải cứu Do vậy, những lễ nghi, kiêng kỵ dành cho cuộc tế lễ cá ông bao giờ cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt sự thành kính, trang nghiêm Ban quản lý lạch - tương đương với các vạn chài - chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội Thông thường các ngư dân đánh cá theo mùa, theo con nước Đánh

cá dài ngày thì bắt đầu rời bến từ 16 âm lịch, đến tận 11-12 tháng sau mới về Đánh lưới

Trang 4

đăng thì có thể đánh bắt quanh năm Người ta còn đánh lưới mấu, lưới rải, lưới gai hay câu tuỳ theo từng tháng trong năm Mỗi tháng có một ngày kỵ đi biển riêng mà các ngư dân cần tuân thủ để đảm bảo an toàn tính mạng cho bản thân và cộng đồng toàn lạch Khi

ra khơi, gặp thời tiết xấu, các ngư dân cần hết sức đề phòng trường hợp bão tố nổi lên, bởi lúc đó, giữa bao la mây nước, tai hoạ có thể giáng xuống bất cứ lúc nào Trường hợp ghe, thuyền bị chìm, các ngư phủ phải cởi bỏ áo quần (tránh ô uế cho cá ông) với mong muốn sẽ được ông đến giải cứu Họ tâm niệm rằng ông luôn là thần hộ mạng, sẽ cứu họ trong thời khắc gian nguy nhất - đó cũng là sứ mạng cao cả của ông - bởi lẽ nếu ông không cứu được người thì ông phải chịu chết - tức là lụy - để sau đó oai linh ông sẽ tiếp tục phò trợ cứu giúp cho dân Người ta truyền nhau câu chuyện cứu người bị nạn bằng cách ông bơi trước bão tố, người bị nạn sẽ được ông cuốn theo luồng nước phía sau ông

mà cập bờ an toàn

Đối với ngư dân, ông Nam Hải, và Bà Thuỷ là phạm trù cặp đôi Trong lễ hội tế ông Nam Hải cầu ngư (thôn Mỹ Tân) nghi lễ rước kiệu buông vải đỏ nghinh Bà Thuỷ về lăng ông là thủ tục trang trọng không thể thiếu, và người ta tin rằng, chỉ khi các thủ tục được diễn ra trọn vẹn thì ước nguyện của ban lạch mới thành sự thực - tức là năm đó sẽ có mùa

cá bội thu Trong lễ hội cầu ngư còn có múa hát bả trạo góp phần tạo không khí linh thiêng mà vui nhộn giải trí cho người dân Chỉ có điều đội bả trạo này được mời từ địa phương khác đến

Tổ chức hành chính trước Cách mạng tháng Tám vẫn còn có những chức Tiên chỉ, chánh ban, phó ban, ban lý hương (ngũ hương), trưởng ấp làm các công việc hành chính trong làng xã theo lệnh cấp trên ban xuống như thu thuế, bắt lính, phạt vạ hay cùng dân đứng ra tổ chức cúng tế, lễ hội trong làng dịp xuân, thu tại đình, miếu, lăng, chùa v.v

Việc cưới xin trong làng cũng tựa như bao làng Việt khác là bao gồm các thủ tục như dạm ngõ, ăn hỏi, đám cưới Vai trò người mai mối rất quan trọng vì họ là đường dây thông tin giữa hai đàng trai và gái Từ lúc tổ chức đám hỏi đến đám cưới phải mất thời gian 3 năm Trong thời gian này, chàng rể tương lai phải ở nhà vợ (về hình thức thôi), anh ta ra vào nhà bố mẹ vợ tương lai tự nhiên như con cháu trong nhà, chỉ có điều tuyệt đối không được đi qua, đi lại bằng cửa chính Chẳng may chàng rể tương lai trót vi phạm quy định này thì anh ta phải chịu nộp phạt 3 quan tiền Trong thời gian chờ được chấp nhận tổ chức đám cưới, anh này phải đi sêu bằng các loại hoa quả đầu mùa, ngày tết phải biếu cha mẹ người yêu cái nọng heo để tỏ lòng kính trọng họ Qua thời hạn 3 năm, nếu chàng trai được bố mẹ bên nhà gái ưng thuận thì đám cưới sẽ diễn ra Đồ dẫn cưới đem đến cho nhà gái thường là đôi bông, cặp áo v.v Tới lúc này hai họ và bà con xóm giềng đều vui vẻ mừng đôi tân hôn và gia đình thông gia vì họ đã tìm chọn được chàng rể hiền, dâu thảo

Trường hợp trong thời gian thử thách 3 năm, nếu chàng trai không đáp ứng những tiêu chuẩn do nhà gái đề ra hoặc ngược lại người con trai không còn ưng cô gái mình sẽ lấy làm vợ nữa thì phải làm lễ phạt duyên Trường hợp chàng trai không ưng cô gái thì anh ta tuyên bố cắt đứt quá trình thử thách tại nhà gái, hai họ gặp gỡ bàn bạc chuyện phạt duyên Trường hợp cô gái không ưng chàng trai thì nhà gái bị phạt duyên rất nặng Toàn

Trang 5

bộ chi phí từ lúc ông mai đánh tiếng đến thời điểm diễn ra lễ phạt duyên nhà gái phải chi trả và thêm một phần tiền lớn nữa, thường gấp hai lần trở lên Nhưng dù sao, nếu lễ phạt duyên xảy ra thì sau đó cô gái rất khó lấy chồng

Trong trường hợp một trong hai người chết hoặc bị bệnh v.v thì không phải làm lễ phạt duyên và đám cưới coi như bị huỷ bỏ Nhà gái không chịu khoản bồi hoàn nào cho nhà trai

Việc tang trong xã cũng diễn ra trong niềm tiếc thương vô hạn của thân nhân và làng xóm đối với người đã khuất ở đây, khi trút hơi thở cuối cùng để trở về với tổ tiên, gia đình đặt người chết nằm quay đầu hướng ra cửa Sau đó, người chết được tắm rửa nước lá thơm rồi liệm theo giờ đã chọn Khái niệm trở về đất mẹ - thổ táng là hình thức tang ma điển hình của người Việt và ở đây nhân dân cũng tuân thủ theo Sau khi đặt người chết vào quan tài, người ta thường lấy cát sạch, sành đãi thật kỹ, cho vào quan tài rồi chèn quần áo người quá cố xung quanh cho chắc Một số gia đình giàu có thì cầu kỳ hơn, họ mua vải trắng, may thành từng túi nhỏ, đổ cát vào trong rồi chèn lên người chết Quan tài đặt ở gian chính giữa nhà, hương khói nghi ngút, bà con xóm giềng đến phúng viếng chia buồn Khi đưa đám, quan tài đi qua cửa chính nhà rồi xé rào ra đường chứ không được phép đi qua cổng nhà Trên đường ra nghĩa địa, đoàn đưa tang phải tránh hướng chính của đình, miếu, chùa Dẫn đầu đám tang là hai người đốt đuốc, tiếp theo là người đi rắc tiền vàng, người đánh trống, đoàn cờ tam giác đủ màu (vàng, xanh, đỏ, trắng, đen - cờ ngũ phương), đội múa Náp, rồi đến xe tang và tang quyến Sau lễ chôn 3 ngày, bao giờ người ta cũng làm lễ mở cửa mả gồm có trái cây, một cây mía để nguyên

cả lá, tiền vàng hoá mã và một con gà con Sau lễ cúng người ta thả gà đi Sau 7 ngày thì làm lễ cúng tuần, rồi cúng 49 ngày, 100 ngày, cúng giỗ đầu, cúng 24 tháng Sau đó trở đi thì đến ngày kỵ, làm giỗ như bình thường Trong vòng 3 năm, tang quyến không được cắt tóc, không được to tiếng, đánh lộn, không được làm nhà mới Đám tang ở đây không tiến hành cải táng, sau 24 tháng thì làm lễ giải phục - mang đồ tang ra mộ đốt đi, lễ này phải

do ông thầy cúng làm hộ

Tuy là một xã không lớn lắm trong tỉnh Ninh Thuận, nhưng Nhơn Hải lại là xã có nhiều làng còn lưu giữ những tục lệ, nghi lễ tiêu biểu cho đời sống tinh thần và tín

ngưỡng mang đậm tính chất làng Việt ven biển Hiện nay, văn hóa làng vẫn còn đan xen nhiều tập tục cũ và mới trong các ứng xử thường nhật Thật khó khăn nếu cấm đoán người dân không được nhờ người mai mối trong đám cưới, hoặc bắt buộc người con trai phải đủ 3 năm ở rể thì mới cho lấy vợ hoặc không được cúng đầu thuyền mỗi khi ra khơi vào lộng v.v Rõ ràng văn hóa làng đã có những đổi thay khiến con người thích nghi với

nó một cách tự nhiên tương ứng Song le, những vốn văn hóa của xã Nhơn Hải được nhiều người biết đến đó chính là hình thức hát Chọc gái và múa Náp mà chúng tôi muốn

đề cập sâu hơn bởi lẽ cả tỉnh Ninh Thuận, đến thời điểm hiện nay mới tìm được duy nhất

ở Nhơn Hải mà thôi

3 Múa Náp

Múa Náp còn gọi là múa siêu được múa ở đình trong kỳ lễ hội Múa Náp tại nhà trong các đám hiếu được gọi là múa lang Múa Náp ở Nhơn Hải có từ bao giờ không ai

Trang 6

còn nhớ, chỉ biết cụ già ngoài 80 tuổi đều nói rằng đã thấy có từ khi họ còn bé Múa Náp biên chế theo đội gồm toàn giai đinh độ tuổi thanh niên từ 15 đến 30 Múa Náp phải tuân thủ theo lệ cổ truyền lại Đội múa Náp muốn đi biểu diễn phải làm các thủ tục cúng tổ sư tại nhà ông thủ chỉ Thủ chỉ là người đứng đầu đội múa Náp, chăm lo rèn cặp và trông nom ban thờ tổ sư Do ban thờ tổ sư di chuyển theo chức danh thủ chỉ nên khám thờ gỗ tương đối đơn sơ Lễ cúng tổ sư, tiên sư nghề múa Náp tổ chức vào ngày 29 tháng 3 âm lịch hằng năm Vào ngày này tất cả thành viên trong đội múa Náp đều phải tề tựu tại nhà thủ chỉ để lễ vái Trong năm, vào ngày lễ hội trong làng hay có đám hiếu, trước khi múa Náp, toàn đội phải làm lễ trước ban thờ tổ sư tiên sư, đồ dâng cúng có trà, rượu, nước, có khi cả hoa quả theo mùa Chức thủ chỉ do tập thể đội múa Náp bình bầu theo phiên chế 5 năm một lần Người được vinh dự làm thủ chỉ có thể trực tiếp tham gia múa Náp cùng toàn đội trong vai trò người nắm lệnh - là nhân vật quan trọng điều khiển gần như toàn bộ nội dung của diễn trình múa Tuy nhiên thủ chỉ cũng không cần thiết đảm đương vai trò này mà có thể giao cho thành viên khác trong đội thay thế Biên chế đội múa Náp thường khoảng hơn chục người Khi biểu diễn theo đội hình số chẵn, thường 8 người chia làm hai hàng Người múa Náp đầu chít khăn đội mũ, mặc quần áo rộng, lưng cuốn đai, nai nịt gọn gàng, chân cuốn sà cạp, đi giày vải bó chân Đạo cụ múa Náp là đoạn Náp dài khoảng 100 cm Phần lưỡi rộng khoảng 10cm, dài chừng 40cm, còn lại là phần cán tròn đường kính vừa một chét tay Cái Náp làm bằng gỗ có hình thức tựa chiếc đao nhưng cán ngắn hơn một chút Múa Náp có chừng 20 bài là: Bái tổ, ba thoi, đá đầu, tỳ trên, tỳ dưới, nhảy ngựa, tạ hàng ngang, tạ hàng xuôi, miếng sấn, miếng đổi, đánh cán, đánh lưỡi, miếng tiếp, tứ trụ, sĩ vàng, vàng thủ công, trụ bụng, trụ rún (rốn), sắp mặt, sắp lưng, ra lưng, nhảy trái là những động tác múa được gọi nôm na dân dã cho dễ nhớ, dễ thuộc Chắc rằng ở Bình Thuận - nơi cũng có múa Náp thì tên gọi của những miếng - bài múa không như trên

Múa Náp biểu diễn các động tác múa nhanh, gọn, chắc, dứt khoát mà gợi sự dẻo dai bền bỉ Có lẽ những thế võ này được cha ông truyền lại từ vùng đất Bình Định nổi tiếng với truyền thống võ Tây Sơn Phải chăng đây chính là hình ảnh người dân mở đất dũng cảm đương đầu với thiên nhiên hoang sơ ở miền quê mới, khi nạn giặc dã và thú dữ luôn cận kề đe doạ đời sống của họ? Sức khoẻ, sự mưu trí gan dạ chắc chắn phải trở thành một phẩm chất của người dân khi khai phá vùng đất mới Có lẽ những bài múa Náp chính là

sự kết hợp giữa nhu cầu rèn luyện sức khoẻ và nhu cầu giải trí văn nghệ xen lẫn nhu cầu tâm linh Trong kỳ lễ hội làng, múa Náp bao giờ cũng được thực hiện ở đình trước khi tế

lễ Trong kỳ tang ma, sự xuất hiện của đội múa Náp có ý nghĩa tiễn đưa người quá cố một cách trang trọng Triết lý sinh ly tử biệt ở thời điểm đánh dấu sự cắt chia giữa những người trong gia đình với người thân mất đi trong niềm tiếc nuối được đội múa Náp - bằng hành động múa - đã khơi gợi và an ủi cả gia đình và cộng đồng làng xã Múa Náp thực hiện lúc nhập quan, múa tiễn đưa vào sáng, trưa, tối, múa tiễn ra đồng và múa khi hạ huyệt Hoạt động của đội múa Náp gần như phi kinh tế, các thành viên trong đội, từ xưa đến nay, không bao giờ đòi hỏi thù lao của gia chủ (trong dịp đám tang) hay của làng (trong dịp lễ hội) Họ coi việc biểu diễn múa Náp trước toàn thể cộng đồng là niềm vinh

dự, tự hào của mỗi thành viên trong đội Bởi lẽ bản thân họ vốn là những người nông dân, ngư dân hằng ngày lam lũ trên đồng ruộng hoặc ngoài xa khơi Họ cũng bình thường như bao người trong làng, nhưng khi được tham gia múa Náp, dường như những cá nhân nhỏ

bé đó đã lớn lên, đã thức dậy trong tâm khảm điều cao cả, thiêng liêng nào đó, khi họ biết

Trang 7

rằng, mình đang thực hiện một hành động có tính nối dòng văn hóa truyền thống từ thời ông cha để lại Cần nói thêm rằng, khi đất nước còn nạn giặc dã, chính những bài múa Náp đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của quân và dân của xã Nhơn Hải Thậm chí, một thời gian múa Náp bị giặc cấm đoán, nhưng hình thức luyện quân này vẫn đều đặn được duy trì một cách bí mật qua các thế hệ

4 Hát Chọc gái

Hát Chọc gái - theo truyền tụng đã có từ khi mới lập làng Khởi đầu khi nghe thấy tiếng thậm thịch giã gạo, xay lúa vào ban đêm của các cô gái, các chàng trai đến tuổi cập

kê bèn rủ nhau tìm đến đánh tiếng Lời đối lời, giọng đối giọng, người hát với người nghe đồng cảm, đồng lòng hơn Tối qua, sáng lại, lực lượng tham gia hò hát đối đáp trong đêm giã gạo dần bổ sung tăng thêm về số lượng, họ tập trung thành từng nhóm, hát hò thủng đêm tới sáng mới thôi

Hát Chọc gái ngày càng trở nên hấp dẫn và trở thành nhu cầu văn hóa trong đời sống tinh thần nam nữ thanh niên thời xưa Chính điều đó đã làm nội dung những cuộc hát Chọc gái ngày càng phong phú Khi hát, người trong cuộc thường lấy các tích như Kiều Nguyệt Nga, Hạ Nam đàn, Lục Vân Tiên, Thoại Khanh Châu Tuấn, Ngũ Bình Tây để khép, mở, dãi bày tâm trạng với bạn tình Thường thì những người tham gia cuộc hát phải có độ tuổi cập kê 15 trở lên Đàn ông có vợ, gái goá có chồng cũng được nhập cuộc hát Còn những cô gái đã có chồng tuyệt đối không được tham gia - đó là quy ước của tất cả các cuộc hát Chọc gái

Theo lời những vị cao niên, các cuộc hát Chọc gái thường diễn ra theo các chặng (còn gọi là màn): Chào hỏi, chọc gái, tâm tình Những đêm hát ngày xưa ấy không chỉ đơn thuần là sinh hoạt văn hóa mà nhiều đôi nam thanh nữ tú đã nên vợ nên chồng, để hôm nay, trên sân hát, với sự góp mặt của họ (đã ở tuổi thất thập cổ lai hy) là điều minh chứng cho sinh hoạt hát Chọc gái - một nét văn hóa riêng chỉ thấy có ở thôn Mỹ Tường 2 Hiện nay, theo định kỳ hằng tháng, cứ đến tối hôm rằm, các cụ lại gặp nhau để sinh hoạt

ca hát, còn lực lượng thanh niên thì dự thính để học hỏi với hy vọng sẽ thay thế vị trí của các cụ trong một ngày không xa

Trở lại sân hát diễn ra tại nhà ông Phạm Ngọc Sang (5), khi vào cuộc chia thành hai bên nam, nữ riêng biệt Một người đại diện bên nam cất lời trước, thường mở đầu là: ơ xin mời mấy bạn hò lên Câu hát gợi vừa dứt thì tất cả bên nam cùng đế theo: hò ơ ớ ơ hờ, rồi đại diện bên nam lại tiếp tục hát Lời ca thường là câu thơ hoặc đoạn thơ ở thể thơ lục bát hay lục bát biến thể Sau khi người đại diện hát hết một ý thì tất cả tốp lại trào lên lời hát đế: ơ ơ hờ Đến lượt bên nữ hát đáp lại và câu mở đầu thường là: Cô phèng mời các chị hò lên Câu hát kết thúc liền được phái nữ đế theo: ơ ơ hờ Kết thúc một ý đối lại lời hát bên nam cũng là tiếng đế ơ ơ hờ của chị em Cứ như vậy, mở đầu bên nam hát, tiếp theo bên nữ và qua màn chào hỏi, cuộc hát như nồng say hơn qua những câu hát tâm tình Bên nam hát, bên nữ nghe ngóng chú ý tìm đúng ý, tứ để đối lại Có lẽ chỉ ở màn Chọc gái mới thấy khả năng linh hoạt trong ứng tác thơ ca của những người trong cuộc, và màn tâm tình là chỗ thể hiện rõ nhất mức độ nông - sâu trong tâm hồn của

họ

Trang 8

Hát Chọc gái được người dân giải thích một cách khá hồn nhiên, đơn giản Chọc nghĩa là tán tỉnh, chính tán tỉnh theo kiểu hát vui văn nghệ này, nhiều đôi trai gái đã nên duyên Thực ra, hát Chọc gái là một hình thức sinh hoạt ca hát giao duyên, đối đáp hay hát huê tình ở nhiều nơi mà thôi

ở thôn Mỹ Tường, do đặc điểm làng biển ít đất ruộng, không thích hợp trồng lúa nước nên họ thường xuyên phải mua gạo từ nơi khác về Hoạt động xay lúa hay giã gạo, do vậy cũng được quan tâm đặc biệt Đó cũng là lý do riêng để hát Chọc gái có một môi trường diễn xướng đặc thù chăng? Dầu sao, trong lịch sử, việc kết hợp môi trường lao động với các sinh hoạt vui chơi giải trí hay văn nghệ là một quy luật mang tính phổ quát

Với góc tiếp cận từ khoa học về âm nhạc, hát Chọc gái ở Mỹ Tường được xem là loại hình âm nhạc dân gian

Dựa vào tiêu chí cách trình bày, cách bố cục âm nhạc và lời ca theo các phương thức khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian thường chia dân ca Việt Nam ra

ba dạng cấu trúc chính là: cấu trúc nguyên sơ, cấu trúc làn điệu, và cấu trúc ca khúc dân gian (hay cấu trúc ổn định) nếu lấy ba loại cấu trúc trên làm chuẩn mực để soi xét, thì giai điệu âm nhạc của hát Chọc gái được vận động trên thang 4 âm Nếu tính từ âm thấp đến âm cao để mà ghi chúng trên 5 dòng kẻ theo cách ghi âm và theo cách đọc của âm nhạc châu Âu (tất nhiên dùng cách ghi này chỉ là sự áng chừng, chứ tần số âm thanh thực

tế không hoàn toàn đúng như vậy), thì thang âm của nó sẽ là: Đồ - Rê - Sol - La (tạm gọi

là nốt 1, 2, 5, 6)

Mặc dù chỉ có 4 âm nhưng nó kết hợp với nhau vừa biến hóa vừa quan hệ trong mối tương hỗ chính - phụ, điều này đã dung nạp tất cả các lời thơ và tính biểu cảm của nó cũng được bộc lộ rõ nét Trên tuyến vận động của giai điệu, nhịp điệu bắt đầu nảy sinh những giá trị trường độ đối lập nhau, tạo ra sự hấp dẫn với người hát, người nghe

Tuỳ thuộc vào ý, tứ của người hát mà đoạn nhạc có thể dài ngắn khác nhau, nhưng trong mỗi trổ của hát Chọc gái, chúng ta có thể nhận thấy có ba phần rõ rệt: Phần mở, phần thân và phần kết

Phần mở

Có hai vế đó là hát gợi và hát đế (ở đây tôi dùng chữ gợi chứ không phải là xường hay gọi; đế chứ không phải là xô, đáp) Hát gợi thường với các từ: Cô phèng mời các chị

hò lên, hay Khoan khoan mời bạn hò lên chỉ để mở đầu cho bên nữ hoặc bên nam khi luân phiên nhau hát Khi vừa chấm dứt thì mọi người đế theo các hư từ ơ ờ hay ơ hơ ờ

Thường thì từ đầu của gợi rơi vào nốt thứ 5 và kết thúc cũng ở nốt 5 Hát đế là nét nhạc bắt đầu từ nốt 6 rồi kết thúc ở nốt 1 Phần mở vừa có chức năng độc lập là một phần riêng biệt vừa có chức năng liên kết bó bện giữa các trổ với nhau ở phương diện khác, phần mở vừa có tính dẫn vào vừa có tính đóng lại

Phần thân

Trang 9

Là phần chính, mang chức năng kể, mọi ý nghĩa tình cảm được tích đọng ở đây Để dẫn vào phần thân người hát cũng hay dùng hư từ: ơ chứ ở cao độ của nốt 5 hoặc nốt 6, không thấy bắt đầu bằng cao độ từ nốt 1 hoặc nốt 2 Hư từ có chức năng dẫn để vào phần thân

Phần kết

Khi mấy từ cuối của phần thân được hát chậm lại thì cả tốp hát đế theo Nét nhạc này là lấy lại toàn bộ vế thứ 2 của phần mở

Xin đưa ra dẫn chứng chặng (màn) tâm tình do bên nam hát để minh họa cho cấu trúc của một trổ hát

Phần mở

Vế 1: Xin mời các bạn hò lên

Vế 2: ơ hơ ơ hờ

Phần thân

(Ơ chứ) trước đèn xem truyện tây Minh

Gẫm cười hai chữ nhân tình thiết tha

Ta thương nàng chờ đợi mẹ cha

Tỷ như anh Vân Tiên lúc trước gặp chị Nguyệt Nga

Giữa đường cùng nhau than thở, thở than

Rồi mà xa cách hai đằng biệt ly

Bậu hồi về xứ bậu ta hội quy đồng thành

Cất tiếng kêu xin hỡi tình khanh

Xin em giữ dạ sắt cầm đừng sai

Anh xin giữ áo lâu dài

Nào ai có dỗ em cũng đừng sai tấm lòng

Phần kết

ơ hơ ơ

Trang 10

(nét nhạc ở vế thứ 2 của phần mở)

Tiếp tục một người bên nữ hát đối lại, rồi lại đến một người bên nam, cứ thế thay nhau hát, các công đoạn đều diễn ra như trên Có chăng đó là khổ thơ ngắn, dài, ý nghĩa sâu thẳm hay hời hợt trong nội dung đề cập ở mức độ khác nhau

Thang âm của hát chọc gái chỉ có 4 nốt nhạc, trong cái vốn ít ỏi ấy mà các nghệ nhân đã tạo được giai điệu âm nhạc nghe không hề nhàm chán, nhiều cung bậc tình cảm được thể hiện, đó chính là tính sáng tạo của các nghệ sĩ dân gian

Múa Náp và hát Chọc gái bị đứt đoạn một khoảng thời gian dài do đất nước có chiến tranh, dầu vậy, khi có cơ hội phục hồi thì thực sự nó đã có chỗ đứng trong đại đa số công chúng Văn hóa dân gian vốn là dòng văn hóa chủ lưu trong đời sống nhân dân lao động ở nông thôn Việt Nam vẫn phát huy những thế mạnh mà không phải sự cắt nghĩa rạch ròi bao giờ cũng lý giải nổi Mỗi làng quê Việt, dù trong muôn điểm giống nhau, vẫn

có những nét chấm phá riêng của từng làng mà sự gia giảm, độ chênh đậm nhạt, thêm hay bớt từng nét văn hóa có lẽ chính là chọn lọc khôn ngoan của cha ông qua nhiều thế hệ để lại cho con cháu hôm nay Cũng là làng ven biển, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo cũng giống như bao ngôi làng khác, tức là có chùa thờ Phật, lăng ông thờ cá voi, có đình thờ thành hoàng v.v nhưng tại sao múa Náp và hát Chọc gái lại tồn tại mà hò hát bả trạo ở lăng cá ông lại phải mời từ nơi khác về biểu diễn trong dịp xuân thu cúng tế? và nhiều điều khác tương tự là những câu hỏi ta có quyền đặt ra để tiếp tục câu trả lời về quá trình tích luỹ, đào thải và phát huy vốn văn hóa do người xưa truyền lại Chỉ biết rằng, ở Nhơn Hải, nếu không có múa Náp, không có hát Chọc gái là những sinh hoạt văn hóa dân gian điển hình thì chắc chắn cuộc sống tinh thần của người dân sẽ thiếu hụt nhiều lắm Ngày nay, khi những điều kiện về xã hội và kinh tế được cải thiện nhiều lần, hò hát Chọc gái

và múa Náp càng có cơ hội để phát huy, phát triển thế mạnh trong cộng đồng dân cư ven biển duyên hải miền Nam Trung Bộ - nơi nắng và gió bốn mùa không thiếu bao giờ./ Đăng Nghị-Lan Oanh

1 Thực ra tín ngưỡng Hai Bà Trưng chỉ xuất hiện đậm đặc ở vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây, rồi lan toả ra các tỉnh, Hà Nam, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Phòng Sau này, khi những di tích được xác định ở vùng đất Nam Bộ thờ phụng Hai Bà Trưng thì đều là những lớp văn hóa muộn gán ghép lên những tầng tín ngưỡng có trước

đó Chẳng hạn trường hợp đền thờ Hai Bà Trưng hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh chính là đền thờ Mẫu Liễu Hạnh - tín ngưỡng Tứ phủ Việc thờ phụng Hai Bà Trưng ở đây mới chỉ xuất hiện sau năm 1975

2 Nguyễn Anh Tùng, Về đình ở Ninh Thuận, tạp chí VHNT, số 9-2001, tr.22-24

3 Nguyễn Hữu Phước, Lược sử đình Mỹ Tường, tài liệu chép tay - tác giả là người địa phương Những sắc phong này vẫn còn giữ được đến năm 1965; nhờ các cuộc tế lễ, khi làm thủ tục khai sắc thần mà nhân dân mới biết đình làng mình được các vua Nguyễn phong tặng như trên Đến giai đoạn 1975, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, đình

Mỹ Tường được trưng dụng một thời gian để làm trụ sở hợp tác xã Hợp tác xã bầu ra ban

Ngày đăng: 25/07/2016, 02:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w