1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

GIỚI THIỆU TÓM TẮT TÁC GIẢ VÀ CÔNG TRÌNH, ĐỀ TÀI, GIẢI PHÁP ĐOẠT GIẢI THƯỞNG SÁNG TẠO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM (VIFOTEC) VÀ HỘI THI STKT THÁI BÌNH NĂM 2007

60 1,9K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 647,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu Tuổi trẻ Sáng tạo; Bộ Khoa học - Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Na

Trang 1

PHẦN IV

GIỚI THIỆU TÓM TẮT TÁC GIẢ VÀ CÔNG TRÌNH,

ĐỀ TÀI, GIẢI PHÁP ĐOẠT GIẢI THƯỞNG SÁNG TẠO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM (VIFOTEC)

VÀ HỘI THI STKT THÁI BÌNH NĂM 2007

Các tác giả đoạt giải nhận giải thưởng tại Lễ trao Giải thưởng Sáng tạo Khoa học công

nghệ Việt Nam (VIFOTEC) tại Nhà hát Lớn- Hà Nội (tháng 4/2008)

GIẢI NHẤT CẢI TIẾN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XƠ POLYESTER TỪ CHAI PET PHẾ LIỆU

Giải Đặc biệt Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình năm 2007

I.GIỚI THIỆU

A10

Trang 2

Họ và tên : Tác giả: Lê Mạnh Thủy Năm sinh: 1970

Quê quán: Bình Lập - Bình Sơn - Quảng Ngãi

Trú quán: Phường Bồ Xuyên, TP Thái Bình

Văn hóa: 12/12 Chuyên môn: Cử nhân kinh tế

Chức vụ: Phó Giám đốc Công ty

Đơn vị công tác: Công ty TNHH Hợp Thành-

KCN Nguyễn Đức Cảnh - Thành phố Thái Bình

CN.LÊ MẠNH THỦY Điện thọai: 036.841.688 - 0913.208.958

Cộng sự: CN Phạm Thị Sen - Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty

II NỘI DUNG:

Nhu cầu xơ Polyester của ngành dệt may thế giới và các nhà máy dệt may trong nước rất lớn và rất đa dạng, cần nhiều chủng loại khác nhau để đáp ứng nhu cầu sản xuất sợi, bông, vải không dệt, các sản phẩm chăn ga, gối đệm… Ngành dệt may Việt Nam nhu cầu mỗi năm cần khoảng 1,2 – 1,5 triệu tấn xơ Polyester, trong đó 100% xơ Polyester phải nhập ngoại với

số tiền hàng tỷ USD mỗi năm Sau khi nghiên cứu, Công ty Hợp Thành – Thái Bình đã nhập dây truyền thiết bị từ Trung Quốc về cải tiến lại toàn bộ từ thiết bị máy móc, dây truyền đến quy trình công nghệ Kết quả, Công ty đã sản xuất thành công sản phẩm xơ Polyester chất lượng tương đương và hơn sản phẩm nhập ngoại, giá thành thấp hơn sản phẩm nhập ngoại, chủng loại phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngành dệt may Việt Nam

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Lần đầu tiên ngành dệt may Việt Nam có quy trình công nghệ sản xuất xơ Polyester nói chung và từ chai PET phế thải nói riêng, đáp ứng một phần nhu cầu nguyên liệu xơ Polyester cho ngành dệt may ở Việt Nam và xuất khẩu

Sản phẩm xơ Polyester do Công ty sản xuất có nhiều chủng loại, chất lượng cao, tương đương với các sản phẩm cùng loại trên thế giới, được khách hàng trên thế giới và trong nước tín nhiệm

2 Hiệu quả kinh tế:

a Đối với ngành dệt may Việt Nam:

Với công suất 27.800 tấn/năm, so giá ngoại nhập với giá bán xơ Polyester của công ty Hợp Thành cho các doanh nghiệp dệt may trong nước cho thấy: trung bình chênh lệch giữa giá nhập khẩu và giá bán là 0,09 USD/kg/xơ Polyester (chưa kể chi phí bốc xếp, vận chuyển, bến bãi…) Công ty Hợp Thành đã làm lợi cho ngành dệt may Việt Nam khoảng 2,5 triệu USD/năm (do giá mua nguyên liệu giảm so với giá nhập khẩu)

Từ cuối năm 2007, công ty tiếp tục đưa nhà máy mới với công suất 20.000 tấn sản phẩm xơ Polyester/ năm đi vào hoạt động Như vậy tổng công suất hàng năm của công ty Hợp Thành đạt 50.000 tấn sản phẩm xơ Polyester/ năm, công ty sẽ làm lợi cho ngành dệt may Việt Nam khoảng 4,5 triệu USD/năm (do giảm chi phí so với nhập khẩu nguyên liệu)

b Đối với doanh nghiệp:

Trang 3

Với chi phí sản xuất trung bình khoảng 17.000đ/kg sản phẩm xơ Polyester, giá bán trung bình (quy đổi tương đương): 19.000đ/kg (chưa trừ chi phí), công ty đạt lợi nhuận 25 – 30

tỷ VNĐ/năm

3 Hiệu quả xã hội:

Ngành dệt may Việt Nam chủ động được nguồn nguyên liệu xơ Polyester trong nước thay thế nhập khẩu (với chất lượng tương đương, giá cả thấp hơn, cung cấp kịp thời và nhanh chóng hơn)

Góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam với mặt hàng dệt may của các nước trong khu vực và trên thế giới Sản phẩm dùng cho xuất khẩu sẽ góp phần tăng thu ngoại tệ của đất nước

Công ty đã tạo việc làm thường xuyên cho 850 – 1000 lao động tại công ty, với mức thu nhập 1,2 – 1,5 trriệu đồng/người/tháng, góp phần giải quyết vấn đề lao động và việc làm tại địa phương Tạo thêm việc làm cho nhiều lao động trong và ngoài tỉnh trong khâu thu mua phế liệu, góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Góp phần thúc đẩy ngành dệt may Việt Nam phát triển, đưa ngành công nghiệp dệt may Việt Nam từng bước ngang tầm và hoà nhập với thế giới

Sản phẩm sợi bông Polyester của công ty Hợp Thành có chất lượng tương đương với các sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới Giá thành sản phẩm thấp hơn so với sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới, nên có sức cạnh tranh cao cả ở thị trường trong nước và quốc

tế

4 Khả năng ứng dụng:

Tất cả các nhà máy sản xuất tấm bông PE, PP, nhà sản xuất các sản phẩm chăn, ga, gối, đệm… trong nước và một phần phục vụ ngành công nghiệp vải không dệt Khách hàng nước ngoài chủ yếu là các nước như: Italia, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Ailen, …

Trước nhu cầu xơ Polyester trên thế giới và Việt Nam ngày càng tăng cao, công ty đã đầu tư xây dựng thêm một nhà máy sản xuất xơ Polyester tại khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh – TP Thái Bình với công suất 20.000 tấn sản phẩm/năm, nhà máy đi vào hoạt động từ quý IV năm 2007 đưa công suất toàn côngg ty đạt 50.000 tấn sản phẩm/năm

Công trình đạt giải nhất Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam - VIFOTEC (năm 2007); Bằng chứng nhận giải Đặc biệt Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu Tuổi trẻ Sáng tạo; Bộ Khoa học - Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tặng Bằng khen (năm 2007)

GIẢI NHÌ CẢI TIẾN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SỢI ĐŨI TỪ PHẾ THẢI TƠ TẰM BẰNG

PHƯƠNG PHÁP CÔNG NGHIỆP

Giải Nhất

Trang 4

Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình năm 2007

I.GIỚI THIỆU

Tác giả : Trần Văn Tuấn Năm sinh: 1963

Quê quán: Vũ Tiến - Vũ Thư - Thái Bình

Trú quán: Phường Phú Khánh, TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chức vụ: - Giám đốc Công ty

TRẦN VĂN TUẤN - Ủy viên BCH Hiệp Hội Doanh nghiệp tỉnh

- Đại biểu HĐND Phường Phú Khánh

Đơn vị công tác: Công ty Sản xuất kinh doanh

Tơ tằm Phú Khánh- TP Thái Bình Điện thoại: 0983.532.327

Ô TRẦN VĂN TUẤN

II NỘI DUNG:

Hàng năm diện tích trồng dâu ở Thái Bình trung bình từ 1.300 - 1.500 ha, sản lượng

dâu tằm đạt 14.500 - 16.000 tấn/năm, sản lượng kén đạt 1300 – 1500 tấn/năm Trong quá trình

sản xuất tơ nõn (chính phẩm) có một lượng lớn phế liệu (gốc cục, gốc rũ, xơ nhộng, kén chìm,

kén phế loại) thải ra Tại Thái Bình hàng năm có khoảng 250 - 300 tấn phế thải do quá trình

sản xuất tơ tằm loại ra, chỉ một lượng nhỏ được sử dụng, còn phần lớn không được sử dụng đã

thải bừa bãi ra bờ ao, bờ mương gây ô nhiễm môi trường Để tận dụng tối đa lượng phế thải

này, sau khi nghiên cứu công nghệ sản xuất sợi đũi từ phế thải tơ tằm của Trung Quốc, Công

ty SXKD Tơ tằm Phúc Khánh đã nhập thiết bị và đầu tư nghiên cứu cải tiến quy trình công

nghệ sản xuất sợi đũi từ phế thải tơ tằm bằng phương pháp công nghiệp

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Đây là quy trình công nghệ mới sản xuất sợi đũi từ phế thải tơ tằm bằng phương pháp

công nghiệp lần đầu tiên được áp dụng vào sản xuất tại Việt Nam

Quy trình đã tận dụng được mọi loại phế thải khác nhau từ tơ tằm (gốc cục, gốc rũ,

xơ nhộng, kén chìm, kén phế loại,…) để sản xuất thành nhiều loại sản phẩm khác nhau: chăn,

ga, gối, đệm, vải…chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Tác giả đã nghiên cứu tìm ra được nhiệt độ, thời gian ngâm ủ, tốc độ chạy máy… phù

hợp với từng loại phế thải tơ tằm đạt hiệu quả cao hơn hẳn quy trình của nước ngoài

Quy trình công nghệ sản xuất sợi đũi từ phế thải tơ tằm bằng phương pháp công

nghiệp:

Trang 5

2 Khả năng áp dụng:

Các tỉnh, vùng, cơ sở, nhà máy ươm tơ trong cả nước đều có thể áp dụng quy trình, tận dụng nguồn phế thải tơ tằm tại địa phương sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần bảo vệ môi trường

3 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

Quy trình sản xuất đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, đem lại lợi nhuận trên 1 tỷ đồng mỗi năm cho công ty

Quy trình góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do khối lượng lớn phế thải tơ tằm bị loại bỏ ngoài sông, ngòi, ao hồ Góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động trong và ngoài tỉnh…

Công trình đạt giải nhì Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam - VIFOTEC (năm 2007); Bằng chứng nhận đạt Giải nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Bộ Khoa học - Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và

Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Ban tổ chức Hội chợ tặng Huy chương Vàng Hội chợ triển lãm Tuần lễ xanh Quốc tế – Việt Nam (năm 2007)

Kéo sợi con

Khử

nhộng

Nấu ngâm nguyên liệu

Sấy nguyên liệu

Phun nhũ tương & ủ NL

Khử điểm vàng

Mở kén Cắt vừa

Cắt nhỏ Chải

Trang 6

GIẢI NHÌ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI, KHÍ THẢI TẨY -

NHUỘM KHĂN, VẢI, SỢI TẠI CÔNG TY DỆT MAY XUẤT KHẨU

THÀNH CÔNG

Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình năm 2007

I.GIỚI THIỆU

Tác giả: Trần Xuân Ứng Năm sinh: 1957

Quê quán: Thái Phương - Hưng Hà - Thái Bình

Văn hóa: 10/10

Trình độ chuyên môn: Cử nhân Kinh tế

Chức vụ: Giám đốc Công ty

Đơn vị công tác: Công ty Dệt may xuất khẩu Thành Công

CN.TRẦN XUÂN ỨNG Điện thoại: 036.733.612 - 0913.291.095 - 0983.291.095

II.NỘI DUNG

Nước thải, khí thải công nghiệp nói chung: nước thải, khí thải tẩy - nhuộm khăn, vải, sợi cảu ngành dệt may nói riêng, là một trong các loại nước thải, khí thải đặc biệt và rất khó xử lý, không chỉ đối với công nghệ xử lý nước thải, khí thải trong nước mà còn khó đối với lĩnh vực

xử lý nước thải, khí thải và bảo vệ môi trường trên thế giới

Trong nước thải, khí thải ngành công nghiệp dệt may có chứa nhiều độc chất của các loại hoá chất tẩy nhuộm còn dư lại, kết hợp với các chất xenlulô của xơ bông, gấn bông, nhựa bông, hồ tinh bột, dầu mỡ,…có lẫn trong khăn, vải, sợi… khi tẩy nhuộm thải ra ngoài Đồng thời, ngoài độc chất, nước thải tẩy – nhuộm còn có chứa rất nhiều tạp chất lơ lửng, chỉ số COD, BOD và độ PH rất cao… các tạp chất trên khi thối rữa, khuyếch tán ra ngoài không khí

sẽ tạo thành khí độc, gây độc hại và nguy hiểm cho người lao động và cộng đồng xã hội

1.Tính mới, tính sáng tạo:

Đây là quy trình đầu tiên tại Thái Bình được xây dựng theo phương pháp kết hợp Lý - Hóa - Sinh thành công trong xử lý nước thải và khí thải tẩy nhuộm khăn, vải sợi tại Thái Bình Các chỉ tiêu kỹ thuật nước thải, khí thải sau khi được xử lý, đều đạt và thấp hơn tiêu chuẩn môi trường Việt Nam cho phép

Là doanh nghiệp nhưng công ty đã dám đầu tư, nghiên cứu, xây dựng quy trình xử lý nước thải, khí thải, góp phần cùng xã hội làm tốt công tác bảo vệ môi trường

Tìm ra loại phế thải rắn do quá trình sản xuất tại công ty thải ra để làm giảm nồng độ PH của nước thải Bằng cách, cho nước thải từ từ đi qua hệ thống bể chứa có loại phế liệu này để làm giảm độ PH của nước thải từ PH = 12 xuống PH < 9, đạt TCVN

Tận dụng phế thải trong sản xuất để xử lý nước thải, khí thải đạt hiệu quả cao

Tận dụng được nhiệt độ cao trong nước thải quay trở lại sản xuất góp phần tiết kiệm và giảm chi phí trong sản xuất

Hạ nhiệt độ nước thải khi xử lý đã làm hạn chế sử dụng hóa chất trong xử lý nước thải thu gom được khí thải để xử lý, không gây ô nhiễm môi trường

Thu gom được khí thải để xử lý, không gây ô nhiễm môi trường

Trang 7

Mức đầu tư xây dựng để áp dụng quy trình không lớn Chi phí để xử lý 1m3 nước thải thấp hơn 4 lần so với áp dụng các giải pháp thông thường

Quy trình phù hợp, dễ áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp dệt, tẩy, nhuộm nói riêng, doanh nghiệp công nghiệp nói chung Góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường tại các công ty và doanh nghiệp nói chung

Tóm tắt quy trình công nghệ xử lý nước thải, khí thải tại Công ty Dệt may Xuất khẩu Thành Công:

4 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

- Hiệu quả kinh tế: Công trình giúp công ty tiết kiệm được trên 1 tỷ đồng/ năm

- Hiệu quả xã hội: Góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường tại công ty và các doanh nghiệp công nghiệp nói chung

Công trình đạt giải nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Toàn quốc (năm 2007); Bằng chứng nhận đạt giải nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

(1) Làm giảm số lượng nước thải trong sản xuất tẩy nhuộm

(2) Thu hồi hết tạp chất lơ lửng có trong nước thải đưa đi chôn lấp

(3)

Hạ nhiệt độ nước thải, thu hồi nhiệt độ từ nước thải trở lại phục vụ sx

(4) Tìm loại nguyên liệu mới xử lý làm giảm độ PH trong nước thải

(5) Hoà trộn ôxy vào nước thải làm giảm BOD trong nước thải

(6) Nuôi cấy vi sinh xử lý tạp chất hữu cơ trong nước thải

(7) Dùng hoá chất kết tủa, thu hồi hết tạp chất COD trong nước thải

Lắng đọng nước thải đạt TCVN 1945- 1995

(8)

Thu gom,

xử lý khí thải

Trang 8

GIẢI NHẤT NGHIÊN CỨU, CHỌN TẠO GIỐNG LÚA BC15 TẠI THÁI BÌNH

Tác giả: Đặng Đức Ninh Năm sinh: 1974

Quê quán: Đông Hà - Đông Hưng - Thái Bình

Trú quán: Phường Bồ Xuyên, TP Thái Bình

Văn hóa:12/12 Chuyên môn: Kỹ sư Nông học

Cơ quan công tác: Trung tâm Khảo nghiệm & Khuyến nông Thái Bình Điện thoại: 036.842.690 – 0985.574.439

Đồng tác giả: KS Đặng Tiểu Bình

KS.ĐẶNG ĐỨC NINH

II.NỘI DUNG:

Hiện nay trong sản xuất lúa gạo của Việt Nam chưa có giống lúa vừa ngắn ngày vừa

có năng suất cao và có chất lượng gạo thơm, ngon, gạo trong, cơm dẻo, có khả năng chống chịu và thích ứng rộng Giống lúa 13/2 là giống lúa được nhập nội từ viện lúa quốc tế IRRI, năng suất cao, thuộc dạng hình nhiều bông, bông to nhưng thời gian sinh trưởng rất dài (180-

200 ngày), chịu rét kém, dài ngày nên giống lúa 13/2 rất khó đưa vào sản xuất Trước đây và hiện tại, giống lúa Q5 chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu, tuy năng suất cao, thích ứng rộng nhưng chất lượng gạo lại thấp, nhiễm rầy mạnh Các giống lúa chất lượng khác như Xi23, 8865, Bắc thơm 7 đều có những nhược điểm khó chấp nhận như: dài ngày, chống chịu kém,… các giống lúa lai vẫn chưa đáp ứng những yêu cầu bức thiết của sản xuất, mặt khác giá thành đầu tư về giống vẫn còn cao…

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Sau 11 năm nghiên cứu, tác giả đã lai tạo, chọn lọc thành công giống lúa thuần BC15 từ giống 13/2 đột biến, có ưu điểm hơn hẳn giống lúa 13/2 Giống BC15 đáp ứng được các chỉ tiêu kỹ thuật mà các nhà khoa học và nông dân mong muốn như: thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, khả năng chống chịu rét tốt, sức đề kháng với sâu bệnh cao, ít nhiễm rầy, khô vằn, chi phí thuốc bảo vệ thực vật ít, chất lượng gạo thơm ngon

Là giống cảm ôn, ngắn ngày, cấy được cả hai vụ xuân và vụ mùa

Thời gian sinh trưởng ngắn vụ xuân 138 ngày, vụ mùa 118 ngày

Giống BC15 có sức sinh trưởng mạnh, rễ khỏe, thân cứng, chiều cao cây 105-110 cm, bản lá trung bình, màu vàng sáng, đẻ khỏe, nhiều bông, bông to chùng, hạt xếp gối

Năng suất ổn định 70 - 80 tạ/ha ở vụ xuân, 60 - 70 tạ/ha ở vụ mùa

Chất lượng gạo tốt, gạo trong, cơm dẻo, vị đậm Tỷ lệ gạo đạt 70% trở lên, được người tiêu dùng rất ưa chuộng Có khả năng kháng bệnh cao, không nhiễm đạo ôn, chống khô vằn, bạc lá, rét, hạn, úng khá tốt, chịu chua trũng, thích ứng rộng Đặc biệt kháng rầy khá, chịu thâm canh

So với giống lúa Q5, BC15 có khả năng chống chịu sâu bệnh và ngoại cảnh tốt hơn, đặc biệt là về vụ mùa nhờ khả năng kháng rầy nâu tốt hơn nên giảm chi phí về thuốc bảo vệ thực vật, tăng độ an toàn trong sản phẩm thóc gạo, góp phần tạo ra nền sản xuất nông nghiệp sạch, bền vững

Trang 9

So sánh một số chỉ tiêu chất lượng gạo của giống BC 15 với một số giống có trong sản xuất hiện nay:

Tên giống Tỷ lệ gạo

lật (%)

Tỷ lệ gạo xát (%)

Tỷ lệ gạo nguyên (%)

Dài hạt (mm)

Rộng hạt (mm)

Q5 79,69 69,75 76,60 5,84 2,64

Khang Dân 79,30 67,50 87,55 5,51 2,18

BC 15 79,50 70,20 81,30 5,72 2,31

2 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

Hiệu quả kinh tế:

Nhờ khả năng đẻ nhánh rất khỏe nên việc gieo cấy giống lúa BC15 giảm giá đầu tư về giống Giống lúa Q5 đầu tư: 3 kg giống/sào bắc bộ x 7.000đ/kg = 21.000đ Giống BC15 đầu tư: 2 kg giống/sào bắc bộ x 7.000đ/kg = 14.000đ Như vậy giảm đầu tư về giống so với Q5: 7.000đ/sào (196.000 đồng/ha)

Giá trị sản phẩm hàng hóa của BC15 tăng lên so với Q5 từ 500 - 700 đ/kg, với năng suất tương đương lợi nhuận cũng tăng là: Năng suất trung bình 65 - 70 tạ/ha, lợi nhuận tăng lên 3.500.000 - 4.900.000 đồng/ha

Như vậy ngoài việc giảm chi phí khác như thuốc bảo vệ thực vật, chi phí sản xuất giống….lợi nhuận bình quân do cấy lúa BC 15 so với lúa Q5 đã tăng 3,7 - 5 triệu đồng/ha x 7.000 - 8.000 ha/vụ x 2 vụ/năm = 71.3 - 81,5 triệu đồng/năm

Hiệu quả xã hội:

BC15 là giống lúa phù hợp với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp và phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước

Là giống lúa ngắn ngày, chịu trũng, chịu chua tốt, gạo ngon, gieo cấy được trà xuân muộn nên thay thế được các giống lúa thuộc trà dài ngày, giảm áp lực về thời vụ, góp phần làm tăng diện tích cây vụ đông

3 Khả năng áp dụng:

Giống BC15 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia

Hiện giống BC15 đã được bà con nông dân Thái Bình nói riêng, Miền Bắc nói chung đưa vào sản xuất đại trà cả vụ xuân và vụ mùa, thay thế các giống lúa khác

Công trình đã được tặng Bằng chứng nhận đạt Giải nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu tuổi trẻ sáng tạo (năm 2007)

Trang 10

Đồng tác giả - KS.Đặng Tiểu Bình được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

GIẢI NHẤT NGHIÊN CỨU, CHỌN TẠO GIỐNG LÚA THUẦN MỚI TB-R1 PHỤC VỤ NHU CẦU

SẢN XUẤT CỦA BÀ CON NÔNG DÂN

I.GIỚI THIỆU

Tác giả: Trần Mạnh Báo Năm sinh: 1950

Quê quán: Thái Thượng - Thái Thụy - Thái Bình

Trú quán: phường Bồ Xuyên, TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Kỹ sư Nông nghịêp, Cử nhân kinh tế Chức vụ: Phó ban Ngân sách HĐND Tỉnh

Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch HĐQT Công ty

PCT Thường trực Hiệp hội Giống Cây trồng Việt Nam

Đơn vị công tác: Công ty CP Giống Cây trồng Thái Bình

1 Ưu điểm của giống lúa TBR1:

Là giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng vụ xuân 130 - 135 ngày, vụ mùa 105 -

110 ngày, tương đương giống Q5, gieo cấy được cả 2 vụ xuân và mùa Giống có dạng hình đẹp, chịu thâm canh, độ thuần đồng ruộng cao, lá đứng cứng, dầy, khả năng thích ứng rộng, dễ sản xuất, có thể gieo trồng ở tất cả các vụ trong năm và trên nhiều vùng sinh thái khác nhau Giống TB-R1 có khả năng chống đổ tốt, chịu rét, chịu chua mặn khá chống chịu tốt với một số sâu bệnh hại chính: bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá và bệnh khô vằn tốt hơn giống Q5, đặc biệt thể hiện rõ khi gặp điều kiện thời tiết bất thuận Giống có năng suất cao, ổn định, năng suất cao, ổn

Trang 11

định, năng suất trung bình 65-75 tạ/ha, nhiều điểm thâm canh tốt, năng suất có thể đạt 80 - 90 tạ/ha

Tỷ lệ gạo lật, gạo xát, tỷ lệ gạo nguyên và tỷ lệ trắng trong cao hơn giống Q5, Amylose của TBR-1 trung bình, Q5 trung bình cao

* Một số chỉ tiêu chất lượng thóc gạo của giống TBR-1 so với Q5:

(Kết quả phân tích của TT Kiểm tra và Tiêu chuẩn hóa chất lượng nông sản thực phẩm- Bộ NN&PTNT)

(%)

Q5 (%)

7 Thấp

6,75 Thấp

2 Khả năng áp dụng:

Giống lúa TBR-1 đã được bà con đưa bà con nông dân trong và ngoài tỉnh rất ưa chuộng và ứng dụng rộng rãi vào sản xuất như: Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang, Sơn La, Ninh Bình

…Riêng ở Thái Bình, giống lúa TBR-1 thay thế giống Q5 và một phần giống các giống khác, diện tích 30 ha/vụ

Hiện nay giống lúa TBR-1 vẫn tiếp tục được mở rộng sản xuất thử ở hầu hết các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Tương lai sẽ thay thế hoàn toàn cho giống Q5 và một phần giống Khang Dân 18

Giống lúa TBR-1 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức theo quyết định số 54/QĐ/BNN-TT ngày 08/01/2007 và được đưa vào gieo trồng rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và Nam Trung bộ

Công trình đã được tặng Bằng chứng nhận đạt Giải nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng

Trang 12

Lao động Sáng tạo; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

GIẢI NHẤT NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG

ĐỂ DẠY HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG THCS TỈNH THÁI BÌNH

I.GIỚI THIỆU

Tác giả: Nguyễn Văn Đầm Năm sinh: 1959

Quê quán: Thái Thủy - Thái Thụy - Thái Bình

Trú quán: Phường Bồ Xuyên - TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Cử nhân,

Cao học sư phạm Lịch sử, Cao học Quản lý giáo dục

Cơ quan công tác: Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình

Điện thoại: 0912.027.459

CN.NGUYỄN VĂN ĐẦM

II NỘI DUNG:

Giáo dục truyền thống lịch sử nói chung, truyền thống yêu quê hương đất nước, dám

xả thân vì sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước nói riêng cho học sinh có vai trò hết sức quan trọng Muốn giáo dục cho các em lòng yêu tổ quốc, yêu đồng bào thì điểm xuất phát đầu tiên phải là giáo dục tình cảm gia đình, quê hương làng xóm, có yêu quê hương mới yêu đất nước, đó chính là quy luật nhận thức cũng như quy luật tình cảm của mỗi con người Mảnh đất Thái Bình có một truyền thống lâu đời, vẻ vang là môi trường đầu tiên hun đúc, hình thành bản sắc và hình thành nhân cách cho các em, chính vì lẽ đó cùng với việc tiếp thu kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, các em phải được học và hiểu lịch sử quê hương Thái Bình

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Tác giả đã biên soạn cuốn tài liệu dạy học lịch sử địa phương đầu tiên tại Thái Bình Tài liệu đã được Hội đồng khoa học Sở Giáo dục - Đào tạo; Sở Khoa học - Công nghệ đánh giá xếp loại xuất sắc Do yêu cầu của công tác giáo dục lịch sử địa phương trong nhà trường và tính khoa học, tính khả thi của đề tài, ngày 19/10/2004 Sở Văn hoá - Thông tin cấp giấy phép

số 38/GP-XB/VHTT cho phép Sở Giáo dục - Đào tạo Thái Bình xuất bản thành tài liệu

“Chương trình lịch sử địa phương dùng cho học sinh các trường THCS tỉnh Thái Bình”

Từ năm 2005 đã trở thành tài liệu thống nhất để dạy và học lịch sử địa phương trong các trường THCS tỉnh Thái Bình

Mỗi năm có gần 500 lượt thầy cô giáo và gần 112.000 học sinh các trường THCS dùng tài liệu giáo khoa lịch sử địa phương để dạy và học chương trình lịch sử chính khoá Đây

Trang 13

là tài liệu tham khảo giúp cho hàng ngàn học sinh THPT của Thái Bình hiểu biết sâu sắc hơn

về cội nguồn lịch sử của quê hương Thái Bình, nơi các em sinh ra và lớn lên

2 Hiệu quả và khả năng áp dụng:

Công trình đã giúp ngành giáo dục Thái Bình có tài liệu lịch sử địa phương thống nhất

để dạy và học trong các trường THCS, thực hiện đúng, đủ nội dung chương trình lịch sử mà

Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định (theo Vụ Giáo dục trung học, Bộ Giáo dục - Đào tạo, cả nước

đã có 21 tỉnh thành có tài liệu lịch sử địa phương thống nhất dạy trong nhà trường) Ngoài ra còn góp phần nâng cao trình độ nhận thức lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào với truyền thống, nơi sinh thành nuôi dưỡng các em… Từ nhận thức đúng đắn đó, các em sẽ sống tốt hơn, học tập tốt hơn và hành động tốt hơn để xây dựng quê hương Thái Bình ngày càng giàu đẹp

Công trình đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

Trang 14

Giải nhì nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khcn tận dụng chất thải nông nghiệp: trấu, rơm rạ, bẹ ngô,

xơ đay…sản xuất tấm ván ép nhân tạo thay thế sản phẩm từ gỗ tự nhiên phục vụ nhu

cầu xây dựng dân dụng, công nghiệp tại thái bình

I.GIỚI THIỆU

ÅA Tác giả: Lê Văn Thản Năm sinh: 1959

Quê quán: Xã Tân Phong - Vũ Thư - Thái Bình

Trú quán: Phường Tiền Phong - TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Kỹ sư - Cử nhân QTKD

Chức vụ: Phó GĐ, Chủ tịch Công đoàn Công ty

Đơn vị công tác: Công ty Cổ phần VLXD Tiền Phong - Thái Bình Điện thoại: 036.841.850 - 0913.291.906

Trang 15

Giải pháp giải quyết một phần ô nhiễm môi trường do trấu sinh ra tại địa phương, tận dụng được nguồn nguyên liệu đang để lãng phí sản xuất ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, giải quyết được khó khăn do thiếu nguyên liệu của ngành sản xuất tấm ván ép công nghiệp thay thế hàng nhập ngoại

Giải pháp sẽ tạo ra một loại sản phẩm mới chất lượng, giá thành hạ, đủ sức cạnh tranh với tấm gỗ ván dăm nhập khẩu từ nước ngoài, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho mỗi đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp, tăng cơ cấu sản xuất công nghiệp trong cơ cấu GDP của nền kinh tế

So sánh với sản phẩm tấm gỗ ép, tấm trấu ép có nhiều đặc tính vượt trội do có hàm lượng Silic cao nên độ cứng cao hơn, độ chống mài mòn cao hơn, độ hút nước thấp hơn, độ trương nở thể tích cao hơn

Tấm trấu ép cho giá thành hạ do chi phí trấu hiện tại thấp hơn dăm gỗ từ 3 - 4 lần, chi phí gia công trong công nghệ giảm 2 lần trong khi các chi phí khác không thay đổi đáng kể Sản xuất tấm trấu ép đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt

Đề tài đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; UBND tỉnh Thái Bình, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

Trang 16

GIẢI NHÌ NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CÔNG TRÌNH NHÀ TIÊU, NHÀ TẮM GIÚP BỆNH NHÂN PHONG TÀN TẬT TRONG SINH HOẠT TẠI BỆNH VIỆN

PHONG DA LIỄU VĂN MÔN

I GIỚI THIỆU

Tác giả: Bùi Huy Thiện Năm sinh: 1954

Quê quán - Trú quán: Vũ Vinh - Vũ Thư - Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: BSCK I, BS chính Chức vụ: Phó bí thư Đảng bộ, Giám đốc Bệnh viện

Cơ quan công tác: Bệnh viện Phong Da liễu Văn Môn Thái Bình

Điên thoại: 036.827.614 - 0912.027.959

BSCKI.BÙI HUY THIỆN

II NỘI DUNG:

Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều tác giả đã đề cập nghiên cứu về công trình nhà tiêu, nhà tắm riêng biệt, cũng như lồng ghép cho cộng đồng dân cư nông thôn, thành phố

là những người bình thường khỏe mạnh Nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến công trình nhà tiêu, nhà tắm đặc thù dành riêng cho đối tượng bệnh nhân tàn tật nói chung cũng như bệnh nhân phong tàn tật, cụt chi, mù mắt, mất bàn tay, ngón tay và cụt chi dưới, phải đi chân giả một chân hoặc hai chân nói riêng…

Những bệnh nhân này khi đi vệ sinh, một số người dùng quần áo rách nhờ cắt nhỏ từng mảnh bỏ vào túi nilon để dành khi đi vệ sinh, họ dùng hai cậng tay để chùi, có người dùng hai cậng tay cụt xé lá chuối, có người cọ vào thân cây chuối, có người dùng giẻ đệm lên gót chân quỳ xuống, hay cọ luôn vào cạnh góc tường cửa nhà tiêu, có người dùng mô đất cao, cọ vào miệng bô hoặc nền nhà ở của họ, có người thì đi ngay ra nhà ở của họ, để nguyên quần mặc của mình để chùi gây mất vệ sinh, chưa kể làm như vậy gây nhiễm khuẩn hậu môn, cũng như khi vào trong nhà sinh hoạt trong khu tập thể còn ảnh hưởng nhiều người khác và môi trường xung quanh… chưa kể có những người cụt một hoặc hai chi dưới nếu không đi cẩn thận sẽ bị ngã ngay tại nhà tiêu, hoặc có nhiều người nhìn không rõ nên đại tiện, phóng uế lung tung ra môi trường thậm chí ngay ở trên quần áo của họ mà không biết

Nghiên cứu xây dựng thử nghiệm công trình nhà tiêu, nhà tắm lồng ghép đặc thù dành riêng cho bệnh nhân phong tàn tật là việc cần thiết và đây cũng là việc làm mang tính nhân đạo

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Trang 17

Đây là công trình nhà tiêu, nhà tắm đặc thù riêng cho người tàn tật khi cụt cả hai bàn tay

và hai cẳng chân, đi chân giả cũng như bàn tay dị dạng giúp người bệnh tàn tật tự đi vệ sinh không cần người chăm sóc, nhất là những bệnh nhân đi chân giả thì rất thuận tiện với họ, mặt khác khi không có bàn tay cầm nắm, không cần giấy vệ sinh hay những vật liệu để lau chùi vẫn đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cũng như đảm bảo môi trường, giảm phiền hà cho người bệnh khi

đi vệ sinh, họ chủ động trong sinh hoạt cuộc sống đời thường, giảm chi phí, kinh phí thuê người phục vụ Công trình có hai thanh bám ra, vào để bệnh nhân khi đi vệ sinh tự mình đi lại

có chỗ bám tay chân của họ không thuận, hoặc họ phải đi bằng chân giả có nơi bám dựa, giúp

họ đi không bị ngã trong quá trình đi vệ sinh phù hợp với người tàn tật Sử dụng đơn giản dễ dàng bất cứ khi nào

Nếu bệnh nhân không đi lại được hộ lý sử dụng xe lăn đưa bệnh nhân vào tận buồng tắm hoặc vệ sinh thuận lợi qua cầu trượt

3 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

* Về mặt kinh tế:

Không mất kinh phí thuê người phục vụ, hàng năm nếu 300 bệnh nhân tàn tật ít nhất cũng cần sử dụng 6 người x 500.000đ/tháng/người thì một năm kinh phí cũng phải chi phí là 36.000.000đ Kinh phí mua giấy để lau: 6.000đ/người/tháng x 300 người = 1.800.000đ/tháng, bằng 21.000.000đ/năm Ngoài ra còn giảm chi phí thuốc men do đi vệ sinh đảm bảo nên không gây ra bệnh tật

* Về mặt xã hội:

Đây là đề tài mới góp phần giúp đỡ người tàn tật trong sinh hoạt hàng ngày Nguồn nước cung cấp dễ dàng, đảm bảo được vệ sinh môi trường không bị ô nhiễm khi bệnh nhân đi đại tiện phóng uế ra môi trường cùng với những vật liệu lau chùi vứt ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm Đề tài mang lại hiệu quả thiết thực phù hợp với người tàn tật, giúp họ chủ động tự do trong sinh hoạt hàng ngày

Đề tài mang tính nhân đạo giúp cho người bệnh tàn tật và giúp cho cộng đồng xã hội, thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với cộng đồng người tàn tật, giúp cho bệnh nhân đảm bảo

vệ sinh sạch sẽ, đây là một yếu tố cho họ hòa nhập cộng đồng

Đề tài đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; UBND tỉnh Thái Bình, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

Trang 18

Năm 2005, đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng Laser đa bước sóng điều trị tổn thương bỏng da trên lâm sàng” của tác giả đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải Khuyến khích Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2005)

GIẢI NHÌ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ

THUẬT THÁI BÌNH

I GIỚI THIỆU

ÅA Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng Sinh năm: 1950

Quê quán: Tây Lương - Tiền Hải - Thái Bình

Trú quán: Phường Trần Hưng Đạo - TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Cử nhân kinh tế

Chức vụ: Bí thư Đảng bộ, Hiệu trưởng

Cơ quan công tác: Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình

Điện thoại: 036.835.683

NGƯT.NGUYỄN TIẾN DŨNG

II NỘI DUNG:

Trong công tác giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo chuyên nghiệp nói riêng, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật cao Đồng thời mỗi cơ sở đào tạo lại có đặc điểm riêng không thể dập khuôn máy móc những kinh nghiệm của trường này với trường khác Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Bình là trường được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh giao nhiệm

vụ đào tạo cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế kỹ thuật phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Với vai trò là người đứng đầu cơ quan, tác giả luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi kết hợp giữa lý luận với thực tiễn và kinh nghiệm quản lý qua nhiều năm đã tổ chức thực hiện vừa rút

kinh nghiệm để đề ra các giải pháp có hiệu quả cao nhất

Giải pháp thứ nhất: Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình phù hợp với đối tượng đào tạo cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng đào tạo 5 kỹ năng của học sinh – sinh viên, xây dựng 3 chân kiềng kiến thức cho một ngành học, xác định môn trọng tâm, môn chuyên ngành, môn tin học, môn ngoại ngữ

Giải pháp thứ hai: Tích cực đổi mới công nghệ đào tạo, cụ thể là đổi mới cách dạy, cách học, cách quản lý, tăng cường khả năng tự học tạo hình thành 5 kỹ năng của học sinh, sinh viên

Trang 19

Giải pháp thứ 3: đổi mới cách đi thực tế và thực tập tốt nghiệp, rèn luyện 5 kỹ năng cho HS, SV Sinh viên được xuống cơ sở (thực tế) ngay từ năm đầu, theo môn học và nhóm học

Giải pháp thứ 4: Đổi mới công tác quản lý xây dựng tốt nề nếp kỷ cương của trường học

Giải pháp thứ 5: Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học phục vụ công tác giảng dạy học tập và phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Giải pháp thứ sáu: Tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên

2 Hiệu quả kinh tế xã hội:

Lợi ích của Học sinh - sinh viên: Có điều kiện để rèn luyện tốt 5 kỹ năng Sinh viên ra trường được thị trường chấp nhận (Cao đẳng 85% sinh viên ra trường có việc làm ngay hoặc học liên thông lên Đại học)

Lợi ích của nhà trường: Chất lượng đào tạo của trường ngày càng tăng lên, được Bộ giáo dục đào tạo, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái Bình đánh giá tốt, quy mô đào tạo ngày càng mở rộng cả về số lượng ngành nghề đào tạo, cơ sở vật chất, thiết bị máy móc phục vụ cho giảng dạy ngày càng tăng lên theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá Trình độ cán bộ quản lý của giáo viên cũng tăng lên không ngừng

Do thực hiện tốt nề nếp kỷ cương nên chất lượng đào tạo ngày càng tăng lên, hàng năm thí sinh đăng ký thi vào trường rất đông Hiện nay quy mô của trường gần 5.000 HS – SV, mỗi năm thu hút từ 1500 đến 1700 người vào học, giải quyết nhu cầu học tập cho cán bộ và nhân dân, phụ huynh yên tâm khi cho con em họ học tập tại trường không có tai tệ nạn xã hội

Đề tài đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; UBND tỉnh Thái Bình, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007)

Trang 20

Giải nhì ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất giống lợn lai ba máu cho năng suất, chất lượng cao tại

thái bình

I GIỚI THIỆU:

Tác giả: Trịnh Quang Hiệp Năm sinh: 1964

Quê quán: Xã Vũ Phúc - TP Thái Bình

Trú quán: Phường Bồ Xuyên - TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Thạc sỹ - Bác sỹ Thú y

Chức vụ: Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty

Đơn vị công tác: Công ty Cổ phần Giống Chăn nuôi Thái Bình Điện thoại: 036.835.550

ThS.TRỊNH QUANG HIỆP

II NỘI DUNG:

Hiện nay ở Thái Bình phong trào phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc với quy mô gia trại, trang trại phát triển mạnh Người chăn nuôi và các chủ trang trại đều mong muốn có giống lợn đạt chất lượng cao phù hợp với điều kiện chăn nuôi của từng hộ Để sản xuất ra giống lợn ngoại có tỷ lệ nạc cao, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, thích nghi với môi trường và phù hợp điều kiện chăn nuôi ở Thái Bình, Công ty Cổ phần Giống Chăn nuôi Thái Bình đã

được Sở Khoa học Công nghệ cho triển khai, thực hiện đề tài: “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sản

xuất lợn lai ba máu cho năng suất và chất lượng cao”

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Hiện nay, ở Thái Bình đã có nhiều giống lợn cho năng suất cao như lai 3 máu, 4 máu,

5 máu; nhưng trình độ người chăn nuôi Thái Bình chưa phù hợp Trong thực tiễn sản xuất, con giống quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi Công trình nghiên cứu công thức lai 3 máu đã được triển khai từ những năm 70 tại Việt Nam và giống lợn lai 3 máu đã được nuôi tại Thái Bình từ nhiều năm nay Lần đầu tiên Công ty Cổ phần Giống Chăn nuôi

Trang 21

Thái Bình áp dụng công thức lai 3 máu (lợn ngoại) để sản xuất giống lợn lai 3 máu tại Thái Bình

2 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

Lợn lai 3 máu phù hợp với điều kiện và trình độ chăn nuôi hiện nay ở Thái Bình Lợn lai 3 máu thời gian nuôi ngắn, chi phí về thuốc thú y giảm, chi phí vốn giống giảm, giảm được giá thành, tăng khả năng cạnh tranh

Lợn lai 3 máu nuôi thịt đạt các chỉ tiêu: khả năng tăng trọng nhanh (662,8 - 655,8 g/ngày), tiêu tốn thức ăn giảm (2,96 – 2,98 kgTA/kg tăng trọng) , tỷ lệ móc hàm và tỷ lệ nạc cao (Tỷ lệ móc hàm: 75,18 – 75,48%, tỷ lệ nạc: 59,67 – 60,03%), thời gian sinh trưởng ngắn, quay vòng nhanh…

Đề tài đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; UBND Tỉnh Thái Bình, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen (năm 2007).

Trang 22

Giải ba ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng quy trình sản xuất giống cá tra pangasius

hypophthalmus (sauvage, 1880) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo

tại thái bình

I.GIỚI THIỆU

Tác giả: Hoàng Xuân Lợi Năm sinh: 1972

Quê quán: Quỳnh Khê - Quỳnh Phụ - Thái Bình

Trú quán: Trại Giống cá nước ngọt Vũ Lạc - Kiến Xương - Thái

Bình

Văn hóa: 12/12 Chuyên môn: Kỹ sư Thủy sản

Chức vụ: Trại trưởng

Đơn vị công tác: Trại Giống cá nước ngọt Vũ Lạc -

Trung tâm Giống Thủy sản Thái Bình

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Lần đầu tiên ở Thái Bình sản xuất được cá Tra giống cung cấp cho nông dân nuôi cá, đáp ứng nhu cầu nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Thái Bình

Trang 23

Cá Tra tại Miền Bắc sinh sản muộn hơn Miền Nam, do vậy để có cá giống sớm cung cấp cho phong trào nuôi cần phải lưu giống qua đông do vậy phải làm mái che và phủ bạt kín

ao nuôi, bên trong đặt máy sục khí cung cấp oxi… Cá tra đã được lưu giống thành công, tỷ lệ sống đạt trên 80%

Trứng cá Tra rất nhỏ, vì vậy nguồn nước ương ấp trứng phải rất trong sạch Trong điều kiện cơ sở không thể khai thác được nguồn nước ngầm, nguồn kinh phí hạn hẹp, tác giả

đã áp dụng phương pháp lọc sinh học (Dùng bèo lục bình) và lọc cơ học (Dùng ao lắng, tấm mút…) để làm trong sạch nguồn nước, đáp ứng yêu cầu

Cá Tra là loài cá ăn tạp và rất phàm ăn, khi còn nhỏ chúng có thể ăn lẫn nhau dẫn tới

tỷ lệ sống sau ương nuôi thường thấp Khi cá nở cần phải san giãn mật độ,… Vì vậy trong quá trình ương nuôi cần phải cho cá ăn làm nhiều lần trong ngày, thức ăn giàu đạm, khắc phục hiện tượng phân đàn của cá

2 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

Lợi ích Kinh tế: Tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, chất lượng con giống được nâng lên do không phải vận chuyển xa (Các tỉnh phía Bắc thường phải nhập giống

cá tra từ Miền Nam)

Giá thành sản phẩm:

Loại sản phẩm Đơn

vị tính

Giá thành (đồng/con) Ghi chú

Cá bột con 2,974 Giá của công ty Việt Long (TP HCM)

3 Khả năng áp dụng:

Trang 24

Quy trình kỹ thuật trên có thể áp dụng với các cơ sở sản xuất giống thủy sản Hơn hai năm qua Trung tâm đã cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh hàng chục triệu con cá bột, trên 50 vạn con cá giống

Đề tài đã đựơc tặng Bằng chứng nhận đạt giải ba Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen; Ban Tổ chức Hội thi STKT Thái Bình tặng Giấy khen (năm 2007)

GIẢI BA NGHIÊN CỨU , XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ THUẦN HÓA CÁ VƯỢC

TỪ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶN (Ở BIỂN) SANG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NGỌT VÀ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ NUÔI CÁ VƯỢC GIỐNG VÀ THƯƠNG PHẨM

I GIỚI THIỆU

ÅA Họ và tên: Trương Văn Trị Năm sinh: 1980

Quê quán - Trú quán: Nam Cường - Tiền Hải - Thái Bình

Văn hóa: 12/12 Chuyên môn: Trung cấp nuôi trồng thủy sản

Đơn vị công tác: Trại sản xuất và dịch vụ thương mại giống Thủy sản Điện thoại: 036.201.186 - 0904.704.552

Ô.TRƯƠNG VĂN TRỊ

II NỘI DUNG:

Cá vược hiện đang là sản phẩm hàng hóa có tiềm năng xuất khẩu rất lớn Tuy nhiên, sản lượng cá vược nước ngọt rất thấp, nguyên nhân chủ yếu do thiếu giống, chất lượng giống chuyển đổi từ môi trường nước mặn sang nuôi trực tiếp môi trường nước ngọt không thích nghi, tỷ lệ sống rất thấp Vận chuyển từ miền Nam ra Bắc rất xa, chi phí lớn, không đáp ứng kịp thời, đầy đủ giống cho bà con nông dân, nhiều hộ dân phải mua từ Hải Phòng hoặc gom dần với số lượng cá rất ít, kích cỡ không đồng đều của các hộ ngư dân đi biển Nuôi cá vược nước ngọt tốc độ sinh trưởng cao hơn nuôi ở môi trường nước mặn, tỷ lệ sống rất cao

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Trang 25

Với nhu cầu cấp thiết về giống cá vược nước ngọt cung cấp cho bà con nông dân, tháng 3/2006 cơ sở đã mạnh dạn nhập 20.000 con cá vược kích cỡ 1 - 2cm từ Trung tâm Giống Thủy sản Vũng Tàu đang nuôi trong môi trường nước mặn (độ mặn 30%) về nuôi thực nghiệm và thuần hóa dần sang môi trường nước ngọt (độ mặn 0%)

Qui trình công nghệ thuần hóa cá vược giống từ môi trường nước mặn (độ mặn 30%) sang môi trường nước ngọt (độ mặn 0%) là hoàn toàn mới ở Thái Bình, do tác giả tự nghiên cứu, tìm hiểu và thực tế làm mô hình thực nghiệm tại trại cá của gia đình, tác giả tự đầu tư kinh phí để nghiên cứu sáng tạo ra qui trình công nghệ thuần hóa cá vược từ môi trường nước mặn sang môi trường nước ngọt thành công

Cá vược được nuôi trong môi trường nước ngọt có ưu thế đặc biệt sau: Sau 1 tháng nuôi

cá đều, đẹp, tốc độ tăng trưởng, phát triển rất nhanh cao hơn so với môi trường nước mặn 1,3 - 1,5 lần Tỷ lệ sống cao, đạt 85 - 95 % Cá vược được thuần hóa nuôi trong môi trường nước ngọt gần như chưa xuất hiện bệnh nấm, trong khi đó nuôi trong môi trường nước mặn cá vược hay bị nấm chết hàng loạt

2 Khả năng áp dụng:

Năm 2006 và 8 tháng đầu năm 2007 cá vược giống nước ngọt do tác giả thuần hóa đã được nuôi tại nhiều hộ gia đình, trang trại huyện Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Nam Định với số lượng trên 100.000 con (3 đợt) Cá vược thương phẩm đã và đang được xuất khẩu sang thị trường một số nước

Cá vược nước ngọt được nuôi rộng rãi trong các trang trại gia đình khắp mọi miền đất nước Mở ra hướng mới, triển vọng mới, góp phần cho ngành thủy sản cả nước phát triển Cá vược là một loài cá đặc sản không chỉ nước mặn, nước lợ mà giờ đây nó còn được biết đến cả trong nước ngọt, không chỉ ở vùng ven biển và cả vùng trung du miền núi cũng có thể nuôi được

3 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

* Hiệu quả kinh tế:

Năm 2006 và 8 tháng đầu năm 2007, cơ sở đã nhập về 120.000 con cá giống kích cỡ 1 - 2cm, thuần hóa từ môi trường nước mặn sang môi trường nước ngọt Sau đó bán giống, đồng thời nuôi thương phẩm và bán cá thịt Kết quả thu được như sau:

Năm Chỉ tiêu Số lượng

cá (con)

Cá khi xuất bán

Trang 26

Năm 2007 cơ sở tiếp tục nhập 20.600 cá giống bán đầu năm 2008

* Hiệu quả xã hội:

Nuôi cá vược ít ảnh hưởng đến môi trường bởi cá vược sống trong môi trường phải sạch sẽ, trong suốt quá trình nuôi ở nước ngọt không cần dùng hóa chất, phân hóa học, phân hữu cơ để gây màu nước như nuôi cá truyền thống Đặc biệt nếu nuôi ghép cá vược với một số

cá truyền thống như: cá trôi, cá mè, cá chép, cá rô phi thì phân thải và thức ăn dư thừa của cá vược là thức ăn chính cho các loài cá thả ghép

Tận dụng mặt nước ao nuôi trong môi trường nước ngọt, tăng giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương

Đề tài đã đựơc tặng Bằng chứng nhận đạt giải ba Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Bằng khen; Ban Tổ chức Hội thi STKT Thái Bình tặng Giấy khen (năm 2007)

Giải ba Chế tạo máy phay rau bèo phục vụ ngành chăn nuôi

I GIỚI THIỆU

Họ và tên: Nguyễn Như Lĩnh Năm sinh: 1964

Quê quán - Trú quán: Thuỵ Thanh - Thái Thuỵ - Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chức vụ: Giám đốc Doanh nghiệp

Đơn vị công tác: Doanh nghiệp Thiên Thuận - Thụy Thanh -

Thái Thụy - Thái Bình

Điện thoại: 036.855.070 - 0989.756.123

Ô NGUYỄN NHƯ LĨNH

II NỘI DUNG:

Sau một thời gian tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, năm 2004 Doanh nghiệp Thiên Thuận đã cải tiến, chế tạo thành công 8 loại máy bơm nước có công suất, kiểu dáng khác nhau phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Những sáng kiến cải tiến công nghệ sản xuất và lắp ráp máy bơm nước của Thiên Thuận đã khắc phục được cơ bản những nhược điểm của công nghệ sản xuất máy bơm nước hiện có ở Thái Bình

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Tận dụng bộ sắt từ trong mô tơ của máy lạnh, điều hòa nhiệt độ cũ, hỏng, gia công

để đạt các kích thước yêu cầu và sử dụng làm stato, rôto của các loại máy bơm nước Bộ sắt từ trong mô tơ điện của máy lạnh, máy điều hòa có chất lượng đảm bảo, triệt tiêu được dòng điện

Trang 27

Phucô phát sinh trong quá trình làm việc của mô tơ điện cao Các chi tiết máy trong tủ lạnh, máy điều hòa được ngâm trong dầu nên không bị ảnh hưởng của tác động môi trường trong quá trình làm việc, vì vậy hoàn toàn có thể tái sử dụng cho môtơ của máy bơm nước, khắc phục được các nhược điểm của bộ sắt từ sản xuất trong nước

Sử dụng công nghệ làm khuôn đúc tạo phôi bằng mẫu kim loại thay thế cho mẫu gỗ, khắc phục các tồn tại của thân mô tơ như kích thước lớn, hình dạng thô, lượng gia công lớn, giảm được nguyên liệu

Nghiên cứu, chế tạo các đồ gá để tiện các chi tiết buồng nước ly tâm, gối đỡ bi, thân máy đảm bảo các kích thước lắp ráp của các chi tiết …

2 Khả năng áp dụng:

Sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên vào sản xuất, hiện tại Doanh nghiệp Thiên Thuận đã cho ra trên thị trường 8 loại máy bơm nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp được khách hàng chấp nhận

3 Hiệu quả kinh tế - xã hội:

Máy bơm nước Thiên Thuận có giá bán bằng 1/3 giá máy bơm nước Hàn Quốc, Italia sản xuất với cùng công suất tương đương, rẻ hơn máy do Việt Nam sản xuất Tận dụng

và tái sử dụng một lượng phế thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường, giải quyết việc làm, thu nhập cho hàng chục lao động

Máy bơm nước Thiên Thuận kiểu dáng đẹp, có độ bền cao, tiết kiệm điện năng, sử dụng thuận tiện, giá cả phù hợp, chỉ bằng 1/3 giá máy bơm nước Hàn Quốc cùng công suất Bảo hành chu đáo, sản phẩm đã được đăng ký độc quyền nhãn hiệu

Năm 2003, Công ty Thiên Thuận đã sản xuất máy phay rau bèo đưa vào sản xuất hàng loạt với những ưu điểm nổi trội: Gọn nhẹ (10 kg), năng suất cao 300kg bèo/h, sử dụng đơn giản, an toàn trong sản xuất, giá cả phù hợp Máy phay rau bèo là sản phẩm sáng tạo mới hoàn toàn của Doanh nghiệp Thiên Thuận, năm 2006 sản phẩm đã được cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp Sản phẩm máy phay rau bèo rất thích ứng với thị trường, được người chăn nuôi tin dùng Từ năm 2003 - 2007 Doanh nghiệp Thiên Thuận bán được 12.855 máy

Đề tài đã được tặng Bằng chứng nhận đạt giải ba Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo; Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Bình tặng Bằng khen; Ban Tổ chức Hội thi STKT Thái Bình tặng Giấy khen (năm 2007)

Đề tài: “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy bơm nước dùng trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tận dụng (tái sử dụng) một số chi tiết của máy lạnh, máy điều

Trang 28

hòa nhiệt độ cũ, hỏng” của tác giả đã được Ban Tổ chức Hội thi tặng Bằng chứng nhận đạt giải Khuyến khích Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2005)

GIẢI BA CẢI TIẾN KỸ THUẬT SỬ DỤNG ÔXY CAO ÁP KẾT HỢP VỚI MÁY KHÍ DUNG

I GIỚI THIỆU

A Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Duyên Năm sinh: 1973

Quê quán: Quỳnh Hồng - Quỳnh Phụ - Thái Bình

Trú quán: Phường Kỳ Bá, TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Trung học Điều dưỡng

Cơ quan công tác: Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Đa khoa

tỉnh Thái Bình

Điện thoại: 036.832.477 BÀ.NGUYỄN THỊ THANH DUYÊN

II NỘI DUNG

Khí dung thuốc là một biện pháp điều trị, nhằm sử dụng thuốc dưới dạng sương mù để chống viêm tại chỗ cũng như điều trị co thắt phế quản, tắc nghẽn đường thở Nguyên lý là sử dụng một dòng khí nén đi qua bình phun thể tích nhỏ để chuyển thuốc từ dạng nước sang dạng sương mù

Tại khoa Hồi sức cấp cứu, khí dung được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp điều trị: cơn hen phế quản cấp, đợt cấp của bệnh phổi mãn tính tắc nghẽn (COPD), sau rút ống nội khí quản, cần hỗ trợ bệnh nhân ho, khạc đờm Các trường hợp này ngoài nhu cầu khí dung thuốc, bệnh nhân còn cần được cung cấp oxy liên tục Khi khí dung phải dùng Mask hay ngậm

Trang 29

ống khí dung, việc cung cấp oxy phải theo đường riêng rất bất tiện, hơn nữa khi có nhiều bệnh nhân cần khí dung một lúc thì không đủ máy (vì mỗi bệnh nhân phải sử dụng một máy riêng)

Trước đây, Khoa Hồi sức cấp cứu sử dụng khí dung thuốc bằng hình thức phun thể tích nhỏ, với dòng oxy nén trực tiếp làm khí dung Nhược điểm của phương pháp này là các hạt khí dung to, bệnh nhân dễ bị kích thích, ho nhiều, khó chịu

Máy khí dung siêu âm Devilbiss, hoạt động gồm 2 bộ phận: bộ phận siêu âm tạo các hạt khí dung, bộ phận tạo dòng khí để đẩy thuốc vào bệnh nhân có van để điều chỉnh lưu lượng thuốc Ưu điểm của máy này là tạo được các hạt thuốc nhỏ nên bệnh nhân ít bị kích thích, không ho, dễ chịu hơn Song lại có nhược điểm là không cung cấp được đồng thời oxy cho bệnh nhân

1 Tính mới, tính sáng tạo:

Để khắc phục hạn chế nêu trên, tác giả đã nghiên cứu cải tiến thay thế dòng khí nén của máy khí dung siêu âm bằng dòng oxy nén để đồng thời cung cấp được cả thuốc làm khí dung

và cả oxy cho bệnh nhân

Không cần sử dụng máy khí dung (cồng kềnh, đắt tiền) mà chỉ cần dùng bầu khí dung kết hợp với bình oxy hoặc máy tạo oxy sẵn có

Ngoài ra tính mới và sáng tạo rất quan trọng của giải pháp là giải quyết được vấn đề cần phải tăng cường oxy khí thở vào người bệnh có chỉ định thở oxy (khí dung bằng máy không làm được chức năng này)

2 Khả năng áp dụng:

Tất cả các cơ sở y tế có trang bị máy tập trung oxy hoặc bình oxy nén, có thể phục vụ một lúc nhiều người bệnh

3 Lợi ích kinh tế - xã hội:

Tại các cơ sở y tế có trang bị máy tập trung oxy (hoặc bình oxy nén) không nhất thiết phải trang bị máy khí dung (đắt tiền, tối thiểu 800.000đ/cái) mà chỉ cần trang bị vài bầu khí dung (rẻ tiền chỉ vài chục nghìn đồng) Với người bệnh khó thở, có chỉ định thở oxy và khí dung sử dụng giải pháp này giải quyết cùng lúc hai vấn đề mà máy làm khí dung không thể giải quyết được Thao tác rất đơn giản, dễ dàng sử dụng ở mọi tuyến y tế

Đề tài đựơc tặng Bằng chứng nhận đạt giải ba Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thái Bình (năm 2007) Tác giả được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng

Trang 30

tạo; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Bằng khen; Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Bình, Ban Tổ chức Hội thi STKT Thái Bình tặng Giấy khen (năm 2007)

GIẢI BA GIẢI PHÁP LÀM GIÁ ĐỠ TẠO TƯ THẾ PHÙ HỢP CHO BỆNH NHÂN KHÓ THỞ NHIỀU MỨC ĐỘ KHÁC NHAU KHI PHẢI TRUYỀN DỊCH VÀ THUỐC

I GIỚI THIỆU

Họ và tên: Nguyễn Thị Dậu Năm sinh: 1957

Quê quán: Thăng Long - Đông Hưng - Thái Bình

Trú quán: phường Đề Thám - TP Thái Bình

Văn hóa: 10/10 Chuyên môn: Trung học Điều dưỡng

Chức vụ: Trưởng khoa Điều dưỡng

Cơ quan công tác: Khoa Nội A - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Điên thoại: 036.387.629

ơ

BÀ NGUYỄN THỊ DẬU

II NỘI DUNG

Cấp cứu khó thở hay thường gọi là tình trạng suy hô hấp cấp tính hay mãn tính vào các khoa hệ nội – nhi hàng ngày chiếm tới một tỷ lệ khá cao từ 50 – 70% so với cấp cứu chung Mọi sự khó thở này đều biểu hiện bằng suy giảm cấp tính đột ngột hay từ từ tổn thương

cơ quan hô hấp ở nhiều mức độ khác nhau

Trong các trường hợp cấp cứu thường diễn ra đồng bộ việc chỉ định thuốc và các động tác kỹ thuật cấp cứu như: ôxy, các thuốc giãn cơ trơn phế quản luôn được chỉ định ngay

từ khi khó thở bằng phương pháp tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch hoặc pha huyết thanh truyền tĩnh mạch theo giờ hoặc truyền tĩnh mạch liên tục trong một quá trình cấp cứu và điều trị để

Ngày đăng: 25/07/2016, 02:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w