Xuất phát từ quan niệm môn lịch sửkhông cần làm bài tập, hoặc chỉ là những bài tập mang tính chất học thuộc lòng đểghi nhớ sự kiện, nhân vật, địa danh…… Thậm chí có giáo viên và học sinh
Trang 1Sở giáo dục và đào tạo hng yên
Trờng THPT CHUYÊN HƯNG YÊN
Mụn: Lịch sử
Tỏc giả: Th.s Nguyễn Thị Hiền
Giỏo viờn mụn: Lịch sử
Trờng THPT Chuyên Hng Yên
Năm học 2015 - 2016 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 5
Trang 21.Lý do chọn đề tài ……… 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… …7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……… …7
PHẦN NỘI DUNG ……… 8
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT ……… 8
1 Cơ sở Lý luận về việc sử dụng hệ thống bài tập và hệ thống bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT ……… 8
1.1 Quan niệm về bài tập nói chung và bài tập trong dạy học lịch sử nói riêng …… 8
1.2 Phân biệt “Câu hỏi”, “bài tập”, “bài tập nhận thức” ……… 10
1.3 Phân loại bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT ……… … 12
1.4 Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT ………… 21
1.4.1 Bài tập lịch sử đối với việc hình thành tri thức cho học sinh ……… 22
1.4.2 Bài tập lịch sử góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh ……… ……… 24
1.4.3 Bài tập lịch sử góp phần phát triển học sinh ……… 25
2 Vấn đề sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT ……… 28
2.1 Cơ sở lý luận dạy học ……… 28
2.2 Xuất phát từ đặc trưng của việc dạy học lịch sử ……… 31
2.3 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT ……… 34
3 Cơ sở thực tiễn ……… 36 CHƯƠNG II: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY
VÀ HỌC LỊCH SỬ LỚP 11 – PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM ( 1858 – 1918)
Trang 31 Nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập lịch sử ……… … 42
1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tạp trong dạy học lịch sử ……… 42
1.2 Quy trình thiết kế bài tập lịch sử ……… 48
2 Thiết kế bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 lớp 11 trường THPT ……… 49
2.1 Vị trí, mục đích, nội dung lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 lớp 11 THPT 49 2.1.1 Vị trí……… 49
2.1.2 Mục đích……… 50
2.1.3 Nội dung lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918………52
2.2 Thiết kế bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918, lớp 11 THPT……… 56
2.2.1 Nhóm bài tập nhận biết lịch sử……….56
2.2.2 Nhóm bài tập nhận thức lịch sử………61
2.2.3 Nhóm bài tập thực hành lịch sử………67
2.2.4 Nhóm bài tập tổng hợp………69
3 Một số yêu cầu chung khi sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử đối với giáo viên và học sinh……… 70
3.1 Một số yêu cầu chung khi sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử đối với giáo viên 70
3.2 Một số yêu cầu đối với học sinh khi sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử…….75
4 Các biện pháp sư phạm sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT……… 77
4.1 Sử dụng bài tập lịch sử trong giờ truyền thụ kiến thức mới………77
Trang 44.2 Sử dụng bài tập để tổ chức, hướng dẫn học sinh làm bài tạp lịch sử trong tự học ở
nhà……….84
4.3 Sử dụng bài tập để tổ chức các hoạt động ngoại khóa………86
4.4 Sử dụng bài tập trong kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh…… 88
5 Thực nghiệm sư phạm………93
PHẦN KẾT LUẬN ……… 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 99
PHẦN PHỤ LỤC ……… 103
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 51 Lý do chọn đề tài:
Bộ môn lịch sử có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp kiến
thức về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới góp phần tích cực vào việc “Phát triển toàn
diện học sinh về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và óc sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân”.
Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay nhiều học sinh – trong đó có cả học sinhchuyên sử cũng thờ ơ với môn lịch sử Sự yêu thích bộ môn lịch sử cũng như chấtlượng học tập bộ môn giảm sút đáng lo ngại báo động (điều đó thể hiện ở chất lượngcác bài thi tốt nghiệp THPT, đại học, học sinh giỏi) đã làm cho dư luận xã hội, cácnhà quản lí giáo dục, giáo viên tâm huyết với lịch sử lo lắng Vậy để khắc phục tìnhtrạng này phải đổi mới được nội dung phương pháp, phương tiện dạy học, đến cáchthức kiểm tra đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới phươngpháp dạy học
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT được thể
chế hóa trong Luật giáo dục: “Phương pháp giáo dục phổ thông là phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.
Tăng cường hơn nữa kĩ năng thực hành và sử dụng bài tập trong quá trìnhdạy học lịch sử ở trường phổ thông là một trong những biện pháp quan trọng để thựchiện yêu cầu trên Hiện nay trong lí luận và thực tiễn, các nhà khoa học giáo dục đãđưa ra nhiều biện pháp, con đường để cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử,một trong những biện pháp đó là sử dụng hệ thống bài tập lịch sử để kích thích hoạtđộng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh Khi làm đươc bài tập lịch sử, học sinh sẽhiểu bài, hiểu được bản chất vấn đề lịch sử, từ đó các em sẽ có cách nhìn đúng về bộmôn và sẽ có tình yêu với bộ môn
Trang 6Tại các trường phổ thông hiện nay, nhiều giáo viên và học sinh còn chưaquen với làm bài tập lịch sử ở trên lớp và ở nhà Xuất phát từ quan niệm môn lịch sửkhông cần làm bài tập, hoặc chỉ là những bài tập mang tính chất học thuộc lòng đểghi nhớ sự kiện, nhân vật, địa danh…… Thậm chí có giáo viên và học sinh chưa phânbiệt rõ “câu hỏi” và “bài tập” trong dạy học lịch sử.
Đối với giáo viên, hình thức phổ biến nhất là sử dụng các câu hỏi trongsách giáo khoa, chỉ có một số ít giáo viên tâm huyết với nghề chú ý xây dựng và sửdụng hệ thống bài tập Về phía học sinh, chỉ biết học thuộc lòng kiến thức trong sáchgiáo khoa, đọc lại vở ghi, so sánh với sách giáo khoa và học thuộc lòng một số sựkiện nào đó mà không hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng, nhầm lẫn kiến thức Một nhiệm vụ học tập chung chung, không rõ ràng, không biết phải hoàn thànhnhững công việc nào như vậy sẽ không thúc đẩy việc tự học của học sinh
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, bài tập lịch sử được sử dụng trong cáckhâu của quá trình dạy học, trong đó có kiểm tra – đánh giá toàn diện, chính xác hiệuquả dạy học lịch sử ở trường THPT Vì vậy, việc ra các bài tập và yêu cầu học sinhphải hoàn thành các bài tập cụ thể là một yêu cầu cần thiết, từng bước hình thành kĩnăng, thói quen tự học cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sửhiện nay
Xuất phát từ những lí do chủ yếu trên, tôi xin trao đổi với các đồng nghiệp về
bộ môn với đề tài sáng kiến kinh nghiệm “ Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy và học lịch Việt Nam - Lớp 11”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các tài liệu về tâm lí học và lí luận dạy học hiện đại của các tác giả trong
và ngoài nước đều đề cập đến vấn đề bài tập nhằm nâng cao tính hiệu quả dạy học Trong quyển “dạy học nêu vấn đề” của I.Ialacne; “Đánh giá giáo dục” củaTrần Bá Hoành… Các tác giả đều cho rằng dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học mới,
Trang 7Đối với môn lịch sử, giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tác giả GS.TSPhan Ngọc Liên và PGS Trần Văn Trị (chủ biên) không chỉ đề cập đến sự cần thiếtphải thực hiện bài tập trong dạy học lịch sử mà còn đền cập đến các hình thức, biệnpháp sử dụng bài tập lịch sử Ngoài ra còn có các tài liệu chuyên khảo, luận văn, tàiliệu bồi dưỡng giáo viên “Bài học lịch sử và kiểm tra đánh giá kết quả hoc tập lịch sửcủa học sinh THPT”, “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ởtrường THPT” của PGS TS Nguyễn Thị Côi… Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của
đề tài còn kể đến các tác tài liệu khác: “Câu hỏi và bài tập lịch sử 11” của PS PhanNgọc Liên, “Hướng dẫn học sinh giải bài tập lịch sử” tác giả Nguyễn Thị Côi…
Từ những công trình nghiên cứu chủ chốt này giúp tôi có được định hướngquan trọng trong việc xây dựng bản sáng kiến kinh nghiệm này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: quá trình dạy và học lịch sử Việt Namlớp 11 trong thời kì (1858 – 1918)
- Phạm vi: Thiết kế một số loại, dạng bài tập tiêu biểu trong nội dung chươngtrình Lịch sử Việt Nam lớp 11 và các biện pháp sư phạm để sử dụng các bài tập đó
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài khẳng định quan niệm đúng đắn, khoa học về sự cần thiết của việc
sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Đề tài cũng nêu lên nguyên tắc, quy trình xây dựng nội dung và đề xuấtnhững hình thức, biện pháp cụ thể sử dụng bài tập để nâng cao hiệu quả trong dạy họclịch sử lớp 11 – phần lịch sử Việt Nam (1858 – 1918)
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
Trang 81 Cơ sở lí luận về việc sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1 Quan niệm về bài tập nói chung và bài tập trong dạy học lịch sử nói riêng
Đã có nhiều công trình của các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước
đề cập đến vấn đề bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng Trong đó có thể nêu
ra đây một số vấn đề như sau
Về khái niệm “bài tập” theo nghĩa chung nhất dùng để chỉ một hoạt độngnhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ) như bài tập thể dục, bài tập thanh
nhạc… Khi dùng vào lĩnh vực giáo dục, theo Từ điển tiếng Việt thuật ngữ “bài tập”
có nghĩa là ra bài cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học Ví dụ bài tập vật
lý, bài tập hóa học, bài tập đại số… Tuy nhiên định nghĩa này mới chỉ giải thích về
mặt ngữ nghĩa chứa chưa làm rõ bản chất của khái niệm “bài tập” Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, khi xem xét khái niệm “bài tập” ta không thể tách dời nó với ngời làm
bài tập Bài tập chỉ có thể là bài tập khi nó trở thành đối tượng hoạt động của một chủthể Bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽvới nhau và tác động qua lại với nhau đó là:
- Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, diễn tả trạng thái
ban đầu của bài tập, từ đó tìm ra phép giải; theo ngôn ngữ thông dụng thì đó là “cái
cho”
- Những yêu cầu, là trạng thái mong muốn đạt tới của đối tượng; đó là cáiđích mà chủ thể phải hướng tới để thỏa mãn nhu cầu của mình, theo ngôn ngữ thôngdụng thì đây là cái phải tìm
Như vậy, bài tập và người giải trở thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất,liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau [41;59]
Còn theo Đaini: bài tập nhận thức còn được gọi là bài tập tư duy, bài tập chỉdẫn, bài tập logic Tuy cách gọi khác nhau nhưng theo Ông, các thuật ngữ nỳ đều
Trang 9thuật ngữ, bài tập nêu vấn đề, hoặc bài tập logic là thích hợp nhất Hơn tất cả các thuật ngữ khác hai thuật ngữ này nhấn mạnh đến điều chủ yếu tức là học sinh chế biến lại các tài liệu cảm thụ một cách tự lập chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức logic trong quá trình giải quyết vấn đề”[11;79].
Như vậy, thay cho việc học lý thuyết, người học được trải nghiệm, khám phákiến thức qua hành động, học qua “làm”, kiến thức sẽ được khắc sâu và bền vững.Câu nói dưới đây thể hiện điều đó
HỌC QUA “LÀM”
Nói cho tôi nghe – Tôi sẽ quên
Chỉ cho tôi thấy – Tôi sẽ nhớ
Cho tôi tham gia – Tôi sẽ hiểu
Hướng dẫn người khác – Sẽ là của tôi
Từ những lí luận trên đây, theo tiến sỹ Trần Quốc Tuấn bài tập lịch sử cónhững đặc trưng cơ bản sau:
- Bài tập lịch sử được xem là một hệ thông tin, quy định nhiệm vụ mà họcsinh phải thực hiện hay là mục đích mà giáo viên và học sinh cần phải hoàn thànhtrong dạy học lịch sử (bao gồm kiến thức, tư tưởng, tình cảm – xúc cảm và kĩ năng, kĩxảo)
- Bài tập lịch sử được tiến hành ở các khâu của quá trình dạy học; nghiên cứutài liệu mới, củng cố, khái quát hóa, hệ thống hóa, vận dụng và kiểm tra, đánh giákiến thức
- Bài tập lịch sử, đặc biệt là bài tập nhận thức là phương tiện chủ yếu, chủđạo của dạy học nêu vấn đề - một phương pháp dạy học cơ bản nhằm phát huy nănglực tư duy độc lập và sáng tạo của học sinh
- Bài tập lịch sử là phương tiện thúc đẩy nỗ lực tự học của học sinh giúp các
Trang 101.2 Phân biệt “câu hỏi”, “bài tập”, “bài tập nhận thức”
Trong quá trình dạy và học, đôi khi cả thầy và trò đều có sự nhầm lẫn giữa
“câu hỏi” và “bài tập”, “bài tập nhận thức” Các dạng bài này thường được kết hợp
đan xen,được sử dụng và phân bố trong giờ học theo một mức độ hợp lí mới cho hiệuquả tốt Tần số sử dụng các loại bài này còn phụ thuộc vào quỹ thời gian, đặc điểm vàtrình độ nhận thức của học sinh Ở học sinh lớn tuổi, học sinh học chuyên sâu việctăng cường bài tập nhận thức là cần thiết mặc dù không coi nhẹ việc ra câu hỏi, bàitập để tích luỹ kiến thức, rèn luyện kĩ năng làm cơ sở cho việc nắm bản chất của lịch
sử và phát triển tư duy của học sinh
“Câu hỏi” là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, nóđòi hỏi phải có cách giải quyết Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống cũngnhư trong dạy học Tuy nhiên câu hỏi trong cuộc sống không hoàn toàn giống với câuhỏi trong dạy học Bởi câu hỏi khi giáo viên đưa ra là những vấn đề mà giáo viên đãbiết, học sinh đã được học để có cách trả lời thông minh, sáng tạo Do đó, câu hỏitrong dạy học bao giờ cũng mang yếu tố mở, yếu tố nhận biết, khám phá hặc khámphá dưới dạng một thông tin khác, bằng cách cho học sinh tìm ra mối quan hệ, cácquy tắc, các con đường tạo ra một câu hỏi hoặc một cách giải quyết mới [11;76]
Từ những nhận thức trên đây ta có thể nhận thấy câu hỏi và bài tập có diểmgiống nhau, khác nhau, nhưng cũng có mối quan hệ với nhau
Về mặt chức năng dạy học: cả hai đều là phương tiện tổ chức hoạt động nhậnthức và kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện kĩ năng bộ môn cho học sinh
Về cấu trúc: câu hỏi và bài tập có điểm khác nhau Câu hỏi chỉ nêu yêu cầuhoặc nhiệm vụ học sinh cần trả lời, còn bài tập và có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêucầu (hoặc câu hỏi) Để giải quyết bài tập học sinh phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để
tìm lời giải Ví dụ câu hỏi: “Trình bày tình hình 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ trước
chiến tranh giành độc lập” Bài tập “Căn cứ vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
Trang 11của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ em hãy xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến tranh bùng nổ”
Như vậy, câu hỏi và bài tập là hai phương tiện dạy học có quan hệ gắn bóvới nhau Bài tập chứa đựng một hay nhiều câu hỏi nhưng không phải bất cứ câu hỏinào đều xem là bài tập Bởi vì, trong bài tập ngoài câu hỏi còn có những dữ liệu (điềukiện) Câu hỏi chỉ trở thành bài tập khi nào nó mang yếu tố “vấn đề” – nêu và giảiquyết vấn đề Trên cơ sở đó chúng ta có thể hiểu không phải bất cứ câu hỏi nào cũng
là bài tập, nếu như câu hỏi đó chỉ bắt học sinh nhớ lại, chứng minh lại Bài tập lịch sử
có nội dung rộng hơn câu hỏi trong sách giáo khoa, đòi hỏi thời gian, công sức, trí tuệcao hơn của học sinh
“Bài tập nhận thức” theo I.Ia.Lecne là “Bài tập mà việc độc lập giải quyết
nó sẽ dẫn đến chỗ tạo ra sự hiểu biết mới về lịch sử xã hội bằng những phương thức giải quyết mới mà trước đó học sinh chưa biết Đồng thời, nội dung bất kì bài tập nhận thức nào cũng là một vấn đề, thể hiện sự mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết và vấn đề này được giải quyết bằng toàn bộ những thao tác và phán đoán
về trí tuệ và thực tiễn có tính chất trung gian giữa câu hỏi và câu hỏi của bài tập”
[11;78] Bài tập nhận thức – bài tập nêu vấn đề thường được diễn tả dưới dạng câu
hỏi hoặc ý kiến khác nhau mà giáo viên đưa ra cho học sinh đánh giá.
Như vậy câu hỏi có nội hàm rộng hơn so với bài tập Một trong số trườnghợp nó trở thành bài tập hoặc bài tập nhận thức Nếu câu hỏi được sử dụng để họcsinh rèn luyện, vận dụng những điều đã biết, đã học nhằm hoàn thành một nhiệm vụhặc thực hiện một mục đích đề ra thì đó là bài tập Nếu những câu hỏi khi trả lờikhông chỉ đòi hỏi tái hiện, nhớ lại kiến thức một cách đơn thuần, mà nhằm hình thànhkiến thức với chất lượng mới bằng các thao tác của tư duy phức tạp thì trở thành bàitập nhận thức Để trả lời được các câu hỏi này, học sinh không thể chỉ sử dụngnguyên si các kiến thức, kĩ năng sẵn có mà phải xử lí khéo léo và huy động nhiềubước trung gian trong trí tuệ của họ
Trang 12Muốn hoàn thành tốt các bài tập nhận thức – bài tập nêu vấn đề, cần tạo ramột trạng thái tâm lí độc đáo của trướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm,
có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó không phải bằng tái hiện, bắt chước mà bằng sựtìm tòi sáng tạo, tích cực đầy hưng phấn Khi hoàn thành nhiệm vụ của bài tập nhậnthức là luc học sinh giành được kiến thức, phương pháp suy luận, phương phápnghiên cứu và cả niềm vui sướng của sự tìm tòi, phát hiện
Sự phân loại trên đây giữa “câu hỏi”, “bài tập”, “bài tập nhập thức” cũng chỉ là tương đối Vì “mọi gianh giới giữa tự nhiên và xã hội đều có điều kiện và linh
hoạt” (Lê nin) Sự chuyển hóa giữa các khái niệm này chủ yếu do hai điều kiện:
- Sự khác nhau về trình độ, năng lực nhận thức giữa các lớp học, cấp học
- Tùy vào hoàn cảnh, thời điểm đưa ra các câu hỏi, bài tập và bài tập nhận thức
Cùng một câu hỏi, nhưng nếu giáo viên lựa chọn đưa ra ngay đầu giờ họcnhằm định hướng cho học sinh những nội dung chính cần nắm khi nghiên cứu bàimới, đồng thời cũng thu hút sự chú ý, huy động những kiến thức đã có của các em vàkích thích hoạt động trí tuệ hứng thú của học sinh với vấn đề sẽ nghiên cứu thì đượccoi là bài tập nhận thức Ngược lại, nếu đặt câu hỏi đó sau khi hoàn thành tiết học,một bài giảng thì nó không còn là một nhiệm vụ của bài tập nhận thức nữa mà chỉ làcâu hỏi củng cố, rèn luyện
1.3 Phân loại bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Việc phân loại bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng có tầm quantrọng đặc biệt, vì nó giúp chúng ta hiểu được vị trí, tác dụng của từng loại để trên cơ
sở đó tiến hành xây dựng nội dung và phương pháp vận dụng thích hợp
Thứ nhất, nhóm bài tập nhận biết lịch sử.
Đây là nhóm bài tập chủ yếu tái tạo lại hình ảnh quá khứ, qua đó rèn luyệncho học sinh kĩ năng ghi nhớ, tái hiện lại sự kiện, hiện tượng, niên đại, nhân vật, địadanh lịch sử… trong chương trình, sách giáo khoa, bài giảng mà các em đã học
Trang 13Nhóm bài tập này chủ yếu xây dựng dưới hình thức trắc nghiệm khách quan hoặc câuhỏi tự luận ở dạng trình bày
Ví dụ:
- Bài tập lựa chọn đúng sai: đây có thể là một câu hỏi trần thuật, một nhận
định hay một một câu hỏi trực tiếp được trả lời “đúng” hay “sai” Đây là loại trắcnghiệm đơn giản, dễ sử dụng Tuy nhiên kết quả bị ảnh hưởng nhiều của yếu tố ngẫunhiên
- Bài tập lựa chọn câu trả lời đúng nhất
Ví dụ: Khoanh tròn một chữ cái in hoa ở đầu câu trả lời đúng
Vào những năm đầu thế kỉ XX, một số nhà yêu nước Việt Nam muốn đi theocon đường cứu nước của Nhật Bản vì:
A Nhật Bản là nước “đồng văn, đồng chủng”, là nước duy nhất ở Châu Áthoát khỏi số phận thuộc địa
B Sau cải cách Minh Trị (1868), Nhật bản trở thành nước tư bản hùng mạnh
C Nhật Bản đánh thắng đế quốc Nga (1905), là quốc gia duy nhất ở châu Álúc bấy giờ đánh thắng đế quốc phương Tây
D Cả A,B,C đều đúng
- Bài tập yêu cầu học sinh xác lập mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử
và địa danh
Ví dụ: Điền số 1,2,3… ở cột địa danh vào các sự kiện lịch sử tương ứng
phóng
Trang 143 Tân Trào – Tuyên Quang … Hội nghị TƯ lần VIII của Đảng
(1941)
- Bài tập yêu cầu xác lập mối quan hệ giữa sự kiện lịch sử và niên đại lịch sử
Ví dụ: Có hai cột ghi chép niên đại và sự kiện, hãy đánh số thứ tự tương ứngvào cột các sự kiện lịch sử
động ở nước ngoài
Để tăng thêm độ khó của bài tập thuộc dạng này, chúng ta có thể đưa thêm
dữ liệu vào bài tập Ví dụ như: “Bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, nhân vật
và niên đại lịch sử” Hoặc “Bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, niên đại và địadanh lịch sử”…
Ví dụ: có 3 cột sự kiện, nhân vật và địa danh theo thứ tự A,B,C hãy sắpxếp các sự kiện, nhân vật và địa danh theo từng nhóm có liên quan đến nhau
Trang 151 Đại hội Đảng xã hội Pháp (12-1920)
2 Luận cương chính trị (10-1930)
3 Cuộc binh biến Đô Lương (11-1941)
4 Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930)
5 Tuyên ngôn độc lập (9-1945)
1 Hồ Chí Minh
2 Nguyễn Ái Quốc
3 Trần Phú
4 Hoàng Hoa Thám
5 Đội Cung
1 Hà Nội
2 Yên Bái
3 Tua (Pháp)
4 Hương Cảng
5 Nghệ An
- Loại bài tập lựa chọn kết hợp với việc giải thích ngắn gọn mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức được lực chọn
Đây là dạng bài tập tương đối phức tạp, vì nó vừa có sự kết hợp giữa loại bài tập lựa chọn và bài tập xác định mối quan hệ, vừa yêu cầu học sinh phải trình bày, lý giải vấn đề được đặt ra Nó đòi hỏi học sinh phải nhớ chính xác sự kiện địa danh, nhân vật… rồi từ đó rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các kiến thức nêu trên Đây
là dạng bài tập vừa mang nội dung nhận biết, vừa mang nội dung nhận thức
- Bài tập điền thế: Là các câu dẫn (diễn đạt một sự kiện, hiện tượng lịch sử,
các kết luận về chúng…) nhưng còn để các chô trống Học sinh phải điền từ, cụm từ,
số liệu hay kí hiệu để hoàn chính nội dung thông tin
Ví dụ: Nhiệm vụ cách mạng 2 miền Nam-Bắc sau hiệp định Giơnevơ
* Miền Bắc………
* Miền Nam………
*Nhiệm vụ chung của cách mạng 2 miền………
* Vai trò, vị trí của cách mạng môi miền………
Thứ hai, nhóm bài tập nhận thức lịch sử.
Việc phân chia hai loại bài tập: nhận biết lịch sử và nhận thức lịch sử chỉ là tương đối, bởi vì trong hai loại bài tập nhận biết lịch sử học sinh đã thể hiện việc hiểu
rõ khá sâu sắc sự kiện, dồng thời khi làm bài nhận thức lịch sử học sinh cũng phải
Trang 16sinh phải có năng lực độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề nêu ra, trình độ tư duycao, lí giải vấn đề và tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức lịch sử So với nhóm bài tậpnhận biết, thì nhóm bài tập nhận thức lịch sử khó và phức tạp hơn nhiều, giáo viên cóthể xây dựng dưới dạng câu hỏi tổng hợp Qua thực nghiệm sư phạm chúng tôi nhậnthấy nhóm này rất phù hợp với đối tượng học sinh giỏi và nó bao gồm hệ thống cácdạng bài tập như sau:
- Bài tập xác định đặc trưng bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử (tiến bộ, phản động, bản chất giai cấp) giúp học sinh hiểu sâu sự kiện đang học
Ví dụ: Hãy lí giải cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh
ở Bắc Mĩ là cuộc cách mạng tư sản (căn cứ vào mục tiêu, lực lượng lãnh đạo, lựclượng tham gia, kết quả)
- Bài tập xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lịch sử nhằm góp phần phát triển ở học sinh khả năng phân tích, tổng hợp để tìm ra nguyên nhân, ý nghĩa của sự kiện, hiện tượng lịch sử, phát hiện ra mối quan hệ , sự tương tác lịch sử để hiểu rõ bản chất của chúng
Ví dụ: tại sao đến đầu năm 1930 yêu cầu thành lập một chính đảng vô sảnthống nhất ở Việt Nam đặt ra cấp thiết?
- Bài tập xác định bản chất của sự kiện và hiện tượng mới trên cơ sở sự kiện, hiện tượng khác nhằm gây cho học sinh hứng thú tìm kiếm kiến thức mới trên
cơ sở kiến thức đã học
Ví dụ: Căn cứ vào cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930) em hãyphân tích tính chất của cuộc cách mạng tháng 8- 1945
- Bài tập xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch
sử giúp học sinh hiểu rõ quá trình phát triển liên tục, thống nhất, tính chất tiến bộ của
lịch sử và tính phong phú da dạng, cụ thể của các sự kiện, giai đoạn thời kí lịch sử
Trang 17Ví dụ: Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam đươc nêu trong cương lĩnh chínhtrị đầu tiên của Đảng là Độc lập dân tộc, người cày có ruộng (dân tộc, dân chủ) Đảng
ta đã giải quyết các nhiệm vụ này như thế nào trong thời kì 1936- 1939? Có nét gìkhác so với thời kì 1930-1931?
- Bài tập tìm hiểu khuynh hướng phát triển của một sự kiện, một thời đại hay một xã hội nói chung giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy biện
chứng để đoán định sự phát triển tương lai trên cơ sở hiểu rõ quá khứ và hiện tại
Ví dụ: Sau khi từ Thụy Sỹ về Pê tơ rô grat, Lê nin vạch rõ nhiệm vụ chủ yếucủa cách mạng Nga lúc này là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạngXHCN bằng phương pháp hòa bình Căn cứ vào đâu Lê nin đề ra chủ trương vàphương pháp như vậy và có thể thực hiện được không?
- Bài tập xác định mức độ tiến bộ của sự kiện lịch sử nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng phân tích, lí giải, đánh giá, nhận xét các sự kiện lịch sử
- Bài tập so sánh để rút ra cái chung, cái riêng, giống và khác nhau tiêu biểu và đặc thù của các sự kiện, thời kì.
Ví dụ: So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốcsoạn thảo và Luận cương thánh 10 -1930 của Trần Phú để thấy sự đúng đắn, sáng tạocủa văn kiện trước và hạn chế của văn kiện sau
- Bài tập tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử đối với ngày nay, có tác dụng gợi cho học sinh về sự cần thiết phải tìm hiểu quá khứ
để giải thích các sự kiện, hiện tượng đang diễn ra trong hiện tại, làm cho các em cóthức được tầm quan trọng của việc học tập lịch sử
Ví dụ: tại sao nói phong trào cách mạng 1936-1939 là cuộc diễn tập lần thứhai chuẩn bị cho cách mạng tháng 8 năm 1945?
- Bài tập xác định mục đích của một sự kiện ở một giai đoạn, thời kì nhất định
Trang 18Ví dụ: Tại sao hội nghị trung ương 8 lại quyết định thành lập mặt trận ViệtMinh? Vai trò của mặt trận đối với thắng lợi của cách mạng tháng 8 – 1945?
- Bài tập bồi dưỡng tư tưởng tình cảm học sinh qua việc nhận định, đánh giá một nhân vật lịch sử về hành vi và hoạt động của con người, vai trò của
cá nhân, quần chúng nhân dân trong lịch sử
Ví dụ: Dựa vào công lao của C.Mác em hãy giải thích câu nói của Lê nin:
“Mác là linh hồn của Quốc tế I”?
- Bài tập bồi dưỡng tư tưởng tình cảm học sinh qua việc nhận định, đánh giá một sự kiện lịch sử gồm việc phân tích, nhận xét nội dung, nêu ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của sự kiện…
- Bài tập đánh giá về các hoạt động sản xuất, vận dụng khoa học kĩ thuật
Ví dụ: Em hãy đánh giá những tác động của cuộc CM KH – CN đối với xãhội loài người
- Bài tập nhằm phát triển các năng lực nhận thức lịch sử của học sinh: Tri giác, nhớ, hình dung, tưởng tượng, tư duy…
Ví dụ: Tại sao ta quyết định mở cuộc tiến công Đông-Xuân 1953-1954 vớiđỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ? Nêu diễn biến chính Tác dụng của nó đối vớicuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược
- Bài tập nhằm rèn luyện khả năng vận dụng những kiến thức đã học để hiểu kiến thức mới, trên cơ sở so sánh đối chiếu với các kiến thức đã học
Ví dụ: Thông qua chiến thắng Việt Bắc thu- đông 1947, chiến thắng Biêngiới 1950, chiến thắng Đông-Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện BiênPhủ Em hãy làm rõ bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp xâmlược
Trang 19Nhằm làm cho học sinh có biểu tượng chính xác, giàu hình ảnh, biết vậndụng kiến thức đã học vào cuộc sống, lao động và công tác Vì vậy, nội dung bài tậpthực hành giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành bộ môn; đồng thời làmcho học sinh biết phân tích, giải thích, trình bày, nhận xét của mình về kết quả thựchành đó, qua đó bồi dưỡng cho các em những phẩm chất tốt đẹp, những hành độngđúng Nhóm bài tập này gồm các dạng bài sau:
- Bài tập thực hành về xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan như vẽ bản
đồ, lược đồ Bao gồm vẽ, trình bày, giải thích, nhận xét, xác định địa danh, ghi kíhiệu
+ Bài tập vẽ sơ đồ: Tương tự như vẽ bản đồ nhằm cụ thể hóa nội dung cơbản của một sự kiện lịch sử cụ thể bằng những mô hình học đơn giản, diễn tả một cơcấu tỏ chức xã hội, một chế độ chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử
Ví dụ: Vẽ sơ đồ tiến trình cách mạng tư sản Anh và cách mạng tư sản Pháp
Từ đó em hãy rút ra nhận xét về hai cuộc cách mạng này
+ Bài tập vẽ đường trục thời gian: Nhằm bồi dưỡng cho học sinh ý niệm vèthời gian (thời điểm, khoảng cách thời gian) xảy ra sự kiện
Ví dụ: Vẽ trục thời gian thể hiện bước phát triển đi lên của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954)
+ Bài tập vẽ biểu đồ: nhằm cụ thể hóa nội dung lịch sử, so sánh sự phát triểncủa một sự kiện lịch sử Có thể từ những số liệu trong sách giáo khoa hay từ nhữngtài liệu tham khảo đáng tin cậy do giáo viên cung cấp, giáo viên yêu cầu học sinh vẽhình tròn hoặc hình trụ
+ Bài tập vẽ đồ thị: để diễn tả sự phát triển một sự kiện hay so sánh sự pháttriển của các sự kiện khác nhau
Trang 20Ví dụ: sau khi học sinh học xong bài “Việt Nam trên đường đi lên xây dựngCNXH (1975 – 1991), yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ biểu thị về tình hình kinh tế nước tatrong giai đoạn này.
+ Bài tập lập niên biểu: Nhằm kiểm tra sự hiểu biết của học sinh về trình độ
cao hơn của nhận thức lịch sử
Ví dụ: lập niên biểu về các sự kiện quan trọng trong thời kì cách mạng 1930 – 1945
- Bài tập thực hành về sưu tầm hiện vật, tranh ảnh, tài liệu… nhất là tài liệu lịch sử địa phương.
- Bài tập yêu cầu học sinh làm việc với tài liệu học tập như: sách giáo khoa, các đoạn trích từ các văn kiện Đảng, tìa liệu lịch sử khac hoặc có thể yêu cầu học sinh tự tìm hiểu rút ra kết luận trên cơ sở quan sát đồ dùng trực quan
Thứ tư, nhóm bài tập tổng hợp lịch sử
Bài tập dưới dạng tổng hợp là loại bài tập nhận biết lịch sử và bài tập nhậnthức lịch sử Nó không chỉ đòi hỏi học sinh phải nhận biết chính xác sự kiện, nhậnthức đúng bản chất lịch sử mà còn đòi hỏi học sinh thể hiện trình độ lập luận, trìnhbày diễn đạt, nhằm giúp học sinh củng cố chắc kiến thức đã học và nâng cao trình độhiểu biết của học sinh lên một mức độ mới
Nội dung bài tập không phải là lặp lại những việc đã làm trên lớp mà phảiphát hiện thêm những khía cạnh mới của vấn đề hoặc mở rộng, bổ xung kiến thức đãbiết sâu sắc hơn Loại bài tập này thường yêu cầu học sinh phải nghiên cứu từ 2 đến 3bài học, một chương hay một phần lịch sử mới trả lời được và nó thường có dạng cơbản sau đây:
Thứ nhất:câu hỏi thông thường có thể trả lời tự do
Ví dụ: từ 1940 đến tháng 3-1945, Nhật và Pháp đã thi hành những thủ đoạnchính trị gì để lừa bịp nhân dân ta? Có gì giống nhau trong mục đích của chúng?
Trang 21Thứ hai: bài tập đặt ra để lý giải một vấn đề đã được xác định hoặc bìnhluận, chứng minh câu nói nổi tiếng của nhân vật lịch sử bằng những quan điểm, bằngcác sự kiện.
Ví dụ: Dựa vào câu nói của Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa Mác-Lê nin kết hợpvới phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn tới việc thành lập Đảng cộngsản Đông Dương vào đầu 1930” để trình bày về việc kết hợp của ba yếu tố trên trongquá trình thành lập Đảng
Thứ ba, bài tập yêu cầu trình bày, so sánh các sự kiện lịch sử cùng loại, xảy
ra ở các thời đại khác nhau để rút ra kết luận…
1.4 Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình sư phạm phức tạp, baogồm nhiều hoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh Những hoạt động đó nhằmgiúp học sinh nắm vững tri thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triểnnăng lực tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện trí thông minh và khêu gợi hứng thú họctập của các em Muốn đạt được điều này, giáo viên phải sử dụng tốt hệ thống các,phương tiện dạy học, trong đó phải kể đến việc sử dụng hệ thống bài tập lịch sử trongdạy học Vì từ trước đến nay không ai phủ nhận vai trò, ý nghĩa của bài tập đối vớiviệc hình thành tri thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm và đạo đức đồng thời phát triểnnăng lực cho học sinh
Tuy nhiên hầu hết hiện nay học sinh chưa có quan niệm đúng về bài tậplịch sử, các em đều có quan niệm rằng học sử không cần có bài tập, chỉ cần họcthuộc lòng các sự kiện, điều này có nhiều nguyên nhân từ chương trình, nội dungsách giáo khoa, phương tiện, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá, trong
đó không thể phủ nhận là phương pháp dạy học, cáh thức kiểm tra đánh giá chưatốt của nhiều giáo viên lịch sử Chỉ kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức mà không chú
ý đến phát triển tư duy, kĩ năng thưc hành bộ môn… Chưa tạo ra cho các em sựsay mê nghiên cứu, tìm tòi khoa học qua hệ thống bài tập
Trang 221.4.1 Bài tập lịch sử đối với việc hình thành tri thức cho học sinh
Hiện nay tình trạng đáng báo động của việc dạy và học lịch sử là họcsinh nhầm lẫn địa danh, nhân vật, thời gian diễn ra sự kiện, tệ hơn là tình trạng
“mù lịch sử” của thế hệ trẻ Việt Nam.[39;43] Do vậy, bài tập nhận biết lịch sửđược xây dựng dưới hình thức bài tập trắc nghiệm khách quan, nếu được biênsoạn tốt sẽ giúp học sinh khắc phục được những hạn chế trên
Cùng với việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử, bài tập do giáo viên đưa ra
và hướng dẫn học sinh giải sẽ giúp các em khôi phục, tái hiện lại toàn bộ bứctranh quá khứ, đó cũng là cơ sở để học sinh nhận thức lịch sử một cách chânthực, chính xác Ví dụ: Sau kho dạy song về cách mạng tháng 8 – 1945, giáoviên có thể ra bài tập về nhà như sau: Sưu tầm, đọc tài liệu lịch sử địaphương và trên cơ sở đó hãy trình bày quá trình tổng khởi nghĩa giành chínhquyền ở địa phương em trong thời kì cách mạng tháng 8 – 1945 Bài tập đòihỏi học sinh phải dựng lại bức tranh quá khứ trong điều kiện không gian, thờigian của nó, học sinh phải tái hiện lại khí thế cách mạng của quần chúng nhândân trong quá trình giành chính quyền, vai trò của lực lượng vũ trang ra sao?Thái độ của bọn phản động tay sai trước cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhândân? Qua đó thấy rõ được mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dântộc Khi làm được như vậy thì biểu tượng về những ngày cách mạng tháng 8 ởđịa phương sẽ được khắc sâu trong trí nhớ của các em
Để nắm vưng tri thức lịch sử một cách sâu sắc, trong quá trình học tập họcsinh phải thực hiện một chu trình vận động trí tuệ đó là tư duy độc lập – tư duy độclập đóng vai trò quan trọng giúp các em nắm được khái niệm lịch sử Khía niện đôngthời cũng là hình thức của tư duy, là quá trình tư duy lí luận, trừu tượng hóa và kháiquát hóa bản chất sự vật hoặc một tài liệu, trên cơ sở các sự kiện cụ thể để phân tích,đánh giá, buộc học sinh phải biết lược bỏ các hện tượng bề ngoài để đi sâu vào bản
Trang 23chất của vấn đề để từ đó nâng tầm hiểu biết, trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóacủa các em lên cao.
Về mặt nhận thức, khái niệm lịch sử giúp học sinh hiểu bản chất của sự kiệnlịch sử, hiểu các mối qua hệ nhân quả và quy luật phát triển của xã hội việc đi sâuvào bản chất của sự kiện để hình thành khái niệm lịch sử, giúp học sinh hệ thống hóatri thức và thông qua sự hiểu biết về những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ bề ngoài,các em phân biệt được với các sự kiện cùng loại, sự kiện khác loại, phân biệt được cáichung và cái riêng, cái phổ biến và cái đực thù trong quá trình phát triển phức tạp của
xã hội loài người
Ví dụ, khi nắm vững khía niệm “Cách mạng tư sản”, được hình thành quacác bài “Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII”, “Chiến tranh giành độc lập của cácthuộc địa Anh ở bắc Mĩ”… Học sinh có thể dùng khái niệm này để nhận thức cáccuộc cách mạng khác là cách mạng tư sản, kể cả khi nó diễn ra dưới các hình thứcmột cuộc đấu tranh thống nhất Đức, Ytalia, cải cách nông nô ở Nga, cải cách MinhTrị ở Nhật Bản Học sinh có thể giải quyết được bài tập: Cuộc đấu tranh thống nhấtĐức có phải là cuộc cách mạng tư sản hay không? Vì sao? Từ các sự kiện tiêu biểutrong quá trình đấu tranh thống nhất như tính chất, nhiệm vụ cách mạng, giai cấp lãnhđạo, động lực cách mạng và những hệ quả của nó đem lại, học sinh đi đến kết luận:Thực chất là cuộc cách mạng tư sản dưới hình thức là cuộc đấu tranh thống nhất quốcgia
Như vậy, bài tập lịch sử sẽ giúp học sinh đi từ “Biết” đến “Hiểu” lịch sử Ởnhững mức độ nhất định học sinh phải đi theo con đường của nhận thức lịch sử: Pháthiện, tìm tài liệu- sự kiện, trên cơ sở tạo biểu tượng để hình thành khái niệm, học sinh
đã có sự khái quát lý luận và rút ra bài học lịch sử, từ đó biết vận dụng vào bài họcquá khứ vào cuộc sống hiện tại Việc làm này cũng là một bộ phận quan trọng củaviệc phát triển tư duy và năng lực thực hành của học sinh
Trang 24Đa-ni-lốp khắng định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự nếu học sinh
có thể vận dụng một cách thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”[33;28] Hay như I.F.Kharlamop cũng nhấn mạnh “Quá trình nắm vững kiến thức mới không biến thành việc học thuộc lòng một cách bình thường các quy tắc, các kết luận và khái quát hóa Nó được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của học sinh, của việc phân tích logic sâu sắc tài liệu sự kiện, làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học… chỉ có một hệ thống hợp
lí các bài luyện tập, đòi hỏi học sinh phải có những biện pháp đa dạng để tiếp thu tài liệu học tập và một sự căng thẳng trí tuệ cao mới cho phép đạt được kiến thức sâu sắc và bền vững”[32;12]
1.4.2 Bài tập lịch sử góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhân cách chohọc sinh
Môn lịch sử ở trường phổ thông có chức năng giáo dục cho thế hệ trẻ vềtruyền thống dân tộc, chủ yếu là truyền thống yêu nước; về phẩm chất đạo đức cáchmạng; về thái độ đối với cuộc sống… So với các môn học khác ở trường phổ thông,lịch sử có sở trường và ưu thế trong việc giáo dục học sinh Ngay từ thời cổ đại,
người ta xem “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “Lịch sử là bó đuốc soi đường đến
tương lai” [43;13] Thực tiễn giáo dục nước ta đã xác nhận quan điểm đúng đắn này;
song vấn đề ở đây lầ hiệu quả giáo dục chứ không phải là sự phô trương, hình thức,công thức giáo điều áp đặt phải xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ nói chung,
từ mục tiêu đào tạo của nhà trường, nội dung, chức năng, nhiệm vụ bộ môn mà lựachọn các biện pháp sư phạm có hiệu quả cao
Trong thực tế dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông, chúng ta thường gặphai khuynh hướng sai lầm cần khắc phục Một là: coi nhẹ việc giáo dục tư tưởngtrong bộ môn; hai là: không xuất phát từ sự thực lịch sử mà “giải thích” dài dòng,công thức, áp đặt Một số người cho rằng nhiệm vụ của giáo viên chỉ cần trình bày sựkiện khách quan là đủ, hoặc hướng dẫn sự nhận thức của học sinh một cách chặt chẽ
Trang 25Những sai lầm trên vi phạm nguyên tắc phương pháp luận và phương phápdạy học và tất nhiên không có tác dụng giáo dục Để khắc phục được những nhậnthức sai lầm trên, người giáo viên lịch sử cần nhận thức được: giáo dục tình cảm, tưtưởng cho học sinh qua dạy học lịch sử là “dạy chữ để dạy người” trên cơ sở cungcấp kiến thức thực sự khoa học, có hệ thống, hiện đại, cơ bản, phổ thông mà giáo dụccho học sinh tính tích sực, tự giác, chủ động ứng xử trong mọi tình huống [43; 14]
Vai trò của bài tập lịch sử trong quá trình giáo dục được thể hiện ở haiphương diện sau:
- Học sinh biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lịch sử để giải quyết vấn
đề được đặt ra giúp các em tiếp cận với chân lý hiện thực, vận dụng kiến thức đã họcvào cuộc sống, hay nói cách khác bản thân bài tập có tác dụng giáo dục
1.4.3 Bài tập lịch sử góp phần phát triển học sinh
Sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử có tác dụng tích cực trong việc pháttriển các năng lực nhận thức nhiều mặt của học sinh, trong đó quan trọng nhất là pháttriển hứng thú học tập bộ môn, phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng bộ môn của học
sinh Theo Khalarlamôp: “Hứng thú – đó là nhu cầu nhuốm màu xác cảm đi trước
giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính hấp dẫn” [ 32;
28] Khi hoạt động nhận thức của học sinh dựa trên cơ sở của hứng thú nó sẽ trở nênhào hứng, thoải mái và dễ dàng Vì vậy, giáo viên phải tạo được hứng thú cho họcsinh trong dạy học, giúp các em thấy vui sướng của thành công, tin tưởng và sức củamình, vào khả năng vượt qua những khó khăn sẽ gặp Chính đó là quá trình làm chonhu cầu nhận thức nhuốm màu xác cảm và biến chúng thành hào hứng
Tuy nhiên, hứng thú trong học tập không phải tự nhiên mà có mà nó đượchình thành trong quá trình học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên Việc gâyhứng thú cho học sinh phải được tiến hành đồng bộ từ chương trình, nội dung, sáchgiáo khoa, phương tiện dạy học, phương pháp dạy học…trong đó bài tập lịch sử đóngvai trò nhất định đặc biệt là bài tập nhận thức được thiết kế dưới dạng các bài tập tổng
Trang 26hợp Người giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho việc xây dựng,lựa chọn thời điểm đưa ra các bài tập và hướng dẫn học sinh giải các dạng bài tậpkhác nhau Về phía học sinh, khi được tiếp xúc với các dạng bài tập khác đa dạng,phong phú chứa đựng những mâu thuẫn, những khó khăn trong nhận thức, buộc các
em phải nỗ lực trí tuệ mới giải được Từ hứng thú, học sinh sẽ có động cơ học tập tíchcực, tự giác góp phần nâng cao kết quả học
Trong sự phát triển của tư duy nói chung cho học sinh, mỗi môn học ở trườnphổ thông đều góp phần hình thành những nét riêng của mình như tư duy toán học, tưduy sinh học…và môn lịch sử cũng hình thành tư duy lịch sử Việc phát triển tư duycủa các em được tiến hành trong các khóa trình dạy học lịch sử, thông qua mọi khâu,mọi hình thức hoạt động giáo dục của bộ môn, tuân theo những nguyên tắc, yêu cầucủa phương pháp dạy học lịch sử
Theo các nhà nghiên cứu lý luận dạy học, việc nắm kiến thức sẽ là cơ sở choviệc phát triển tư duy Khi giải quyết các loại bài tập nhất là các bài tập nhận thức họcsinh buộc phải sử dụng các thao tác của tư duy như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đốichiếu, liên hệ, quy nạp, diễn dịch, khái quát hóa, trừu tượng hóa…chỉ có vận dụngcác thao tác trên thì mới trả lời đúng, đầy đủ bài tập Việc vận dụng đó được lặp đilặp lại nhiều lần sẽ trở thành ký năng, kỹ xảo của học sinh trong quá trình làm tài tập
Tích cực độc lập trong quá trình nhận thức, đặc biệt là trong tư duy sẽ đảmbảo cho các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức, hiểu sâu sắc bài học và làphương tiện tốt hình thành kiến thức, gợi dậy những xúc cảm lịch sử, kích thích hứngthú học tập, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh Ngoài racòn góp phần phát huy năng lực nhận thức, năng lực thực hành, kỹ năng, kỹ xảo củahọc sinh, phát triển hứng thú học tập và rèn luyện ngôn ngữ của các em Trong cácchất lượng của tư duy thì tư duy độc lập là mức cao nhất, nó có vai trò to lớn trongviệc hiểu bản chất sự vật, hiện tượng, kích thích hoạt động của tư duy là nhiệm vụ củagiáo viên
Trang 27Cùng với việc phát triển tư duy của học sinh, bài tập có vai trò phát triểnnăng lực thực hành bộ môn trong dạy học lịch sử Hai công việc này gắn bó chặt chẽ
với nhau theo phương châm “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn với thực tiễn” [44;
298] Một số ít người đến nay vẫn quan niện học lịch sử không cần có thực hành,cũng không cần rèn luyện các câu văn, bài viết như môn Văn, mà chỉ cần học thuộclòng, ghi nhớ các sự kiện Đó là quan niệm sai lầm về phương pháp luận nói chung,
về phương pháp dạy học nói riêng, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học bộmôn Trong dạy học lịch sử, việc học đi đối với hành, bao gồm những nội dung chủyếu sau đây:
- Kỹ năng nắm vững các sự kiện lịch sử một cách có hệ thống (Ghi nhớ,miêu tả, tường thuật);
- Kỹ năng nắm bắt bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử (Phân tích, đánh giá,hình thành khái niệm, xác định nguyên nhân, tính chất…)
- Tiến hành thực hành bộ môn, công việc này liên quan đến việc sử dụng các
đồ dùng trực quan, phương tiện dạy học như: Vẽ bản đồ, dắp sa bàn, lập niên biểu,bảng thống kê…
- Vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và tiến hành nhữngcông việc công ích xã hội, hoạt động ngoại khóa
- Thông qua các hoạt động xã hội, thực hành bộ môn mà bồi dưỡng kỹ năng,rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp, những hành động yêu nước cho thế hệ trẻ [43;34]
Những nội dung trên rất cần thiết cho việc phát triển năng lực thực hành củahọc sinh một cách toàn diện Có nhiều hình thức, biện pháp khác nhau để rèn luyện
kỹ năng bộ môn trong đó việc sử dụng hệ thống bài tập lịch sử hợp lý trong quá trìnhdạy học là một trong những biện pháp chủ yếu, mang lại hiệu quả cao nhất Nó xuấtphát từ nội dung môn học, đặc trưng của việc nhận thức lịch sử và chức năng, nhiệm
vụ của khoa học lịch sử
Trang 28Tóm lại: Bài tập trong dạy học lịch sử nói chung, trong dạy học lịch sử nói
riêng là một trong những phương pháp quan trọng có vai trò, tác dụng về nhiều mặt,góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ môn học Trước tiên, nó có vai trò trongviệc hình thành, củng cố tri thức sau đó là giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, rènluyện kỹ năng, kỹ sảo và đặc biệt là phát triển tư duy độc lập sáng tạo của học sinh.Đồng thời là công cụ hiệu nghiệm để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập của học sinh
Việc nghiêm cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến bài tậptrong dạy học lịch sử là cơ sở quan trọng định hướng cho chúng tôi xây dựng nộidung và xác định biện pháp sử dụng các loại bài tập ở chương tiếp theo của Bản sángkiến kinh nghiệm này
2 Vấn đề sử dụng tài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.2 Cơ sở lý luận dạy học
Trong giáo dục truyền thống, người thầy luôn ở vị trí trung tâm, chủ động, làngười đảm nhận trách nhiệm truyền đạt kiến thức có sẵn của học sinh Phương phápgiảng dạy tương ứng là lối truyền thụ một chiều “Thầy giảng, trò nghe” Nhìn chung,phương pháp này cũng bộc lộ những hạn chế, không đáp ứng được toàn diện yêu cầudạy học của thực tế đề ra
Lí luận học hiện đại, mở ra một bước đột phá quan trọng làm thay đổi nhữngquan niệm trước đây về vai trò của thầy giáo và học sinh trong quá trình dạy học đó
là một chỉnh thể phức tạp, có tác động qua lại giữa các yếu tố, trong đó giáo viên làchủ thể của hoạt động sư phạm, là người tổ chức, điều khiển quá trình nhận thức củahọc sinh theo kế hoạch sư phạm Học sinh là chủ thể của quá trình nhận thức, chủđộng, độc lập và sáng tạo trong việc khám phá tri thức, xây dựng bài học, rèn luyện
kỹ năng, kỹ xảo và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách Trong dạyhọc lịch sử, việc đảm bảo nguyên tắc này sẽ giúp thực hiện tốt mục tiêu của môn học
Trang 29Muốn vậy, thầy giáo phải vận dụng nhiều biện pháp dạy học trong đó sử dụng hệthống bài tập lịch sử.
Trước yêu cầu của cuộc sống, mà ở các trường học ngày nay, dạy học chỉ đơnthuần là truyền đạt kiến thức đã trở nên lỗi thời Trường học không chỉ truyền thụkiến thức, cung cấp thông tin dữ liệu mà còn phải dạy cách xử lí nó như thế nào Học
là học cách học, cách giải quyết vấn đề Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quantrọng của giáo dục là tránh dạy học mang tính giáo điều, nhồi nhét kiến thức cho họcsinh Ngược lại, kiến thức phải là nền tảng, là phương tiện để khơi gợi, đánh thứcnăng lực trong mỗi học sinh nhằm mục đích nắm vững kiến thức trong điều kiện pháttriển trí thông minh, tính tích cực độc lập và sáng tạo của các em
Khi học lịch sử, quá trình nhận thức của học sinh đi từ tri giác tài liệu đến tạobiểu tượng rồi phân tích, so sánh đối chiếu để tìm ra dấu iệu bản chất, tức là hìnhthái khái niệm, rút ra quy luật, bài học Như vậy, trong hoạt động nhận thức của họcsinh, tư duy có vai trò quan trọng, nếu không có tư duy thì học sinh không nhận thứcđược bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Khi nói tới bản chất của hoạt động độclập, sáng tạo một điều mới, quan trọng và cần thiết đối với việc hình thành kiến thức,nhân cách và phát triển tư duy của học sinh Các dạng bài tập lịch sử, mà giáo viênhướng dẫn cho học sinh trong quá trình dạy học là một trong những hình thức kíchthích hoạt động nhận thức, phát huy trí sáng tạo của các em trong quá trình học tập
Những thành tựu của lý luận dạy học hiện đại khẳng định rằng: Học sinh dù ởbậc học nào cũng đóng vai trò chủ thể trong hoạt động dạy học Học sinh, bằng nhiềucon đường khác nhau, phải tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nănglực tư duy, năng lực hành động qua những hoạt động tích cực, tự giáo dục của bảnthân Cách học đó phù hợp với mục đích giáo dục - đào tạo con gnười trong xã hộihiện nay đó là những con người có:
- Năng lực hành động, có hiệu quả trên cơ sở kiến thức, kỹ năng và phẩm chấthình thành trong việc dạy học và giáo dục, trong học tập, giao tiếp, dám nghĩ, dámlàm và biết chịu trách nhiệm
Trang 30- Năng lực thích ứng, với lòng nhân ái, có văn hoá và thể hiện tinh thần tráchnhiệm với gia đình, cộng đồng xã hội.
- Năng lực tự khẳng định mình, biểu hiện ở tinh thần chiến đấu, học tập và laođộng, không ngừng rèn luyện bản thân, có năng lực tự đánh giá và phê phán trongphạm vi môi trường hoạt động của bản thân
Đây cũng là những năng lực phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hộicủa khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI Yêu cầu này cũng phù hợp với việc
đào tạo thế hệ trẻ có "bốn trụ cột của nền giáo dục" mà UNESCO nêu ra "Học để biết,
học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình" Dĩ nhiên, việc nhận thức
và thể hiện "bốn trụ cột này" phải được tiến hành trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Đó là những cơ sở để xây dựng nhữngnguyên tắc dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở nước ta [43; 91]
Việc tích cực hoá hoạt động nhận thức, nhất là nhận thức độc lập, sáng tạo có ýnghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dưỡng, giáo dục và phát triểnhọc sinh Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông giáo viên cần chú ý hai loại lĩnhhội này, song đặc biệt phải chú ý đến lĩnh hội sáng tạo, dự trên cơ sở của tư duy độclập Có nhiều con đường và biện pháp khác nhau để phát triển nhận thức độc lập,sáng tạo cho học sinh trong đó có sử dụng hệ thống bài tập trong quá trình dạy họclịch sử
Tăng cường hoạt động nhận thức của học sinh, là một quan điểm cơ bản của líluận dạy học hiện đại Không thể có kết quả dạy học tốt nếu việc dạy học chỉ đượctiến hành theo lối dạy học truyền thống, theo phương thức "thầy đọc, trò chép" Vìvậy, trong dạy học lịch sử cần chú ý dành thời gian thoả đáng cho việc trao đổi, thảoluận các vấn đề, tổ chức tốt việc hoạt động nhận thức cho học sinh Để thực hiện tốtyêu cầu này, cần xác định được kiến thức cơ bản của mỗi bài, mỗi chương, biết bỏ đinhững sự kiện không cơ bản, bổ sung những tài liệu ngoài sách giáo khoa làm phongphú cho bài giảng
Trang 31Để làm tốt những yêu cầu trên, trong mỗi giờ học người thầy phải xác địnhđược là dạy cái gì, dạy để làm gì và dự kiến dạy như thế nào? Đồng thời phải rènluyện thường xuyên cho học sinh những câu hỏi, bài tập buộc phải giải đáp ở cuốibài Những sự kiện nào cần phải nắm? Sự kiện đó xảy ra khi nào? Ở đâu? Diễn ra nhưthế nào? Tại sao như vậy? Nếu thầy và trò trong mỗi giờ học đều giải đáp đượcnhững câu hỏi đã nêu trên, chắc chắn giờ học sẽ đạt hiệu quả, tính tích cực, chủ độngtrong hoạt động nhận thức của học sinh sẽ được phát huy [44;163].
2.2 Xuất phát từ đặc trưng của việc dạy học lịch sử.
Dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng ở trường THPT là một quá trình
Đó là một quá trình nhận thức đặc thù trong đó giáo viên tổ chức, dẫn dắt học sinh cómục đích, có kế hoạch sư phạm để học sinh nắm vững những tri thức cơ sở về lịch sửquân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật và các kỹ năng cơ bản, pháttriển năng lực nhận thức, dần dần hình thành thế giớ quan duy vật biện chứng, nhâncách và đạo đức học sinh Học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình dạyhọc, do đó nó cũng tuân thủ quy luật nhận thức nói chung, mặt khác nó cũng mangnhững nét đặc thù, riêng biệt có sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của người thầy
Nhận thức chung, là sự phan ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người.Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên, tạo cơ sở tiền đề cho giai đoạn sau Nhậnthức lý tính, mang tính tổng hợp, khái quát hoá Từ cảm giác, tri giác, biểu tượng, conngười hình thành các khái niệm, đúc rút các quy luật Cơ chế của quá trình nhận thức
đã được Lênin khái quát như sau: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, từ tư
duy trìu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan".
Quá trình nhận thức của học sinh, không nhằm phát hiện những điều mà loàingười chưa biết về bản chất, quy luật cua các hiện tượng khách quan, mà nhằm lĩnhhội những tri thức mà loài người đã tích luỹ được Tuy nhiên, quá trình khám phá lạinhững điều loài người đã biết mang tính mới mẻ đối với học sinh Do đó, đòi hỏi các
em phải cố gắng về mặt trí tuệ và có khát vọng học tập Dưới sự tổ chức, điều khiển
Trang 32của người thầy, học sinh có thể phản ánh thế giới quan một cách có ý thức, có thể đisâu tìm hiểu bản chất, quy luật, bài học và ý nghĩa của sự vật, hiện tượng.
Ở trường phổ thông, việc dạy học lịch sử cũng như học tập bất cứ bộ môn nàotrước hết phải nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học, hình thành thếgiới quan khoa học, phẩm chất đạo đức, chính trị cho học sinh nhằm đào tạo một lớpngười mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhưng trongnhiều năm qua, việc dạy học lịch sử thường mắc phải sai lầm phổ biến: chỉ thuộc lòngnhững sự kiện hoặc giải thích lịch sử không dựa trên hiểu biết sự kiện, hoặc khôngdựa vào sự kiện để phân tích, nhận định
Hai sai lầm trên, đã dẫn đến bệnh "giai thoại dật sử", xu hướng "đóng màu",
"chủ quan", "công thức", "hiện đại hoá lịch sử" Vì vậy, việc dạy học lịch sử phảicung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học (chức năng giáo dưỡng) để trên cơ
sở ấy tiến hành việc giáo dục tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức (chức năng giáodục) và bồi dưỡng khả năng nhận thức và hành động cho học sinh (chức năng pháttriển) [43;175]
Lịch sử, là những gì đã diễn ra, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của conngười Từ khi con người xuất hiện cùng với các hoạt động của mình, họ đã tạo nênlịch sử Nói đến lịch sử xã hội loài người là nói đến lịch sử của tất cả các quốc gia,dân tộc, cộng đồng người hoà vào sự phát triển ấy Môn lịch sử ở trường THPT,nhằm cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản về lịch sử xã hội loàingười, giúp các em có một cái nhìn toàn diện, khái quát về sự phát triển của các quốcgia, dân tộc và loài người từ khi ra đời đến nay Kiến thức lịch sử đưa vào chươngtrình giảng dạy, không phải là những kiến thức đang được tranh luận, bàn cãi mà phải
là những đơn vị kiến thức ổn định được các nhà khoa học và công chúng thừa nhận.Điều đó phù hợp với tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh phổ thông
Đặc trưng của lịch sử là tính không lặp lại Trong dạy học lịch sử, học sinhkhông thể "trực quan sinh động" được các sự kiện, cũng không thể tái hiện lại lịch sửtrong phòng thí nghiệm như các môn học khác, mà các em phải nắm bắt quá khứ dựa
Trang 33trên cơ sở tri giác sử liệu (nghe giảng, kể chuyện, lịch sử, quan sát tranh ảnh, bản đồ,biểu đồ ) để khôi phục lại bức tranh quá khứ với tất cả tính phong phú, sinh độngđúng như nó đã tồn tại Mức độ sống động, chính xác của sự kiện lịch sử phụ thuộcrất nhiều vào sự phong phú, chân thực của tài liệu và vai trò chỉ đạo, dẫn dắt củangười giáo viên.
Sự kiện là cơ sở để hình thành tri thức lịch sử, song sự kiện phải được xâydựng thành một hệ thống kiến thức cho học sinh Nếu chỉ dừng lại ở chỗ biết sự kiệnlịch sử sẽ không đem lại kết quả tốt trong học tập lịch sử Bản thân lịch sử là hiệnthực khách quan, đã xảy ra tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào nhận thức của conngười Con người có khả năng nhận thức được lịch sử và nhận thức đúng nhất là nhậnthức tiếp cận chân lí, phản ánh đúng hiện thực quá khứ Sự hình thành kiến thức lịch
sử là một quá trình vận động của nhận thức, từ không biết đến biết, biết không đầy
đủ, hời hợt đến hiểu biết đầy đủ, sâu sắc, có suy nghĩ Vậy muốn hình thành tri thứclịch sử cho học sinh phải trải qua con đường cung cấp sự kiện - tạo biểu tượng - hìnhthành khái niệm - rút ra quy luật - bài học lịch sử Đây cũng là một trong nhữngnhiệm vụ trung tâm của quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Với những đặc trưng như vậy, chúng ta không thể tiến hành dạy học lịch sửtheo lối một chiều "thầy là nguồn cung cấp kiến thức duy nhất" mà cần phải sử dụngnhiều phương pháp học tập khác nhau nhằm kích thích hứng thú học tập, tự học, tựnghiên cứu và phát huy tính độc lập, sáng tạo trong tư duy của học sinh Trong cácbiện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông, biện pháp sử dụng
hệ thống bài tập lịch sử có vai trò, ý nghĩa quan trọng
Tóm lại: Nhận thức lịch sử, cũng giống quá trình nhận thức nói chung, nó
cũng trải qua hai giai đoạn nhận thức cảm tính và lý tính Đặc điểm khác biệt củanhận thức lịch sử là xuất phát từ sự kiện, từ việc tri giác tài liệu đến tạo biểu tượng,hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử Do đó, để nhận thức lịch sửmột cách chính xác, đầy đủ là cả một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực cao nhất của chủ thểnhận thức, ngoài ra còn có những tác động tích cực của các yếu tố bên ngoài, các điều
Trang 34kiện sư phạm thuận lợi và đặc biệt là các biện pháp kích thích tư duy của học sinhtrong đó có hệ thống bài tập.
2.3 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THPT.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tâm lí của họcsinh THPT, đây là nhân tố không thể không tính đến trong quá trình dạy học Họcsinh THPT ở độ tuổi từ 15 đến 18 đã có sự phát triển về thể chất, sự biến đổi mạnh vềsinh lý đều có ảnh hưởng đến tâm lý của các em Học sinh THPT đang ở giai đoạnchuẩn bị đi vào cuộc sống, vì vậy có thể gọi vị trí xã hội của các em là vị trí quá độ.Tính chất quá độ đó được thể hiện rất rõ rệt trong các mối quan hệ xã hội vô cùngphong phú, phức tạp đã tạo nên đặc điểm tâm lý của học sinh lứa tuổi này
Ở nhà trường, học sinh THPT đã đạt đến trình độ văn hoá phổ thông cơ bản, vềnhiều mặt họ đã là "người lớn", bình đẳng với những người đang đào tạo và giáo dục
họ Nhưng vẫn là đối tượng giáo dục của người lớn Trong gia đình, ngoài xã hội, họcsinh THPT ý thức bản ngã đang hình thành mạnh mẽ và rõ rệt Các em tự coi mình vàphần nào đã có cơ sở và năng lực tỏ ra mình là một cá nhân trong xã hội và khôngđơn thuần phụ thuộc vào tác động giáo dục của người lớn; quan điểm, thái độ riêngđối với hiện thực khách quan thể hiện rất rõ Trong tâm lý của các em, chúng ta thấy
xu hướng muốn được giải phóng khỏi sự hạn chế, ràng buộc để xác lập vai trò làmchủ bản thân
Đối với học sinh phổ thông, khi các em học lên cấp III là lúc thế giới quan củacác em được hình thành, năng lực trí tuệ phát triển Các em có trình độ hiểu biết sâu,
có khả năng phê phán những vấn đề lý luận và thực tiễn, có khả năng đi sâu vào bảnchất của sự vật, tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng xã hội, phân tích,tổng hợp, khái quát để nắm các quy luật Đối với các em, việc xây dựng thế giới quan
là rất cần thiết Các môn học, nhất là môn xã hội và các hoạt động giáo dục khác củanhà trường đều có tác dụng xây dựng thế giới quan Mác-Lênin cho học sinh Nhờvậy, khi học hết THPT, bước vào đời, các em xác định được chỗ đứng vững vàng, trởthành người lao động kiểu mới, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa [24;52]
Trang 35Qua các công trình nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học Việt Nam xác nhậnrằng học sinh THPT có khả năng tư duy lý luận, tư duy trìu tượng, tư duy lôgíc và tưduy biện chứng Muốn có tư duy tốt, nhất là tư duy "không phải mở sách" "khôngphải hỏi lại thầy và bạn", học sinh phải chú ý ôn luyện Việc ôn tập và vận dụng cóthể diễn ra bất cứ lúc nào, vì trong cuộc sống, học tập và sinh hoạt, hoàn cảnh có vấn
đề luôn luôn xuất hiện [35;23] Do vậy, muốn nâng cao chất lượng của tư duy, ngườigiáo viên phải chú ý đến số bài tập rèn luyện tư duy và phải để học sinh tiếp xúc vớicác loại, các dạng tư duy khác nhau
Tuy học sinh ở cấp THPT đã có năng lực tư duy lý luận trừu tượng, tư duy biệnchứng, có thói quen, có năng lực làm bài tập lịch sử từ những cấp học dưới nhưngkhông vì thế mà chúng ta quên thực hiện nguyên tắc trực quan, bằng cách xây dựngcác loại bài tập yêu cầu học sinh làm việc với đồ dùng trực quan như tranh ảnh, bản
đồ, bảng biểu Tác dụng của phương pháp trực quan và vai trò của đồ dùng dạy họcđối với quá trình nhận thức nói chung là rất khác so với dạy chay
Như vậy, mục đích của việc sử dụng hệ thống bài tập lịch sử không chỉ giúphọc sinh hiểu rõ, hiểu đúng các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn hướng tới việcnâng cao trình độ tư duy của các em thông qua các thao tác của tư duy: phân tích,tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá và hình thành phương pháp làmviệc độ lập, tập dượt nghiên cứu khoa học theo đặc trưng bộ môn của học sinh THPT
- một công việc tuy khó khăn nhưng không kém phần hấp dẫn
Ví dụ sau khi học xong về quá trình xâm lược của thực dân Pháp và phong tràođấu tranh chống xâm lược của nhân dân ta từ 1858 đến 1884 ở các bài 19, 20 (sáchgiáo khoa lịch sử lớp 11 THPT, chương trình cơ bản) Giáo viên hướng dẫn học sinh
làm bài tập: Thông qua trình bày những nét chính về quá trình đấu tranh chống thực
dân Pháp xâm lược Việt Nam từ 1858 đến 1885 Từ đó, em hãy phân tích nguyên nhân mất nước và nêu trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX.
Trang 36Khi làm được bài tập này, học sinh không chỉ hiểu rõ, hiểu sâu sắc các mốcquan trọng trong quá trình chống Pháp xâm lược của nhân dân ta, trên cơ sở đó phântích, đánh giá một cách khách quan về những nguyên nhân dẫn đến mất nước và tráchnhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước Khi Pháp xâm lược triều Nguyễn vẫntiến hành chính sách đối kháng với nhân dân, từ chối những đề nghị cải cách tiến bộ.Trong chiến đấu thì liên tiếp mắc sai lầm trong chiến lược, chiến thuật Có nguy cơ bịxâm lăng, nhưng không tất yếu phải mất nước, nhưng nhà Nguyễn đã biến cái khôngtất yếu thành tất yếu Trong bối cảnh chung của thế giới lúc đó nước Nhật Bản, Xiêmcũng bị tư bản phương Tây nhòm ngó tại sao lại không mất nước? Như vậy, tráchnhiệm để mất nước thuộc về một bộ phận vua quan yếu hèn chứ không phải toàn bộvua quan nhà Nguyễn bởi vì trong quá trình chống Pháp vẫn có những thượng quancủa triều đình, thậm chí cả vua, như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hàm Nghi
có tinh thần chống Pháp đến cùng
Tóm lại, yêu cầu học tập các bộ môn là rất cao trong đó có bộ môn lịch sửnhằm đào tạo những nhân tài tương lai cho đất nước Nắm bắt được yêu cầu này,người giáo viên giảng dạy lịch sử phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo, đặc điểm tâm lí
và nhận thức của học sinh để vạch kế hoạch sư phạm thích hợp, trong đó phải lựachọn phương pháp giảng dạy, phương tiện dạy học tối ưu nhất trong đó có sử dụngbài tập để kích thích tư duy độc lập, sáng tạo của các em, góp phần nâng cao hiệu quảdạy học lịch sử ở trường chuyên và đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục - đào tạo
3 Cơ sở thực tiễn.
Để có được những nhận xét khách quan, khoa học về tình hình nhận thức và sửdụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT làm căn cứ thực tiễn cho việcnghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thực tế dạy học lịch sử ởmột số trường THPT
3.1 Mục đích điều tra.
Mục đích của việc điều tra, không chỉ nắm tình hình cụ thể mà qua các số liệu
đã thu được rút ra những nhận xét, kết luận về việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch
Trang 37sử ở trường THPT Kết quả này còn giúp chúng tôi đề ra được những biện pháp sưphạm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập phù hợp với tình hình hiện nay củaviệc dạy học bộ môn.
3.2 Cơ sở và đối tượng điều tra.
Công tác điều tra được tiến hành đối với giáo viên và học sinh ở một số trườngTHPT Chuyên Hưng Yên, THPT Hưng Yên
3.3 Nội dung điều tra.
Điều tra nhận thức của các đối tượng trên xung quanh vấn đề bài tập lịch sửcho đối tượng học sinh THPT
Đối với giáo viên: Chúng tôi đưa ra một số câu hỏi để biết được quan niệm của
họ về việc dạy học lịch sử ở trường THPT những thuận lợi và khó khăn, việc thiết kế
và sử dụng bài tập trong dạy học, tình hình sử dụng và những đề xuất của họ
Về phía học sinh: Chúng tôi đưa ra mẫu phiếu điều tra, để kiểm tra trình độ
nhận thức lịch sử chung của các em và phản ánh tình hình dạy học lịch sử ở trường,
về việc giáo viên có chú ý đến việc đưa ra các dạng bài tập cho học sinh làm haykhông? Và những kiến nghị của học sinh về đổi mới việc sử dụng bài tập lịch sử
3.4 Phương pháp điều tra.
Phương pháp điều tra, khảo sát được tuân theo những nguyên tắc điều tra xãhội học, thông qua các phương pháp như: Điều tra, khảo sát thông qua quan sát, dựgiờ, phiếu thăm dò, xử lý những số liệu, tài liệu thống kê
3.5 Kết quả điều tra.
* Đối với giáo viên
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát được 10 giáo viên thuộc các trường THPTchuyên Hưng Yên, THPT Hưng Yên (cụ thể xem phần phụ lục)
- Những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy học lịch sử
- Nhận thức của giáo viên về vai trò ý nghĩa của bài tập lịch sử
- Tình hình sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử
- Những khó khăn trong việc xây dựng, sử dụng bài tập lịch sử
Trang 38- Những kiến nghị, các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập trong dạyhọc lịch sử nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học bộ môn.
Qua sử dụng phiếu điều tra, trao đổi với giáo viên, quan sát dự giờ và xử lý kếtquả bằng phương pháp thống kê, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Về thuận lợi: Học sinh đều có thái độ tốt, hứng thú học tập bộ môn, say mệsưu tầm các loại tài liệu tham khao bổ sung cho học tập, một số học sinh có năngkhiếu bộ môn có điều kiện để nghiên cứu chuyên sâu
- Về khó khăn: Đa số học sinh năng lực học tập bộ môn không cao, học yếu cácmôn khác cho nên chọn học khối C, trình độ nhận thức trong một lớp cũng khôngđồng đều Chưa có phòng học bộ môn, phương tiện dạy học hiện đại
Qua điều tra, thăm dò ý kiến của đa số giáo viên đều nhất trí cho rằng sử dụngbài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT trong quá trình dạy học là rất cần thiết
và nó có tác dụng về nhiều mặt, đặc biệt là gây hứng thú học tập, phát triển tư duyđộc lập, sáng tạo và rèn luyện kỹ năng thực hành bộ môn cho học sinh Một số giáoviên nhấn mạnh rằng trong dạy học lịch sử ở trường THPT "Cần phải thường xuyên
sử dụng hệ thống bài tập đa dạng, phong phú và đảm bảo tính vừa sức cho học sinhlàm sẽ giúp các em có hứng thú học tập bộ môn và hiểu sâu sắc bài học" (ý kiến củathầy giáo Đinh Hải Hưng - Trường THPT chuyên Hưng Yên)
Bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận giáo viên nhận thức về bài tập lịch sử chưathấu đáo, họ còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong cách thức xây dựng và phươngpháp sử dụng các loại bài tập trong các giờ học khác nhau, đối tượng học sinh khácnhau Qua dự giờ và trao đổi với một số giáo viên chúng tôi thấy rằng hầu hết thờigian ở trên lớp giáo viên dành cho việc truyền đạt kiến thức mới đến khi gần hết giờgiáo viên mới căn dặn học sinh về nhà trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa và giaobài tập về nhà một cách chung chung Giáo viên chưa có tìm tòi, sáng tạo ra nhữngdạng bài tập đa dạng phong phú, bám sát nội dung bài giảng, chưa biết lựa chọn thờiđiểm đưa ra bài tập cho hợp lý nhằm gây hứng thú học tập, phát huy tính tích cực,độc lập và sáng tạo của học sinh
Trang 39Vấn đề bài tập trong dạy học lịch sử, đã được đề cập đến từ lâu về mặt lý luận,song trên thực tiễn vẫn chưa được tiến hành một cách thường xuyên, có hiệu quả, cónhiều cách lý giải song có thể tập trung và những nguyên nhân sau:
Đối với giáo viên: Chưa có nhận thức thấu đáo về việc xây dựng và sử dụngbài tập trong dạy học lịch sử nên không quyết tâm thực hiện Mặt khác, khi còn làsinh viên sư phạm họ cũng chưa được trang bị đầy đủ về nguyên tắc, quy trình xâydựng bài tập và những biện pháp sư phạm cần tuân thủ trong quá trình sử dụng bàitập nên không tránh khỏi lúng túng khi đưa ra vấn đề này vào thực tế giảng dạy
Các đề thi tốt nghiệp THPT, đề thi vào đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp đến nay vẫn còn nhiều câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh học thuộc lòng, ghi nhớkiến thức mà ít chú ý đến bài tập thực hành, bài tập yêu cầu phân tích, giải thích,chứng minh đòi hỏi khả năng tư duy sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
bộ môn Vì vậy, xảy ra tình trạng "Thi gì học nấy" trong một bộ phận giáo viên vàhọc sinh
Qua thực tế cho thấy, việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn thông quabiện pháp sử dụng bài tập lịch sử chưa có sự chuyển biến mau lẹ, nhất là đối với cáctrường ở vùng khó khăn như miền núi, hải đảo, nông thôn ở đó phương tiện dạy họccòn nhiều thiếu thốn
Tóm lại, để giải quyết tốt vấn đề bài tập trong dạy học lịch sử, các giáo viênphải được trang bị về mặt lý luận cũng như phải được cung cấp các điều kiện, phươngtiện cần thiết trong quá trình dạy học để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn
* Đối với học sinh
Song song với việc tìm hiểu nhận thức, quan niệm của giáo viên THPT thì việctìm hiểu hứng thú làm bài tập lịch sử của học sinh cũng là cơ sở giúp tôi đề ra nhữngbiện pháp sư phạm cần thiết cho việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử có hiệuquả tốt nhất, để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn
Trang 40Tôi đã tiến hành điều tra khảo sát học sinh, nội dung điều tra khảo sát tập trungchủ yếu vào các điểm cơ bản sau (nội dung cụ thể phiếu điều tra xin xem phần phụlục).
+ Tìm hiểu thái độ hứng thú của học sinh trong quá trình làm bài tập do giáoviên giao
+ Xem khả năng, trình độ của học sinh trong quá trình làm bài tập
+ Những khó khăn trong quá trình làm bài tập và những kiến nghị cuả học sinh
về đổi mới việc sử dụng bài tập lịch sử , về hứng thú đối với việc làm bài tập lịch sử:
- Hứng thú 46%
- Không hứng thú 14%
- Bình thường 40%
Các em có hứng thú với việc làm bài tập lịch sử đều cho rằng: Làm bài tập lịch
sử là một công việc quan trọng cần được tiến hành một cách thường xuyên trong quátrình học tập Giáo viên cần có được những bài tập hay, phát triển trí lực của học sinhđặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo và biết gắn lý thuyết với thực hành để các em vậndụng kiến thức đã học vào cuộc sống
Làm bài tập sẽ giúp các em rèn luyện kỹ năng viết bài, kỹ năng phân tích, giảithích, lập luận, chứng minh, kỹ năng diễn đạt, trình bày vấn đề, giải quyết vấn đề,trau chuốt ngôn từ, văn phong sáng sủa Nếu làm được điều đó sẽ giúp các em hiểusâu, nhớ lâu kiến thức đã học và có hứng thú với bộ môn Như vậy, ngoài hứng thúhọc tập với bộ môn, tinh thần tự giác, chăm chỉ, cần cù, nhẫn nại của học sinh thìphương pháp giảng dạy của giáo viên cũng có tác động lớn Nếu thầy cô thườngxuyên ra bài tập để tích cực hoá hoạt động nhận thức của các em thì chắc chắn chấtlượng dạy học bộ môn sẽ ngày càng được nâng cao
Hứng thú với bộ môn của học sinh không phải là không có, vì học lịch sử giúpcác em có được lòng ham hiểu biết, khám phá và tìm hiểu về lịch sử thế giới, lịch sửdân tộc Đồng thời cũng giúp học sinh hiểu biết được quá khứ, nắm bắt hiện tại và dựđoán được tương lai