- Tính mới của sáng kiến: Sáng kiến đã nêu ra được khả năng chuyển hóaAlgorit toán học thành Algorit dạy học và thiết kế được một số Algorit dạy họctrong dạy học Di truyền học Sinh học 1
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHÙ CỪ
Trang 2CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TỈNH
I Thông tin chung.
Họ và tên tác giả sáng kiến: Trương Mộng Diện
Ngày, tháng, năm sinh: 25/8/1985
Đơn vị: Tổ Sinh - Công nghệ - Thể dục - Quốc phòng
Trường THPT Phù Cừ
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ PPDH Sinh học
Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Sinh học lớp 11A3, 11A6, 11A8,11A11, 12A1, 12A6
2/ Nội dung sáng kiến đề nghị công nhận
- Mục đích của sáng kiến: Vận dụng Algorit sáng chế để đề xuất quy trìnhdạy học di truyền học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học 12, rènluyện cho HS năng lực tư duy logic, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực tự học
- Tính mới của sáng kiến: Sáng kiến đã nêu ra được khả năng chuyển hóaAlgorit toán học thành Algorit dạy học và thiết kế được một số Algorit dạy họctrong dạy học Di truyền học Sinh học 12
3/ Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Trang 3Sáng kiến đã được tác giả áp dụng trong dạy học Di truyền học Sinh học 12tại trường THPT Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việcnâng cao hiệu quả dạy học phần Di truyền học Qua nghiên cứu, sáng kiến kinhnghiệm của tác giả có khả năng áp dụng với các phần học khác của bộ môn Sinhhọc và có thể áp dụng với các môn học khác với những nội dung có tính chất quyluật để nâng cao năng lực tư duy cho học sinh.
6/ Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu
Giáo viên trong nhóm Sinh trường THPT Phù Cừ
Tôi cam đoan những nội dung trong báo cáo là hoàn toàn đúng Nếu có giandối hoặc không đúng sự thật trong báo cáo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theoquy định của pháp luật
Thủ trưởng đơn vị Phù Cừ, ngày 16 tháng 3 năm 2016
(Ký tên và đóng dấu) Người báo cáo yêu cầu công nhận sáng kiến
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trương Mộng Diện
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I Lí do lựa chọn đề tài: ……… ……… 1
1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 1
2 Xuất phát ưu điểm của Algorit sáng chế 1
3 Xuất phát từ đặc điểm kiến thức Di truyền học Sinh học 12 ……… 2
II Mục đích nghiên cứu: 3
III Đối tượng, khách thể nghiên cứu: 2
IV Giả thuyết khoa học: 3
V Nhiệm vụ nghiên cứu: 3
VI Phương pháp nghiên cứu: 3
NỘI DUNG I Cở sở lí luận của đề tài: 4
1 Một số vấn đề chung về Algorit 4
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 4
1.2 Tổng quan về Algorit sáng chế 5
2 Cơ sở khoa học của việc vận dụng Algorit trong dạy học 7
2.1 Cơ sở toán học – lý thuyết Algorit 7
2.2 Cơ sở tâm lí học sáng tạo 7
2.3 Cơ sở lý thuyết thông tin .8
II Thực trạng vận dụng Algorit trong dạy học SH ở trường THPT 8
III Vận dụng Algorit trong dạy học DTH SH 12 11
1 Chuyển hóa Algorit toán học thành Algorit dạy học 11
2 Chuyển hóa Algorit toán học thành Algorit dạy học Sinh học 12
3 Thiết kế một số Algorit dạy học DTH Sinh học 12 12
3.1 Algorit nhận biết: 12
3.2 Algorit biến đổi: 19
IV Thực nghiệm sư phạm: 23
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
I Lí do lựa chọn đề tài
1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, ngày 04 tháng 11 năm 2013, Ban Chấphành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị Quyết số 29-NQ/TƯ về việc Đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.Với quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng,Nhà nước và của toàn dân; đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là đổimới những vấn đề cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu,nội dung, phương pháp, cơ chế chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện
Ngày 28 tháng 11 năm 2014, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 27 tháng 3 năm 2015 Thủ tướngChính phủ đã ra quyết định số 404/QĐ-TTg, phê duyệt đề án đổi mới chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Như vậy, các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã thể hiệnquyết tâm đổi mới hệ thống giáo dục để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước
2 Xuất phát từ những ưu điểm của Algorit sáng chế
Phương pháp Algorit cùng với phương pháp Graph và tiếp cận môđun lànhững công cụ phương pháp luận đắc lực trong việc xây dựng quá trình dạy họcthành quy trình công nghệ
Việc xác định các nguyên tắc và quy trình áp dụng phương pháp Algorit vàodạy học là cần thiết để nâng cao tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh.Phương pháp Algorit có nhiều ưu điểm trong dạy học, vì đây là một phương pháp
tư duy Nếu sử dụng phương pháp này thường xuyên sẽ rèn luyện cho học sinh mộtphong cách học tập khoa học để học suốt đời
Trang 6Algorit sáng chế giúp người học giải quyết vấn đề nhanh hơn, chính xác hơn
và ngắn gọn hơn, tránh mò mẫm, mất thời gian Vận dụng Algorit sáng chế trongquá trình dạy học giúp học sinh hình thành thao tác tư duy logic, phát huy tính tíchcực, sáng tạo, tinh thần làm việc tập thể qua đó củng cố niềm tin, hứng thú học tậpcho người học
3 Xuất phát từ đặc điểm kiến thức Di truyền học Sinh học 12
Di truyền học là một trong những lĩnh vực mũi nhọn của khoa học nói chung
và của Sinh học nói riêng Những kiến thức di truyền học là cơ sở nhận thức cơ chếtiến hóa, đồng thời là nền tảng để giải thích các vấn đề của Sinh thái học
Chương trình Sinh học phổ thông hiện nay nói chung và phần di truyền học(Sinh học 12) nói riêng được xây dựng theo quan điểm hệ thống, các nội dung kiếnthức được trình bày một cách khoa học, có logic, phù hợp với trình độ nhận thứccủa học sinh ở từng cấp học, bậc học Nội dung kiến thức phần di truyền học (Sinhhọc 12) được trình bày từ: Sự vận động của vật chất di truyền (Chương I: Cơ chếcủa hiện tượng di truyền và biến dị) → Quy luật vận động của vật chất di truyền(Chương II và Chương III: Tính quy luật của hiện tượng di truyền) → Ứng dụng ditruyền học (Chương IV: Ứng dụng di truyền học và Chương V: Di truyền họcngười) Với cách bố trí như thế này, giáo viên có thể tổ chức các hoạt động học tậpcho học sinh dựa trên các kiến thức, kinh nghiệm đã có để giải quyết các vấn đềmới, rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy vững chắc, có khả năng vận dụng kiếnthức vào cuộc sống
Vì những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài luận án: “Vận dụng Algorit sáng chế trong dạy học Di truyền học Sinh học 12”
II Mục đích nghiên cứu
Vận dụng Algorit sáng chế để đề xuất quy trình dạy học di truyền học gópphần nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học 12
III Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Qui trình dạy học di truyền học Sinh học 12 theoAlgorit sáng chế
Trang 7- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 12 – trung học phổthông.
IV Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình dạy học di truyền học Sinh học 12 theoAlgorit sáng chế sẽ giúp học sinh thu nhận kiến thức nhanh, vững chắc, chủ động
và tích cực hơn, qua đó nâng cao được hiệu quả dạy học phần di truyền học Sinhhọc 12
V Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết Algorit và việc chuyển hóa Algorit toán học thànhAlgorit dạy học
- Điều tra thực trạng vận dụng Algorit sáng chế trong quá trình dạy học ởtrường trung học phổ thông
- Vận dụng Algorit sáng chế xây dựng quy trình dạy học phần di truyền học(Sinh học 12)
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các phương án đã đề xuất
VI Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp điều tra sư phạm
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thống kê toán học
Trang 8Thuật ngữ Algorit có nhiều cách hiểu khác nhau Theo toán học, Algorit làtập hợp và thứ tự các phép tính cần thiết, được quy định một cách nghiêm ngặtdùng để giải các bài toán cụ thể nào đó Với thời gian, cách hiểu thuật ngữ Algorittrở nên mở rộng hơn Có thể định nghĩa “Algorit là hàng loạt các chỉ dẫn hoặc cácbước tuần tự để giải quyết một vấn đề cụ thể” hay “Algorit là bộ các chỉ dẫn, cungcấp hàng loạt các bước cần thiết để tìm ra lời giải cho một vấn đề”.
Ngày nay, thuật ngữ Algorit còn được hiểu rộng hơn: “Algorit là bất kìchương trình nào đủ rõ ràng gồm các hành động (thao tác) thực hiện một công việcnào đó”
1.1.2 Algorit sáng chế (ARIZ)
Algorit sáng chế là cách gọi tắt của thuật ngữ “Algorit giải các bài toán sángchế”, tiếng Nga là Алгоритм Решения Изобретательких Задач viết tắt theo tiếngNga là АРИЗ, chuyển sang ký tự la tinh là ARIZ
ARIZ được hiểu là chương trình logic mang tính định hướng, gồm nhiềubước nhằm tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình suy nghĩ nhằm giải quyết cácbài toán sáng chế Khi sử dụng ARIZ, bằng những kinh nghiệm, tri thức của cánhân, người học phân tích quy luật phát triển khách quan và tìm ra mối quan hệcủa các sự vật, hiện tượng, quá trình để đưa ra lời giải và thể hiện lời giải thànhthao tác, quy trình Theo cách này, người học có thể đơn giản hóa các vấn đề phức
Trang 9tạp, nhận thức được cái bản chất, quy luật vận động khách quan của đối tượng, đúcrút kinh nghiệm cho bản thân, sáng tạo ra phương thức nhận thức của chính mình
1.2 Tổng quan về Algorit sáng chế
Hoạt động sáng chế bắt đầu từ thời nguyên thủy Quá trình hình thành vàphát triển của loài người gắn liền với hoạt động sáng chế Cùng với sự tồn tại vàphát triển của xã hội loài người, hoạt động sáng tạo không ngừng được thúc đẩy.Sáng chế luôn phải gắn liền với tư duy, chính tư duy sáng tạo với chủ thể là conngười đã tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu vĩ đại về mọi mặt trongcuộc sống và tạo nên nền văn minh nhân loại
Nhà toán học Hy Lạp Pappop, sống ở thế kỉ thứ III là người đặt nền móngcho “khoa học tư duy sáng tạo”, ông gọi đó là Ơristic (Heuristics)
Năm 1904, Alfred Binet cùng một nhóm các nhà tâm lý học người Phápchuyên nghiên cứu tâm lý trẻ đã nghiên cứu thành công phương pháp nhận diện vàđánh giá trí tuệ của học sinh Công trình được được giới chức giáo dục Pháp đánhgiá rất cao, các bài kiểm tra của Binet trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ vàbùng phát mạnh vào năm 1917
Vào những năm 40 của thế kỉ XX, A Osborn (Mỹ) đã đề xuất phương pháptập kích não Trong vòng 20 – 30 phút, nhóm những người có khả năng tưởngtượng tốt liên tục đưa ra các phương án, kể cả những phương án viễn tưởng
Năm 1926, Kensue (Đức) đã đề xuất phương pháp đối tượng tiêu điểm vàphương pháp này đã được Ch Vaiting (Mỹ) hoàn thiện vào những năm 50
Người có nhiều cống hiến trong việc xây dựng khoa học sáng tạo là nhàkhoa học Genric Sanlovic Alsule Năm 1946, Alsule bắt đầu xây dựng lí thuyếtgiải các bài toán sáng chế (Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch viết tắt làTRIZ) TRIZ là phương pháp luận tìm kiếm những giải pháp kĩ thuật mới TRIZkết hợp chặt chẽ bốn yếu tố: Tâm lí, logic, kiến thức, trí tưởng tượng Về phươngpháp sáng chế, G.S Alsule đã đề xuất vào năm 1960 gần đây đã được phát triển
Trang 10mạnh mẽ và trở thành một lí thuyết, trong đó hạt nhân là Algorit giải các bài toánsáng chế
Ở nước ta, những hoạt động liên quan đến khoa học về tư duy sáng tạo mớithực sự bắt đầu vào cuối những năm 70 của thế kỉ XX những vẫn còn mang tính tựphát Lớp học đầu tiên về tư duy sáng tạo được tổ chức vào năm 1977 Người cócông lớn đưa khoa học sáng tạo vào Việt Nam đó là GS Phan Dũng với các tácphẩm như: Phương pháp luận sáng tạo khoa học – kĩ thuật giải quyết vẫn đề và raquyết định; Các nguyên tắc sáng tạo cơ bản; Thế giới bên trong con người sángtạo; Tư duy logic biện chứng và hệ thống
Năm 1991, trung tâm sáng tạo Khoa học – Kĩ thuật được thành lập tại đạihọc Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với mục đíchdạy cho người bình thường trở nên sáng tạo
Năm 1998, Nguyễn Văn Lê cùng với tác phẩm “Cơ sở khoa học của sự sángtạo” đã trình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanhthiếu niên như: Cơ sở tâm lí học của sáng tạo; Cơ sở sinh lí thần kinh của hoạtđộng sáng tạo; Bài học từ những con người sáng tạo
Năm 2001, Nguyễn Minh Triết với “Đánh thức tiềm năng sáng tạo” đã đềcập đến việc vận dụng 19 nguyên tắc sáng tạo vào giải quyết các bài toán cụ thểnhằm khắc phục tính ì tâm lí
Năm 2005, Nguyễn Cảnh Toàn với “Khơi dạy tiềm năng sáng tạo” đã đưa racác vến đề về sáng tạo học như: khái niệm, nguồn gốc, cở sở thần kinh của hoạtđộng sáng tạo
Việc nghiên cứu, vận dụng TRIZ và ARIZ để bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho
HS trong nhà trường phổ thông còn chưa được đề cập nhiều trong các công trìnhnghiên cứu ở nước ta Các nhà khoa học đã đã vận dụng các nguyên tắc sáng tạocủa TRIZ và ARIZ để tạo ra những sản phẩm mới có ích, phục vụ cho đời sống.Còn giáo viên, có thể dựa trên lối tư duy của các nhà khoa học để dạy cho học sinhcách tư duy khoa học, sáng tạo để đào tạo nhiều hơn nữa những con người sángtạo, đáp ứng được nhu cầu của xã hội Dưới cách nhìn của thời đại mới, sáng tạo là
Trang 11nguồn tài nguyên cơ bản của con người, nguồn tài nguyên đặc biệt mà theo nhưcác nhà khoa học Mỹ: bạn càng sử dụng nó nhiều thì bạn càng có nó nhiều hơn.Sáng tạo là thứ có thể học được và dạy được vì vậy, giáo dục và rèn luyện tínhsáng tạo sẽ càng đóng vai trò quan trọng như John Dewey nhận xét: “Mục đíchgiáo dục trẻ em không phải là thông tin về những giá trị của quá khứ mà là sángtạo những giá trị mới của tương lai”.
2 Cơ sở khoa học của việc vận dụng Algorit trong dạy học
2.1 Cơ sở toán học - Lý thuyết Algorit
Algorit là từ viết tắt từ Algorithm Algorithm dịch sang tiếng Việt có nghĩa
là thuật toán Thuật toán đòi hỏi tính logic và chính xác cao vì vậy việc nghiên cứu
về thuật toán có vai trò rất quan trọng trong toán học và đặc biệt quan trọng trongkhoa học máy tính vì máy tính chỉ giải quyết được vấn đề khi đã có hướng dẫn giải
rõ ràng và đúng Nếu hướng dẫn giải sai hoặc không rõ ràng thì máy tính không thểgiải đúng được bài toán Trong khoa học máy tính, thuật toán được định nghĩa
là một dãy hữu hạn các bước không mập mờ và có thể thực thi được, quá trình hành động theo các bước này phải dừng và cho được kết quả như mong muốn.
2.2 Cơ sở tâm lí học sáng tạo
Năm 1946, G.S Altshuller bắt đầu tìm ra các thủ thuật nhằm mục đích giúp
cá nhân mình có thể sáng chế với năng suất và hiệu quả cao hơn Đến năm 1970,
đã có 40 thủ thuật sáng tạo cơ bản và được sử dụng cho đến nay Tuy nhiên, vậndụng ARIZ và TRIZ vào dạy học như thế nào và các thủ thuật cơ bản nào là thiếtthực đối với quá trình dạy học là một vấn đề khá khó khăn Giải quyết vấn đề này,chúng tôi nghiên cứu hoạt động sáng tạo trong dạy học và hoạt động phát minh,sáng chế của các nhà khoa học, kỹ thuật
Trong 40 nguyên tắc sáng tạo mà G.S Altshuller đã đề xuất trong lĩnh vựckhoa học, chúng tôi đã phân tích để lựa chọn các nguyên tắc có thể vận dụng vàoquá trình dạy học Các nguyên tắc mà chúng tôi đề xuất như sau: nguyên tắc phânnhỏ, nguyên tắc đảo ngược, nguyên tắc kết hợp, nguyên tắc phẩm chất cục bộ,nguyên tắc liên tục tác động có ích, nguyên tắc thay đổi các thông số kĩ thuật,
Trang 12Biện pháp Thường Mức độ (%)
xuyên Đôi khi Không baogiờ
- Sử dụng phương tiện trực quan 43,6 54,5 1,9
- Làm việc với SGK, tài liệu tham khảo 12,7 76,4 10,9
- Sử dụng hệ thống câu hỏi 36,4 58,2 5,4
- Sử dụng tình huống có vấn để 9,1 43,6 47,3
- Sử dụng các dạng sơ đồ 30,9 63,6 5,5
2.3 Cơ sở lý thuyết thông tin
Như vậy, theo lí thuyết thông tin, quá trình dạy học tương ứng với một hệ
thống bao gồm 3 giai đoạn: Truyền và nhận thông tin; Xử lý thông tin; Lưu trữ và vận dụng thông tin.
Trong dạy học, quá trình truyền thông tin không chỉ đơn thuần là thầy truyềnthụ, trò thụ động tiếp thu mà cần phải tạo ra sự liên hệ giữa trò với thầy (liên hệngược) hoặc giữa trò với các phương tiện dạy học (sách, đồ dùng dạy học ) hoặcgiữa trò với trò Để tạo được mối liên hệ giữa thày và trò, giữa trò với các phươngtiện dạy học, giữa trò với trò có thể sử dụng các kênh như: kênh thị giác (kênhhình); kênh thính giác (kênh tiếng); kênh khứu giác… Trong đó, kênh thị giác cónăng lực chuyển tải thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất (từ trực quan sinh độngđến tư duy trừu tượng)
Algorit có tác dụng mô hình hóa các đối tượng nghiên cứu và mã hóa cácđối tượng đó bằng một loại “ngôn ngữ” vừa trực quan, vừa cụ thể và cô đọng Dovậy, dạy học bằng Algorit làm cho quá trình truyền thông tin nhanh và chính xáchơn
II Thực trạng vận dụng Algorit trong dạy học Sinh học ở trường trung học phổ thông
* Về hoạt động dạy của giáo viên
Bảng 1 Kết quả khảo sát về việc sử dụng các biện pháp chủ yếu trong dạy học Di
Di truyền học Sinh học 12 của giáo viên
Trang 13Qua bảng 1 cho thấy, các biện pháp mà giáo viên tổ chức dạy học rất đa dạng,
đã có những đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinhnhưng chưa thật sự sâu sắc Các biện pháp thường xuyên được sử dụng trong dạyhọc di truyền học Sinh học 12 là sử dụng các phương tiện trực quan (43,6 %) kếthợp với việc sử dụng hệ thống câu hỏi (36,4%) Việc giáo viên sử dụng sơ đồthường xuyên chưa nhiều (30,9 %) Khi trao đổi thêm, nhiều giáo viên cho rằnggiáo viên thường sử dụng ngay các hình vẽ, sơ đồ và đồ thị có trong sách giáokhoa, hầu như không tự thiết kế
Bảng 2 Cách thức giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức
Qua bảng 2 cho thấy, một số ít giáo viên thường xuyên hướng dẫn học sinh sử
dụng bảng hoặc lập dàn ý, đề cương Số giáo viên thường xuyên sử dụng sơ đồchiểm tỉ lệ khá lớn (30,9 %) Khi trao đổi thêm thì các giáo viên cho rằng các dạng
sơ đồ hiện đang dùng thường là sơ đồ đơn giản nên việc hệ thống các kiến thức ởmức độ lớn thường gặp khó khăn Hầu hết các giáo viên đều thấy được ưu điểmcủa các dạng sơ đồ trong quá trình dạy học và cho rằng nếu tạo cho học sinh thóiquen hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ thì giúp học sinh dễ ghi nhớ, dễ tái hiện kiếnthức qua đó làm tăng hứng thú và tăng hiệu quả của việc học tập của học sinh
* Về hoạt động học của học sinh ( bảng 3)
Qua kết quả ở bảng 3 kết hợp với việc trao đổi trực tiếp với một số học sinh,cho thấy phần lớn học sinh chưa thật sự chủ động và tích cực trong học phần ditruyền học, số học sinh hiểu sâu kiến thức; có phương pháp học tập chủ động sángtạo chiếm tỉ lệ rất thấp; phần lớn vẫn là phương pháp học thụ động Số học sinhthường xuyên sử dụng sơ đồ; bảng không nhiều, chủ yếu là học sinh học khá; giỏi.Hầu hết các em cho rằng nếu được rèn luyện cách học bằng lập sơ đồ thường
Trang 14xuyên thì sẽ rút ngắn được thời gian trong quá trình học tập và tăng khả năng ghinhớ bài
Bảng 3 Kết quả khảo sát việc học tập phần Di truyền học của học sinh lớp 12
- Học thuộc lòng những gì giáo viên cho ghi để chuẩn bị
- Không thuộc và không hiểu bản chất khái niệm 10
- Học thuộc lòng nhưng không hiểu bản chất khái niệm 46,8
- Hiểu nhưng không vận dụng được các khái niệm 29,8
- Hiểu rõ và vận dụng được các khái niệm Sinh học 13,4
Như vậy, có thể thấy việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh tronghọc tập còn nhiều hạn chế, việc tiếp thu kiến thức của học sinh còn mang tính thụđộng, vì vậy rất dễ hiểu là hiệu quả của giờ học không cao 56,8% số học sinhkhông học hoặc học thuộc lòng một cách máy móc nhưng không nắm được bảnchất kiến thức, do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong việc sử dụng kiến thức đã học
để tư duy hay tiếp thu kiến thức mới Chỉ có 29,8% số học sinh hiểu nhưng khôngvận dụng được các kiến thức, còn số học sinh hiểu rõ và vận dụng được các kiếnthức Sinh học trong bài học chỉ chiếm 13,4%
Tóm lại, qua kết quả điều tra thực trạng cho thấy, việc dạy học bộ môn Sinhhọc nói chung và phần di truyền học nói riêng còn một số tồn tại sau:
- Trong quá trình giảng dạy, các giáo viên hầu hết chủ yếu quan tâm đến dạy chohết kiến thức có trong bài chứ chưa thực sự đầu tư rèn luyện cho học sinh các kĩ nănghọc tập như kĩ năng hệ thống hóa kiến thức; kĩ năng ghi tóm tắt và ghi nhớ kiến thức…
Trang 15- Trong dạy học phần di truyền học, các giáo viên thường quan tâm đến từngkiến thức, chưa thực sự chú trọng đến hệ thống các kiến thức có liên quan, nghĩa làchủ yếu cho học sinh nhìn thấy “cây” mà không thấy “rừng” nên học sinh còn bịđộng trong quá trình học tập
- Học sinh còn chưa thật sự chủ động tích cực học bộ môn, nhiều học sinh gặpnhiều khó khăn trong học tập các kiến thức phần di truyền học
III Vận dụng Algorit trong dạy học Di truyền học Sinh học 12
1 Chuyển hóa Algorit toán học thành Algorit dạy học
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, trong nhận thức khoa học, có thể phânloại các phương pháp khoa học thành ba nhóm: Phương pháp triết học; phươngpháp riêng rộng và phương pháp đặc thù
Hệ thống các phương pháp khoa học gắn bó với nhau, thâm nhập vào nhau
và sinh thành ra nhau, các phương pháp khoa học có thể chuyển hoá cho nhau đểhình thành những nhóm phương pháp mới phù hợp với mục tiêu và nội dung đặcthù của từng hoạt động Chuyển hoá các phương pháp khoa học thành phươngpháp dạy học, thông qua xử lý sư phạm là một trong những hướng của chiến lượcđổi mới và hiện đại hoá phương pháp dạy học
Theo quy trình trên, những năm cuối thế kỷ XX, trên thế giới đã xuất hiện
xu hướng chuyển hoá Algorit của toán học thành phương pháp dạy học nhiều bộmôn không phải là toán học, nhằm cung cấp cho học sinh một phương pháp tư duy
và tự học có hiệu quả
Trong dạy học, lý thuyết Algorit cung cấp một phương pháp khoa học thuộcloại khái quát, nó thuộc nhóm “phương pháp riêng rộng”, đã được một số nhà lýluận dạy học cải biến theo những quy luật tâm lý và lý luận dạy học để sử dụngvào dạy học với tư cách là một phương pháp dạy học Như vậy, có thể chuyển hoáAlgorit toán học thành Algorit dạy học
Phương pháp khoa
học
ở nhà trường
Trang 162 Chuyển hóa Algorit toán học thành Algorit dạy học sinh học
Chuyển hóa Algorit toán học thành Algorit dạy học sinh học thực chất làdùng Algorit để mô tả nội dung sinh học và mô tả các bước giảng dạy một nộidung sinh học
Quy trình chuyển hóa Algorit toán học thành Algorit dạy học sinh học được
mô tả như sau:
Hệ thống tri thức Sinh học mà học sinh lĩnh hội được trong chương trình phổthông thực chất là một hệ thống các khái niệm, các quy luật và quá trình Sinh học.Việc thiết kế chương trình Sinh học phổ thông dựa trên quan điểm cấu trúc - hệthống Sinh giới là một hệ thống mở và hoàn chỉnh, phát triển từ thấp đến cao Mỗiđối tượng được nghiên cứu trong chương trình phổ thông có thể là một toàn thểhoặc là một bộ phận của một hệ lớn hơn và đều có những dấu hiệu bản chất Do
đó, việc xác định các dấu hiệu bản chất, các mối quan hệ giữa các bộ phận cấuthành trong một hệ thống nhất định sẽ giúp cho việc nhận thức các kiến thức Sinhhọc thuận lợi hơn Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng các bản ghi Algorit để mô tảcác dấu hiệu bản chất và các mối quan hệ giữa dấu hiệu đó sẽ có nhiều thuận lợi.Trên cơ sở Algorit toán học, trong dạy học có hai loại Algorit thường được sửdụng đó là: Algorit nhận biết và Algorit biến đổi
3 Thiết kế một số Algorit dạy học di truyền học Sinh học 12
3.1 Algorit nhận biết
Algorit toán học
Algorit dạy học sinh học
Sử dụng Algorit trong dạy học học sinh
Áp dụng Chuyển hoá