1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng học tốt môn địa lí ở bậc THCS

30 553 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, để giúp học sinh hiểu, nắm vững các kĩ năng và kiến thức địa lí trong dạy học Địa lí giáo viên cần đặc biệt coi trọng các vấn đề sau: Hình thành cho học sinh hệ thống các biểu tư

Trang 1

SƠ YẾU LÍ LỊCH

I/- THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Nguyễn Hồng Hải

2 Ngày tháng năm sinh: 01/05/1979

3 Giới tính: Nam

4 Địa chỉ: Trường PTDTNT liên huyện Tân Phú Định Quán

5 Điện thoại: Cơ quan: 0613 856 483; Di động 01234 789 776

6 E-mail: Haisam@Gmail Com.vn

7 Chức vụ : Giáo viên

8 Đơn vị công tác : Trường PTDTNT liên huyện Tân Phú Định Quán

II/- TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất) cao nhất : Đại học

sư phạm

Năm nhận bằng : 2011

Chuyên ngành đào tạo : Địa lí

III/- KINH NGHIỆM KHOA HỌC

Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Địa lí

Số năm kinh nghiệm: 12 năm

Các sáng kiến kinh nghiệm có trong 5 năm gần đây:

* Nâng cao hiệu quả giảng dạy một tiết Địa lí 7 (năm 2003)

* Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Địa lí (năm 2006)

* Nâng cao hiệu quả giảng dạy Địa lí 7 bằng kênh hình ( năm 2007)

* Ứng dụng CNTT vào soạn giảng môn Địa lí 7 (năm 2011)

Trang 2

MỤC LỤC

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trang 3

TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Trang 5

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN: Trang 5

1.1 Khái niệm về kỹ năng Địa lí: Trang 5

1.2 Đặc diểm môn Địa lí: Trang 5

2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THCS: Trang 6

3 NỘI DUNG, BIỆN PHÁP CỤ THỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC

TẬP ĐỊA LÍ Trang 8

HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI : Trang 25

1 Đối với giáo viên: Trang 25

2 Đối với học sinh: Trang 25

3 Hiệu quả tiết dạy : Trang 25

ĐỀ XUẤT KHUYẾN NGHỊ : Trang 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 28

Trang 3

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

ã hội luôn luôn vận động và phát triển, tư duy của loài người không một

giây phút “ngủ yên” sự thăng tiến của loài người từ xưa tới nay đã chứng

minh điều đó Chính vì vậy, mở rộng tri thức là việc làm cấp bách đối với tất cả

mọi người và đặc biệt quan trọng hơn đối với thế hệ trẻ mà điển hình là các em

học sinh Điều đó lại càng quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết khi chúng ta

đã và đang đặt chân bước lên bậc thềm thế kỉ XXI và toàn cầu hoá thị trường thế

giới Thế nhưng trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông

tin, khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển như vũ bão, thì không thể nhồi nhét

vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức càng nhiều Nếu cứ tiếp tục dạy và học

(D&H) thụ động như thế, giáo dục sẽ không đáp ứng được nhu cầu mới của xã

hội Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự thách thức trước nguy

cơ tụt hậu trên con đường tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi

hỏi đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới về căn bản dạy và học Đây không

phải là vấn đề riêng của nước ta mà là vấn đề quan trọng ở mọi quốc gia trong

chiến lược phát triền nguồn lực con người phục vụ mục tiêu kinh tế, xã hội

Chính vì thế những năm gần đây sau cải cách giáo dục ở trường phổ thông

đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích

cực, chủ động, tư duy sáng tạo, độc lập trong học tập của học sinh, “lấy trò làm

trung tâm” Nhiều cuộc hội thảo đã xoay quanh vấn đề sử dung sách giáo khoa

mới như thế nào cho tốt, lựa chọn câu hỏi đàm thoại với học sinh ra sao? Sử

dụng phương pháp giảng dạy theo chương trình đổi mới để phát triển năng lực

tư duy qua các kênh hình, kênh chữ, sách giáo khoa cũng như đồ dùng dạy học ở

môn Địa lí như thế nào? Làm sao để học sinh khai thác, tiếp thu kiến thức mới

về môn Địa lí? Thì trước hết phải đổi mới phương pháp cho phù hợp, nhằm phát

huy tính tích cực, chủ động, tìm tòi khám phá gây hứng thú trong học tập cho

học sinh qua từng tiết dạy

X

Trang 4

Tất cả điều tôi trình bày trên đây là lí do, là động lực giúp tôi sử dụng

phương pháp mới vào quá trình dạy học Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Hướng

dẫn học sinh rèn kỹ năng học tốt môn Địa lí ở bậc THCS”

Trang 5

TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1/-CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1.1.Khái niệm về kĩ năng Địa lí:

Kĩ năng, kĩ xảo nói chung là phương thức thực hiện một hành động nào

đó, thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kĩ năng, kĩ xảo thực

chất là những hành động thực tiễn mà học sinh hoàn thành được một cách có ý

thức trên cơ sở những kiến thức Địa lí

Muốn có kĩ năng, kĩ xảo, trước hết học sinh phải có kiến thức và biết cách

vận dụng chúng vào thực tiễn

Kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành kĩ xảo

Kĩ năng hoàn thiện được hình thành sau khi đã có kĩ xảo Kĩ năng hoàn

thiện đòi hỏi ở học sinh kinh nghiệm và một mức độ sáng tạo nhất định trong

hành động

1.2 Đặc điểm môn Địa lí:

Môn Địa lí trong nhà trường có khả năng bồi dưỡng cho học sinh một

khối lượng kiến thức phong phú về địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế - xã hội và

những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong cuộc sống, đặc biệt là kĩ năng bản đồ mà ít

môn học đề cập tới Vì vậy, để giúp học sinh hiểu, nắm vững các kĩ năng và kiến

thức địa lí trong dạy học Địa lí giáo viên cần đặc biệt coi trọng các vấn đề sau:

Hình thành cho học sinh hệ thống các biểu tượng, khái niệm địa lí, các

mối quan hệ địa lí, nhất là mối quan hệ nhân quả

Phát triển cho học sinh tư duy địa lí đó là tư duy liên hệ tổng hợp xét đoán

dựa trên bản đồ

Tận dụng triệt để các thiết bị dạy học Địa lí như tranh ảnh, bản đồ, biểu

đồ, bảng thống kê, băng đĩa hình, trong đó quan trọng nhất là bản đồ Qua bản

đồ, học sinh dễ dàng có được các biểu tượng trong không gian đồng thời phát

triển tư duy Địa lí

Tăng cường hướng dẫn học sinh quan sát, thu thập thông tin, vận dụng

kiến thức, kĩ năng Địa lí để giải quyết vấn đề có liên quan trong cuộc sống

Trang 6

2/-THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THCS:

Từ trước đến nay, trong dạy học Địa lí, giáo viên chủ yếu sử dụng các

phương pháp dạy học như phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng các

phương tiện trực quan (mô hình, bản đồ, tranh ảnh, các loại biểu bảng…).Có thể

nói một số không ít giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, có hiểu biết sâu sắc

về bộ môn đã sử dụng các phương pháp này khá tốt, kích thích suy nghĩ, tìm tòi,

tự lực của học sinh Tuy nhiên, cũng không ít giáo viên còn ít quan tâm tới việc

phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi sử dụng các phương pháp dạy

học nói trên Có thể nhận thấy những nét chung của giáo viên hiện nay là vẫn sử

dụng phương pháp cũ trong dạy học môn địa lí như:

Phương pháp dùng lời cho đến nay vẫn được coi là một trong những

phương pháp chính để chỉ đạo học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng địa lí, đặc

biệt là khâu nắm kiến thức mới Lời ở đây chủ yếu là lời của thầy để mô tả, giải

thích các sự vật, hiện tượng địa lí, phân tích mối quan hệ giữa các hiện tượng, sự

vật địa lí kết hợp với việc tổ chức học sinh quan sát khi sử dụng các đồ dùng

trực quan Phương pháp vấn đáp cũng là một trong những phương pháp dùng lời

được sử dụng phổ biến hiện nay, trong đó thiên về vấn đáp tái hiện và vấn đáp

giải thích minh họa.Việc sử dụng các phương pháp dùng lời như vậy thực chất là

giáo viên giảng - học sinh nghe, giáo viên ghi bảng - học sinh chép vào vở, giáo

viên chỉ bản đồ - học sinh nhìn theo, giáo viên hỏi - học sinh trả lời Giáo viên

chủ động truyền đạt một cách rõ ràng, mạch lạc nội dung bài đã được chuẩn bị

sẵn, trò thụ động tiếp thu và ghi nhớ những nội dung mà giáo viên truyền đạt,

kết hợp trả lời câu hỏi giáo viên nêu ra

Phương pháp trực quan: Việc sử dụng các phương tiện trực quan cũng còn

nhiều khiếm khuyết nên ít có tác dụng phát huy tính tích cực của học sinh Có

thể nói các phương tiện dạy học của môn Địa lí có vai trò hết sức quan trọng vì

đó là “nguồn kiến thức Địa lí”, nhưng hiện nay đại đa số giáo viên Địa lí sử

dụng các phương tiện trực quan theo cách phân tích minh họa, ít chú ý đến vai

Trang 7

tự làm việc với các phương tiện này Chính vì vậy, rất nhiều học sinh không biết

đọc bản đồ, không biết khai thác các bảng số liệu…, nói chung kĩ năng Địa lí

của học sinh còn yếu

Trong những năm qua, cùng với việc triển khai cải cách giáo dục, thực

hiện chuẩn kiến thức kỹ năng, tích hợp kỹ năng sống, tích hợp giáo dục bảo vệ

môi trường, bảo vệ năng lượng Phương pháp dạy học Địa lí tuy đã có một số cải

tiến, chú ý tới việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình tiếp thu

kiến thức bằng cách tăng cường hệ thống câu hỏi có yêu cầu phát triển tư duy,

nhưng đó chỉ là những câu hỏi do giáo viên nêu ra và giáo viên dẫn dắt đến đâu

thì giải quyết đến đó Về mặt hình thức, các giờ học đó có vẻ sinh động vì học

sinh tích cực hoạt động Song nếu theo quan niệm về học tập tích cực thì những

giờ học như vậy chưa thể nói rằng học sinh đã học tập một cách tích cực, bởi

hoạt động của học sinh ở đây mới chỉ là việc trả lời thụ động các câu hỏi của

giáo viên chứ bản thân học sinh chưa có nhu cầu nhận thức, chưa chủ động tìm

tòi, suy nghĩ và giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài học

Nguyên nhân của những tồn tại trên đó là chưa có sự thống nhất về quan

điểm: Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học Địa lí? Chưa có sự triển khai

đồng bộ trong các khâu: Bồi dưỡng giáo viên, đổi mới cách viết sách giáo khoa,

sách giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh

giá…trong đó chế độ thi cử còn chia ra các môn “chính phụ” là những trở ngại

lớn Nhiều giáo viên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào

chuyên môn vì quan niệm môn Địa lí là môn phụ

Qua thực tế khảo sát 69 học sinh khối 8 ở một số tiết năm học 2010 -

2011 về thái độ học tập và mức độ tiếp thu bài học môn Địa lí mà giáo viên chưa

Hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng học môn Địa lí cho thấy hầu hết học sinh

có thái độ học môn Địa lí bình thường và việc tiếp thu kiến thức chỉ ở mức độ

nhớ và hiểu kiến thức đã được học với số liệu cụ thể như sau:

Số liệu thống kê:

* Thái độ học tập:

Trang 8

Hiểu được kiến thức

Vận dụng được kiến thức

Thiết bị và phương tiện dạy học phong phú, hiện đại, thực sự là công cụ

cho học sinh trong việc nghiên cứu khám phá kiến thức một cách nhanh chóng

và có hiệu quả nhất Do vậy, giáo viên cần tổ chức hướng dẫn học sinh tiến hành

các hoạt động học tập nhằm khai thác và lĩnh hội kiến thức với phương tiện dạy

học Địa lí sau:

3.2 Bản đồ, lược đồ:

Đối với việc dạy học Địa lí, bản đồ là nguồn kiến thức quan trọng và được

coi như quyển sách thứ hai của học sinh Tổ chức cho học sinh làm việc với bản

đồ giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ theo

các bước sau:

Đọc tên bản đồ để biết đối tượng địa lí thể hiện trên bản đồ là gì ?

Trang 9

Ví dụ: Bản đồ địa hình thì đối tượng thể hiện trên bản đồ chủ yếu là địa

hình ( các dạng địa hình và sự phân bố của chúng); bản đồ khí hậu thì đối tượng

thể hiện chủ yếu của bản đồ sẽ là các yếu tố khí hậu ( Nhiệt độ, khí áp, gió,

mưa ) hoặc bản đồ công nghiệp thì đối tượng thể hiện chủ yếu sẽ là các trung

tâm và các ngành công nghiệp

Đọc bảng chú giải để biết cách người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ

như thế nào? Bằng các kí hiệu gì? Bằng các màu gì? Bởi các kí hiệu qui ước

trên bản đồ là những biểu trưng của các đối tượng, hiện tượng địa lí trong hiện

thực khách quan Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết thông qua

những kí hiệu đó mà rút ra nhận xét về tính chất, đặc điểm của các đối tượng địa

lí được thể hiện trên bản đồ

Dựa vào các kí hiệu, màu sắc trên bản đồ để xác định vị trí của các đối

tượng địa lí

Dựa vào bản đồ kết hợp với kiến thức địa lí, vận dụng các thao tác tư duy

(so sánh, phân tích, tổng hợp) để phát hiện các mối liên hệ địa lí không thể hiện

trực tiếp trên bản đồ (đó là mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh

tế với nhau ) nhằm giải thích sự phân bố cũng như đặc điểm các đối tượng, hiện

tượng địa lí

Ví dụ 1: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ phân bố hoang mạc

trên thế giớ trong SGK Địa lí Lớp 7(Bài 19: Môi trường hoang mạc)

- Tên lược đồ : “Lược đồ phân bố hoang mạc trên thế giới”

- Cách thể hiện: Các hoang mạc trên lược đồ được thể hiện bằng màu

vàng ( Đối với vùng cực kì khô hạn), màu xanh lá mạ (Vùng khô hạn)

ú

c

Trang 10

- Dựa vào màu sắc thể hiển trên lược đồ để xác định vị trí của các hoang

mạc, các bán hoang mạc nằm dọc hai bên đường chí tuyến, ở sâu trong lục địa

hoặc gần các dòng biển lạnh

- Dựa vào lược đồ, kết hợp với các kiến thức đã học để xác lập mối quan

hệ giữa các nhân tố : Vĩ độ địa lí, vị trí gần hay xa biển, các dòng biển lạnh với

khí hậu từ đó giải thích vì sao các hoang mạc lại thường nằm dọc theo hai đường

chí tuyến, ở sâu trong lục địa

3.3 Biểu đồ:

Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phân tích biểu đồ theo các bước:

- Đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới biểu đồ, xem biểu đồ thể hiện, hiện

tượng gì ? (khí hậu, cơ cấu kinh tế, phát triển dân số )

- Tìm hiểu xem các đại lượng thể hiện trên biểu đồ là gì?(nhiệt độ, lượng

mưa, các ngành kinh tế, dân số ) trên lãnh thổ nào và thời gian nào, được thể

hiện trên biểu đồ như thế nào? (theo đường, cột, hình quạt ) và trị số các đại

lượng được tính bằng gì ? (mm, %, triệu người )

- Dựa vào các số liệu thống kê đã được trực quan hóa trên biểu đồ, đối

chiếu, so sánh chúng với nhau và rút ra nhận xét về các đối tượng và hiện tượng

địa lí được thể hiện

Ví dụ 2:

Khi dạy Bài 21:Thực hành: Phân tích biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa (Lớp 6)

Bài tập 1: Phân tích biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội (Hình

55-SGK/65)

Trang 11

- Tên biểu đồ: biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội

- Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là nhiệt độ và lượng mưa của

Hà Nội qua các tháng trong năm Nhiệt độ được thể hiện bằng đường đồ thị,

lượng mưa được thể hiện bằng hình cột Trị số của nhiệt độ được tính bằng (o

C), lượng mưa được tính bằng ( mm

)

- Dựa vào đường đồ thị thể hiện nhiệt độ và các cột thể hiện lượng mưa

của Hà Nội có sự chênh lệch của các tháng trong năm Có tháng nhiệt độ cao

(tháng 7) có tháng nhiệt độ thấp (tháng 1), có tháng mưa nhiều (tháng 8), có

tháng mưa ít (tháng 12) Sự chênh lệch về nhiệt độ và lượng mưa giữa các tháng

cao nhất và thấp nhất tương đối lớn (về nhiệt độ chênh lệch nhau khoảng 12o

C,

về lượng mưa chênh lệch nhau khoảng 280 mm

)

4/- Mô hình trực quan:

Trang 12

Ngoài bản đồ, mô hình trực quan là nguồn trí thức địa lý quan trọng có khả

năng phản ánh đối tượng địa lý một cách cụ thể mà không một phương tiện dạy

học nào làm được Giúp cho học sinh khai thác củng cố kiến thức và tư duy

trong quá trình học địa lý

4.1 Mô hình “Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời”

- Nếu như không có mô hình Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời thì giáo

viên là người làm việc rất căng thẳng nhưng hiệu quả không cao Sử dụng mô

hình giúp học sinh hứng thú khám phá tìm tòi hơn

- Kết quả của cuộc thí nghiệm đã chứng minh cho học sinh thấy được Trái

Đất chuyển động quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo nhất định và khi chuyển

động quanh Mặt Trời, Trái Đất cũng tự chuyển động quanh trục để sinh ra ngày

và đêm

- Nhờ sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh xác định được tại sao có năm,

tháng, có các mùa: Xuân – hạ – thu – đông? Tại sao có mùa lạnh – mùa nóng?

Tại sao có ngày – đêm dài ngắn khác nhau trên Trái Đất?

- Và qua mô hình này học sinh nhận thức được Mặt Trời không phải mọc ở

đằng đông lặn ở đằng tây như các em đã nhầm

4.2 Mô hình Trái Đất trong hệ Mặt Trời

- Với mô hình này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được vị trí của Trái

Đất trong hệ Mặt Trời

- Giáo viên cho học sinh quan sát các mô hình với yêu cầu:

+Kể tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời

+Cho biết Trái Đất nằm ở vị trí thứ mấy trong các hành tinh theo thứ tự

xa dần Mặt Trời

Trang 13

=> Từ đó học sinh nhận biết được Trái Đất ở vị trí thứ ba trong số tám hành tinh

theo thứ tự xa dần Mặt Trời

4.3 Mô hình hệ thống sông và lưu vực sông

- Với mô hình này nhiệm vụ của người giáo viên là làm cho học sinh mô tả

được hệ thống sông qua mô hình để làm được điều này, giáo viên cần phải tiến

hành khai thác trên mô hình bằng phương pháp vấn đáp:

- Từ đó học sinh rất dễ dàng xác định được đâu là phụ lưu, đâu là chi lưu,

và đâu là sông chính của bất kỳ một con sông nào trên bản đồ treo tường

5/- Tranh ảnh địa lí:

Việc khai thác kiến thức từ tranh ảnh địa lí được tiến hành theo các bước:

- Nêu lên các bức tranh (hoặc ảnh) nhằm xác định xem bức tranh hay bức

ảnh đó thể hiện cái gì? (đối tượng địa lí nào?), ở đâu?

- Chỉ ra những đặc điểm, thuộc tính của các đối tượng địa lí được thể hiện

trên bức tranh (hoặc ảnh)

- Nêu biểu tượng và khái niệm địa lí trên cơ sở những đặc điểm và thuộc

tính của nó

Tuy nhiên, tranh ảnh chỉ có tác dụng giúp học sinh khai thác được một số

đặc điểm và thuộc tính nhất định về đối tượng Vì vậy, giáo viên cần gợi ý cho

học sinh dựa vào kiến thức địa lí đã học, kết hợp với bản đồ, biểu đồ, các tư liệu

Trang 14

địa lí khác để giải thích đặc điểm, thuộc tính cũng như sự phân bố (vị trí) của đối

tượng địa lí được thể hiện trên bức tranh (hoặc ảnh) đó

- Tên tranh: Tranh Khu công

nghiệp luyện kim ở Đức

- Đặc điểm khu công nghiệp thể hiện trên bức tranh: Một khu công nghiệp

được xây dựng bên bờ một con sông

- Biểu tượng và khái niệm về khu công nghiệp: Hệ thống ống khói san sát,

khói bụi mù mịt, hệ thống nước thải đổ ra sông

- Dựa vào các đặc điểm đó để giải thích các hoạt động công nghiệp có ảnh

hưởng tới môi trường địa lí như thế nào? (gây ô nhiễm môi trường, biện pháp

khắc phục)

6/- Bảng số liệu:

Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các bảng số liệu thống kê

(hoặc các số liệu riêng lẻ) Cần chú ý học sinh:

- Không bỏ sót số liệu nào

- Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào số liệu cụ thể

Ví dụ 4: Phân tích bảng số liệu (Bài 27: Thực hành: Kinh tế biển của Bắc

Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ-Lớp 9)

Trang 15

Sản lượng thủy sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ năm

+ Sản lượng nuôi trồng Bắc Trung Bộ lớn hơn Duyên hải Nam Trung Bộ

+ Sản lượng khai thác Duyên hải Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ

- Câu hỏi đặt ra cho bảng số liệu

+ Vì sao có sự chênh lệch về sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác

giữa hai vùng?

Trên cơ sở từng bước hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ,

tranh ảnh địa lí, giáo viên có thể vận dụng các bước này một cách linh hoạt khi

hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các phương tiện dạy học địa lí như

quả địa cầu, mô hình

7/- Tổ chức hướng dẫn học sinh thu thập, xử lí thông tin trong SGK

và trình bày lại:

Sách giáo khoa Địa lí mới được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tình

huống, các thông tin đã được lựa chọn kĩ để giáo viên có thể tổ chức hướng dẫn

học sinh thu thập, phân tích và xử lí thông tin Vì vậy, trong quá trình dạy học ở

trên lớp, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thu thập, xử lí thông tin trong sách

giáo khoa Địa lí

Ví dụ 5: Bài 13: Môi trường đới ôn hòa (Lớp 7)

Nội dung: Bài được thể hiện qua hai kênh chữ và kênh hình

Kênh hình trong bài gồm có:

+Lược đồ những yếu tố gây biến động thời tiết ở đới ôn hòa (Hình 13.1)

Ngày đăng: 24/07/2016, 20:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình giúp học sinh hứng thú khám phá tìm tòi hơn. - sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng học tốt môn địa lí ở bậc THCS
Hình gi úp học sinh hứng thú khám phá tìm tòi hơn (Trang 12)
Hình 1: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (thiếu thông tin) - sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng học tốt môn địa lí ở bậc THCS
Hình 1 BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (thiếu thông tin) (Trang 23)
Hình 2: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin) - sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng học tốt môn địa lí ở bậc THCS
Hình 2 BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin) (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w