1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN góp phần tìm hiểu văn hóa gia đình truyền thống và hiện đại

25 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đây tôi muốn đề cập đến vấn đề “văn hóa gia đình” vì vănhóa gia đình nằm trong truyền thống văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc nói riêng,nhưng nó giữ một vị trí rất quan trọng, vì có g

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Đơn vị : TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẤN BIÊN

Lĩnh vực khác :

Có đính kèm :

Năm học : 2011-2012

Trang 2

SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC

-I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên : ĐINH THỊ PHƯƠNG MAI

2 Ngày tháng năm sinh : 25/10/1977

3 Nam, nữ : Nữ

4 Địa chỉ : Khu phố 5 Tổ 30 Phường Trảng Dài Biên Hoà Đồng Nai

-5 Điện thoại : 061.3950365(CQ)/061.3996492(NR)/ ĐTDĐ :0983.474929

6 Fax: E-mail: maimeomit@yahoo.com.vn

7 Chức vụ : Giáo viên

8 Đơn vị công tác : Trường THPT Trấn Biên

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân

- Năm nhận bằng: 1999

- Chuyên ngành đào tạo: Lịch Sử

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Môn Lịch Sử

- Số năm có kinh nghiệm : 13 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :

+ Ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử

+ Sử dụng đồ dùng trực quan trong một tiết dạy Lịch sử

+ Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học lịch sử

Trang 3

1.Phần mở đầu……… Trang 4 1.1 Lý do chọn đề tài……… 4

1.2 Lịch sử vấn đề……… 4

1.3 Các nguồn tài liệu……… 5

1.4 Phạm vi giải quyết của đề tài……… 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu……… 5

1.6 Đóng góp của đề tài……… 5

2 Phần nội dung……… 6

2.1 Chương I: Giới thiệu chung……… 6

2.2 Chương II: Hôn lễ của người Việt xưa và nay………7

2.2.1 Hôn nhân của người Việt xưa……… 7

2.2.2 Hôn nhân của người Việt ngày nay………10

2.3 Chương III: Văn hoá trong gia đình truyền thống và hiện đại……14

2.3.1 Văn hóa trong gia đình truyền thống………14

2.3.1 Ứng xử trong gia đình………14

2.3.2 Ứng xử trong họ………16

2.3.3 Ứng xử trong làng……… 16

2.3.2 Văn hóa trong gia đình hiện đại………17

3 Phần kết luận……… 20

4 Tài liệu tham khảo……… 22

Trang 4

Văn hoá như mọi người đều biết, đó là tất cả những gì do con người tạo ravới khát vọng vươn tới tương lai Văn hóa là nhân sinh quan và thế giới quan củacon người Bởi vậy trong phương hướng chung là “làm cho văn hóa thấm sâu vàotoàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, của từng người tạo ra trên đất nước ta đờisống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển…” Theo phươngchâm ấy thì sẽ có “ văn hóa nhà trường”, “văn hóa cộng đồng”, “văn hóa giải trí”…trên bình diện quy mô Ở đây tôi muốn đề cập đến vấn đề “văn hóa gia đình” vì vănhóa gia đình nằm trong truyền thống văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc nói riêng,nhưng nó giữ một vị trí rất quan trọng, vì có gia đình mới có xã hội, gia đình chính

là tế bào của xã hội, là cái nôi của mọi tình cảm trong hoạt động của con người và

là một thành phần của môi trường giáo dục

Nói đến gia đình thì ai cũng hiểu đây là một cặp vợ chồng và con cái của họ

Có người cho rằng gia đình là một nhóm về nguyên tắc dựa trên sự chung sống cótính dục chặt chẽ và bền vững để tạo ra được điều kiện cho việc tạo thêm ra và nuôidạy con cái vì: “gia đình là nơi ẩn nấu của sự yên ổn, sự kính trọng và tình thương”(B.Ghali) Nói ngắn gọn, gia đình là một tổ chức cơ sở gắn bó bằng huyết thống,nghĩa tình trở thành một tổ ấm tinh thần và vật chất, có trách nhiệm giáo dục concái và giữ gìn văn hóa dân tộc Từ đó ta thấy văn hóa gia đình được xác lập

Văn hóa gia đình được thể hiện qua thuần phong mỹ tục, nếp sống, tư cách,đạo đức, tác phong của người làm cha mẹ, làm vợ, làm chồng Văn hóa gia đình là

sự tiếp nối văn hóa dân tộc, văn hóa truyền thống, văn hoá họ tộc Nhưng ngày nayvăn hoá gia đình đã có nhiều biến đổi dưới sự tác động của môi trường xã hội vànền kinh tế thị trường nên văn hóa gia đình vừa là tổ ấm cho các thành viên, vừa làhàng rào ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực xã hội

Vì thế tôi chọn đề tài “góp phần tìm hiểu văn hóa gia đình truyền thống và

hiện đại” để đóng góp vào việc giáo dục cho con cái và học sinh những giá trị đích

thực trong cuộc sống của con người, từ đó có thể bảo tồn và phát huy những truyềnthống tốt đẹp của ông cha ta nhằm tránh chạy theo những tư tưởng lố lăng đangxâm nhập vào tầng lớp thanh thiếu niên hiện nay

2 Lịch sử vấn đề:

Vai trò của văn hóa gia đình trong tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam

đã được thực tiễn lịch sử Việt Nam khẳng định Việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai tròcủa văn hóa gia đình đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu với những côngtrình nghiên cứu đồ sộ

Vì có thể nói, không có một nhóm hay một thể chế xã hội nào được các nhà

xã hội học quan tâm một cách rộng rãi như gia đình Nên gia đình đã trở thành đối

Trang 5

tượng nghiên cứu mạnh mẽ trong một loạt ngành khoa học khác nhau như sử học,dân tộc học, nhân khẩu học, kinh tế học, tâm lý học, gia đình học…

3 Các nguồn tài liệu:

- Ca dao, tục ngữ Việt Nam

- Tài liệu tham khảo chính: Sách và các công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình,đạo đức gia đình, cuộc sống gia đình, phong tục tập quán của người Việt của cácnhà nghiên cứu đã được xuất bản

- Tin tức và những nhận định về văn hóa được đăng trên các cơ quan truyền thông,báo chí

4 Phạm vi giải quyết đề tài: Trong đề tài tiểu luận này, tôi tập trung giải quyết về

văn hóa gia đình truyền thống và hiện đại gồm hai vấn đề chính: thứ nhất là hôn lễxưa và nay, thứ hai là văn hoá trong gia đình truyền thống và hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp

với các phương pháp liên ngành

6 Đóng góp của đề tài: Góp thêm một phần tư liệu nhỏ cho những ai quan tâm đến

vấn đề này Đồng thời tôi là giáo viên lịch sử thì thông qua đề tài này tôi sẽ vậndụng cụ thể vào trong bài dạy lịch sử để có thể giáo dục cho các em học sinh có mộtlối sống lành mạnh, văn hóa trước những tác động mạnh mẽ của xã hội hiện nay

* Hôn nhân của người Việt xưa

* Hôn nhân của người Việt ngày nay

Chương III: Văn hoá trong gia đình truyền thống và hiện đại

* Văn hóa trong gia đình truyền thống

Trang 6

Chương I: GIỚI THIỆU CHUNG

Nói đến gia đình thì ai cũng hiểu đây là một cặp vợ chồng và con cái của họ.Nhưng để có được một gia đình thì những đôi nam nữ thanh niên đến tuổi trưởngthành phải trải qua con đường tình yêu đích thức và một hôn lễ vui vẻ, hạnh phúc.Điều này chính là chặng đường đầu tiên giúp những cặp vợ chồng trẻ xây dựng nênmột bản sắc văn hóa gia đình của họ nói riêng, để từ đó làm phong phú hơn văn hóagia đình Việt Nam nói chung

Văn hóa gia đình Việt Nam trước hết phải biết “tôn sư trọng đạo”, biết giữgìn gia giáo, không được làm mất thể diện của gia đình, họ tộc, biết đoàn kết, đùmbọc lẫn nhau Văn hóa gia đình Việt Nam còn mang đậm nghĩa tình với người đãkhuất, tiếp cận với những cơ sở tâm linh thiêng liêng và huyền ảo Có những giađình biên soạn gia phả để nhớ đến công đức những người đi trước hoặc truyềnmiệng cho nhau biết ngày kỵ giỗ để nhắc con cháu không được quên Ngày nay,văn hóa gia đình là nuôi con khỏe, dạy con ngoan, bảo tồn cái “gien”, đầu tư chocon cái học thành tài để phục vụ xã hội

Ngoài ra sắc thái văn hóa gia đình còn bao gồm các tri thức khoa học nhằmứng dụng vào việc tổ chức cuộc sống cho hợp lý, thể hiện trong giao tiếp với bạn

bè, xóm làng, khu phố Văn hóa gia đình là một vấn đề rộng lớn, mênh mông vìtrong đó bao gồm cả nghệ thuật sống làm cha, làm mẹ, làm con

Biểu tượng đặc trưng của văn hóa gia đình được thể hiện qua thuần phong

mỹ tục, nếp sống, tác phong của các thành viên trong gia đình Sống có tôn ti trật

tự, biết giữ gìn phẩm giá gia phong, biết đoàn kết đùm bọc thương yêu nhau, biết

“thương người như thể thương thân”

Văn hóa gia đình toát lên cái y thức về những biến thiên của lịch sử, về sựtồn vong của nòi giống, sự tiếp nối cái nghĩa đối với gia đình, họ tộc, những tấmgương trong sáng từ thế hệ này qua thế hệ khác.Văn hóa gia đình còn là sự tái tạo racon người, sự tái tạo này không dừng lại sự tái tạo về thể xác mà là sự tái tạo về mặttinh thần

Văn hóa gia đình Việt Nam đã trở thành văn hóa truyền thống văn hóa củacác dân tộc - một động lực phát triển mạnh mẽ của nhân dân ta Câu chuyện LạcLong Quân sánh duyên với Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành 100 contrai…hay 18 đời vua Hùng dựng nước đã nói lên được điều đó Hồ Chí Minh cũng

là biểu tượng của việc tiếp thu văn hóa gia đình và truyền thống văn hóa dân tộc, làbiểu tượng của chí hướng phát triển của cộng đồng, Người được coi như một nhânvật huyền thoại trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền đất nước,xây dựng chủ nghĩa xã hội

Chương II: HÔN LỄ CỦA NGƯỜI VIỆT XƯA VÀ NAY

Trang 7

Nói đến văn hóa gia đình, trước hết là nói đến quá trình hình thành nên giađình, đó chính là những hôn lễ để chứng nhận hai bên nam nữ đã là người có giađình riêng Từ đó họ phải có trách nhiệm hơn đối với người bạn đời của mình cũngnhư đối với những người trong gia đình, dòng tộc và cả xã hội Vì vậy trước tiênchúng ta sẽ tìm hiểu về những nét văn hóa trong hôn lễ của người Việt xưa và nay.

II.1 HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT XƯA:

Con người sinh ra và đến tuổi trưởng thành, tình cảm yêu thương chiếm một

vị trí hết sức quan trọng trong một đời người Tình yêu đất nước, tình thương cha

mẹ, anh chị em xóm giềng, giòng tộc Và đến lúc nào đó tình yêu trai gái trở thànhniềm khát vọng đẹp đẽ, tươi thắm Từ tình bạn, trai gái chuyển thành tình yêu, rồitình vợ chồng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay…

Đặc biệt, một nền văn hóa có gốc ngọn vững vàng, có hệ thống giáo dục toàn

mỹ thì yếu tố quan trọng vẫn là nền giáo dục luân lý của mỗi gia đình, mỗi giòngtộc Do người xưa thấu hiểu nhân tình, thế thái trong mối quan hệ gia đình, giòngtộc thâm thúy như vậy Nên họ cũng đặt ra những tục lệ cưới gả rất phong phú phùhợp với nền văn hóa dân tộc ta

Trong xã hội cũ, cha mẹ đóng vai trò quan trọng, quyết định cuộc đời của cácđôi nam nữ thanh niên Với những gia đình nề nếp, có gia giáo thì “cha mẹ đặt đâucon ngồi đấy” và gia đình hai bên phải “môn đăng hộ đối” Cha mẹ thường kén vợcho con dựa trên tiêu chuẩn “công, dung, ngôn, hạnh”

+ Công: là nết ăn nết làm, tài đảm đang quán xuyến việc nhà của người congái Từ việc chăn tằm, dệt vải đến thêu thùa, kim chỉ vá may, cỗ bàn, giỗ tết đềuphải được làm nhanh gọn, đẹp Bởi lẽ người xưa có câu “giàu vì bạn, sang vì vợ”

Vợ đảm là một “nội tướng” trong gia đình là một trong những yếu tố làm gia đình

êm thấm

+ Dung: nghĩa là nhan sắc, dù rằng có câu “cái nết đánh chết cái đẹp” nhưngcha mẹ khi chọn dâu vẫn rất chú ý đến nhan sắc Tất nhiên tiêu chuẩn về cái đẹpcủa mỗi thời cũng khác nhau, nhưng trước hết các cụ cần người khỏe mạnh, khôngbệnh tật, có khả năng sinh con đẻ cái với “lưng chữ cụ, vú chữ tâm” Các cụ tinrằng những người có hình thức như vậy sẽ mắn đẻ vì con với của chẳng ai từ, mỗicon mỗi lộc, càng nhiều con càng có phúc

+ Ngôn: là lời ăn tiếng nói, biết thưa gửi, dạ vâng, biết ý tứ rào trước đón sau

để làm sao không mất lòng ai, cứng nhưng lại phải mềm, có cương có nhu, lựa lời

mà nói với chồng cho phải lúc:

Chồng giận thì vợ bớt lờiCơm sôi bớt lửa một đời không khê

+ Hạnh: là đức tính tốt đẹp, là cách cư xử với mọi người, từ già tới trẻ, từ lớnđến bé đều đúng mực, nhất là đối với tứ thân phụ mẫu, anh em nội ngoại Dâu thảo,

rể hiền với những điều mà các cụ mong muốn nhất

Tuy nhiên hầu hết các đôi nam nữ thanh niên muốn nên vợ nên chồng đềuphải so tuổi, đây là một việc không thể bỏ qua, vì họ tin rằng: nếu tuổi hợp nhau thìđôi vợ chồng trẻ sẽ hòa thuận, ăn nên làm ra như “vợ chồng cùng tuổi, nằm duỗi

mà ăn” còn nếu không hợp tuổi thì phải sống khổ sở theo nghĩa nghèo về vật chấthoặc một người phải sang thế giới bên kia, hoặc có biết bao đau khổ khác đang đe

Trang 8

dọa tương lai của đôi vợ chồng ấy Nhưng muốn có người để so tuổi thì bà mốiđóng vai trò rất quan trọng Bà mối (ông mối) là người trung gian đánh tiếng, bắccầu cho hai gia đình đôi nam nữ thanh niên hiểu nhau rồi đi đến quyết định hônnhân Gia đình nhà trai, sau khi xem xét mọi việc, tham khảo thêm ý kiến của bàmối rồi nhờ bà sang nhà gái đánh tiếng trước Nếu gia đình nhà gái ưng thuận bàmối sẽ giúp cho cho chàng trai sang nhà gái xem mặt ý trung nhân Nếu ưng ý rồithì về thưa gửi với cha mẹ.

Khi mọi việc tương đối ổn, gia đình hai bên nam nữ quyết định hôn lễ cho haicon Thời trước, trong đám cưới nhà nho, khi cưới hỏi thường có đủ sáu lễ:

1 Nạp thái (kén chọn) là đưa lễ để tỏ ý đã kén chọn, tục gọi là chạmmặt hay giạm vợ

2 Vấn danh (hỏi vợ) hỏi tên tuổi và họ người mẹ

3 Nạp cát (bói được tốt) báo cho nhà gái biết

4 Thỉnh kỳ (định ngày) để làm lễ cưới, xin hứa trước với nhà gái

vợ chồng sau này mới tốt lành Khi đã xác định được ngày tốt, nhà trai sắm một lễmọn cúng tổ tiên để báo về công việc hệ trọng đối với chàng trai Sau đó, nhà traisửa một lễ mang sang nhà gái Đó là một cơi trầu têm cánh phượng, cau bổ tư bẻcánh tiên, rượu và một vài thứ bánh, trái cây được ưa chuộng trong vùng

Dẫn đầu đoàn người đi chạm ngõ bao giờ cũng gồm bà mối, bà mẹ, bà dì, bà

cô của chú rễ Các cô gái chưa chồng ở trong họ thường đội các mâm quả hoặcbưng khay trầu đi trước, sau đó là nam giới và chú rể

Lễ được chia làm hai phần Phần nhiều được đặt lên bàn thờ và cha của côdâu sẽ khấn vái tổ tiên về ngày mà con cháu họ sắp lập gia đình Phần còn lại sẽ đưa

về nhà ông cậu của cô gái để lễ gia tiên bên ngoại Trước khi nhà trai từ giã, nhà gáithường sẻ một phần lễ để biếu lại nhà trai gọi là lại quả.Thông thường từ lễ chạmngõ đến Lễ ăn hỏi không có thời hạn nhất định Nếu một bên đổi ý thì cơi trầu chạmngõ là trầu bỏ đi

Lễ đám hỏi người xưa cho là quan trọng hơn lễ cưới Lễ ăn hỏi phải chu biệntheo đòi hỏi của nhà gái, nhưng thường thì nhà trai đưa lễ vật xin dạm hỏi là đôibông tai (đôi bông tai ví như cái hoa con gái), một mâm trầu cau, trầu rượu và đôiđèn bạch lạc, đặc biệt phải đủ cau, trà biếu khắp nội ngoại bạn bè

Lễ dạm hỏi bao giờ nhà gái cũng có mời bà con thân thuộc đến dự và đằngtrai lo đủ khoản tiệc ăn uống này Phía nhà trai qua nhà gái chủ yếu là bà con thânthuộc, nhưng nhất thiết phải có ông mai, bà mai, ông sui trai và bà sui trai Lễ nàycũng thường có phù rể bưng khay trầu rượu có têm bốn miếng trầu, hai cái chung đểrót rượu Chung rót rượu thường là miệng chung tròn có ý là “thủy chung như nhất”

và miếng trầu chính là “miếng trầu là đầu câu chuyện”

Trang 9

Còn chú rể phải bưng cái quả đỏ trong đó có đôi bông tai cho người vợ sắpcưới của mình và cặp đèn cày để đốt cúng ông bà bên nhà gái Lễ này ngày xưacũng lắm nhiêu khê, mọi việc phải chu đáo, tránh sơ suất, nếu không thì họ cho làđiềm gỡ sau này Trước hết chú rể phải mang áo thụng bên ngoài Và để ông maivào trước, rồi đến họ hàng đàng trai đi tiếp vào sau Chú rể phải là người vào saucùng, đi một cách chậm rãi, cúi đầu chào họ hàng bên nhà gái Khi bên nhà gái mời

bà con xong, thì ông mai mới trình lên những lễ phẩm của nhà trai đem sang và chú

rể thắp nhang đèn để cúng từ đường và họ hàng, rồi mới được ngồi xuống cạnh bàcon thân thuộc của mình

Trình lễ xong, nhà gái đích thân mời người nào lớn tuổi nhất trong giòng tộccủa mình mở cái quả đỏ có đôi bông tai đeo vào cho cô dâu và người con gái ranhận lễ và nhận họ hàng bên nhà chồng Và cho tới lúc này, người con trai mớiđược phép xưng hô con cái với bên nhà gái Xong lễ thì cha mẹ họ hàng về trước,chú rể phải ra về sau, nhà gái cũng cho nàng dâu đưa tiễn chồng mình một đoạnđường

Sau đám hỏi vài ngày cô dâu phải qua nhà trai đáp lễ bằng cách mời trầu cau,quà bánh cho bà con lối xóm để họ biết là từ đây về sau nơi này mình sẽ trao thângởi phận…Ngày xưa sau lễ dạm hỏi, người con trai phải qua nhà gái “ở rể” ba năm,làm việc và lao động như một người con trai thực sự của gia đình, sau đó mới tiếnhành đám cưới

Sau khi ở rể được ba năm, có khi thời hạn này ngắn hơn tùy theo đằng nhàgái thì hai bên cha mẹ chọn ngày lành, tháng tốt làm lễ cưới cho con cái mình Lễcưới ngày xưa gọi là Tiểu đăng khoa, trước khi làm lễ cưới thì có lễ viếng sui gia vàthăm nàng dâu Đồng thời nhà trai đem tặng lễ vật cho nhà gái như đã thỏa thuậntrong lễ dạm hỏi Tùy theo khả năng của từng gia đình mà lễ vật này nhiều hay ít,

có giá trị nhiều về tiền bạc hay gọi là có tùy theo hảo tâm của nhà trai và sự rộnglượng của nhà gái Có những gia đình bên gái đòi lễ vật quá cao như vòng vàng,xuyến bạc, lợn trâu, ruộng đất…nhưng cái gánh nặng của lễ vật này, sau này hai vợchồng mới cưới phải lo gánh vác Như nhà thơ Nguyễn Bính đã viết một cách dídỏm như sau:

Đồn rằng đám cưới cô toNhà giai thuê chín chiếc đò đón dâuNhà gái ăn chín nghìn cauTiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìnLang thang tôi dạm bán thuyền

Có người trả chín quan tiền lại thôi…

Thường thì lễ cưới, chàng rể phải mặc áo rộng xanh, bịt khăn đen, có chelọng Nàng dâu thì mặc áo rộng, đội nón thúng, cũng có lọng che, người ta thườnggọi nôm na là “nón cụ quai tơ” và khảm vàng cạnh quai, vì thế người xưa có câu

“còn duyên nón thúng, quai thao khảm vàng”

Lễ cưới có một đôi đèn, khay trầu, rượu Lễ này thường có sáu miếng trầu vàsáu miếng cau (có nghĩa là đủ sáu lễ) cộng thêm một mâm trầu cau và một chóerượu, mỗi mâm đều có hai người khiêng đi…Tục lệ này hiện nay vẫn còn lưu giữbởi trầu cau và đôi đèn là cần lắm, có khi họ làm đôi đèn chạm trổ rồng phượng thật

là cầu kỳ Làm lễ bái tổ tông xong, thì nhà trai làm lễ rước cô dâu về nhà chồng với

Trang 10

một tràng pháo nổ dòn dã, kẻ đưa dâu về nhà chồng thường là bà con thân thuộc,bạn bè Còn cô dâu thì e lệ, thút thít khóc như “ván đã đóng thuyền” trên con đườnghạnh phúc trăm năm của hai người Họ sinh sống và đẻ con nối dõi tông đường chođến đầu bạc răng long…

II.2 HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT NGÀY NAY:

Đây cũng chính là nghi lễ được xã hội quan tâm nhiều hơn cả Sự quan tâmlớn của xã hội vào buổi lễ này đôi khi gây sức ép lên những người tổ chức: họ phảiđảm bảo để có thể làm hài lòng nhiều người tham dự Trong tâm thức người Việt thì

lễ cưới có giá trị cao hơn cả giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Điều đó chứng tỏ vịtrí rất quan trọng của lễ này trong hệ thống hôn lễ Ý nghĩa của lễ này là công bố sựthành hôn của đôi trai gái, vì thế lễ này còn gọi là lễ thành hôn Ở phương diện luậtđịnh, sau khi đăng ký kết hôn đôi trai gái trước pháp luật đương nhiên là vợ chồng

và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, trong tâm thức và văn hóa dân tộc, lễ cướichứ không phải tờ hôn thú, mới là thời điểm để họ hàng, bè bạn và mọi người chínhthức công nhận đôi trai gái là vợ chồng Cũng vì vậy, tại lễ cưới nhiều vấn đề xã hộidiễn ra, khen chê của dư luận xã hội đều tập trung vào đó, “ma chê cưới trách” Vấn

đề càng trở nên phức tạp hơn khi sự khen chê ấy không đồng nhất, thậm chí còn đốilập nhau Ví dụ: ngày nay một đám cưới theo nghi thức cổ truyền có thể vừa đượckhen, vừa bị chê Người khen thì cho rằng thế mới là đám cưới Việt Nam, thế mớikhông sợ sự du nhập của văn hoá bên ngoài, nhưng người chê thì lại nói rằng thế làrườm rà, lãng phí và luỵ cổ

Lễ cưới của người Việt có nhiều thủ tục gồm:

1/ Lễ xin dâu 2/ Lễ rước dâu 3/ Tiệc cưới 4/ Lại mặt Cũng đã có những nỗ lực nhằm sáng tạo một biểu trưng cưới hỏi ở Việt Namnhư đôi chim bồ câu, quả cau lá trầu, song biểu trưng thường gặp nhất về ngữ nghĩatrong lễ cưới ở Việt Nam xưa nay vẫn là chữ song hỷ Đây là biểu trưng xuất xứ từphong tục cưới hỏi Trung Quốc, với ý nghĩa trước kia thể hiện hai niềm vui lớn: đạiđăng khoa (thi đỗ làm quan) và tiểu đăng khoa (cưới vợ), nay song hỉ biểu thị niềmvui chung của hai họ Nhiều người Việt không hiểu chữ Hán nhìn vào chữ này cũngbiết những nơi dán biểu trưng này đang có đám cưới

Trước kia theo cổ truyền hai họ và cô dâu chú rể thường mặc khăn đóng áodài Nay chú rể thường mặc quần áo complet, cài hoa trước ngực Cô dâu có thểmặc váy theo mốt châu Âu (màu trắng hoặc màu kem) hoặc mặc áo dài truyềnthống của Việt Nam (màu đỏ hoặc màu hồng) Trong một đám cưới ngày naythường trải qua các lễ:

1/ Bái tổ tiên: Lễ này muốn nhắc nhở mọi người luôn phải nhớ đến cội

nguồn, tổ tiên của mình Ngày nay các đôi trai gái còn có lễ tạ ơn đối với các anhhùng, liệt sĩ đã hy sinh thân mình cho độc lập - tự do của dân tộc

2/ Lễ trao nhẫn: Nhẫn cưới được làm hình tròn, nó biểu tượng cho tình

yêu không có điểm đầu và điểm kết thúc Chú rể đeo nhẫn cho cô dâu, cô dâu đeo

Trang 11

nhẫn cho chú rể Đây là nghi lễ không thể thiếu, nó tượng trưng cho đôi trai gái đãtrao cho nhau tất cả tình yêu mãnh liệt, tâm hồn thể xác họ luôn thuộc về nhau

3/ Lễ tạ công ơn sinh thành: Ngày trước các đôi trai gái vào ngày

thành thân phải khấu đầu 3 lần để tạ công sinh thành của ông bà, cha mẹ để tỏ lònghiếu kính Ngày nay nghi lễ này đã được các nhà tổ chức chuyển đổi sang nghi lễRót rượu kính cha mẹ để bày tỏ sự hiếu kính của đạo làm con

Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời kỳ "mở cửa", theo đó một số nghi lễcưới hỏi của nước ngoài cũng được du nhập vào nước ta Ở đâu đó đã xuất hiện cáctiệc cưới mà khách mời đến đầy đủ rồi cô dâu chú rể mới xuất hiện Hoa và dâymàu được tung lên chào đón, chúc mừng đôi uyên ương, một chiếc bánh cưới rấtđẹp được đặt nơi trang trọng nhất của phòng tiệc, lễ rót rượu champagne mới lạ, lôicuốn sự chú ý của mọi người, khác với phong tục truyền thống lâu đời nay ta vẫngặp Tất cả tùy thuộc vào sự lựa chọn của bạn Chúng tôi xin được giới thiệu thêm

để các bạn tham khảo

Lễ giao tay nâng rượu: Biểu tượng cho sự tâm đầu ý hợp của đôi trai gái.

Đôi trai gái nhâm nhi thưởng thức sự ngọt ngào men nồng của tình yêu đôi lứa.Trong lúc này các nhà tổ chức chuyên nghiệp thường hướng tất cả sự chú ý củatoàn bộ khách mời tới Cô dâu - Chú rể và dành cho họ tràng pháo tay thật lớn Lúc

đó cảm xúc trào dâng trong khoảnh khắc tuyệt vời của đôi trai tài gái sắc

Lễ cắt bánh cưới: Bánh cưới có thể được làm to hay nhỏ, 3 - 5 tầng, nhưng

lễ này tượng trưng cho đôi trẻ cùng nhau tận hưởng sự ngọt ngào, êm ái của tìnhyêu, thể hiện sự may mắn trong cuộc sống sinh sản của Cô dâu - Chú rể

Lễ rót rượu champagne: Ở đây, tháp champagne được xếp 5 - 7 tầng, mỗi

tầng là hình tam giác được xếp chồng lên nhau bởi những chiếc ly trong suốt Lễnày tiêu biểu cho tình yêu của đôi trai gái rất trong trắng và luôn bền vững Bởi lẽtháp champagne là hình tượng vĩnh hằng một khối thống nhất Chú rể mở rượuchampagne tiếng nổ tượng trưng báo hỷ, sau đó chú rể cầm chai champagne, cô dâu

đỡ chai rượu rót chảy tràn trên những chiếc ly - có ý nghĩa hạnh phúc của họ là mãimãi, luôn tràn đầy như những ly rượu Sau đó chú rể nhấc hai ly rượu, đưa cho côdâu một ly, hai người khoác tay nhau cùng uống, điều này bảy tỏ sự tâm đầu ý hợpchung thủy muôn đời

Trước đây, người Việt gọi lễ này là lễ rước dâu Ngày nay, trong ngôn từ củađời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là lễ cưới (dịch theo tiếng Hán là hôn lễ).Đây là hình thức liên hoan, mừng hạnh phúc cô dâu, chú rể và hai gia đình Trongphong tục của người Việt, lễ cưới là đỉnh điểm của cả quy trình tiến tới hôn nhân, làhình thức liên hoan, báo hỉ mừng cô dâu, chú rể, mừng hai gia đình và có ý nghĩarất thiêng liêng Do đó, cả xưa và nay, mọi người đều rất coi trọng

Trong lễ cưới Việt Nam, những người tham dự thường đem tặng các đồmừng (tiền mừng) đám cưới Quà cưới thường trang trọng, được bọc giấy điều.Tiền mừng thường được bỏ vào phong bì mà trước đó đựng thiệp mời cưới Trongđám cưới, ban lễ tân (thường là người thân) đứng ra nhận quà mừng (tiền mừng)

Có những đám cưới tổ chức tiệc trà, đơn giản hơn tiệc cưới thông thường, có ýkhông yêu cầu người tham dự mang quà mừng (tiền mừng)

Trang 12

Trong cuộc sống hiện đại, nhiều đôi dâu rể còn thường chụp ảnh kỷ niệmtrước lễ cưới tại các ảnh viện hoặc chụp ngoại cảnh Trong đám cưới thì thườngchụp ảnh và quay phim để lưu lại những khoảng khắc kỷ niệm.

Tóm lại,trong cuộc sống, ngày xưa cũng như ngày nay, đám cưới chính làbiểu hiện của nếp sống xã hội, của nền vǎn hoá dân tộc Nó vừa kế thừa truyềnthống phong tục, tập quán của dân tộc, vừa được cách tân ngày càng vǎn minh theo

sự phát triển của thời đại Trong các đám cưới không thể thiếu trầu cau Nó tượngtrưng cho sự gắn bó bền chặt của tình anh em cũng như lòng chung thuỷ sắt sontrong tình cảm vợ chồng…Bên cạnh đó là rượu, gạo, thịt, bánh trái là sản phẩm đặctrưng của nền vǎn minh nông nghiệp lúa nước Mỗi thứ như vậy đều có ý nghĩanhất định trong vǎn hoá cổ truyền Việt Nam Trong ngày cưới, chẳng những cô dâu,chú rể, hai bên cha mẹ hoan hỉ mà cả họ hàng nội ngoại, bạn bè, làng xóm đều hânhoan chúc mừng hạnh phúc lứa đôi.Có thể khẳng định rằng, từ lâu, việc tổ chức lễcưới đã là một phong tục không thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng, mà ý nghĩa xãhội của nó thể hiện ở nhiều khía cạnh: kinh tế, xã hội, đạo đức, vǎn hoá Lễ cướithường là sự ghi nhận quá trình trưởng thành của đôi thanh niên nam nữ, sau quátrình tìm hiểu Nó khẳng định xã hội đã thừa nhận một tình yêu Hôn nhân là sựthống nhất giữa tình yêu và trách nhiệm giữa hai người Hôn nhân không được xâydựng trên cơ sở của tình yêu là hôn nhân không có đạo đức Ngày nay lễ cưới là sựcông bố trước dư luận xã hội sau quá trình hoàn thành thủ tục đǎng ký kết hôn Sự

ra đời của một gia đình mới có một ý nghĩa rất quan trọng đối với xã hội.Lễ cướicòn là sự họp mặt của hai họ và bạn bè thân thích để mừng cho hạnh phúc lứa đôi.Đến với đám cưới, con người có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc, làm quen với nhau, tǎngcường giao tiếp, mở rộng các mối quan hệ xã hội Đến với đám cưới là đến với mộtsinh hoạt vǎn hoá lành mạnh không thể thiếu trong cuộc sống mỗi con người và cảcộng đồng

Một số lễ thức trong cưới xin xét ở khía cạnh nào đó cũng thể hiện được ýnghĩa nhất định Lễ gia tiên, lễ hợp cẩn, lễ lại mặt biểu lộ truyền thống luân lý đạođức như hiếu thảo với tổ tiên, trân trọng tình cảm vợ chồng, có trách nhiệm với làngxóm quê hương Hình ảnh cô dâu duyên dáng trong tà áo dài truyền thống củanhững đám cưới xưa vẫn luôn được mọi người ca ngợi và trân trọng Nó thể hiệnđược tính dân tộc của phong tục Việt Nam Và cũng trong hôn lễ, sự chân thành,sâu sắc của tình yêu đôi lứa được thể hiện qua các tục lệ cổ truyền Đó là lời khẩnnguyện (lễ thề nguyền) của cô dâu chú rể trước gia tiên hai họ, kèm theo là sự trao

kỷ vật như trao nhẫn cưới, hứa hẹn ǎn ở với nhau cho đến “mãn chiều xế bóng”…Tất cả đều nhằm đánh dấu một sự chín muồi của tình yêu để dẫn tới hôn nhân

Tuy nhiên trong những năm gần đây, việc tổ chức đám cưới ở Việt Nam ngàycàng vui nhộn, sang trọng Tất nhiên mọi người đều có quyền tổ chức đám cướitheo khả năng của mình Nhưng nếu muốn có một lễ cưới phù hợp nếp sống mới vàmang dấu ấn của thuần phong mỹ tục Việt Nam thì còn nhiều điều phải xem lại Nhưng một số gia đình còn duy trì tục lệ bắt cô dâu, chú rể lạy sống ông bà, cha mẹ

là quá đáng Chỉ cần làm lễ trước bàn thờ là đủ Trong những mâm quả thường cónguyên một buồng cau và một xấp lá trầu, bưng rất nặng mà sau lễ không biết làm

gì cho hết, thường đem bỏ vào thùng rác Thế thì cau trầu không cần nhiều, chỉ cần

một dĩa têm sẵn thật đẹp và có thể ăn được Còn ở nhà hàng thì đáng phàn nàn nhất

Ngày đăng: 24/07/2016, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w