1.2.2 -Vị trí của chính sách thuế nhập khẩu: Chính sách thuế nhập khẩu là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu vàcác công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để can thiệp, điều t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, Cộng hòa Dân chủ Nhândân Lào đang từng bước chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước
Nhằm theo kịp với trình độ phát triển của các quốc gia lớn và đểchuyển đổi nền kinh tế hiệu quả, hoàn thiện và minh bạch chính sách thuếtrong công tác nhập khẩu là một nội dung cực kỳ quan trọng Chính sách thuếnhập khẩu có hoàn thiện mới thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại quốc tếphát triển Kinh tế thương mại quốc tế phát triển sẽ góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, trang bị kỹ thuật phục vụ quá trình công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước
Như vậy, hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu là một đòi hỏi đang rấtcần thiết và tất yếu tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Chính vì vậy, tôi đã
lựa chọn đề tài: Hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu góp phần phát triển
kinh tế Lào để làm luận văn thạc sỹ của mình trong khoá học tại Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu chính sách thuế nhập khẩu
- Phạm vi nghiờn cứu: tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trongkhoảng thời gian từ năm 2000 – 2006
Trang 24 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiêncứu là: phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp số liệu, so sánh và phân tíchkinh tế
5 Những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về chính sách thuế nhập khẩu
- Phân tích thực trạng chính sách thuế nhập khẩu tại CHDCND Lào, từ
đó tìm ra những mặt mạnh, điểm yếu và nguyên nhân hạn chế của chính sáchthuế nhập khẩu tại CHDCND Lào
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩugóp phần phát triển kinh tế Lào
6 Kết cấu của luận văn:
Kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Chính sách thuế nhập khẩu và tác động của nó đến sự phát triển
Trang 3CHƯƠNG I:
CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀO1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của thuế nhập khẩu:
1.1.1 - Khái niệm:
Thuế là khoản đóng góp mang tính pháp Luật mà nhà nước bắt buộc tổchức, cá nhân họat động sản xuất và kinh doanh phải nộp phần thu nhập mớitạo ra vào ngân sách nhà nước (NSNN) Khoản nộp dưới hình thức thuếkhông mang tính hoàn trả trực tiếp, một phần được hoàn trả gián tiếp thôngqua trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng
Cũng có thể hiểu: thuế là hình thức động viên, phân phối sản phẩm xãhội và thu nhập quốc dân do các tổ chức và cá nhân tạo ra để hình thành quỹtiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Là một phạm trù lịch sử, thuế gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại và pháttriển của nhà nước, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ.Tuỳ theo mỗi chế độ xã hội khác nhau, thuế được thiết lập theo những quanđiểm khác nhau Song nhìn chung trong nền kinh tế thị trường thuế có nhữngchức năng nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Thông qua
thuế, NSNN có được nguồn thu để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu để thực hiệnchức năng quản lý xã hội
Hai là, trong nền kinh tế thị trường, thuế là một công cụ quản lý và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua công cụ này, chính phủ kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khíchhoặc hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp Đồng thời thực hiện sự điều tiếthợp lý giữa người giàu và người nghèo, đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủthể kinh doanh và các tầng lớp dân cư
Trang 4Người ta phân chia thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế đồng
thời là một Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập của những ngườinộp thuế và lấy trong phần thu nhập của mình để nộp vào NSNN Ví dụ nhưthuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức…
Thuế gián thu: là lọai thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế
không đồng thời là một Người nộp thuế là người sản xuất hoặc người kinhdoanh hàng hóa, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa đó, họmua hàng hóa với giá cả trong đó có cả thuế Với cơ chế này, người sản xuấtkinh doanh hàng hóa khi bán hàng hóa cũng là lúc họ thu hộ thuế gián thu choNhà nước (qua giá bán hàng) và nộp khỏan thuế này vào cho NSNN, tức lànộp hộ cho người tiêu dùng hàng hóa Do đó, thuế gián thu là loại thuế điềutiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dụch vụ một cách gián tiếp,thông qua cơ chế giá hàng hóa và dịch vụ Ví dụ: thuế doanh thu, thuế tiêu thụđặc biệt, thuế nhập khẩu…
Qua nghiên cứu các khái niệm về thuế trên đây, thấy rằng: mỗi kháiniệm chỉ mô tả một phần bản chất của thuế và mang tính lịch sử trong tiếntrình phát triển kinh tế - xã hội Gắn với tình hình thực tế và xu thế phát triểnkinh tế - xã hội hiện nay tác giả khái niệm về thuế nhập khẩu như sau:
Tất cả các hàng hóa vượt quá tiêu chuẩn hành lý được miễn thuế của các tổ chức cá nhân và người nước ngòai khi nhập khẩu cảnh qua cửa khẩu phải chịu thuế nhập khẩu.
1.1.2 - Bản chất của thuế nhập khẩu:
Thuế nhập khẩu là thuế chính phủ đánh vào hàng hóa được chuyên chởqua biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan Đây là một trong những công
cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc tế, là biện pháp tài chính củaNhà nước nhằm can thiệp vào hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi
Trang 5hàng hóa giữa các quốc gia Nhờ có công cụ này nhà nước có thể điều chỉnhcác hoạt động thương mại quốc tế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế –
xã hội của quốc gia trong một thời kỳ nhất định Thuế nhập khẩu là thuế đánhvào hàng hóa nhập khẩu Loại thuế này được áp dụng khá phổ biến trên thếgiới
@ - Bản chất của thuế nhập khẩu thể hiện trên hai phương diện:
Về mặt kinh tế: thuế nhập khẩu thực chất là một phần của cải xã hội
được tập trung vào NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Nó làkhoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân có tham gia vào hoạt độngnhập khẩu Thuế nhập khẩu là thuế gián thu nên người chịu thuế là người tiêudùng Tuy nhiên khi nhà nước tăng thuế suất thì ảnh hưởng đầu tiên là tới các
tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa bởi hàng hóa của họ trở nên đắt đỏ hơn,kém sức cạnh tranh hơn Do đó, việc động viên thuế nhập khẩu phải có giớihạn Mức thuế suất hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho NSNN và kích thíchsản xuất, kinh doanh phát triển Mức thuế suất quá cao sẽ dẫn tới tình trạngtrốn thuế, lậu thuế Tìm được một mức thuế suất thích hợp cho từng thời kỳ làmột bài toán khó cho các nhà hoạch định chính sách
Về mặt xã hội : thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước
và các pháp nhân, thể nhân tham gia vào hoạt đọng nhập khẩu hàng hóa Nó
là một công cụ được nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý củamình đối với các họat động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các quan hệ phânphối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức, cá nhân và Nhà nước.Vìvậy, thuế nhập khẩu mang tính xã hội cao Nghiên cứu bản chất xã hội củathuế nhập khẩu giúp chúng tôi quán triệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu trong việchoạch định chính sách thuế nhập khẩu phải bảo đảm rõ ràng, đơn giản, dễhiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ của cả người thu thuế và
Trang 6người nộp thuế Việc tổ chức quản lý thu thuế cũng phải bảo đảm tính minhbạch Công khai, dân chủ mới đem lại hiệu quả cao.
1.1.3 - Vai trò của thuế nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường:
Là một loại thuế gián thu, thuế nhập khẩu là một công cụ chính sáchngoại thương, được nhà nước sử dụng để quản lý hoạt động nhập khẩu củamột nước, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Là những sắc thuế trong hệ thống thuế quốc gia cho nên thuế nhậpkhẩu cũng có vai trò của thuế nói chung là tạo nguồn thu cho NSNN và điềutiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, dưới giác độ là một sắc thuế cụ thể thì thuếnhập khẩu cũng thể hiện những vai trò riêng có của nó
Một là, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu cho NSNN.
Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu NSNN, thuế nhập khẩu phảibao quát hết các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của các tổ chức, cá nhân,đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế nhập khẩu vào NSNN.Thông qua thuế nhập khẩu, nhà nước huy động một phần thu nhập quốc dânđược tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa để tập trung vào NSNN Tuynhiên, nếu Nhà nước dùng quyền lực của mình để huy động quá mức thì các
tổ chức, cá nhân kinh doanh nhập khẩu sẽ không kinh doanh nữa hoặc chuyểnsang kinh doanh ngầm để trốn thuế làm Nhà nước bị thất thu thuế Vì vậy, khitái phân phối thu nhập bằng thuế nhập khẩu phải chú ý đến khả năng nộp thuếcủa các tổ chức, cá nhân này Khả năng nộp thuế phản ánh số thuế tối đa màcác tổ chức, cá nhân kinh doanh nhập khẩu có thể nộp mà không ảnh hưởnghoặc thay đổi hoạt động kinh doanh của họ Khả năng nộp thuế tuỳ thuộc vàotrình độ phát triển kinh tế, ý thức chấp hành pháp luật, truyền thống văn hóacủa mỗi quốc gia
Hai là, thuế nhập khẩu là một công cụ tài chính được nhà nước sử dụng
để kiểm soát và điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa
Trang 7Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóadiễn ra ở hầu khắp các nước Hàng hóa ngày càng đa dạng về hình thức vàchủng loại Có hàng hóa phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hóa tiêu dụngthiết yếu, có hàng hóa xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia và đời sốngcủa nhân dân như ma tuý, vũ khí, văn hóa phẩm đồi trụy…Vì vây, thông quaviệc kiểm tra, thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu Có thể nắm được tên củamặt hàng số lượng là bao nhiêu, nhập khẩu từ nước nào Qua đó, nhà nướckiểm soát được toàn bộ các loại hàng hóa nhập khẩu để có những chính sáchphù hợp với thực tiễn.
Để điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa, ngoài các biện pháp phithuế như hạn ngạch, giấy phép v.v…Thì biện pháp sử dụng công cụ thuế nhậpkhẩu áp dụng khá phổ biến Đối với nguyên liệu nhập khẩu cần cho sản xuấttrong nước mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưngchưa đáp ứng đủ nhu cầu thì nhà nước quy định mức thuế suất thuế nhập khẩuthấp, thậm chí là 0% để khuyến khích nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước.Đối với những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được đủ đáp ứng nhu cầutiêu dùng hoặc những sản phẩm tiêu dùng cao cấp (xi măng, sắc ) thuế suấtthuế nhập khẩu thường quy định ở mức cao để hạn chế nhập khẩu và hạn chếtiêu dùng Như vậy, thông qua công cụ thuế nhập khẩu, nhà nước thực hiệnviệc điều tiết đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa
Ba là, thuế nhập khẩu bảo hộ sản xuất trong nước.
Chúng ta biết rằng, khối lượng hàng hóa nhập khẩu phụ thuộc vào sứcmua của thị trường Sức mua của thị trường phụ thuộc vào giá cả hàng hóa.Khi giá cả hàng hóa tăng giảm còn ảnh hưởng làm giảm tăng khả năng cạnhtranh của hàng hóa trên thị trường Thuế nhập khẩu là một bộ phận cấu thànhgiá cả hàng hóa nhập khẩu Vì thế, thuế nhập khẩu đấnh thấp hay cao có ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa Đối với những hàng hóa nhập
Trang 8khẩu là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặthàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế nhập khẩu cao sẽ hạn chế tiêu dùnghàng nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước Trong điềukiện đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh qua giá với hàngnhập khẩu Khi đánh thuế nhập khẩu hàng tiêu dùng ở mức thấp, tức là Nhànước không hạn chế nhập khẩu mặt hàng đó, người tiêu dùng sẽ được hưởnglợi thông qua việc tiêu dùng hàng nhập khẩu với chất lượng cao, mẫu mã đẹp,giá lại rẻ Đồng thời, với mức thuế nhập khẩu thấp sẽ trực tiếp thúc đẩy cácdoanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiếnmẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàngngoại nhập nếu muốn tồn tại và phát triển Đối với hàng hóa là đầu vào củacác ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết bị phục vụ sản xuấttrong nước, việc đánh thuế nhập khẩu thấp sẽ có tác động trực tiếp đến chi phíđầu vào của giá thành sản phẩm Với giá thành sản phẩm giảm (do thuế nhậpkhẩu thấp) sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ để nângcao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnhtranh của hàng sản xuất trong nước Như vậy, thông qua công cụ thuế nhậpkhẩu, nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hướngtiêu dùng và thu hút đầu tư Tuỳ thuộc vào mức độ bảo hộ sản xuất trongnước, các nước có thể thực hiện các hình thức đánh thuế như:
- Thuế quan vừa đủ là loại thuế quan mà mức thuế suất chỉ vừa đủ caocho phép các nhà sản xuất nội địa bù đắp chi phí và có lợi nhuận bình thườngmức độ bảo hộ thấp
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, do bị ràng buộc phải thựchiện các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế nhập khẩu, vai trò bảo hộ của thuếnhập khẩu phần nào bị hạn chế Hơn nữa, nếu quá nhấn mạnh đến vai trò bảo
hộ của thuế nhập khẩu thì không những không thực hiện được các cam kết
Trang 9quốc tế mà còn làm cho sản xuất trong nước bị đình trệ kém phát triển do ỷ lạivào sự bảo hộ của Nhà nước Vì vậy, để phát huy tốt vai trò bảo hộ của thuếnhập khẩu buộc phải có sự lựa chọn những ngành nghề cần bảo hộ, mức độbảo hộ và thời hạn bảo hộ sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đấtnước, đồng thời buộc các ngành được bảo hộ phải có chiến lược đầu tư đổimới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng sảnphẩm, hạ giá thành, chủ động cạnh tranh với hàng nhập khẩu khi hết thời hạnbảo hộ.
1.2 Chính sách thuế nhập khẩu
1.2.1 - Nội dung cơ bản của chính sách thuế nhập khẩu
Tuy mỗi nước có một chính sách thuế nhập khẩu riêng nhưng về cơ bảnvẫn có một số nội dung được đề cập giống nhau Những nội dung đó là:
A) Đối tượng chịu thuế nhập khẩu: là hàng hóa được phép nhập khẩu
qua cửa khẩu biên giới
Trong Luật thuế nhập khẩu mỗi nước đều có quy định cụ thể về phạm
vi đối tượng chịu thuế nhập khẩu Như ở Lào cũng có quy định như sau:
+ Mọi hang hóa được phép nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Lào,đều là đối tượng chịu thuế nhập khẩu bao gồm:
- Hang hóa nhập khẩu của các tổ chức kinh tế Lào thuộc các thành phầnkinh tế được phép mua bán trao đổi, vay nợ với nước ngoài
- Hàng hóa nhập khẩu của các tổ chức kinh tế nước ngoài, các hìnhthức đầu tư nước ngoài tại Lào
- Hàng hóa vượt quá tiêu chuẩn hành lý được miễn thuế mang theongười của cá nhân Lào và người nước ngoài khi nhập cảnh qua cửa khẩu, biêngiới Lào
Trang 10- Hàng là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổchức, các nhân ở nước ngoài, người Lào định cư ở nước ngoài mang hoặc gửi
về cho các tổ chức, cá nhân ở Lào và ngược lại
- Hàng hóa nhập khẩu vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ chứcquốc tế, cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Lào và các cá nhân nước ngoàilàm việc tại các tổ chức nói trên hiặc tại các thanh thức đầu tư nước ngoài tạiLào
Ngoài ra, Lào cũng có quy định về đối tượng không chịu thuế nhậpkhẩu Thông thường đó là các hàng hóa sau:
+ Hàng vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua biên giới Lào trên
cơ sở hiệp định ký kết giữa các Chính phủ hoặc ngành, địa phương được Thủtướng Chính phủ phép
+ Hàng chuyển khẩu bao gồm:
- Hàng hóa được chuyển thẳng từ cửa khẩu nước xuất khẩu đến cửakhẩu nước nhập khẩu không đến cảng nội địa
- Hàng hóa được chở đến cửa khẩu nội địa nhưng không làm thủ tụcnhập khẩu mà đi luôn tới cửa khẩu nước nhập khẩu
- Hàng viên trợ nhân đạo của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ.Như vậy, đối tượng chịu thuế nhập khẩu đa dạng Trừ một số mặt hàng
mà Nhà nước không cho phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu vì có thểgây tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia và đời sống văn hóa xã hội, còn lạimọi loại mặt hàng đều có thể là hàng hóa chịu thuế nhập khẩu
B) Giá tính thuế: hay trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo mục đích quản lý của cơ quan hải quan
Việc xác định đúng trị giá hàng hóa không chỉ có ảnh hưởng trực tiếptới quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước Có hai trường phái chínhtrong việc xác định trị giá hàng hóa:
Trang 11- Trường phái áp dụng phương pháp xác định trị giá hàng nhập khẩutheo trị giá GATT Những nước theo trường phái này quy định trị giá để tínhthuế hàng nhập khẩu là trị giá thực Trị giá thực được hiểu là trị giá ghi tronghóa đơn thương mại (giá thỏa thuận trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh ghitrong hợp đồng mua bán ngoại thương) cộng thêm các khoản chi phí hợp lý,hợp pháp chưa được tính vào trị giá, Ví dụ: chi phí hoa hồng và môi giới, chiphí thuê công-ten-nợ…những nước áp dụng trị giá GATT thường quy định rõtrong Luật pháp của mình phương pháp xác định trị giá thực Căn cứ pháp lý
cơ bản để xem xét trị giá thực là hợp đồng mua bán ngoại thương Đơn vịkinh doanh hàng hóa nhập khẩu phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trungthực của mức giá ghi trên hợp đồng Mọi gian lận nếu bị phát hiện đều bị xửphạt rất nặng Thông thường những nước áp dụng trị giá này là những nướcphát triển, nơi mà hệ thống Luật pháp tương đối ổn định, người dân có ý thứcpháp luật cao, hệ thống thanh toán hiện đại Ưu điểm của hình thức này làhoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực của thương mại tự do, được luật phápquốc tế hóa bằng việc tổ chức GATT ban hành Hiệp định vì chị giá hải quantheo GATT Áp dụng hình thức này, đơn vị nhập khẩu sẽ dự tính trước được
số thuế phải nộp, qua đó chủ động trong khâu tính toán, lập kế hoạch kinhdoanh Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức này cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ hảiquan phải được đào tạo kỹ càng, chi phí quản lý thuế cao vì việc quản lý sẽphức tạp Nếu quản lý không tốt, đơn vị nhập khẩu có thể thông đồng vớinhau khai thấp trị giá tính thuế, gây thất thu cho NSNN và dẫn đến hiện tượnggian lận thương mại qua giá
- Trường phái áp dụng bảng giá tối thiểu Khác với trị giá thực là trị giáthực tế thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán theo mức giá được thỏa thuận trongđiều kiện cạnh tranh lành mạnh và được ghi trong hợp đồng mua bán ngoạithương, giá tối thiểu được xác định căn cứ vào giá trị hàng hóa được sản xuất
Trang 12trong nước nhập khẩu hoặc trị giá hư cấu, áp đặt Những nước áp dụng giá tốithiểu thường quy định nếu mức giá ghi trên hợp đồng mà thấp hơn mức giátrong bảng giá tối thiểu được Nhà nước quy định thì phải áp dụng giá ghitrong bảng giá tối thiểu Việc áp dụng hình thức này thường diễn ra ở nhữngnước đang phát triển, hệ thống Luật pháp chưa ổn định Ý thức Luật pháp củangười dân chưa cao, thường trốn thuế bằng cách ghi thấp giá trị trong hợpđồng Áp dụng hình thức này chính là một biện pháp phi thuế quan giúp cácnước này tăng số thu nhưng không phải tăng thuế suất – một biện pháp dễ bịtrả đũa Nhưng việc áp dụng hình thức này khiến chính sách thuế không minhbạch, rõ ràng, không thể dự đoán được Ngoài ra, nếu việc định giá giá tốithiểu không được cập nhật thường xuyên dựa trên các thông tin điều tra về thịtrường sẽ dẫn đến hiện tượng dịnh gía tối thiểu quá cao hoặc quá thấp so vớigiá thực tế, gây khó khăn cho người nhập khẩu hoặc thất thu NSNN
1.2.2 -Vị trí của chính sách thuế nhập khẩu:
Chính sách thuế nhập khẩu là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu vàcác công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để can thiệp, điều tiếthoạt động nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một thời kỳ nhất địnhphù hợp với định hướng, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế– xã hội của quốc gia đó Chính sách thuế nhập khẩu cũng nhằm xây dựnghành lang pháp lý giúp cho các cá nhân, đơn vị có hoạt động nhập khẩu hànghóa có khả năng dự đoán trước và điều chỉnh hành vi kinh doanh của mình
Chính sách thuế nhập khẩu là một bộ phận của chính sách kinh tếchung của quốc gia, có quan hệ chặt chẽ và phục vụ phát triển kinh tế Nó tácđộng mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất Phân phối, chuyển dịch cơ cấu kinh
tê của đất nước đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗinước vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế Chính sách thuếnhập khẩu cũng là một bộ phần của chính sách thương mại quốc tế của nhà
Trang 13nước Mức độ can thiệp của nó vào nền kinh tế nhiều hay ít phụ thuộc vàochính sách thương mại quốc tế là tự do hay bảo hộ Khi hoạt động trao đổihàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phong phú thì chính sách thuế nhậpkhẩu của một nước còn có thể có những tác động nhất định đến nền kinh tếcủa một nước khác Đồng thời nó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuấtkinh doanh trong nước xác lập lợi ích kinh tế của họ ở nước ngoài trên cáclĩnh vực tiêu thụ hàng hóa, đầu tư…
Chính sách thuế nhập khẩu có thể tạo nên các tác động tích cực khi nó
có cơ sở khoa học và thực tiễn, tức là nó xuất phát từ các bối cảnh khách quancủa nền kinh tế thế giới, chú ý đến đặc điểm và trình độ phát triển của nềnkinh tế trong nước, tuân theo các quy luật khách quan trong sự vận động củacác quan hệ kinh tế quốc tế và thường xuyên được bổ sung, hoàn chỉnh phùhợp với những biến đổi mau lẹ của thực tiễn
Mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cónhững nét khác biệt, cho nên chính sách thuế nhập khẩu cũng thay đổi để đạtđược những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế Nhưng nhìn chung chínhsách thuế nhập khẩu phải có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại
sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước pháttriển và hướng ra bên ngoài
1.3 Tác động của chính sách thuế nhập khẩu đến hoạt động kinh tế
1.3.1 - Thuế tác động đến tăng trưởng kinh tế
Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế Lào có tốc độ tăng trưởng khá Đồngthời với đổi mới kinh tế, Nhà nước đẩy mạnh cải cách thuế, chính sách thuếnhập khẩu phù hợp đã tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng và định hướngphát triển kinh tế thị trường Thuế tham gia tích cực vào điều hành kinh tế vĩ
mô, chuyển dịch nhuồn lực đầu tư kinh tế vào các lĩnh vực then chốt; chuyểndịch đầu tư vào khai thác lợi thuế của các vùng kinh tế ở khắp miền đất nước;
Trang 14thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đạihóa…
Về tăng trưởng kinh tế Lào, có thể đánh giá chung là, trong những nămqua sản xuất phát triển, lưu thông hàng hóa thông thoáng, giá cả ổn định dần.Nền kinh tế tăng trưởng tương đối cao, cơ cấu chuyển dịch tích cực Tínhchung 5 năm 2000 – 2005, tổng sản phẩm trong nước tăng 22,5%, bình quanmỗi năm tăng 5% Trong đó: năm 2000 tăng 2,5%, 2001 tăng 3,7%, 2002 tăng4,2%, năm 2003 tăng lên 6%
1.3.2 - Thuế tác động tăng thu ngân sách
Trong công tác thuế có nhiệm vụ trọng tâm, nỗ lực phấn đấu hoànthành vượt mức nhiệm vụ thu NSNN Nhà nước đã đặt ra các thứ thuế để bắtbuộc các thành viên trong xã hội đóng góp một phần sản vật và thu nhập của
họ cho Nhà nước mới tồn tại và họat động được Như vậy, ngay từ buổi khai
sơ, thuế đã được sử dụng với mục tiêu quan trọng là tập trung thu nhập vàotay Nhà nước Lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời kỳ và ở cácnước cũng đã cho thấy: Tỷ trọng thu bằng thuế thường chiếm phần lớn trongcác tổng thu nhập của NSNN Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, saukhi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu bằng thuế, phí chiếm tới trên 90%tổng số thu NSNN
1.4 Cải cách chính sách thuế nhập khẩu của các nước và bài học kinh nghiệm cho Lào.
1.4.1 - Cải cách chính sách thuế của Việt Nam
1.4.1.1 - Chính sách tổ chức quản lý hoạt động nhập khẩu:
Về cơ bản, nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện nhất quán chínhsách tổ chức và quản lý hoạt động nhập khẩu Nét nổi bật trong chính sáchkinh tế đối ngọai giai đọan này là bước đầu thực hiện các cam kết quốc tếsong phương và đa phương, chủ yếu ở cấp độ khu vực và liên khu vực như
Trang 15đẩy mạnh quan hệ kinh tế với trên 140 nước và vùng lãnh thổ; thực hiệnchương trinh cắt giảm thuế nhập khẩu để hội nhập khu vực mậu dịch tự doASEAN; tham gia APEC, WTO… Cơ chế và công cụ quản lý được đổi mớingày càng triệt để hơn nhằm thích ứng với điều kiện nền kinh tế thị trường vàhội nhập kinh tế.
1.4.1.2 - Mục tiêu và nội dung cơ bản của chính sách thuế nhập khẩu:
Năm 1992, Luật thuế nhập khẩu của Việt Nam ra đời đã thống nhấtđược chế độ thu thuế giữa hàng mậu dịch và hàng phi mâu dịch, do đó đốitượng nộp thuế có sự thay đổi Biểu thuế đã có sự thay đổi lớn với việc đa vàothực hiện danh mục hàng hóa của biểu thuế cơ bản dựa trên danh mục hànghóa điều hòa của tổ chức Hải quan thế giới thay cho danh mục theo khối SEV.Sau gần hai năm thực hiện, một số quy định của Luật thuế NK năm 1992không còn phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh, ngày 05/07/1993, Quốchội Việt Nam kỳ họp thứ 3, khóa IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế XNK có hiệu lực thi hành từ ngày 01/09/1993 Luật này
bỏ quy định miễn thuế đối với hàng của công dân Việt Nam đi hợp tác laođộng, hợp tác chuyên gia, công tác và học tập ở nước ngoài mang về hoặc gửi
về nước trong mức quy định của hội đồng bộ trởng Luật cũng thay đổi quyđịnh về mức phạt chậm nộp thuế từ 0,5% xuống còn 0,2% Ngoài ra, biểuthuế XNK danh mục, thuế suất, mã số, giá tính thuế đối với mặt hàng NK nhànước Việt Nam cần phải quản lý…
Từ ngày 01/01/1996, thực hiện chương trình cải cách chính sách thuếgiai đọan 2, cũng như cam kết với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Việt Nam đãtiên hành cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu của một số mặt hàng có mức thuếsuất trên 60% Biểu thuế nhập khẩu được ban hành trong điều kiện nền kinh
tế đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển Do đó, biểu thuế đã thườngxuyên có những điều chỉnh cho phù hợp với những biến động của nền kinh tế
Trang 16trước áp lực cạnh tranh gia tăng của hàng hóa NK Trong giai đoạn này, mụctiêu của thuế nhập khẩu cần đạt được là:
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động nhậpkhẩu, phù hợp với chính sách mở cửa, phát triển kinh tế đối ngoại của ĐảngCộng hoà và Nhà nước Việt Nam trong xu thế tự do hóa kinh tế quốc tế; bảođảm điều hành toàn bộ họat động nhập khẩu một cách linh họat, có hiệu quả
Thông qua chính sách thuế nhập khẩu đẩm bảo kết hợp hài hòa và pháthuy khả năng cạnh trạnh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thếgiới với yêu cầu bảo vệ và bỗ trợ nền sản xuất trong nước Đồng thời, thôngqua thuế nhập khẩu nhằm định hướng tăng cường nhập khẩu công nghệ, kỹthuật cao nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất trong nước có điềukiện đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm… Bêncạnh đó, chính sách thuế nhập khẩu góp phần hạn chế nhu cầu tiêu dùng hànghóa nhập khẩu, đặc biệt đối với những hàng hóa mà trong nước đã sản xuấtđược
Thuế nhập khẩu phải đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập nềnkinh tế Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới; thực hiện các cam kết songphương và đa phương
Biểu thuế nhập khẩu được bổ sung năm 1993 và 1998 đã thường xuyênđiều chỉnh Trong biểu thuế, có những mặt hàng do mới xuất hiện trên thịtrường hoặc do cách hiểu khác nhau, có thể áp mã tính thuế vào nhiều mứckhác nhau Tình trạng trên đây đã dẫn đến có trường hợp cố tình áp mức thuếsuất từ 0-5%, trong khi đó có một số dòng hàng có mức thuế manh mún,chẳng hạn mức thuế 12% có 2 dòng hàng, mức thuế suất 18% có 1 dòng hàng,45% có 12 dòng hàng, 55% có 1 dòng hàng Từ chỗ biểu thuế có hiều mứcthuế suất như vậy nên trong cùng nhóm, cùng phân nhóm có những mặt hàngkhông khác nhau nhiều về tính chất lý hóa và công dụng nhưng có mức thuế
Trang 17suất chênh lệch nhau rất lớn, dẫn đến khó khăn, tranh chấp trong quá trìnhthực hiện, thậm chí đã gây ra tình trạng lợi dụng để trốn thuế, gây thất thuthuế nhập khẩu Ví dụ: chỉ tính từ ngày 01/01/1999 đến tháng 10/2000, dobiến động của thị trường thế giới và trong nước, nhà nước đã tiến hành 18 lầnsửa đổi, bổ sung biểu thuế XNK (chủ yếu là NK), trong đó riêng mặt hàngxăng, dầu nhập khẩu thuộc nhóm 2170 đã có 7 lần sửa đổi mức thuế suất.Việc tiến hành điều chỉnh mức thuế suất trong biểu thuế nhằm đảm bảo tínhkịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động XNK Về phương diện quản lý vĩ
mô, quá trình điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo ổn định vàthích ứng của nền kinh tế trước những biến đọng từ bên ngoài Tuy nhiên,thực tế việc điều chỉnh thường xuyên thuế suất trong biểu thuế nhập khẩu gâykhó khăn cho các doanh nghiệp làm giảm đi tính chủ động trong kinh doanh,gây tâm lý ỷ lại, trông chờ Nhà nước Mặt khác, với thực trạng này còn có thểgây nên tình trạng sơ hở trong chính sách, dễ bị lợi dụng trong khi thực hiệndẫn đến tiêu cực, thất thu thuế nhập khẩu
Ngoài ra , việc ấn định thuế suất hàng nhập khẩu cưa dựa vào tính chấtcủa hàng hóa, chủ yếu đánh vào mục đích sử dụng, chính điều này dễ gây ra
sự tuỳ tiện, trốn thuế qua việc khai báo không trung thực của đối tượng nộpthuế
1.4.1.3 - Nhận xét về sự hình thành và quá trình hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam:
- Biểu thuế thể hiện quan điểm:
+ Vừa bảo hộ, vừa khuyến khích phát triển sản xuất;
+ Xây dựng trên cơ sở danh mục hàng hóa XNK năm 1996;
+ Thể hiện rõ quan điểm hội nhập vằng các mức thuế suất (thường, ưuđãi và ưu đãi đặc bịêt)
+ Tách biệt thuế tiêu thụ đặc biệt ra khỏi thuế nhập khẩu
Trang 18- Giá tính thuế vẫn áp dụng 2 phương pháp (theo hợp đồng và theobảng giá tối thiểu).
- Điều chỉnh theo hướng thu hẹp đối tượng miễn, giảm hướng đến côngbằng trong chính sách thuế nhập khẩu; chú trọng đến khuyến khích đầu tư chogiáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, đầu tư trong và ngoài nước
- Trong trường hợp có phân biệt đối xử thương mại không bình thường,hàng hóa nhập khẩu ngoài việc phải chịu mức thuế nhập khẩu theo biểu thuếnhập khẩu còn phải chịu thuế bổ sung, thuế chống bán phá giá hoặc thuếchống trợ cấp xuất khẩu hoặc thuế chống phân biệt đối xử theo quy định củapháp Luật Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế
- Ngoài ra, chính sách thuế nhập khẩu thể hiện rõ trách nhiệm pháp lýtrong việc khai báo, tính thuế và nộp thuế nhập khẩu
Qua phân tích, đánh giá và nhận định chính sách thuế nhập khẩu quacác thời kỳ được tác giả luận văn trình bày trên đây cho thấy rõ qua mỗi thời
kỳ lịch sử, chính sách thuế luôn được xác định là công cụ đắc lực trong cáccông cụ điều chỉnh chính sách ngoại thương So với yêu cầu đặt ra trên conđường hội nhập vẫn còn nhiều bất cập, nhưng về cơ bản, những bước đi trongthời gian qua là nền tảng để đổi mới triệt để trong giai đoạn tiếp theo
1.4.2 - Cải cách chính sách thuế nhập khẩu của Trung Quốc
1.4.2.1 - Bối cảnh kinh tế của Trung Quốc khi tiến hành cải cách thuế:
Bối cảnh kinh tế của Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi từ cơ chếkinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, hệ thống thuếkhông còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, không phát huy đượcchức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đòi hỏi phải có sự cải cách thích ứng
là một tất yếu khách quan
Trang 191.4.2.2 - Mục tiêu và nội dung cơ bản của cải cách thuế nhập khẩu của Trung Quốc:
Do Trung quốc thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước trongmột Thời gian khá dài từ trước đến nay, nên mức độ thuế nhập khẩu luôn ởmức cao theo số liệu thống kê: “năm 1992, mức bình quân thuế nhập khẩucủa Trung Quốc là 47,2%, sau đó tuy giảm, nhưng đến năm 1995 vẫn ở mứcbình quân là 35,6%” Trung Quốc là một trong những nước có mức thuế nhậpkhẩu cao trên thế giới Từ năm 1996 trở đi, Trung Quốc đã giảm thuế nhậpkhẩu xuống mức bình quân là 23% Khi thực hiện chính sách cắt giảm thuếnhập khẩu, tác động của thuế nhập khẩu đối với nền kinh tế theo chiều hướngtốt Trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 1995, Trung Quốc đã trảiqua bốn lần giảm thuế Căn cứ biểu thuế được xây dựng theo Hệ thống điềuhòa HS được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trong thời gian này tỷ lệ thuế suấtthuế nhập khẩu bình quân của Trung Quốc giảm từ 47,2% xuống còn 36,4%(giảm 10,5%); năm 1996 tỷ lệ thuế suất thuế nhập khẩu bình quân lại tiếp tụcgiảm xuống 23% (giảm 13,4% so với lần giảm trước) Do đã trải qua các lầngiảm thuế nhập khẩu, sức chịu đựng của nền kinh tế được nâng lên, các doanhnghiệp trong nước dần dần thích ứng với môi trường cạnh tranh mới khi màthuế nhập khẩu giảm, lượng hàng hóa nhập khẩu được tăng lên
Khi thực hiện chính sách mở cửa, Trung Quốc đặt ra rất nhiều chínhsách ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi về thuế nhập khẩu Ví dụ như việc miễn, giảmthuế nhập khẩu đối với việc chuyển giao công nghệ, hàng hóa nhập khẩu vàotrong đặc khu kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hàng hóa lànguyên liệu, bán thành phẩm mà các doanh nghiệp nhập khẩu để gia công làmhàng xuất khẩu… Chính điều này đã làm cho số thuế nhập khẩu thu được sovới giá trị hàng hóa nhập khẩu đạt ở tỷ lệ thấp (khoảng 15% so với giá trịhàng nhập khẩu)
Trang 20Thực tế chứng minh rằng mức độ mở cửa thị trường của Trung Quốclớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ thuế nhập khẩu danh nghĩa theo Luật định Haynói cách khác, tỷ lệ bảo hộ thực tế nhỏ hơn nhiều so với mức bảo hộ trên lýthuyết mà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trung quốc đã chấp nhậnđược Việc xác định trị giá tính thuế, Trung Quốc áp dụng theo quy định Hiệpđịnh trị giá GATT nếu hội đủ các điều kiện theo quy định của hiệp định, bêncạnh đó, áp dụng bảng giá tối thiểu đối với những trường hợp không đủ điềukiện hoặc thuộc nhóm hàng Nhà nước quản lý giá Tuy nhiên, số dònghàng mà nhà nước quản lý thông qua việc xây dựng bảng giá tối thiểu để làmcăn cứ tính thuế nhập khẩu ngày càng giảm dần để phù hợp với xu thế màtrung quốc đang tới gần đó là gia nhập WTO Biểu thuế nhập khẩu được xâydựng dựa trên cơ sở hệ thống điều hòa (Harmonised System-HS) của tổ chứcHải quan thế giới (gọi tắt là danh mục HS).
Thực tế trên đây cho thấy rằng, việc Trung Quốc tiếp tục cắt giảm thuếnhập khẩu để thực hiện chương trình hội nhập kinh tế quốc tế trong tương laimang những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Chính phủ trung quốc chú ý đến hoàn thiện toàn diện hệ thống thuế,kết cấu mức thuế suất hợp lý theo hướng tăng dần tỷ lệ thuế đối với tàinguyên, bán thành phẩm
- Gỉam mạnh mức độ thuế nhập khẩu một cách thích hợp đối với thiết
bị kỹ thuật hình thành nên tài sản cố định mà trong nước chưa sản xuất được,nhằm tạo thuận lợi cho việc hiện đại hóa sản xuất, giảm giá thành sản phẩmcủa các doanh nghiệp sản xuất trong nước
- Thuế nhập khẩu đối với hàng nông sản thực hiện theo phương phápthuế quan hạn ngạch
- Thực hiện mức thuế tạm thời tương đối thấp đối với một số mặt hàng
mà chính phủ Trung Quốc đang cố gắng phát triển sản xuất, các mặt hàng
Trang 21không tiện giảm thuế nhập khẩu một cách chính thức hoặc một số nguyên, vậtliệu và thiết bị kỹ thuật trong nước rất cần nhập khẩu nhưng vẫn giữ gức thuếsuất tương đối cao nhằm ổn định NSNN cũng như thực hiện giảm dần mức độbảo hộ bằng chính sách thuế nhập khẩu.
Việc nghiên cứu nội dung cơ bản quá trình hoàn thiện chính sách thuếnhập khẩu của Trung Quốc cho thấy:
- Thực hiện chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu có lợi cho các doanhnghiệp thu hút thiết bị và kỹ thuật hiện đại từ bên ngoài;
- Tạo điều kiện thu hút nguyên vật liệu mà trong nước đang thiếu, giảmgiá thành sản phẩm sản xuất trong nước
- Giá cả hàng hóa nhập khẩu giảm, chủng loại hàng hóa phong phú,chất lượng cao, những điều này sẽ có lợi cho người tiêu dùng trong nước, gópphần tiết kiệm nguồn lực từ trong dân chính, nâng cao khả năng thanh toántrong bộ phận lớn tầng lớp dân cư
- Dùng yếu tố ngoại lực đẩy nhanh quá trình cải cách bên trong của nềnkinh tế nhằm thức đẩy tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế
Bằng việc xác định mục tiêu hội nhập kinh tế thế gới, chính phủ TrungQuốc đã có những bước tiến khá thành công trong việc mở cửa thị trường, tạođiều kiện cho hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới bên ngoài, thúc đẩynhanh quá trình cải cách kinh tế Đặc biệt “từ năm 1979, khi trung quốc kýhiệp định thương mại (lần thứ nhất) với Hoa kỳ, kim ngạch xuất khẩu củaTrung Quốc vào thị trường Hoa Kỳ đã gia tăng từ khoảng 40 triệu USD năm
1979 lên khoảng 80 tỷ USD năm 1999” Kết quả mang lại qua số liệu trên đâychứng tỏ khả năng thích ứng của các doanh nghiệp trung quốc tăng lên trướcsức cạnh tranh của hàng hóa nhập từ bên ngoài, nhằm tạo thuận lợi cho việcgiành lợi thế cho hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc Đây chính là nhân tốdẫn đến sự thành công của quá trình cải cách kinh tế, mà Lào có thể lấy đó
Trang 22làm bài học kinh nghiệm cho chính mình trong quá trình hội nhập vào kinh tếthé giới.
- Nâng cao vai trò và quyền kiểm soát của cơ quan hải quan trong việc
tổ chức thu và quản lý thuế nhập khẩu (theo Luật Hải quan Trung Quốc năm
2000 tổng cục Hải quan Trung Quốc là cơ quan ngang bộ) nhằm đáp ứng yêucầu kim ngạch XNK ngày càng tăng và kiểm soát nền kinh tế trước xu thế hộinhập
1.4.2.3 - Thành tựu và tồn tại của cải cách thuế nhập khẩu Trung Quốc:
Công cuộc cải cách kinh tế và mở cửa của Trung Quốc cho đến nayđược đánh giá là thành công căn cứ vào một số thành tựu như tốc độ tăngGDP bình quân hàng năm khoảng 10%, trong gần 10 năm từ 1987 đến 1993
đã tạo ra 80 triệu việc làm và giảm tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổxuống còn 20%, trong đó những thành tựu của cải cách thuế như sau:
- Thu NSNN ổn định, tăng trưởng, bảo đảm cân đối được ngân sách docải cách thuế được tiên hành từng bước thận trọng Từ đó, thu từ thuế đã trởthành nguồn thu chủ yếu của NSNN (chiếm trên 90%) và tỉ lệ chiếm trongGDP bình quân hàng năm là 18%
- Cải cách thuế hoàn thành tốt chức năng thúc đẩy mở cửa nền kinh tế,cải thiện môi trường đầu tư trong công cuộc cải cách kinh tế song vẫn bảođảm nguồn thu cho ngân sách Trong giai đoạn đầu của thời kỳ mở cửa, chínhcách miễn giảm thuế được sử dụng như là một công cụ để thu hút đầu tư nướcngoài, nhưng sau khi nền kinh tế đã phát triển đến một mức nhất định và đểhội nhập vào nền kinh tế thế giới thì Trung Quốc tiến hành xóa bỏ các ưu đãi
về thuế đối với đầu tư nước ngoài, áp dụng một mức thống nhất cho các thànhphần kinh tế trong và ngoài nước đồng thời giảm thuế suất thuế nhập khẩu
Do vậy, nguồn thu từ thuế vẫn ổn định trong thời kỳ mở cửa
Trang 23Tuy nhiện, trong quỏ trỡnh cải cỏch thuế tốc độ tăng thu ngõn sỏch vẫnchưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế Do vậy, tỉ lệ thu thuế trờn GDP giảm
từ 20% trong năm 1982 xuống cũn 15% GDP trong năm 1992
1.4.3 - Tham khảo chính sách thuế nhập khẩu của các nớc ASEAN:
Thực hiện mục tiêu mở cửa thị trờng, tự do hoá thơngmại, phần lớn các quốc gia trong ASEAN đã thực hiện các ch-
ơng trình cắt giảm thuế nhập khẩu để thu hút đầu t, cảitiến kỹ thuật, tạo điều kiện mở rộng thị trờng cho sản phẩmcủa mình tren thị trờng khu vực và trên thế giới Kết quả củaquá trình này là sự phát triển vợt bậc của các nền kinh tếthành viên Những điểm chính rút ra khi tham khảo kinhnghiệm các nớc trong khối ASEAN:
+ Điểm chung nhất của chính sách thuế quan các nớcASEAN là thực hiện chơng trình cắt giảm thuế, nhằm thúc
đẩy tự do hoá mậu dụch và đầu t trong và ngoài khu vựcASEAN;
+ Tuy mức độ có khác nhau, các nớc đều thực hiệnchính sách bảo hộ hợp lý, đặc biệt là việc giảm thuế nhậpkhẩu tài sản cố định, vật t, nguyên liệu; giảm dần mức thuếsuất cao đối với hàng hoá phục vụ tiêu dùng Thực tiễn chứngminh rằng sức chịu đựng của các nền kinh tế đợc tăng lên vàkhả năng cạnh tranh của hàng hoà các nớc ASEAN đợc củngcố
+ Tất cả các nớc trong ASEAN đều áp dụng phơng phápthuế tỷ lệ; từng bớc áp dụng phơng pháp xác định trị giátính thuế theo quy định của Hiệp định trị giá WTO
Trang 24+ Một trong những biện pháp để hoàn thiện chínhsách thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế khuvực và toàn cầu là thực hiện chơng trình cắt giảm hàng ràothuế nhập khẩu (giảm thuế suất) , bằng biện pháp thích hợp
đối với nền kinh tế Ưu tiên giảm thuế đối với nguyên lịêu, vật
t hình thành nên tài sản cố định, giảm thuế các ngànhmuốn phát triển, mời gọi đầu t từ bên ngoài Giảm dần thuếnhập khẩu đối với hàng tiêu dùng
+ Việc cắt giảm thuế nhập khẩu không ảnh hởng nhiều
đến nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc do việc tăng khả năngXNK (số lợng tăng lên do giảm thuế sẽ bù đắp đợc thuế giảm
do giảm thuế suất) và các lại thuế khác do sự thăng trởng củanền kinh tế mang lại
+ Biểu thuế nhập khẩu phù hợp với danh mục HS, mứcthuế suất hợp lý tính cho từng chơng, nhóm mặt hàng, dựatrên tính chất của hàng hoá
+ Tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng và tạo điều kiệnthông thoáng cho đầu t, kiểm soát hàng nhập khẩu là việclàm không thể thiếu đợc trong việc mở cửa thị trờng với thếgiới bên ngoài, đặc biệt là bài học rút ra từ khủng hoảng kinh
Trang 25theo kịp yêu cầu xu thế tự do hoá thơng mại làm ảnh hởng
đến quá trình tự do hoá thơng mại
+ Trong điều kiện toàn cầu hoá và khu vực hoá, các nớctrong khối ASEAN đã có những bớc tiến quan trọng về tự dohoá mậu dịch bằng việc đề ra chơng trình cắt giảm hàngrào thuế nhập khẩu và phi thuế quan vào năm 2003 (đối vớicác nớc thành viên cũ) Tuy nhiên, so với xu thế phát triển ngàycàng cao bằng sự hỗ trợ bở thành tựu kho học công nghệ, th-
ơng mại điện tử đã hình thành và từng bớc thay thế thơngmại truyền thống thì quá trình này còn chậm hơn so với cácnớc khác trên thế giới, đặc biệt là các nớc công nghiệp pháttriển đã chi phối rất lớn đối với thơng mại thế giới
@ Một số kết luận rút ra từ tham khảo kinh nghiệm chính sách thuế nhập khẩu của một số nớc:
Việc nghiên cứu chính sách thuế nhập khẩu, trong đóchủ yếu là thuế nhập khẩu của nột số nớc trên đây cho thấyrằng các nớc đã mạnh dạn thực hiện chính sách tự do hoá mậudịch bằng việc giảm thiểu hàng rào thuế nhập khẩu, thuếhoá các hàng rào phi thiế quan kết hợp với những co chế tổchức thực hiện đã góp phần lành mạnh hoá môi trờng đầu t,phát huy tối đa vai trò và vị trí của thuế nhập khẩu trong hêthống các công cụ kinh tế mang lại Qua đó, có thể rút ra một
số kinh nghiệm nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩcủa Vn như sau:
Biểu thuế nhập khẩu đơn giản mức thuế suất, thựchiện tiến trình cắt giảm thuế nhâp khẩu, biểu thuế phù hợpvới danh mục hàng hoá đợc ban hành ổn định trong một thời
Trang 26gian khá dài đặc biệt qua kinh nghiệm của Trung Quốc chothấy, việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu để thực hiệncác cam kết quốc tế luôn luôn gắn liền với quá trình thúc
đẩy các doanh nghiệp trọng nớc nâng cao năng lực cạnhtranh Tuỳ theo năng lực cạnh tranh mà thực hiện chủ trơngcắt giảm dần thuế suất Chính điều này góp phần thúc
đây tự do hoá thơng mại và tạo tiền đề cho quá trình tăngtrởng nền kinh tế
Cần phải ban hành có sự thống nhất chính sách thuếnhập khẩu và chính sách, thủ tục hải quan đối với hàng hoánhập khẩu Chính sách cần phải ban hành hết sức cụ thể, dễhiểu, dễ thực hiện tránh tuỳ tiện khi áp dụng, cũng nh chốnggian lận về thuế nhập khẩu
Các nớc đều thực hiện các phơng pháp xác định trị giátính thuế theo quy định của Hiệp định trị giá WTO, tạo
điều kiện hàng hoá thông quan nhanh chóng, góp phần đẩynhanh tốc độ lu chuyển hàng hoá qua cửa khẩu Tuy nhiên,bên cạn đó, các nớc đều đẩy mạnh biện pháp kiểm tra sauthông quan đối với hàng hoá nhập khẩu và áp dụng các hiệnpháp xử phạt vi phạm rất nghiêm ngặt nhằm mục đích giáodục, răn đe các đối tợng phải thực hiện tốt các quy định củaNhà nớc liên quan đến quản lý hoạt động nhập khẩu
Thuế nhập khẩu phục vụ chính sách tự do thơng mại,nhng để thành công trên con đờng hội nhập, yêu cầu cơ bản
có tính quyết định là khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp trong nền kinh tế
Trang 27Khi thùc hiÖn chÝnh s¸ch thuÕ cÇn ph¶i cã c¸c biÖnph¸p kü thuËt hç trî.
1.4.4 - Các bài học kinh nghiệm đúc kết từ cải cách chính sách thuế nhập khẩu của các nước cho CHDCND Lào:
Cải cách thuế nhập khẩu của Việt Nam và Trung Quốc cho thấy cónhững nguyên lý chung toát ra từ các quá trình cải cách này dù sự bỉểu hiện ởmỗi nước có khác nhau Do vậy, trong từng giai đoạn, kinh nghiệm đúc kếtcủa các quốc gia có ý nghĩa về lý luận lẫn thực tiễn đối với các nước đang tiếnhành cải cách hệ thống thuế
# Nhận thức về cải cách thuế:
- Trong hệ thống các chính sách thì chính sách thuế có tác dụng nhạybén, toàn diện và trực tiếp hơn so với các chính sách khác như cắt giảm chitiêu, vay, viện trợ… Do vậy, cần cân bằng giữa quan điểm “mạnh dạn” vàquan điểm “thận trọng” trong tiến trình cải cách thuế Để đạt được điều này,phải xác định hệ thống thuế hiện hành cần cải tiến thích ứng hay cải tiến hiệnđại hóa
- Một trong những xu thế lớn của kinh tế thế giới ngày nay là quốc tếhóa, khu vực hóa các họat động và quan hệ kinh tế Do vậy, cải tiên chínhsách thuế không thể đi lệch quĩ đạo chung của tiến trình điều chỉnh hệ thốngcác chính sách kinh tế, các công cụ kinh tế cho phù hợp với xu thế này Theo
đó, công cụ thuế đều được các nước sử dụng theo hướng thúc đẩy tăng sứccạnh tranh trên thị trường quốc tế, tăng tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh,khuyến khích đầu tư quốc tế… nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của quốcgia khi tham gia vào thị trường quốc tế
- Các cuộc cải cách thuế tuỳ thuộc nhiều vào khả năng chấp nhận củanhững người chịu thuế Do vậy, không nên thiết kế một chế độ thuế cao hơntrình độ quản lý của bộ máy thuế, vượt trên mức tăng trưởng kinh tế, vượt xa
Trang 28trình độ dân trí và quá khả năng đóng góp của nhân dân Từ đó, không thể
“sao chép” chế độ thuế của một nước để áp dung máy móc vào nước khác.Mặt khác, không nên tạo tâm lý tron nhân dân hệ thống thuế thay đổi độtngột, phải chú trọng công tác tuyên truyền, giải thích chính sách chế độ thuế,từng bước nâng cao nhận thức của dân cư về nghĩa vụ và quyền lợi trong việcnộp thuế
# Mục tiêu phổ biến của cuộc cải cách thuế:
Một Luật thuế được xem là hoàn hảo khi thu được nhiều về mặt tàichính, thể hiện tính công bằng xã hội, có tác dụng kích thích kinh tế và đơngiản về nghiệp vụ Do vậy, mục tiêu của mọi cuộc cải cách thuế đều nhằm đạtđược một hệ thống các Luật thuế “lý tượng” này
- Về mặt tài chính, mục tiêu đầu tiên của mọi cuộc cải cách thuế là
phải bảo đảm nguồn thu cho NSNN với mục tiêu này, cải cách thuế càng dễthành công khi gánh nặng về thuế vừa phải
- Về mặt kinh tế, các cuộc cách thuế đều đặt mục tiêu khuyến khích,
thúc đẩy phát triển kinh tế Song không nên chỉ thấy tác động của thuế thôngqua những ưu đãi, miễn giảm thuế mà cần phải phát hiện những cản trợ, khókhăn trong phát triển khinh tế từ những chính sách, chế độ hiện hành Từ đó,định hướng chung của các cuộc cải cách thuế là giảm dần việc dùng thuế đểđiều tiết hoạt động kinh tế và thay bằng các công cụ, biện pháp tác động trướctiếp và có hiệu quả hơn Thuế không phải là một công cụ van năng, không nên
để thuế đi lệch hướng khỏi chức năng tài chính
- Về mặt xã hội, thuế là công cụ hữu hiệu để điều tiết thu nhập, góp
phần thực hiện công bằng xã hội, song không nên buộc các Luật thuế đềuthực hiện chức năng mà chủ yếu nên tập chung vào một số các loại thuế nhưthuế thu nhập, thuế chuyển nhượng, thừa kể tài sản… Mặt khác, thực tế trongmột hệ thống thuế có thể song song những tồng tại những vấn đề cơ bản là
Trang 29làm sao cho người nộp thuế ý thức được và không nên có những phân biệtquá chênh lệch giữa các khu vực kinh tế, giữa các đối tượng nộp thuế.
Việc nghiên cứu chính sách thuế nhập khẩu, trong đó chủ yếu là thuếnhập khẩu của một số nước trên đây cho thấy rằng các nước đã mạnh dạnthực hiện chính sách tự do hóa mậu dịch bằng việc giảm thiểu hàng rào thuếnhập khẩu, thuế hóa các hàng rào phi thuế quan kết hợp với những co chế tổchức thực hiện đã góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư, phát huy tối đavai trò và vị trí của thuế nhập khẩu trong hê thống các công cụ kinh tế manglại Qua đó, có thể rút ra một số kinh nghiệm nhằm hoàn thiện chính sách thuếnhập khẩu của Lào như sau:
Biểu thuế nhập khẩu đơn giản mức thuế suất thực hiện tiến trình cắtgiảm thuế nhâp khẩu, biểu thuế phù hợp với danh mục hàng hóa được banhành ổn định trong một thời gian khá dài Đặc biệt qua kinh nghiệm củaTrung Quốc cho thấy, việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu để thực hiện cáccam kết quốc tế luôn luôn gắn liền với quá trình thúc đẩy các doanh nghiệptrọng nước nâng cao năng lực cạnh tranh Tuỳ theo năng lực cạnh tranh màthực hiện chủ trương cắt giảm dần thuế suất Chính điều này góp phần thúcđây tự do hóa thương mại và tạo tiền đề cho quá trình tăng trưởng nền kinh tế
Cần phải ban hành có sự thống nhất chính sách thuế nhập khẩu thủ tụchải quan đối với hàng hóa nhập khẩu Chính sách cần phải ban hành hết sức
cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện tránh tuỳ tiện khi áp dụng, cũng như chống gianlận về thuế nhập khẩu
Các nước đều thực hiện các phương pháp xác định trị giá tính thuế theoquy định của Hiệp định trị giá WTO, tạo điều kiện hàng hóa thông quannhanh chóng, góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa qua cửa khẩu.Tuy nhiên, bên cạnh đó, các nước đều đẩy mạnh biện pháp kiểm tra sau thôngquan đối với hàng hóa nhập khẩu và áp dụng các hiện pháp xử phạt vi phạm
Trang 30rất nghiêm ngặt nhằm mục đích giáo dục, răn đe các đối tượng phải thực hiệntốt các quy định của nhà nước liên quan đến quản lý hoạt động nhập khẩu.Thuế nhập khẩu phục vụ chính sách tự do thương mại, nhưng để thành côngtrên con đường hội nhập, yêu cầu cơ bản có tính quyết định là khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Trang 31CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU CỦA
LÀO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY.
2.1 Nhân tố trong nước tác động tới quá trình điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu của Lào:
Là một bộ phận của chính sách kinh tế vĩ mô của một nước, chính sáchthuế nói chung, thuế nhập khẩu nói riêng chịu sự tác động của nhiều nhân tố
Có thể chia các nhân tố tác động nay thành hai loại:
- Những nhân tố trong nước
- Những nhân tố thuộc về môi trường quốc tế
Liên quan tới những nhân tố trong nước lại có nhiều nhân tố khác, màtrong đó, chiến lược phát triển, chính sách kinh tế, trực tiếp là chính sáchthuế, chính sách thương mại quốc tế…Là những nhân tố có ý nghĩa rất quantrọng
Liên quan đến các nhân tố thuộc về môi trường quốc tế có nhiều nhân
tố khác, trong đó có xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế, mở cửa và hộinhập…
2.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế tác động tới quá trình điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu của Lào.
Như đã nói trên, nhân tố trong nước tác động tới quá trình điều chỉnhchính sách thuế nhập khẩu có thể kể đến trước hết là chiến lược phát triển Đó
là “là một phương pháp được thực hiện đối với vấn đề chậm phát triển, phụthuộc vào mô hình tăng trưởng nào được lựa chọn Có nhiều chiến lược khácnhau như chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, tăng tưởng cân đốicủa các vùng thanh thị và nông thôn, mở rộng trợ cấp nông nghiệp hoặc pháttriển khu vực xuất khẩu để thu ngoại tệ”
Trang 32Chiến lược phát triển ảnh hưởng trực tiếp tới xu hướng tăng hoặc giảmthuế nhập khẩu một mặt hàng, hoặc các loại hàng hóa nhập khẩu nào đó.Chẳng hạn đối với các nước khi áp dụng chiến lược công nghiệp hóa thay thếnhập khẩu sẽ có chính sách thuế nhập khẩu khác với những nước áp dụngchiến lược xuất khẩu để thu ngoại tệ hay còn gọi là công nghiệp hóa theohướng xuất khẩu.
Xuất phát từ nội dung cơ bản của công nghiệp hóa thay thế nhập khẩucác nước áp dụng chiến lược phát triển này phải tập trung phát triển mạnh cácngành sản xuất ra các loại hàng hóa, trước hết là hàng tiêu dùng, để thay thếnhững hàng hóa từ xưa đến nay vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài Chính vìvậy, Lào thường đánh thuế nhập khẩu cao để vừa khuyến khích sản xuất trongnước, vừa bảo vệ tiêu dùng cho dân cư trong nước
2.1.2 Hội nhập kinh tế và ảnh hưởng của nó tới chính sách thuế nhập khẩu của Lào.
A - Tác động của hội nhập kinh tế tới hoạt động nhập khẩu
Do xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, vấn đề hợp tác và cạnhtranh giữa các nước được đặt ra mà bất kỳ một quốc gia nào trong điều kiệnhiện nay muốn phát triển cũng phải quan tâm giải quyết Những năm gần đâychúng ta chứng kiến hàng loạt dàn xếp về chế độ thương mại ở vùng Châu Á -Thái bình dương Tiếp theo đạo luật NAFTA được chính thức phê chuẩn tạithượng viện Hoa kỳ và APEC chuyển thành cộng đồng kinh tế Châu Á - Tháibình dương tại SEATTLE, cũng như các cuộc đàm phán bàn tròn uruguay vềGATT đã được đưa vào đạo luật cuối cùng, 3 tổ chức thương mại được thànhlập là NAFTA, AFTA và EU Sự hội nhập về kinh tế, hình thành các liênminh kinh tế như trên là một quá trình phản ánh sự phát triển lý luận về cácquan niệm độc lập, phụ thuộc hoàn toàn và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốcgia
Trang 33Về phạm vi, sự hình thành liên minh kinh tế và hội nhập kinh tế đượcchia thành hai mức độ là hội nhập kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế khuvực.
Hội nhập kinh tế thế giới hay toàn cầu hóa hoạt động kinh tế và thươngmại gắn liền với việc xuất hiện các tổ chức kinh tế và thương mại có khả năngđiều tiết toàn cầu Các tổ chức này có thể là các tổ chức kinh tế, thương mạiliên quốc gia như liên hợp quốc, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, tổchức Thương mại thế giới… Nó cũng có thể là các công ty xuyên quốc gia, đaquốc gia mà hiện nay các công ty mẹ có chi nhánh ở hàng trăm nước trên thếgiới
Hội nhập kinh tế khu vực là việc hình thành các liên minh kinh tế khuvực Nổi bật hiện nay là liên minh Châu Âu (EU), khối mậu dịch tự do bắc
mỹ NAFTA và khoảng 20 khối kinh tế lớn nhỏ rải rác ở các khu vực trên thếgiới
Nhìn chung, dù hội nhập kinh tế thế giới hay khu vực, đó đầu là quá trình mànền kinh tế của một nước tham gia vào đời sống kinh tế của các nước khác,trong đó các nước thỏa thuận thực hiện các cam kết với nhau
Hội nhập kinh tế đã thúc đẩy các nước đang phát triển trong quá trìnhthương mại, làm tăng tỷ trọng thị trường của các nước này và do vậy, giảmtương đối tỷ trọng thị trường các nước phát triển Chính vì vậy, các nước đangphát triển sẽ có lợi trong quá trình hội nhập
Đương nhiên hội nhập kinh tế cũng tạo ra sự thách thức đối với cácnước đang phát triển Bởi lẽ, hội nhập kinh tế đòi hỏi các nước phải giảm dần,
đi đến xoá bỏ hàng rào thuế và phi thuế, tạo điều kiện cho hàng hóa của cácnước trong khối tự do lưu thông trên thị trường các nước thành viên Trongđiều kiện đó, sự cạnh tranh giữa các nước trong sản xuất, tiêu thụ tăng lên,chế độ bảo hộ được nới lỏng, tạo nên sự thách thức đối với các doanh nghiệp
Trang 34Do với Lào là một đất nước nhỏ và đang phát triển, đối với hàng XK cũng íthơn hàng NK, để hiểu rõ hơn những thách thức đó, đề tài nghiên cứu nhữngvấn đề cơ bản về chính sách thuế nhập khẩu.
B Yêu cầu đối với chính sách thuế nhập khẩu của Lào trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực.
Ngày 27/8/1997 Lào đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN,Lào đã cam kết sẽ thực hiện mọi tuyên bố, hiệp định và thỏa thuận củaASEAN, trong đó về lĩnh vực kinh tế, quan trọng nhất là Hiệp định ưu đãithuế quan có hiệu lực chung (CEPT) để thành lập khu vực Mậu dịch tự do củaASEAN (AFTA) Là một tổ chức kinh tế khu vực, AFTA được đưa ra nhằmđạt được những mục tiêu kinh tế:
- Tự do hóa thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuếquan trọng nội bộ khu vực và các rào cản phi quan thuế;
- Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra mộtkhối thị trường thống nhất;
- Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đangthay đổi, đặc biệt là việc phát triển của các thỏa thuận thương mại khu vựctrên thế giói
Hiệp định CEPT áp dụng đối với mọi sản phẩm chế tạo, kể cả sản phẩm
cơ bản và sản phẩm nông sản Các sản phẩm được đưa vào thực hiện chươngtrình cắt giảm thuế theo 4 danh mục:
- Danh mục các sản phẩm giảm thuế với tiến trình cắt giảm nhanh vàgiảm bình thường
- Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế
- Danh mục loại trừ hoàn toàn
- Danh mục hàng nông sản chưa chế biến
Trang 35Bên cạnh việc tiến hành cắt giảm thuế quan, vấn đề loại bỏ các hạn chế
số lượng nhâp khẩu và các rào cản phi thuế quan khác là hết sức quan trọng
để có thể thiết lập được khu vực mậu dịch tự do Các hạn chế về số lượngnhập khẩu có thể được xác định một cách dễ dàng, do đó theo quy định củaCEPT, chúng phải được các nước thành viên ASEAN loại bỏ ngay đối với cácmặt hàng trong chương trình CEPT được hưởng các nhượng bộ từ các nướcthành viên khác Các hàng rào phi quan thuế khác sẽ được xóa bỏ dần dầntrong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi
Những nhượng bộ khi thực hiện CEPT của các quốc gia được trao đổitrên nguyên tắc có đi có lại Muốn được hưởng nhượng bộ về thuế khi xuấtkhẩu hàng hóa trong khối, một sản phẩm cần có các điều kiện sau:
+ Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nướcxuất và nước nhập khẩu ; và phải có mức thuế nhập khẩu bằng hoặc thấp hơn20%;
+ Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được hội đồng AFTAthông qua;
+ Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN (hàm lượng nộiđịa ít nhất là 40%)
Nếu một sản phẩm có đủ cả 3 điều kiện trên thì sẽ được hưởng ưu đãi.Nếu sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu nêu trên trừ việc có mức thuế nhập khẩubằng hoặc thấp hơn 20% (tức là sản phẩm đó có thế suất trên 20%) thì sảnphẩm đó chỉ được hưởng thuế suất CEPT cao hơn 20% trước đó hoặc thuếsuất tối huệ quốc tuỳ thuộc thuế suất nào thấp hơn
2.1.3 - Tác động của AFTA đối với nguồn thu ngân sách Lào:
Tác động của AFTA đối với nguồn thu ngân sách bao gồm các tác độngtrực tiếp và tác động gián tiếp Tác động trực tiếp là việc giảm số thu thuếnhập khẩu trong khu vực ASEAN Tác động gián tiếp là việc tăng hoặc giảm
Trang 36số thu từ các sắc thuế khác như thuế doanh thu hiện nay, thuế giá trị gia tăngvào những năm sau, thuế lợi tức do các danh nghiệp có hiệu quả hay thua lỗtrong quá trình phải thực hiện các điều kiện của AFTA.
Các nhà quản lý về tài chính và thuế Lào đã dự báo số giảm thu thuếnhập khẩu với ASEAN do thực hiện hiệp định giảm thuế theo CEPT trên cơ
sở những tính toán như sau:
- Kim ngạch nhập khẩu những mặt hàng thuộc diện cắt giảm thuế vớiASEAN lấy theo kim ngạch năm 1998
- Kim ngạch nhập khẩu với ASEAN dự kiến đến 2008 sẽ tăng thêm20% giảm thuế nhập khẩu (không tính phần tăng tự nhiên hàng năm)
- Thuế suất nhập khẩu với ASEAN giảm dần theo lịch trình
Vào những năm cuối của chương trình giảm thuế, khi mức giảm thuế làtương đối lớn, số giảm thu sẽ tăng tỷ lệ thuận với tăng trưởng kim ngạch nhậpkhẩu từ ASEAN Như vậy nếu không có biện pháp hữu hiệu cho các ngànhsản xuất trong nước thì trong tương lai nhập siêu của Lào từ ASEAN còn cóthể tăng nhiều hơn, dẫn đến những thiệt hai không nhỏ về số thu từ thuế nhậpkhẩu cũng là từ các sắc thuế khác Do đó, một trong những vấn đề quan trọngnhất để hạn chế giảm thu là:
1) Nâng cao hiệu quả sản xuất trong nước, điều chỉnh cơ cấu sản xuất
để hàng sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với hàng nhập khẩu từASEAN
2) Áp dụng các biện pháp hữu hiệu để góp phần hạn chế nhập khẩu từASEAN Chỉ có như vậy thì kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN mới không tăngngay cả trong trường hợp chúng ta thực hiện cắt giảm thuế
Dự báo số tăng hoặc giảm số thu từ các thuế khác được dựa trên cácyếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh như chi phí sản xuất, khả
Trang 37năng đầu tư vốn, giá thành sản phẩm, môi trường đầu tư… Mà AFTA đem lạicho các doanh nghiệp như:
- Việc giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu là đầu vào của sản xuất
sẽ làm giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, dãn đến tăng khả năngcạnh tranh và khả năng sản xuất Điều này sẽ dẫn đến tăng số thu ở các loạithuế khác như thuế doanh thu, thuế lợi tức
- Tham gia thực hiện AFTA, các hàng hóa của Lào cũng sẽ được hưởngcác mức thuế xuất ưu đãi khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viênASEAN khác, do đó sẽ tăng lợi nhuận thu được của các xí nghiệp sản xuấtkinh doanh XNK và sẽ dẫn đến tăng số thu về thuế lợi tức từ các cơ sở này
- Ngoài ra, các ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng tiết kiệm của ngườitiêu dùng và theo đó là mở rộng sản xuất trong khu vực tư nhân cùng với việctăng số thu từ các loại thuế nội địa là hoàn toàn có khả năng song thực tế triển
Trên đay, chúng ta phân tích nhũng nhân tố ảnh hưởng tới việc hoạchđịnh chính sách thuế nhập khẩu trong một nền kinh tế nói chung và đối vớinền kinh tế lào nói riêng Điều đó có nghĩa là, khi hoạch định chính sách thuếnhập khẩu của Lào phải tính đến một cách toàn diện cả những nhân tố bên
Trang 38trong và nhân tố bên ngoài Từ đó, để đưa ra các nguyên tắc để xây dựngchính sách thuế nhập khẩu Có như vậy, chúng ta mới có được một chính sáchthuế nhập khẩu thích hợp, và thực sự trở thành một công cụ chính sách kinh tế
vĩ mô tác động thúc đẩy tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Lào
2.2 Thực trạng chính sách thuế nhập khẩu của Lào từ năm 2000 đến nay 2.2.1 - Khái quát về tình hình nhập khẩu của Lào
Nước CHDCND Lào là một nước có nền kinh tế kém phát triển, là mộtnước xuất phát từ ngành nông nghiệp là chủ yếu, về hàng hóa thì chủ yếu lànhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên, trong những năm qua Lào đã xuất khẩumột số hàng hóa ra nước ngoài
Trong 5 năm qua, hàng máy móc, điện, gỗ và sản phẩm gỗ vẫn là cácmặt hàng xuất khẩu chính của Lào Ba mặt hàng này là có tỷ trọng gần bằngnhau và tổng tỷ trọng đạt 70 - 80% Từ năm 2002 – 2003, sản phẩm khaikhoáng (vàng, thạch cao,…) bắt đầu trở thành mặt hàng chính và chiếm tỷtrọng từ 13 – 18% Từ năm 2001 – 2005, tổng tỷ trọng của 4 mặt hàng trênluôn ở mức khoảng 85%
Nhưng đối với hàng hóa nhập khẩu cũng chiếm tỷ trọng nhiều hơnhàng xuất khẩu, nhập khẩu phần nhiều từ các nước ASEAN, tổng kim nghạchnhập khẩu thời kỳ 5 năm 2001 – 2006 đạt khoảng 2360 triệu USD, năm 2004chiếm 539 triệu USD, và tổng tỷ trọng tăng lên trong năm 2005 chiếm 738triệu USD, tiếp theo nhập khẩu từ ASEAN là nhâp khẩu từ các nước Đông
Âu, Châu Âu…
Điểm nổi bật là, chính sách thuế nhập khẩu trong thời gian qua đến nay
đã có tác động tích cực đến các hoạt động kinh doanh thương mại nhập khẩucủa các doanh nghiệp, góp phần làm tăng kim ngạch nhập khẩu trong nhiềunăm Điều này được thể hiện qua bảng số 2 sau đây:
Trang 39Bảng 2.1: Tình hình xuất khẩu – nhập khẩu của Lào từ năm 2001-2005
Philippine 15,120 62,589 158,235 441 7,285 7,285 Singapore 167,345 132,264 411,667 219,117 16,404 16,404 Thailand 156,727,723 161,472,747 146,900,611 164,552,592 456,040,790 456,040,790 Vietnam 25,030,252 21,212,648 27,656,445 40,452,356 93,961,524 93,961,524
Trang 40Kim ngạch XNK tăng bình quân 12,5%/năm So với năm 2004 , tổngkim ngạch XNK tăng 2 lần, nhập khẩu tăng 1,8 lần năm 2005 đạt 931 triệuUSD.
Nguồn thu phần nhiều thu từ xuất khẩu địen tử, gỗ, quan áo nói chung,nói riêng thu NSNN phần nhiều thu từ thuế trong đó có thuế nhập khẩu, trongnhững năm 2004 tổng thu NSNN từ thuế nhập khẩu chiếm 686 triệu USD,năm 2005 chiếm 981 triệu USD, phần nhiều nhập khẩu dự án chiếm 380 triệuUSD trong năm 2005, dầu mỏ chiếm 148 triệu USD
Bảng 2.2: Nhập khẩu của Lào từ các nước Châu Á
Nguồn: Bộ Công nghiệp và Thương mại Lào (2006)
Trong bảng trên đây cho chúng ta biết hàng hóa nhập khẩu quá nhiềuchiếm 573 triệu USD năm 2006 mà Lào nhập khẩu từ thái lan, nhập khẩu từViệt Nam cũng đạt 147 triệu USD, ít nhất là nhập khẩu từ Indonesia đạt858,647 USD, năm 2004 nhập khẩu đạt 79 triệu usd từ Trung Quốc, Lào cũngnhập khẩu từ Việt Nam không ít đạt 46 triệu USD năm 2003