1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn NÂNG CAO NĂNG lực đọc HIỂU văn bản CHO học SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP sử DỤNG sơ đồ

30 606 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 282,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Học vị hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất: Thạc sĩ Văn học - Năm nhận bằng: 2011 - Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực

Trang 1

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN

Năm học: 2015 – 2016

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Nguyễn Văn Công

2 Ngày tháng năm sinh: 17 – 04 – 1969

9 Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Sĩ Liên

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ Văn học

- Năm nhận bằng: 2011

- Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam

III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Ngữ văn

Số năm có kinh nghiệm: 22

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

Rèn kĩ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh qua việc dạy kiểu bài đọc – hiểu văn bản nghị luận, chính luận

Một số kinh nghiệm về việc giảng dạy phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại trong chương trình Ngữ văn THPT

Nâng cao hiệu quả đọc – hiểu tác phẩm tự sự bằng phương pháp sử dụng sơ đồ Một số biện pháp nâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn bậc THPT

Trang 3

SKKN: NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC

SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong chương trình môn Ngữ văn bậc THPT hiện hành, các tiết đọc – hiểuvăn bản, trong đó bao gồm cả văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản nhậtdụng, chiếm một số lượng tương đối lớn Kĩ năng đọc – hiểu văn bản cũng là một

kĩ năng cơ bản mà giáo viên dạy Ngữ văn cần phải hình thành cho học sinh trongsuốt quá trình học tập Đây cũng là một trong hai kĩ năng quan trọng ( cùng với kĩnăng viết – tạo lập văn bản ) của học sinh cần thể hiện trong nội dung kiểm tra,đánh giá thông qua các kì thi mà Bộ GD&ĐT yêu cầu Chính vì vậy, rèn luyện kĩnăng đọc – hiểu cho học sinh như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu là điều mà bất cứgiáo viên dạy Văn nào cũng phải quan tâm

Vài năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cải tiến trong côngtác thi cử, các đề văn “mở” hơn và yêu cầu đối với kĩ năng đọc – hiểu của học sinhcũng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, từ năm học 2014 – 2015, với sự chỉ đạo “đổimới dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển nănglực học sinh”, các bài tập đọc - hiểu trở thành một phần không thể thiếu trong các

đề thi, đề kiểm tra Và như vậy, việc tìm tòi các biện pháp để nâng cao năng lựcđọc hiểu cho học sinh là nhiệm vụ mà người giáo viên dạy Văn phải quan tâm.Công việc này vừa giúp các tiết dạy đọc – hiểu văn bản đạt hiệu quả cao vừa pháthuy tính tích cực sáng tạo của học sinh, đồng thời giúp cho học sinh có khả nănglàm tốt kiểu bài tập đọc – hiểu trong đề thi theo yêu cầu đổi mới

Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi đã tăng cường nhiều biện pháp, nhiều dạngbài tập để từng bước nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh, trong đó cóchú ý đến kĩ năng đọc hiểu bằng phương pháp sử dụng sơ đồ

Dạy học bằng sơ đồ, biểu đồ có tác dụng giúp giáo viên tiết kiệm được thờigian, thuận lợi trong việc ghi bảng đồng thời giúp học sinh có một cách đọc hiểuvăn bản vừa nhanh vừa khắc sâu kiến thức, dễ nhớ, dễ học Thông qua việc tựmình tạo lập sơ đồ, học sinh sẽ phát huy được tính tích cực chủ động trong hoạtđộng tiếp nhận văn bản Việc tự mình tạo lập sơ đồ đòi hỏi ở học sinh sự tư duytích cực, vì vậy giúp phát huy tối đa các năng lực phân tích, tổng hợp, sự sáng tạocủa mỗi cá nhân

Theo quan điểm trong Dự thảo chương trình và nội dung SGK Ngữ văn mới,mục tiêu chính của môn Ngữ văn là giúp HS phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ

ở tất cả các hình thức đọc, viết, nghe, nói và cả năng lực giao tiếp đa phương thức(qua hình ảnh, biểu đồ, kí hiệu ) Việc sử dụng phương pháp sơ đồ hóa nội dungbài dạy cũng sẽ góp phần đáp ứng được mục tiêu nêu trên

Trang 4

Việc sử dụng sơ đồ, biểu đồ trong dạy học không phải là việc làm mới Điềunày đã được sử dụng từ lâu, trong nhiều môn học Trong dạy học môn Văn, nhiềugiáo viên cũng đã sử dụng phương pháp này Tuy nhiên, để vận dụng cho có hiệuquả, phù hợp với từng bài dạy, tạo thành một kĩ năng thành thạo ở học sinh là điềukhông dễ

Trước đây, chúng tôi cũng đã có một SKKN với đề tài Nâng cao hiệu quả đọc – hiểu tác phẩm tự sự bằng phương pháp sử dụng sơ đồ, tuy nhiên chỉ giới hạn

vấn đề ở việc giúp HS tăng cường khả năng đọc hiểu các văn bản tự sự dựa trên

đặc điểm thể loại Với đề tài Nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh

bằng phương pháp sử dụng sơ đồ, chúng tôi mở rộng phạm vi, vận dụng phương

pháp sơ đồ hóa trong giảng dạy đối với nhiều loại văn bản, trong nhiều khâu, nhiềubước của quá trình học tập và còn hướng đến việc giúp học sinh ứng dụng vào thaotác tạo lập văn bản Mục đích cuối cùng là giúp nâng cao năng lực đọc hiểu vănbản cho học sinh, từ đó cũng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữvăn trong nhà trường

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Về yêu cầu đổi mới dạy học môn Ngữ văn

Theo tinh thần đổi mới: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm củatừng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theonhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật Giáo dục số38/2005/QH11, Điều 28), việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, cũngnhư các môn học khác, tiếp tục là yêu cầu cấp thiết phải giải quyết hiện nay

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theoQuyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng cũng chỉ rõ: “Tiếp tục đổimới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”

Việc đổi mới dạy học môn Ngữ văn, theo tinh thần trên, cũng chuyển từ việctruyền thụ kiến thức là chủ yếu sang định hướng phát triển năng lực cho người học

Như ta đã biết, một trong những mục tiêu cơ bản của môn Ngữ văn ở trườngphổ thông là hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng ngôn ngữ, trong

đó có năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lậpvăn bản (gồm kĩ năng nói và viết) Khái niệm “văn bản” ở đây được hiểu bao gồm

cả văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản nhật dụng

Tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định

Trang 5

xác định rõ: “Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mớiphương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Cách dạy đọc – hiểukhông nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của GV về vănbản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khámphá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho họcsinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân…”[6, 59-60]

Để đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu trong môn Ngữ văn, bên cạnhcác phương pháp truyền thống, giáo viên có thể sử dụng các kĩ thuật dạy học pháthuy tính tích cực và sáng tạo của học sinh như “động não”, “tia chớp”, bản đồ tưduy

Như vậy, có nhiều cách để nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản và tạo lậpvăn bản, trong đó quan trọng là hình thành nên phương pháp đọc tối ưu đối vớitừng cá nhân

Sử dụng phương pháp sơ đồ hóa chính là một cách thức trong nhiều cách đểtiếp cận văn bản, hình thành tri thức và kĩ năng tự học cho học sinh Việc kết hợp

sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học môn Ngữ văn cũng chính là một hướng dạyhọc tích cực, có tính khả thi, đồng thời giúp cung cấp cho học sinh một chiếc chìakhóa để học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức

2 Về phương pháp sử dụng sơ đồ trong dạy học

Sơ đồ là hình thức trình bày hoặc ghi chép tóm tắt những ý chính của mộtnội dung nào đó, hệ thống hóa một chủ đề, một mạch kiến thức…dưới dạng cácbảng biểu, hình vẽ, các kí hiệu…

Phương pháp dạy học theo mô hình, sơ đồ thuộc nhóm phương pháp dạy họctrực quan Sử dụng phương pháp này phối hợp với phương pháp thuyết trình hoặcvấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả

Liên quan đến dạy học bằng sơ đồ, có một khái niệm được nhắc đến nhiềutrong thời gian gần đây Đó là sơ đồ tư duy (hay còn gọi là bản đồ tư duy - MindMap) của Tony Buzan Đây là hình thức ghi chép có sử dụng màu sắc, hình ảnh

để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Sơ đồ tư duy có cấu tạo giống như một chúbạch tuộc có thân ở giữa và những chiếc xúc tu (vòi) xung quanh, hoặc như mộtcái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh “Cái cây” ở giữa sơ đồ là một ýtưởng chính hay hình ảnh trung tâm Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn

đề liên quan với ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánhnhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độsâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nốikết với nhau Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trungtâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Trang 6

Khi nghe giảng bài, nghe thuyết trình, đọc sách… người đọc, người học cóthể ghi tóm lược lại nội dung theo cách hiểu của cá nhân bằng sơ đồ tư duy “Ghi”bằng sơ đồ tư duy là chỉ ghi các ý chính, trọng tâm, viết tắt bằng những chữ cái,hình vẽ, cụm từ, không ghi nguyên văn cả câu, ghi nhớ theo cách hiểu, cách bố cụcriêng của từng người Từ một hình ảnh trung tâm hoặc một từ khóa trung tâm,người ghi có thể tạo ra nhiều nhánh lớn để ghi lại các ý chính, các sự kiện quantrọng, từ mỗi nhánh lớn có thể tạo thêm nhiều nhánh nhỏ để ghi lại những chi tiết

có liên quan…

Ngoài sơ đồ tư duy của Tony Buzan, còn có sơ đồ Graph Lí thuyết Graphhay còn gọi là lí thuyết sơ đồ có nguồn gốc từ toán học, được ứng dụng rộng rãitrong thế kỉ XX Có thể hình dung sơ đồ Graph như một cái “cây kiến thức” đượcsắp xếp theo thứ tự, tầng bậc, lớp lang…trong đó có các “đỉnh”, “nhánh” đượcphân chia rành mạch Graph là sơ đồ có thể thể hiện tóm tắt toàn bộ bài học haymột phần bài học một cách trực quan sinh động, giúp cho việc nắm bắt kiến thức

dễ dàng hơn

Ở đề tài này, chúng tôi có vận dụng ý tưởng từ sơ đồ tư duy của Tony Buzan

và sơ đồ Graph nhưng không hoàn toàn đầy đủ Sơ đồ được dùng trong đọc hiểuvăn bản ở đây chỉ là những sơ đồ đơn giản, không cần hình vẽ, màu sắc…, chỉ là

sự tóm lược những tình tiết chính bằng các từ khóa hoặc cụm từ ngắn gọn theo các

bố cục khác nhau, tùy theo yêu cầu của nội dung bài học

Nói cách khác, đây cũng là một dạng chuyển thể văn bản, chuyển từ dạngvăn bản đầy đủ sang dạng văn bản tóm tắt theo thể nghiệm riêng của từng cá nhân.Học sinh sẽ ghi sâu, nhớ lâu những điều mà bản thân mình tự viết ra, vẽ ra theocách hiểu riêng của bản thân

3 Vận dụng phương pháp sử dụng sơ đồ vào việc nâng cao kĩ năng đọc hiểuvăn bản trong môn Ngữ văn ở trường THPT

Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Ngô Sĩ Liên nhiều nămnay, chúng tôi nhận thấy lối dạy văn của giáo viên vẫn còn nhiều bất cập Giáoviên vẫn chưa cho thấy được sự khác biệt giữa đọc hiểu văn bản và phân tích,giảng bình truyền thống Học sinh vẫn còn thụ động trong việc tiếp cận tác phẩmvăn học Học sinh chủ yếu, nghe, ghi chép và tái hiện lại bài giảng Điểm yếu nhấtcủa học sinh là chưa có phương pháp tự học, từ đó dẫn đến khả năng đọc hiểu cònnhiều hạn chế

Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa trước hết là để giúp cho giáo viên và họcsinh có thêm được một thứ công cụ tiện lợi để tiếp cận nội dung của văn bản, đồngthời hình thành cho học sinh kĩ năng tự học, tự ôn tập bằng sơ đồ một cách dễ dàngnhất Phát huy ưu thế trực quan của của phương pháp sơ đồ hóa, có thể sử dụng sơ

Trang 7

là hiểu nội dung ý nghĩa của văn bản hoặc khái quát hóa nội dung ý nghĩa của vănbản

Điều mà chúng tôi đặc biệt lưu ý trong SKKN này là việc ghi sơ đồ, đọc sơ

đồ phải bám sát đặc trưng thể loại của văn bản

Đối với văn bản tự sự, chúng tôi nhận thấy có thể sử dụng sơ đồ trong nhiềuphạm vi phân tích tác phẩm, đặc biệt là trong các bước tóm tắt và phân tích cốttruyện

Về cốt truyện, truyện trung đại truyền thống thường đầy đủ các thành phần(trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút ), dù là một hay nhiều sự kiện thìvẫn chỉ được xâu chuỗi theo thời gian, không được mô tả trong quan hệ mở rộngkhông gian… Do đó, việc đọc và sơ đồ hóa cốt truyện phải dựa trên sườn sự kiện,

sự việc vốn được thuật lại theo trình tự thời gian

So với truyện trung đại, việc tóm tắt cốt truyện của truyện hiện đại có khóhơn Ở các truyện hiện đại, kết cấu truyện có nhiều sáng tạo đa dạng với các thủpháp đảo lộn, đồng hiện, thu hẹp hoặc nới rộng thời gian, không gian… Câuchuyện có khi được triển khai với nhiều mạch chuyện xen kẽ nhau, không theotrình tự tuyến tính

Trong trường hợp này, cần hướng dẫn học sinh dùng sơ đồ tóm tắt các bướcphát triển của cốt truyện dựa vào tình huống truyện, những sự kiện nổi bật, nhữngdiễn biến của số phận các nhân vật chính Khi sơ đồ hóa cốt truyện, cần bám vàonhân vật chính để làm nổi rõ từng giai đoạn phát triển của nó Mặt khác, khi tómtắt cốt truyện cần quan tâm đến những chi tiết, sự kiện tạo bước ngoặt trong cuộcđời nhân vật…

Đối với văn bản nghị luận, sơ đồ nội dung văn bản phải nêu được hệ thốngluận điểm và các mối quan hệ trong lập luận của tác giả

Đối với văn bản thơ, sơ đồ cần thể hiện được mạch cảm xúc của nhân vật trữtình ( tuy nhiên, do đặc điểm thể loại quy định, việc sơ đồ hóa nội dung văn bảnthơ thường hạn chế vì khó quy về những mô hình cụ thể )

Đặc biệt, có thể sử dụng rộng rãi nhiều dạng sơ đồ trong việc ôn tập, hệthống hóa kiến thức hoặc mở rộng, tìm hiểu sâu về kiến thức Tính trực quan cũngnhư sự ngắn gọn của sơ đồ sẽ giúp HS dễ dàng ôn tập, nhớ kiến thức lâu hơn

Cũng có thể vận dụng vào việc hướng dẫn học sinh cách tạo lập một số vănbản ngắn theo mô hình (cũng là một dạng sơ đồ) Việc này rất phù hợp với nhữnghọc sinh có năng lực học tập trung bình hoặc yếu

4 Những đề xuất của người viết trong phạm vi của SKKN này chỉ mới dừng

lại ở việc cải tiến các giải pháp đã có, ứng dụng vào thực tế của trường THPT Ngô

Sĩ Liên, áp dụng cho đối tượng học sinh đa số có năng lực trung bình – yếu, mục

Trang 8

đích chủ yếu là giúp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh, từ đó cũnggóp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn trong trường Những nộidung khác liên quan đến đề tài, chúng tôi sẽ cố gắng đề cập một cách đầy đủ vàtoàn diện hơn trong thời gian sắp tới.

Trong đề tài, người viết có sử dụng lại một vài ví dụ có trong SKKN Nâng cao hiệu quả đọc – hiểu tác phẩm tự sự bằng phương pháp sử dụng sơ đồ đã được

báo cáo tại đơn vị vào năm học 2013 – 2014

III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP

1 Giải pháp 1: Sử dụng sơ đồ trong đọc hiểu nội dung các văn bản dựa trên đặc trưng thể loại

1.1 Sử dụng sơ đồ trong việc tóm tắt nội dung văn bản

1.1.1 Đối với văn bản tự sự

Như đã nêu, do đặc điểm của thể loại tự sự, khi dạy các văn bản loại này,giáo viên luôn phải hướng dẫn học sinh thực hiện việc tóm tắt cốt truyện

Có nhiều cách tóm tắt cốt truyện: dựa theo tiến trình vận động của các sựkiện chính, dựa theo số phận của nhân vật chính… Tùy theo từng tác phẩm cụ thể,căn cứ vào đặc điểm thể loại, giáo viên viên hướng dẫn học sinh lựa chọn cách

“ghi” sơ đồ hiệu quả nhất

Ví dụ 1: Tóm tắt văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy ( Sách Ngữ văn 10, tập 1).

Như ta đã biết, kết cấu của truyện có hai phần chính: phần một kể về AnDương Vương xây thành Cổ Loa, chế nỏ thần, chống giặc Triệu Đà, phần hai tậptrung kể về mối tình Mị Châu – Trọng Thủy

Cần cho học sinh thấy được cốt lõi lịch sử của câu chuyện ( một tiêu chíquan trọng để phân biệt với cổ tích ) Cốt lõi lịch sử này chủ yếu nằm ở phần mộtcủa truyện Với việc xây dựng thành Cổ Loa, nhân vật An Dương Vương mangdáng dấp của một nhân vật anh hùng văn hóa nhưng với việc chế nỏ, chống giặc,

An Dương Vương là một nhân vật anh hùng lịch sử An Dương Vương – dưới cáinhìn của nhân dân – là người có công lao lớn đối với đất nước nên được ngưỡng

mộ và tôn thờ như một anh hùng

Ở phần hai của truyện, chất truyền thuyết đã có sự biến đổi do sự xâm nhậpcủa yếu tố cổ tích vào cốt truyện, cùng với đó là sự đan cài thêm chủ đề quan hệgia đình vào chủ đề giữ nước, chống giặc ngoại Sự đan cài này làm cho ý nghĩacủa truyện không chỉ là một bản anh hùng ca dựng nước, giữ nước mà còn đặt vấn

đề về mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và vận mệnh đất nước

Trang 9

Với định hướng trên, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh “ghi” tóm tắt theo

sơ đồ sau:

( đã dùng trong SKKN năm học 2013 – 2014 )

Ví dụ 2: Tóm tắt văn bản Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

Đây là một truyện ngắn hiện đại So với một truyện trung đại mà câu chuyện

thường được trình bày theo theo thời gian tuyến tính, kết cấu của truyện hiện đại

có sử dụng thủ pháp hồi cố, đồng hiện, thu hẹp hoặc nới rộng thời gian, khônggian… Câu chuyện được triển khai với nhiều mạch chuyện xen kẽ nhau, khôngtheo trình tự tuyến tính

Khi tóm tắt cốt truyện Vợ chồng A Phủ, cần bám vào số phận hai nhân vật

chính là Mị và A Phủ Diễn tiến số phận của Mị và A Phủ qua hai giai đoạn cuộc

TRIỆU ĐÀ

THUA CHẠY

Cầu cứu CHÉM MỊ CHÂU

XUỐNG

Ngọ

c trai

Trọng Thủy

Kết hôn

Giếng

TRỘM

Mị Châu Rùa Vàng

Trang 10

đời, một mặt cho thấy số phận của người dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn

chúa đất miền núi, đồng thời cho thấy khát vọng sống cùng tinh thần đấu tranh của

họ Kết cấu của truyện mở ra chiều hướng đổi đời cho nhân vật, còn giúp khẳng

định con đường đến với cách mạng là con đường tất yếu của họ

Mặt khác, khi tóm tắt truyện này, cần hướng dẫn học sinh quan tâm đến

những chi tiết, sự kiện tạo bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật (như thời điểm tết

đến, Mị muốn đi chơi và lúc Mị cứu A Phủ…)

Có thể hướng dẫn học sinh tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ theo sơ đồ sau:

( đã dùng trong SKKN năm học 2013 – 2014 )

Ví dụ 3: Tóm tắt truyện Thuốc ( Lỗ Tấn )

Trong truyện, hình tượng trung tâm là chiếc bánh bao tẩm máu người

(thuốc), liên quan đến nó là hai nhân vật bé Thuyên và Hạ Du

Bị trói

MỊ

A PHỦ

muốn

đi chơi

nô lệ

phạt vạ

chơi tết, đánh A Sử

nh ớ

ngày trước

nợ

Nghèo

đẹp, có tài thổi sáo…

HỒNG NGÀI

HỒNG NGÀI

(Pá Tra – A Sử)

Trang 11

Thời gian nghệ thuật của truyện vận động từ mùa thu trảm quyết sang mùaxuân (tiết Thanh minh) Ba cảnh đầu diễn ra vào mùa thu, cảnh cuối diễn ra vàomùa xuân năm sau

Hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du là chi tiết đáng chú ý nhất ở phần kếtthúc truyện

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh “ghi” sơ đồ tóm tắt như sau:

1.1.2 Đối với các loại văn bản khác

- Kịch bản văn học, giống như tác phẩm truyện là có hệ thống nhân vật, sựkiện, được trình bày qua các bước: thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút Do vậycách ghi sơ đồ tóm tắt cũng tương tự như tác phẩm truyện, cần bám sát sự pháttriển của hành động kịch, thể hiện được mâu thuẫn kịch

quán trà sáng sớm

(bánh bao) bệnh lao

Thuyên

đêm gần sáng

pháp trường

M ộ

ng ho a

Trang 12

Ví dụ: Có thể ghi tóm tắt “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” ( đoạn trích SGK

Ngữ văn 12, tập 2) như sau:

- Đối với văn bản nghị luận, quan trọng nhất là sơ đồ tóm tắt phải thể hiệnđược hệ thống luận điểm Giữa các phần trong bố cục của một văn bản nghị luậnluôn có sự liên kết chặt chẽ Không chỉ đơn giản là sự tiếp nối của các phần Mởbài, Thân bài và Kết luận, có một mạch ngầm liên kết được tạo ra bởi sự triển khai

hệ thống luận điểm suốt toàn văn bản Chỉ cho học sinh thấy được mạch ngầm liênkết các lí lẽ của văn bản là điều cần thiết

Ví dụ 1: Tóm tắt hệ thống lập luận của “Tuyên ngôn độc lập”.

Về kết cấu, hệ thống lí lẽ trong “Tuyên ngôn độc lập” được xâu chuỗi quacác luận điểm cơ bản được sơ đồ hóa như sau:

Luận điểm 1: Cơ sở nền độc lập của Việt Nam là nhữngquyền lợi cơ bản của con người và quyền độc lập, tự quyếtcủa các dân tộc

Vợ hàng thịt đòi chồng, lí trưởng sách nhiễu, người thân

Bức xúc, muốn thoát ra khỏi xác (kết quả: thất bại)

Càng đau khổ, dằn vặt ( sau cuộc đối thoại với người thân )

Mở nút Từ chối Đế Thích, kiên quyết trả lại thân xác cho hàng thịt

Kết Cuộc sống tuần hoàn theo quy luật Trương Ba sống mãi Cuộc sống tuần hoàn theo quy luật Trương Ba sống mãi trong tâm trí của mọi ngườitrong tâm trí của mọi người

Trang 13

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1

– 12 – 2003”, giáo viên có thể liên hệ với cấu trúc của một bài NLXH về một hiện

tượng đời sống Kết cấu của văn bản này có thể được mô tả theo bảng sau:

Đặt vấn đề ( tương đương

với phần MB )

Để chống lại căn bệnh HIV/AIDS, cần có sự camkết, nguồn lực và hành động của toàn cầu Tuynhiên, hiện nay, hành động của chúng ta là chưa đủ

( tương đương với phần

miêu tả thực trạng )

Điểm lại những đóng góp cho việc phòng chốngHIV/AIDS trong thời gian qua

(tương đương với phần

nêu hậu quả )

Tình trạng và hậu quả của đại dịch qua các cứ liệu

(tương đương với phần đề

xuất hướng giải quyết )

Phương hướng và biện pháp trong thời gian tới

(tương đương với phần

KB )

Lời kêu gọi cuối bài

Từ mô hình kết cấu trên, học sinh có thể vận dụng vào một bài NLXH, giảđịnh là bàn về đại dịch HIV/AIDS hay một hiểm họa môi trường chẳng hạn

1.2 Sử dụng sơ đồ trong việc tìm hiểu ý nghĩa văn bản

Không chỉ được vận dụng trong việc tóm tắt nội dung văn bản, sơ đồ cũngđược dùng rất hiệu quả trong khâu tìm hiểu, lí giải ý nghĩa nội dung của văn bản

1.2.1 Trong quá trình đọc hiểu tác phẩm tự sự, việc tóm tắt và nắm vững cốt

truyện chỉ là bước mở đầu Giáo viên sẽ phải hướng dẫn học sinh phân tích tình

Luận điểm 2: Tố cáo tội ác của Td Pháp, chứng minh mộtcách thuyết phục là Td Pháp không có bất kì cơ sở pháp líhay đạo lí nào đối với nhân dân Việt Nam, từ đó bác bỏ luậnđiệu có công “khai hóa” và “bảo hộ” của chúng

Luận điểm 3: Chính nghĩa sáng ngời của dân tộc ta Nền độclập của Việt Nam được đồng thời khẳng định trên haiphương diện pháp lí và đạo lí

Luận điểm 4: Tuyên ngôn về nền độc lập của Việt Nam

Trang 14

huống truyện, số phận và tính cách nhân vật, ý nghĩa của các chi tiết nghệ thuật nổibật…

Việc sơ đồ hóa các nội dung trên cũng là một biện pháp giúp khắc sâu kiếnthức cho học sinh

Ví dụ 1: Sơ đồ hóa tình huống truyện trong “Vợ nhặt”

-Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây dựng được một tình huống

truyện độc đáo: Nhân vật Tràng, một anh nông dân nghèo xấu xí, lại là dân ngụ cư,thế mà đã lấy được vợ đúng vào lúc nạn đói đang hoành hành Chỉ qua hai lần gặpmặt, với vài lời chọc ghẹo vu vơ, sau đó là bốn bát bánh đúc, thế là Tràng có vợ,thậm chí là vợ theo

Tình huống của truyện là một tình huống bi thảm – sự bi thảm do cái đói gâynên Đây là một tình huống truyện éo le, vui buồn lẫn lộn, một tình huống nghịch

lí, bất thường Nhưng qua đó tác giả đã thể hiện được nhiều ý nghĩa sâu sắc:

Giáo viên có thể tóm tắt tình huống trên bằng sơ đồ sau:

Ví dụ 2: Tóm tắt ý nghĩa hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người trong

truyện Thuốc ( Lỗ Tấn ) Trường hợp này có thể dùng bảng tóm tắt như sau:

TÌNH HUỐNG NHẶT VỢ

TÌNH HUỐNG NHẶT VỢ

mọi người ngạc nhiên

Gặp gỡ làm quen

bản thân cũng bất ngờ

Nhân vật

bà cụ Tứ bất ngờ…

4 bát bánh đúc lời nói đùa

Vợ chồng

Lần 1

Lần 2

Trang 15

Con bệnh Bệnh Thuốc Cách chữa Công hiệu

Bé Thuyên Bệnh lao/

bệnh thể xác

Bánh bao tẩm máu

Tin tưởng dùng thuốc / thuốc tiên

Vô hiệu /chết/ thuốcđộc

Người dân Bệnh tinh thần Cần giác ngộ,

thức tỉnhNgười cách

mạng Bệnh tinh thần

Cần gắn bó với quần chúng

Ví dụ 3: Sơ đồ hóa ý nghĩa của chi tiết bức ảnh nghệ thuật cuối truyện

“Chiếc thuyền ngoài xa”

Trong phần cuối truyện, khi nhìn tấm ảnh trong bộ lịch nghệ thuật năm ấy,Phùng phát hiện ra một điều quan trọng, đằng sau cái vẻ đẹp lãng mạn của bức ảnh

chụp chiếc thuyền còn có một hiện thực ở bề sâu đáng được quan tâm hơn: “Quái

lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh…”.

Cuộc sống phức tạp không thể chỉ được nhìn nhận qua những biểu hiện bên ngoài

Và nghệ thuật không thể chỉ dừng lại ở vẻ đẹp bề ngoài, nghệ thuật cần vươn tớiđược bề sâu phức tạp của cuộc đời mà tâm điểm là con người với biết bao cảnhngộ éo le, vất vả nhưng cũng đầy ý nghĩa

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh ghi tóm tắt như sau:

BỨC ẢNH

NHÌN KĨ

MÀU HỒNG HỒNG…

CHẤT THƠ

NGHỆ THUẬT

HÌNH ẢNH NGƯỜI ĐÀN BÀ

LAM LŨ, KHỐN KHÓ

SỰ THẬT CUỘC ĐỜI

Ngày đăng: 24/07/2016, 15:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du là chi tiết đáng chú ý nhất ở phần kết - skkn NÂNG CAO NĂNG lực đọc HIỂU văn bản CHO học SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP sử DỤNG sơ đồ
nh ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du là chi tiết đáng chú ý nhất ở phần kết (Trang 11)
Ví dụ 1: Sơ đồ hóa tình huống truyện trong “Vợ nhặt” - skkn NÂNG CAO NĂNG lực đọc HIỂU văn bản CHO học SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP sử DỤNG sơ đồ
d ụ 1: Sơ đồ hóa tình huống truyện trong “Vợ nhặt” (Trang 14)
Ví dụ 3: Sơ đồ hóa ý nghĩa của chi tiết bức ảnh nghệ thuật cuối truyện - skkn NÂNG CAO NĂNG lực đọc HIỂU văn bản CHO học SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP sử DỤNG sơ đồ
d ụ 3: Sơ đồ hóa ý nghĩa của chi tiết bức ảnh nghệ thuật cuối truyện (Trang 15)
Ví dụ 1: Sơ đồ hóa vẻ đẹp đầy nữ tính của sông Hương trong bút kí Ai đã - skkn NÂNG CAO NĂNG lực đọc HIỂU văn bản CHO học SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP sử DỤNG sơ đồ
d ụ 1: Sơ đồ hóa vẻ đẹp đầy nữ tính của sông Hương trong bút kí Ai đã (Trang 16)
Ví dụ 2: Sơ đồ hóa mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Từ ấy - skkn NÂNG CAO NĂNG lực đọc HIỂU văn bản CHO học SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP sử DỤNG sơ đồ
d ụ 2: Sơ đồ hóa mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Từ ấy (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w