Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Tổ chức cho HS nhận thức trong giờ đọc - hiểu văn bản ở Ngữ văn 10, 11 theo định hướng phát huy vai trò chủ thể của người học” để nghiên cứu với hi
Trang 1I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh - thời đại khoa học kỹ thuật pháttriển như vũ bão, thời đại của bùng nổ thông tin, của tiến bộ kỹ thuật Vì vậy, cuộcsống, xã hội luôn luôn biến đổi, phát triển và nhiều sự thay đổi bất ngờ Thời đại vớinhững đặc điểm như đã nói đang đặt ra cho con người hiện đại những yêu cầu rấtcao, những bài toán đòi hỏi không chỉ năng lực thích nghi mà còn phải chủ động,sáng tạo Mọi hoạt động xã hội đều thấm nhuần tinh thần này Chính mục tiêu xâydựng con người nói trên đã đặt ra cho giáo dục những yêu cầu rất cao về đào tạo,đặc biệt là quá trình dạy - học và phương pháp dạy - học trong nhà trường phổthông Yêu cầu đó chính là đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặt ra nhiệm vụ chongành giáo dục là “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lốitruyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”
Theo đó, phương pháp dạy học theo lối cung cấp cho học sinh (HS) những kiếnthức có sẵn không còn phù hợp Nó bộc lộ nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng đến sự pháttriển trí tuệ của HS Sự lạc hậu về phương pháp dạy học sẽ cản trở việc tiếp thu nhữngnội dung khoa học tiến tiến Vì vậy vấn đề đặt ra cho các nhà sư phạm là không chỉ dạycái gì mà còn là dạy như thế nào Dạy cho HS phương pháp học, phương pháp nhậnthức, phương pháp làm việc khoa học sáng tạo là có thể khơi dậy niềm say mê sáng tạo,phát huy cao độ tính tích cực, tự lực của HS, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trườngphổ thông Điều 24 khoản 2 của Luật Giáo dục quy định “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực tự giác chủ động của HS; phù hợp với đặc điểm củatừng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiếnthức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”
Đã có không ít công trình nghiên cứu tìm phương pháp này hay phương phápkhác nhằm thực hiện mục tiêu phát huy vai trò chủ thể của HS và nâng cao hiệu quả dạyhọc văn Thế nhưng, trên thực tế chất lượng dạy học văn cũng không mấy khả quan Từviệc vận dụng lý thuyết đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách, hứng thú học tập của HS
Trang 2đối với bộ môn không cao, sức ì của các phương pháp truyền thống còn quá nặng,phương pháp mới đã được áp dụng nhưng hiệu quả còn khiêm tốn, tình trạng thầy đọctrò chép, thầy giảng trò nghe vẫn còn Vai trò định hướng, điều khiển của thầy và vai tròchủ thể của HS vẫn chưa được thể hiện rõ Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định
về tình hình dạy văn trong nhà trường như sau: “Chúng ta phải xem lại cách giảng dạyvăn trong các nhà trường phổ thông của ta, không nên dạy như cũ vì dạy như cũ thìkhông những chỉ việc dạy văn không hay mà sự đào tạo cũng không hay… Dứt khoátchúng ta phải có cách dạy khác, phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng tạo, phải xây dựngmột phương pháp giảng dạy văn học thích hợp, đem lại những hiệu quả tốt…” [1]
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Tổ chức cho HS nhận thức trong giờ đọc - hiểu văn bản ở Ngữ văn 10, 11 theo định hướng phát huy vai trò chủ thể của người học” để nghiên cứu với hi vọng sẽ kiến giải được một số định hướng và
biện pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể của HS trong các giờ đọc - hiểu văn bản,góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT
II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Khái niệm chủ thể và khách thể
Chủ thể là khái niệm được xác lập trong quan hệ với “khách thể” Khách thểchính là đối tượng của hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn của chủ thể, tức làcái phần nào đó của hiện thực đang tác động qua lại với chủ thể Trên quan hệ đó,
về mặt triết học người ta xác định chủ thể là “con người tiến hành hoạt động nhậnthức và hoạt động cải tạo thực tiễn” [2, tr.92]
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học), chủ thể có ít nhất ba nghĩa:
- Bộ phận giữ vai trò chủ yếu ( nghĩa này ít dùng)
- Con người với tư cách là một sinh vật có ý thức và ý chí trong quan hệ đốilập với thế giới bên ngoài
- Đối tượng gây ra hành động, trong quan hệ với đối tượng bị chi phối củahành động
Như vậy khái niệm chủ thể nhằm nhấn mạnh tư cách trực tiếp tác động lên
Trang 3đối tượng của con người trong quá trình nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn.
2 Đặc điểm tâm lí của HS trung học phổ thông với việc phát huy vai trò chủ thể của người học
HS trung học phổ thông (THPT) với độ tuổi 16 - 18 đã đạt được những nănglực văn học đáng kể đồng thời có những đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao trong quátrình học tập Đây là thời kì nảy nở về mặt tinh thần, là giai đoạn mà thế giới quanhình thành rõ rệt Trí tuệ các em có sự thay đổi, tính chủ động và khả năng tư duyđược phát triển mạnh HS đã không còn tự hài lòng với những gì mình đã nhận thứcđược mà luôn có nhu cầu hiểu biết, nhu cầu được bộc lộ, được khẳng định, trình bàynhững chính kiến quan điểm của mình Ở lứa tuổi này, HS đã có khả năng lĩnh hộinhững hình thức nghệ thuật ước lệ đa dạng, các xung đột tâm lí phức tạp, các kiểukết cấu và phong cách tinh vi Sự phát triển về tư duy trừu tượng diễn ra mạnh mẽ.Trong quá trình học tập, HS có thể chú ý và hứng thú đối với một vài khía cạnh nào
đó trong tác phẩm Khi hứng thú trước một điều gì, các em sẽ say mê tìm tòi nghiêncứu, thu thập những thông tin liên quan đồng thời bộc lộ những sáng tạo trong quátrình học tập
Sự phát triển tâm lí lứa tuổi đã có những tác động nhất định đến khả năngtiếp nhận văn học của HS So với bậc trung học cơ sở (THCS) các em nhanh nhạyhơn trong cảm thụ và tiếp nhận văn học Các khả năng liên tưởng và tưởng tượng,phân tích và tổng hợp, tìm tòi và phát hiện…linh hoạt hơn Khả năng ghi nhớ táihiện hình tượng và khả năng diễn đạt cũng tốt hơn hẳn HS có thể hoạt động tíchcực hơn trong việc đọc tác phẩm, có hứng thú cá nhân và biết định hướng khi đọc
và học các tác phẩm
Dạy học theo hướng phát huy vai trò chủ thể của người học là hoàn toàn phùhợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi, phát huy được năng lực của HS trong quá trìnhlĩnh hội kiến thức
Trang 4hạn, khi tổ chức cho HS đọc hiểu bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy (Ngữ văn 10, Tập 1), GV cần giúp cho các em cảm thụ được cái hay cái
-đẹp của truyền thuyết này Đó là bi kịch tình yêu, bi kịch mất nước Đồng thời quaquá trình học, các em có được kỹ năng đọc - hiểu truyện dân gian nói chung, thểloại truyền thuyết nói riêng Từ đó, những bài học về nhân sinh và bài học giữ nước
sẽ chuyển hóa một cách tự nhiên vào tâm hồn, tình cảm của các em, góp phần hìnhthành và phát triển nhân cách con người thời đại mới
b Tổ chức giờ đọc - hiểu văn bản theo định hướng phát huy vai trò chủ thể của HS phải phù hợp với việc đổi mới dạy học văn, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Theo định hướng đổi mới dạy học hiện nay, HS phải được đặt vào trung tâmcủa quá trình dạy học, tức là phải phát huy vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sángtạo của HS Trong giờ đọc - hiểu văn bản, HS với tư cách là bạn đọc sáng tạo sẽ chủđộng khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm văn học dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV.Thay vì nghe và ghi chép một cách thụ động lời giảng của thầy như trước thì giờđây các em sẽ tích cực hoạt động, tham gia vào việc khám phá các khía cạnh của tácphẩm qua sự dẫn dắt, gợi mở của thầy cô và qua việc thảo luận, trao đổi với cácbạn Điều này đòi hỏi GV phải đầu tư vào công việc thiết kế giáo án cho mỗi bàidạy Đó là phải thiết kế cho được các hoạt động của thầy và trò, đặc biệt là hoạtđộng của HS để các em có thể tự khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm một cách chủ động
Trang 5và có nhiều hứng thú Ví dụ, dạy bài Tấm Cám (Ngữ văn 10, Tập 1), GV có thể tổ
chức các hoạt động cho HS tiếp nhận tác phẩm như: cho các em nhận xét về cácnhân vật, nêu suy nghĩ của bản thân về cái thiện cái ác, đưa các câu hỏi dẫn dắt đểcác em tìm hiểu vấn đề, cho HS thảo luận về phần kết của truyện, liên hệ truyện nàyvới các truyện cùng môtip khác…Qua các hoạt động như vậy, HS sẽ được khơi gợihứng thú học tập và năng động hơn trong quá trình học tập nói chung, trong các giờđọc - hiểu văn bản nói riêng
c Tổ chức giờ đọc - hiểu văn bản theo hướng phát huy vai trò chủ thể của HS phải đảm bảo tinh thần tích hợp trong dạy học, nhất là với hai phân môn Tiếng Việt và Làm văn
Tích hợp có thể xem là sự phối kết các tri thức của một số môn học có nhữngnét tương đồng vào một lĩnh vực chung (thường là quanh những chủ đề) Dạy họcNgữ văn hiện nay lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức nội dungchương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.Tính chất tích hợp này thể hiện ở chỗ: thay đổi tên gọi (Ngữ văn), sách giáo khoachỉ còn một cuốn chung cho cả ba phân môn Ba phân môn dù khác nhau nhưng đềuxoay quanh bốn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết, đều trên trục đọc văn - làm văn; tíchhợp trong kết cấu chương trình
Để đảm bảo định hướng tích hợp, quá trình dạy học cần hướng vào tích hợptri thức và kỹ năng Tức là, GV không chỉ dạy tri thức cho HS mà còn dạy cho họbiết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng đó để giải quyết những tình huống cụ thể,nhằm mục đích hình thành, phát triển năng lực toàn diện Đồng thời GV cũng phảichú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau của các môn họchay các phân môn khác nhau để đảm bảo cho HS có khả năng huy động hiệu quảnhững kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích hợp
Chẳng hạn, khi tổ chức dạy các bài Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày
(Ngữ văn 10, tập 1), GV phải tìm mối liên hệ giữa các bài này với các kiến thứctiếng Việt liên quan đã học (Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, Văn bản…) và cácbài Làm văn có liên quan (Miêu tả, Biểu cảm trong văn tự sự, Chọn sự việc, chi tiếttiêu biểu trong bài văn tự sự) để giúp HS có được một kiến thức tổng hợp, toàn diện
Trang 6và có khả năng ứng dụng vào giải quyết các tình huống khác nhau
Nguyên tắc tích hợp còn thể hiện ở sự gắn kết phần Đọc văn với Tiếng Việt
và Làm văn Các nội dung làm văn tự sự, thuyết minh hay nghị luận cũng như kiếnthức về văn bản, về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, ngôn ngữ nghệ thuật hay khoahọc…đều được kết cấu thích ứng với sự sắp xếp các văn bản văn học của từng lớphọc Ví dụ, phần Làm văn tự sự ở lớp 10 đi song song với việc học các văn bản cổtích, truyền thuyết, truyện cười hay phần Biện pháp tu từ trong tiếng Việt được sắpxếp liền với các văn bản văn học trung đại hay hiện đại có giá trị nghệ thuật cao
Ở THPT, việc đọc - hiểu một văn bản không chỉ đặt ra yêu cầu để hiểu riêngkiến thức của văn bản đó hoặc chỉ trong một cụm thể loại, mà đọc trong bối cảnhvừa nhận thức sắc thái để phân biệt, vừa có khả năng kết nối các bình diện kiến thứcrộng lớn hơn Chẳng hạn, đọc ca dao yêu thương, tình nghĩa đặt trong mối quan hệ
với ca dao than thân, hài hước, châm biếm; đọc sử thi Đăm San của dân tộc Ê-đê (Việt Nam) trong mối quan hệ với sử thi Ô-đi-xê của Hô-me-rơ (Hi Lạp) và sử thi Ra-ma-ya-na của Van-mi-ki (Ấn Độ); đọc sử thi trong mối quan hệ với truyện thơ,
ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, truyện cổ tích, chèo ; đọc văn học trung đại ViệnNam trong mối quan hệ với thơ Đường và tiểu thuyết Minh - Thanh của TrungQuốc, thơ Hai-cư của Nhật Bản…
d Tổ chức giờ đọc - hiểu văn bản theo hướng phát huy vai trò chủ thể của HS phải bám sát văn bản, phải thể hiện được yêu cầu của đọc - hiểu văn bản vừa phù hợp với đặc trưng thể loại, vừa đáp ứng được yêu cầu vừa sức trong dạy học
Trong giờ học văn, HS sẽ tích cực hoạt động dưới sự dẫn dắt, tổ chức của
GV để cảm thụ và chiếm lĩnh tác phẩm GV phải chú ý định hướng cho HS khaithác văn bản theo thể loại, tránh thoát li văn bản hoặc cảm thụ tác phẩm một cáchchủ quan, phiến diện Trong chương trình Ngữ văn, các văn bản đọc - hiểu được sắpxếp theo thể loại: truyện, kí, thơ, phú, ngâm khúc, văn tế, kịch, nghị luận Khi tổchức dạy các văn bản, GV phải giúp các em nhận diện tác phẩm theo thể loại Ví
dụ: Khi dạy cụm các bài thơ Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, GV sẽ định
hướng cho các em tìm hiểu từng bài nhưng cũng đồng thời nắm được đặc trưng của
Trang 7thể thơ, đặc biệt là Thơ Mới giai đoạn 1930 - 1945 để bản thân HS sau khi học một
số bài cụ thể sẽ có khả năng tìm hiểu các bài thơ khác của phong trào này Mặtkhác, tiếp nhận văn học có tính chủ quan, phụ thuộc rất nhiều vào tầm đón nhận củamỗi cá nhân (sở thích, trình độ, giới tính, độ tuổi…) Do vậy cùng một tác phẩmnhưng có nhiều cách tiếp nhận khác nhau trong HS là điều tất nhiên Vấn đề là GVphải hướng các em vào một sự tiếp nhận đúng đắn, phù hợp, không yêu cầu quá sức
mà vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu bài học
2 Các biện pháp
a Hướng dẫn, tổ chức cho HS đọc diễn cảm tác phẩm
Trong dạy học văn xưa nay, đọc diễn cảm trở thành một phương pháp phổbiến Tuy nhiên, trong thực tế, GV khi tiến hành phân tích chiếm lĩnh tác phẩm vănhọc đã chưa sử dụng phương pháp này một cách hữu hiệu
* Các yêu cầu của đọc diễn cảm
Biện pháp đọc diễn cảm phải gắn với yêu cầu đủ và đúng Việc đọc diễn cảmchỉ phát huy được sức mạnh của nó khi sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng kĩ thuật
Đọc diễn cảm phải đảm bảo hướng đến mục đích giao tiếp trong dạy học,phải hướng tới người nghe, đồng thời phải thể hiện được tính nghệ thuật Đó làtruyền cảm, hay, có tác động mạnh đến người nghe, thu hút được sự chú ý củangười nghe
Trang 8Do đây là giờ đọc - hiểu văn bản nên việc đọc diễn cảm phải đảm bảo tính sưphạm GV cần tính đến khả năng đọc của HS để từ đó triển khai đọc từ đơn giảnđến phức tạp, phát huy được trí tưởng tượng của HS.
Hình thức thứ hai là đọc diễn cảm của HS Việc HS tự mình đọc diễn cảm sẽlàm cho các em bộc lộ sự sáng tạo của bản thân khi cảm nhận tác phẩm Đọc diễncảm sẽ mài sắc kĩ năng cảm thụ của HS và đồng thời đó cũng là một tiêu chí để GVđánh giá được mức độ cảm thụ tác phẩm của HS Tuy nhiên, việc đọc diễn cảm đốivới HS có nhiều mức độ và không dễ, nên GV không nên đặt ra yêu cầu cao và phải
có sự hướng dẫn cho các em về các mặt kĩ thuật, tình cảm đọc…
* Tổ chức đọc diễn cảm trong giờ đọc - hiểu văn bản
Trong các giờ đọc - hiểu văn bản, GV có thể tổ chức cho HS đọc diễn cảmtheo các bước sau:
- Chuẩn bị: Định hướng chung cho việc đọc diễn cảm
GV cần xác định mục đích, yêu cầu đọc: đọc để làm gì? đọc như thế nào?Bên cạnh đó cần xác định thời điểm để tiến hành đọc Ở bước này, GV phải đọc kỹtác phẩm, nắm được âm điệu, cảm xúc chủ đạo của tác phẩm, tư tưởng tình cảm củatác giả, cách ngắt nhịp, gieo vần của các thể thơ, những trọng tâm cần nhấn giọng…Tùy theo yêu cầu cụ thể của mỗi bài dạy, GV có thể tiến hành đọc dưới những hìnhthức và với những mức độ khác nhau Đọc cả bài, đọc từng đoạn, đọc để tạo khôngkhí, đọc để sáng tỏ lời bình, đọc để minh chứng cho lời giảng, đọc đầu giờ và đọc ởphần kết của bài giảng Đọc để gây một ấn tượng hoàn chỉnh về tác phẩm sau khi đãphân tích; đọc để gợi cảm xúc, đọc cũng có khi để củng cố một nhận định Đọccũng có thể là bước tiến hành song song với quá trình bình giảng Cũng có khi là
Trang 9đọc để kích thích trí tưởng tượng, để tái hiện hình ảnh hay duy trì cảm xúc tươi máttrong khi phân tích Nói tóm lại, GV phải linh hoạt khi sử dụng các hình thức đọcdiễn cảm để phát huy tác dụng của biện pháp này.
Khi đọc diễn cảm, GV cần chú ý đến vấn đề thể loại Mỗi thể loại đều cónhững đặc trưng riêng nên cách đọc cũng sẽ khác nhau Ở chương trình Ngữ văn10,11, các văn bản đọc - hiểu gồm nhiều thể loại: tác phẩm tự sự dân gian (thần thoại,truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, sử thi), tự sự tác giả (gồm văn xuôi cổtrung đại, tiểu thuyết cổ trung đại, tiểu thuyết hiện đại, truyện ngắn), các tác phẩm trữtình (gồm các thể loại trữ tình dân gian tục ngữ, ca dao), các thể tài trữ tình cổ trungđại và hiện đại (hịch, cáo, phú, văn tế, thơ Đường luật, Thơ mới…), kịch Đối với dạyhọc tác phẩm trữ tình, GV phải đặc biệt quan tâm tới việc đọc diễn cảm Đọc sao cho
“vang nhạc sáng hình” Theo V.G.Marantxman, tác phẩm “chỉ được bắt đầu mở racho bạn đọc khi nó vang lên trong tâm hồn như một sự độc thoại bên trong” Biệnpháp đọc diễn cảm có một vị trí đặc biệt quan trọng gần như chủ công, thiếu nó hoặcchưa đúng liều lượng thì xem như giờ dạy học tác phẩm trữ tình có xác mà chưa cóhồn Tác phẩm trữ tình “xao động, phập phồng, thắc thỏm ở đằng sau mỗi câu chữ…chỉ có nhờ âm điệu… thì nhà thơ, người dạy, người học… mới cộng hưởng được vớinhau” và nó trở thành “tiếng nói đồng ý đồng tình” (Tố Hữu)
Tổ chức cho HS đọc diễn cảm, người thầy còn cần phải chú ý đến việc đọctheo cảm xúc của tác giả, của nhân vật trong tác phẩm Mỗi tác giả có những cảmxúc riêng, cách nhìn nhận, thái độ riêng đối với vấn đề Chẳng hạn, cùng là tiếngnói đòi quyền sống cho con người nhưng giọng điệu trong thơ Hồ Xuân Hươngkhác với giọng thơ Nguyễn Du; cùng là bộc lộ sự bất mãn và đả kích xã hội thựcdân nửa phong kiến nhố nhăng nhưng cảm xúc, thái độ của Nguyễn Khuyến khácvới Trần Tế Xương…Trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật phần nào đượcthể hiện qua giọng điệu, ngôn ngữ của nhân vật Do đó khi đọc GV nên hướng dẫncho các em đọc sao cho ra từng nhân vật có tính cách, bản chất khác nhau Ví dụ
như nhân vật Bá Kiến, Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, hoặc nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân…
Nhiệm vụ của người GV là hướng dẫn HS nắm bắt sự thay đổi giọng điệu, cảm xúc
Trang 10của tác giả, hiểu được tâm sự hoặc chủ ý của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm.Đồng thời, các em cũng biết hóa thân để tạo ra sự đồng thể nghiệm, đồng sáng tạotrong cảm thụ Sự tương đồng trong cảm nhận của người đọc và tác phẩm càng thuhẹp thì hiệu quả của sự cảm thụ càng cao bấy nhiêu Chính vì vậy mà trong quátrình đọc diễn cảm cần phải rút ngắn khoảng cách để hai thái độ, tư tưởng của ngườiđọc và tác giả gặp gỡ nhau.
- Tổ chức thực hiện: GV có thể tiến hành bằng các bước sau
Đầu tiên, GV đặt yêu cầu kích thích HS bộc lộ sự đồng sáng tạo trong khiđọc Yêu cầu này có thể thực hiện bằng cách đặt câu hỏi cho HS xác định cách đọc.Chẳng hạn, để giúp HS đọc diễn cảm đoạn trích “Trao duyên”, GV có thể nêu câuhỏi: “Đoạn trích thể hiện một tâm trạng đầy mâu thuẫn của Kiều Về mặt lí trí, Kiềumuốn trao duyên cho em để trọn nghĩa trọn tình với Kim Trọng nhưng về mặt tìnhcảm, Kiều lại không đành lòng Vậy cần phải đọc như thế nào để có thể bộc lộ đượctâm trạng đầy đau khổ này của Kiều?”
Tiếp theo, GV sẽ tạo không khí đọc trong giờ học Một không khí đọc tốt sẽ
là những thuận lợi đáng kể cho cả người đọc lẫn người nghe Người nghe trongtrạng thái chờ đợi sự lan truyền cảm xúc Người đọc sẵn sàng trong tâm thế chuẩn
bị truyền tải Một không khí trang trọng im lặng chờ đợi sẽ khuyến khích người đọc,đồng thời làm cho sự cảm thụ văn học của người nghe thêm nhạy cảm tinh tế
Sau khi tạo không khí đọc, GV tiến hành tổ chức đọc diễn cảm văn bản như
đã định hướng Đọc diễn cảm trên cơ sở đọc đúng và hay Một mặt, người đọc cầntruyền tải được cảm xúc có trong tác phẩm, mặt khác người đọc cũng sẽ bày tỏ thái
độ, đánh giá của mình về những vấn đề đặt ra trong tác phẩm Trong quá trình đọc,người đọc phải luôn luôn hướng tới thiết lập mối quan hệ với người nghe, với tácphẩm Đọc không chỉ làm toát lên cái vỏ âm thanh, vỏ vật chất Người nghe khôngchỉ bị tác động bởi sự du dương, trầm bổng mà điều quan trọng hơn là họ xúc động,rung cảm thật sự bởi những điều nhận biết được trong quá trình đọc Việc đọc phảigiản dị tự nhiên và phải xuất phát từ những xúc cảm có thật của người đọc Nhữngxúc cảm này thể hiện qua nét mặt biểu cảm, giọng đọc truyền cảm, cử chỉ vừa phảiphù hợp Người đọc vừa phải làm bật lên được nhịp điệu, tiết tấu chất nhạc của tác
Trang 11phẩm vừa phải truyền tải được cái thần của tác phẩm trong giọng đọc, sự cảmthông, thấu hiểu, chia sẻ.
Cuối cùng, GV nhận xét về cách đọc đồng thời rút ra kết luận cần thiết Saukhi HS đọc diễn cảm tác phẩm dưới sự hướng dẫn của thầy cô, GV sẽ đưa ra cácnhận xét của mình về cách đọc của các em, hoặc có thể cho các HS khác nhận xét
về cách đọc của bạn Các nhận xét, đánh giá của GV đối với HS nên theo hướngđộng viên, khuyến khích để phát huy tinh thần tích cực của người học Từ đó, HS
có thể rút ra những kinh nghiệm quý báu khi đọc tác phẩm và thích thú khi tiếp xúctác phẩm bằng cách đọc diễn cảm
b Hướng dẫn, tổ chức cho HS tóm tắt văn bản
Tóm tắt là một trong những phương pháp dạy học hiệu quả Kỹ năng nàyyêu cầu HS chắt lọc thông tin thành một dạng tổng hợp, cô đọng Trong giờ đọc -hiểu văn bản, HS thực hiện tốt công việc này tức là các em bước đầu nắm được tácphẩm, làm cơ sở cho việc tìm hiểu văn bản một cách thuận lợi và nhanh chóng
* Mục đích của tóm tắt văn bản
Tóm tắt giúp cho HS nắm được khái quát văn bản HS phải tự đọc văn bản,tìm ra những thông tin quan trọng Để có thể tóm tắt một cách hiệu quả, các emphải xác định cái gì là quan trọng nhất, sau đó diễn đạt những thông tin quan trọng
ấy thành một dạng cô đọng có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu Trong các giờ đọc - hiểuvăn bản, tóm tắt và ghi ý chính là rất cần thiết, nhất là đối với bài đọc - hiểu các vănbản truyện Kỹ năng này phát huy vai trò chủ thể của người học, HS vừa biết cáchtóm tắt một văn bản vừa giúp cho các em nắm vững kiến thức để có thể làm tốt bàilàm văn
* Các yêu cầu của tóm tắt
- Để có thể tóm tắt một cách hiệu quả, HS phải lược bớt những thông tin,thay thế một số thông tin và giữ lại những thông tin chính
- Để có thể lược bỏ, thay thế và giữ lại thông tin, HS phải phân tích thông tin
ở một cấu trúc sâu
- Để giúp ích cho việc tóm tắt, HS cũng cần có khả năng nhận ra bố cục rõràng của văn bản Văn bản bao giờ cũng có một bố cục nào đó Người đọc càng
Trang 12nhận ra bố cụ này rõ bao nhiêu thì càng dễ tóm lược thông tin bấy nhiêu Việc hìnhdung bố cục này sẽ giúp HS nhận ra được từng phần trong văn bản và quan tâm đếnnhững phần đáng chú ý nhất Do vậy, trong quá trình đọc - hiểu văn bản, GV hướngdẫn HS tìm ra bố cục cụ thể của văn bản sẽ giúp cho các em tóm tắt các thông tinnhanh và rõ hơn.
* Tổ chức thực hiện
- Chuẩn bị
GV giới thiệu các bước cơ bản để viết một bảng tóm tắt cho HS nắm cách làm:+ Bỏ đi những thông tin phụ hoặc không cần thiết đối với việc hiểu văn bản.+ Bỏ đi những thông tin lặp, đôi khi chỉ là một biện pháp nghệ thuật
+ Thay thế những thuật ngữ tổng quát cho một danh sách
+ Chọn ra câu chủ đề hoặc nếu không có thì tự viết ra câu chủ đề đó
- Tổ chức cho HS tóm tắt
Tùy theo mỗi thể loại mà GV hướng dẫn, tổ chức cho HS tóm tắt
Đối với văn bản là tác phẩm truyện
Với thể loại truyện, GV có thể hướng dẫn HS sử dụng khung truyện (khungtường thuật) để tóm tắt Khung này thường chứa đựng các yếu tố sau:
+ Nhân vật: Các đặc tính của nhân vật chính trong truyện
+ Bối cảnh: Thời gian, địa điểm và bối cảnh trong đó câu chuyện diễn ra.+ Sự kiện khơi mào: Sự kiện bắt đầu cho những hành động diễn ra trongcâu chuyện
+ Sự tương tác nội tại: Các nhân vật chính phản ứng về mặt cảm xúc đối với
sự kiện khơi mào
+ Mục đích: Các nhân vật chính quyết định làm gì để phản ứng lại sự kiệnkhơi mào
+ Hậu quả: Các nhân vật chính cố đạt được mục đích như thế nào?
+ Giải quyết vấn đề: Mục đích đã đạt được ra sao
Để có thể tóm tắt tác phẩm theo khung truyện như ở trên, GV sẽ gợi ý cho
HS bằng cách đưa ra các câu hỏi đi kèm: