Quan niệm của tổ chức tiêu chuẩn chất lượng Quốc tế ISO: “Chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó thể hiện được sự thỏa mãnnhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác
Trang 1MỞ ĐẦU
Vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay đang được bàn đến rất nhiều trêncác thông tin đai chúng, đặc biệt sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức thươngmại WTO Đảng và Nhà nước đã khẳng định điều này sẽ mang đến nhiều cơhội những cũng sẽ ẩn chứa nhiều thách thức mà ta sẽ phải đối mặt
Muốn Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập thì ta phải giảiquyết triệt để các vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay Hiện nay, một trongnhững vấn đề gây bức xúc nhiều trong giới dư luận chính là việc các côngtrình đầu tư lớn của Nhà nước bị đổ sập Năm vừa qua là năm liên tiếp sập cáccông trình xây dựng như vụ sập cầu Cần thơ, cao ốc Pacific cuối năm
1997 Nó thật sự là thảm họa đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và gâythiệt hại hàng tỷ đồng cho ngân sách nhà nước Vấn đề đặt ra ở đây là làm thếthế nào để giải quyết được tình trạng chất lượng công trình đang ngày càng bị
vi phạm một cách nghiệm trọng như vậy Phải chăng chúng ta nên quan tâmđúng mức hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng công trình? Đúng vậy, vấn
đề này đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong toàn xã hội, trong đó doanhnghiệp xây dựng giữa vai trò hết sức quan trọng bởi họ chính là những ngườitrực tiếp thực hiện các công trình Do vậy, các doanh nghiệp cần chủ độnghơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng để tránhxảy ra những tình trạng đáng tiếc như trong năm vừa qua
Công ty Tây Hồ là đơn vị thuộc tổng cục Công nghiệp quốc phòng, đượcthành lập năm 1996, từ đó đến nay Công ty đã tham gia nhiều công trình xâydựng cơ bản và tất cả các công trình đến nay vẫn trong quá trình sử dụng tốt.Nhưng cũng có một số công trình trong khi đang thi công đã gặp sự cố vềchất lượng Mặc dù Công ty đã kịp thời phát hiện và khắc phục nhưng dù saothì nó cũng đã gây tổn thất về mặt tài chính cho Công ty và làm giảm sức
Trang 2cạnh tranh của Công ty với các đối thủ trên thị trường xây dựng Thật ra đây
là vấn đề cũng hay mắc phải của các doanh nghiệp Việt Nam, do trình độ máymóc kỹ thuật không cao và quan trọng hơn là trình độ quản lý chất lượngcông trình còn yếu vì khái niệm quản lý chất lượng công trình chỉ mới dunhập vào nước ta trong mấy năm gần đây Chính vì những lý do đó mà em
quyết định chọn đề tài cho chuyên đề của mình là : “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Công ty Tây hồ” Chuyên
đề gồm các phần chính sau:
Chương 1: Tổng quan về quản lý chất lượng công trình
Chương 2: Thực trạng của công tác quản lý chất lượng công trình tạiCông ty Tây Hồ
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lýchất lượng công trình tại Công ty Tây Hồ
Trong quá trình nghiên cứu em đã sử dụng hai phương pháp chủ yếu làphương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp phân tích, điều tra
Em rất cám ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn và tập thểban lãnh đạo của Công ty Tây Hồ đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoànthành tốt chuyên đề thực tập
Mặc dù đã cố gắng hết sức để viết tốt chuyên đề này nhưng thiếu xót làđiều khó tránh khỏi Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của thầy vàđơn vị thực tập
Em xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Bích Ngọc.
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH.
1.1 CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.
1.1.1 Chất lượng sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sửdụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Tuy nhiên, đểhiểu rõ và đầy dủ về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơngiản Bởi đây là một phạm trù phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹthuật, kinh tế và xã hội Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mụctiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chấtlượng sản phẩm thành những nhóm chủ yêu sau:
- Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảonhất của sản phẩm
Quan niệm này quá tính trừ tượng bởi chất lượng sản phẩm không thểxác định một cách chính xác
- Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm làtồng hợp những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánhđược, phản giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầuđịnh trước cho nó, trong những yêu cầu xác định về kinh tế xã hội
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượngđơn thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh
Trang 4Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chấtlượng không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫnđến kết quả là tiêu thụ sản phẩm kém.
- Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiềuchuyên gia nổi tiếng như:
Theo W.E.Deming: “ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồngđều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận”
Theo Philip B.Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không” đãdiễn tả: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”
Theo A Feigenbaum: “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sảnphẩm dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng đượcmong đợi của khách hàng”
Hầu hết các tác giả đều khẳng định chất lượng sản phẩm chính là mức độthỏa mãn nhu cầu hay sự phù hợp với những đòi hỏi của khách hàng Từ đó
mà mức độ đáp ứng nhu cầu là cơ sở đánh giá trình độ chất lượng sản phẩmđạt được Chất lượng sản phẩm không chỉ là các chỉ tiêu kỹ thuật mà cả vềnhững yêu cầu về mặt kinh tế xã hội
Điểm đặc biệt nổi bật của quan niệm này là ở chỗ chất lượng sản phẩmluôn gắn bó chặt chẽ với nhu cầu và xu hướng vận động của nhu cầu thịtrường nên sản phẩm phải thường xuyên cải tiến, đổi mới phù hợp cho thíchứng với đòi hỏi của khách hàng
- Ngoài ra, xuất phát từ việc nhấn mạnh đến mục tiêu chủ yếu của từngdoanh nghiệp theo đổi nhằm thích ứng với đòi hỏi của thị trường như lợi thếcạnh tranh, tính hoàn thiện không ngừng của sản phẩm, khả năng vượt những
Trang 5đòi hỏi của khách hàng,…ta còn có các quan điểm khác về chất lượng sảnphẩm như:
Quan niệm của tổ chức tiêu chuẩn chất lượng của nhà nước Liên Xô(IOCT: 15467:70): “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những thuộc tính của nóquy định tính thích hợp sử dụng của sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầuphù hợp với công dụng của nó”
Quan niệm của tổ chức tiêu chuẩn chất lượng Quốc tế ISO: “Chất lượng
là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó thể hiện được sự thỏa mãnnhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng củasản phẩm mà người tiêu dung mong muốn.”
Cho tới nay quan niệm chất lượng sản phẩm tiếp tục được mở rộng hơnnữa, “Chất lượng là sự kết hợp giữa các đặc tính của sản phẩm thỏa mãnnhững nhu cẩu của khách hàng trong giới hạn chi phí nhất định Trong thực tế
ta thấy rằng các doanh nghiệp không theo đuổi chất lượng cao với bất cứ giánào mà luôn đặt nó trong một giới hạn về công nghệ, kinh tế, xã hội
1.1.1.2 Phân loại chất lượng sản phẩm.
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đãđưa ra 6 loại chất lượng sản phẩm như sau:
Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu củasản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra đểsản xuất, chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, cácyêu cầu về vật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêucầu về bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng Chấtlượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lýthuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay khôngthì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
Trang 6Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nóđược phê duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính làcác cơ quan quản lý và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn Sau khi phêchuẩn rồi thì chất lượng này trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sảnphẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sảnphẩm
Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượngchuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm Chất lượng cho phép do cơ quanquản lý chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế,hợp đồng giữa đôi bên quy định
Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thịtrường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất Nó nóilên mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí
Chất lượng toàn phần: là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữahiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí đểsản xuất và sử dụng sản phẩm đó
1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng ta có thể chiathành hai nhóm yếu tố chủ yếu Đó là nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tốbên trong
Nhóm yếu tố bên ngoài:
* Nhu cầu của nền kinh tế:
Trang 7Ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sử dụng gì, chất lượng sản phẩm baogiờ cũng bị chi phối, rằng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện nhu cầu nhất địnhcủa nền kinh tế, được thể hiện ở những mặt sau:
- Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình quản lý chấtlượng Trước khi tiến hành thiết kế, sản xuất sản phẩm, cần phải tiến hànhnghiêm túc, thận trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, phântích môi trường kinh tế - xã hội, nắm bắt chính xác các yêu cầu chất lượng cụthể của khách hàng cũng như những thói quen tiêu dung, phong tục tập quán,văn hóa lối sống, khả năng thanh toán của khách hàng …để có đối sách đúngđắn
- Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: đảm bảo chất lượng luôn là vấn đềnội tại của bản thân nền sản xuất xã hội nhưng việc nâng cao chất lượngkhông thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế
- Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm nào
đó cũng như mức thỏa mãn các loại nhu cầu được thể hiện trong các chínhsách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
* Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Trong thời đại ngày nay, trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nàocũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, đặc biệt
là sự ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Hướng chínhcủa việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
- Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế
- Cải tiến hay đổi mới công nghệ
- Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới
* Hiệu lực của cơ chế quản lý:
Trang 8Có thể nói rằng khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi
tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi nước
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chấtlượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uytín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dung
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cảitiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợicho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụngnhững phương pháp quản lý chất lượng hiện đại
Nhóm yếu tố bên trong tổ chức
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm ( được biệu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả
thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành) Nănglực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng
- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức
quản lý và tổ chức sản xuất của tổ chức Với phương pháp công nghệ thíchhợp, với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức
có thể khai thác tốt nhất các nguồ lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượngsản phẩm
- Machines (máy móc thiết bị): khả năng về công nghệ, máy móc thiết
bị của tổ chức Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trongviệc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suấtlao động
Trang 9- Materials (nguyên vật liệu): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ
chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức Nguồn vật tư, nguyênnhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng sốlượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sảnphẩm.[1]
1.1.2 Quản lý chất lượng.
1.1.2.1 Khái niệm về quản lý chất lượng.
Quản lý chất lượng là một khái niệm rộng xét từ khái niệm “quản lý” và
“chất lượng” Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO)nêu trong Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000:
- Chất lượng là mức độ đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc tínhvốn có
- Quản lý chất lượng được hiểu là các hoạt động nhằm điều chỉnh vàkiểm soát một cơ quan, tổ chức về (vấn đề) chất lượng
Theo các định nghĩa này ta có thể thấy phạm vi quản lý là rất rộng Tuynhiên, đứng ở phạm vi quốc gia quản lý chất lượng được thực hiện chủ yếu ởhai cấp độ chính là Nhà nước và Doanh nghiệp Xét về đối tượng, đối tượngcủa quản lý chất lượng chính là các sản phẩm của tổ chức, trong đó bao gồmhàng hóa, dịch vụ hoặc quá trình.[2]
[ 1] Quản lý chất lượng trong các tổ chức _ Nxb Thống kê( từ trang 35-37)
[ 2] Trang web: Công ty cổ phần cơ giới, lắp máy & xây dựng – VIMECO
Trang 101.1.2.2 Sự ra đời của quản lý chất lượng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Ta sẽ chỉ xét quản lý chất lượng ở cấp doanh nghiệp Hoạt động quản lýchất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là của các tổ chức khôngphải là nhà nước hết sức đa dạng do tính chất hoạt động của các tổ chức này Theo Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 được thông qua lần đầu tiên vàonăm 1987 (ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ tiêu chuẩn này đã được sửa đổi
bổ xung lần thứ ba với ký hiệu ISO 9000:2000 Đây là sự thay đổi về chất đốivới bộ tiêu chuẩn này, đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm bảo chấtlượng” bằng “quản lý chất lượng” Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉdành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còncho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện,viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chínhtrị Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệuquả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng củakhách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình Khái niệm sản phẩm ở đây theo
đó cũng hết sức rộng: ‘nó là kết quả của một quá trình hoạt động của conngười’ Đây cũng là hệ quả tất yếu của quá trình quản lý chất lượng của thếgiới trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thươngmại nói riêng đang ngày càng sâu rộng Các phương pháp quản lý chất lượnggồm:
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc cácsản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏicác sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt Mục đích là chỉ cósản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng
Trang 11- Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừaviệc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật Để làm được điều này, phảikiểm soát các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm(như dây truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…),công cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địađiểm sản xuất)
- Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mụctiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trìnhxảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường,nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vậnchuyển, phân phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng
- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) vớimục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ởmức tốt nhất có thể Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện chohoạt động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng vàhuy động sự tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mụctiêu chất lượng đã đặt ra
Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh
sự phát triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ratrong hàng thế kỷ qua, thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chấtlượng trong tiến trình phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệcủa thế giới
Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO9001), nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Namxem xét áp dụng, như ISO 14001 – hệ thống quản lý môi trường, HACCP –
Hệ thống Phân tích các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh
Trang 12vực nông sản thực phẩm, GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnhvực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 – Hệ thống quản lý an toàn và sứckhỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội và các hệ thốngquản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống quản lý antoàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa dầu– Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầuđối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hànhchính nhà nước cũng được quan tâm Điều này chứng tỏ quản lý chất lượngngày càng trở nên quan trọng và được áp dụng sâu rộng trong mọi lĩnh vựccủa cuộc sống
1.1.2.3 Các nguyên tắc quản lý chất lượng
Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểunhững nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng màcòn vượt cao hơn sự mong đợi của họ
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối củadoanh nghiệp Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanhnghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu củadoanh nghiệp
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Trang 13Cong người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sựtham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích chodoanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quảkhi các nguồn và cáchoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liênquan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọidoanh nghiệp Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất,doanh nghiệp phải liên tục cải tiến
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanhmuốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu vàthông tin
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.
Doanh ngiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệtương hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị
1.2 QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH.
1.2.1 Khái niệm quản lý chất lượng công trình.
Thông thường, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụhưởng sản phẩm xây dựng:
Trang 14Chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: côngnăng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy;tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo vềtính thời gian (thời gian phục vụ của công trình).
Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểukhông chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xâydựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn
đề liên quan khác Một số vấn đề cơ bản trong đó là:
- Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ trong khihình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đếnkhảo sát, thiết kế, thi công đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ côngtrình sau khi đã hết thời hạn phục vụ Chất lượng công trình xây dựng thểhiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng , chất lượng dự án đầu tư xây dựngcông trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng củanguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các
bộ phận, hạng mục công trình
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm,kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hìnhthành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc củađội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt độngxây dựng
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối vớingười thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựngđối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng;
Trang 15- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng cóthể phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trìnhvào khai thác, sử dụng;
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu
tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầuthực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế,thi công xây dựng
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự ántới các yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tácđộng của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.[1]
1.2.2 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó đểquản lý được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biệnpháp kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến Cụ thể các yếu tố như sau:
1.2.2.1 Về con người.
Để quản lý chất lượng công trình tốt thì nhân tố con người là hết sứcquan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình Cán bộ phải lànhững kỹ sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong công tác, có phẩmchất, đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm cao Và công nhân phải có tay nghềcao, có chuyên ngành, có sức khỏe tốt và có ý thức trách nhiệm cao và đều làcông nhân được đào tạo cơ bản qua các trường lớp Nếu kiểm soát tốt chấtlượng cán bộ, công nhân thì sẽ kiểm soát được chất lượng công trình gópphần vào việc quản lý tốt chất lượng công trình
[ 1] TS Bùi Ngọc Toàn - Nguồn tin: T/C Giao thông vận tải, số 12/2006
Trang 161.2.2.2 Về phương pháp.
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng làmột trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy mạnh tốc độ cải tiến, hoànthiện chất lượng công trình Trong đó quản lý kỹ thuật thi công công trình làmột khâu quan trọng trong quản lý chất lượng công trình Phương pháp côngnghệ thích hợp, hiện đại, với trình độ tố chức quản lý tốt thì sẽ tạo điều kiệntốt cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm
hư hỏng, có đội ngũ công nhân vận hành máy và thợ sửa chữa máy móc thicông chuyên nghiệp Máy móc được thường xuyên kiểm tra bảo dưỡng và sửa
chữa định kỳ theo chế độ hiện hành
1.2.2.4 Về vật tư
Quản lý nguồn nguyên vật liệu sao cho chúng phải đảm bảo đúng yêucầu chất lượng và chỉ định của thiết kế
Quản lý sao cho việc cung ứng nguyên vật liệu phải đảm bảo đầy đủ về
số lượng, thời gian và khối lượng dự trữ nguyên vật liệu tại công trường theođúng yêu cầu
Trang 171.2.3 Một số chỉ tiêu đánh hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình.
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng công trình theo các giai đoạn của quá trình thi công.
Giai đoạn chuẩn bị thi công: Hiệu quả quản lý chất lượng trong giai
đoạn chuẩn bị thi công thể hiện ở việc đảm bảo các điệu kiện khởi công côngtrình:
- Số lượng và chất lượng của các hồ sơ tài liệu kỹ thuật có liên quanđược đảm bảo đúng quy định
- Số lượng và chất lượng của các yếu tố: vật tư, máy móc thiết bị và lựclượng lao động tập kết tại công trường theo đúng kế hoạch
- Kết quả giải phóng mặt bằng
- Các điều kiện về giao thông, điện nước và các yêu cầu kỹ thuật khác
Giai đoạn thi công: trong giai đoạn thi công, hiệu quả công tác quản lý
chất lượng thể hiện ở:
- Chất lượng của biện pháp thi công
- Chất lượng của vật tư, thiết bị sử dụng và lắp đặt vào công trình
- Tiến độ thi công có được đảm bảo không?
- Lực lượng lao động và máy móc thiết bị thi công tại từng khâu công tác
có phù hợp với bảng tiến độ thi công được lập không?
- Chất lượng của từng khối lượng công tác hoàn thành theo bản vẽ thiếtkế
Giai đoạn nghiệm thu bàn giao và bảo hành công trình: hiệu quả quản lý
chất lượng trong giai đoạn này thể hiện ở:
Trang 18- Hoàn thành đầy đủ các hồ sơ liên quan.
- Tỷ lệ sai hỏng so với thiết kế khi thực hiện đánh giá toàn diện chấtlượng công trình
- Sự hài lòng của khách hang
- Chất lượng của công tác bảo hành công trình
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng công trình theo từng nội dung của hoạt động quản lý chất lượng.
Chỉ tiêu về vấn đề quản lý con người
- Trình độ của cán bộ quản lý
- Trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý kỹ thuật
+ Cán bộ kỹ thuật: kỹ sư thiết kế, kỹ sư tư vấn, kỹ sư giám sát và cán bộquản lý kỹ thuật là những người có vai trò quan trọng trong hệ thống quán lýchất lượng Họ trực tiếp chỉ dẫn hoạt động của các công nhân trên côngtrường, đưa ra các phương án thi công thích hợp, giải quyết các sự cố phátsinh ngoài ý muốn trên công trường, kiểm tra giám sát chất lượng vật tư đưavào sử dụng trong quá trình thi công Do vậy, trình độ của cán bộ kỹ thuật,quản lý kỹ thuật có ý nghĩa trọng đến hiệu quả công tác quản lý chất lượng.+ Tỷ lệ cán bộ quản lý kỹ thuật so với số lượng công trình thi công hàngnăm
Do khả năng quản lý của con người có hạn, vì vậy tỷ lệ cán bộ quản lý
kỹ thuật so với số lượng các công trình cần quản lý ít nhiều sẽ ảnh hưởng tớihiện quản công tác quản lý chất lượng Điều này đặc biệt quan trọng khi màcông tác kiểm tra chất lượng trong xây lắp đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải có mặttại công trường Tỷ lệ này cũng phản ánh phần nào năng lực của cán bộ quản
lý kỹ thuật
Trang 19+ Tỷ lệ giữa tổng thời gian lãng phí so với tổng thời gian làm việc theo
kế hoạch của công nhân
+ Thời gian lãng phí bao gồm: thời gian ngừng việc do yêu cầu của côgnnghệ như thời gian đông kết xi măng, thời gian lãng phí do công nhân, thờigian lãng phí do nguyên nhân tổ chức
Chỉ tiêu này phản ánh trình tổ chức lực lượng lao động hợp lý haykhông Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ công tác quản lý con người chưahiệu quả
Chỉ tiêu về quản lý chất lượng máy móc, thiết bị
+ Phần trăm hoàn thành kế hoạch
+ Hm là phần trăm hoàn thành kế hoạch
Với chỉ tiêu này ta có thể đánh giá công tác quản lý chất lượng máy mócthiết bị Nó cho biết công tác quản lý máy móc thiết bị có hiệu quả haykhông, nếu hoàn thành đúng kế hoạch điều đó chứng tỏ công tác quản lý sửdụng sử dụng máy móc tốt, và công tác lập kế hoạch rất tốt Ngược lại thìchứng tỏ công tác quản lý sửa dụng máy móc không tốt
Chỉ tiêu về vấn đề quản lý vật tư
+ Tỷ lệ thất thoát vật tư trong quá trình thi công (Ktt)
Trang 20Ktt = (VTtt / VTmv) x 100%
Trong đó:
VTtt: số lượng vật tư mất mát, hư hỏng trong quá trình thi công
VTmv: số lượng vật tư mua theo khối lượng công tác xây lắp
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả của công tác quản lý vật tưKtt ≥ 5% cho thấy sự yếu kém trong công tác quản lý vật tư và ngượclại
+ Tỷ lệ vi phạm chất lượng vật tư (Kvpcl)
Kvpcl = (Số lần phát hiện vi phạm / tổng số công trình thi công) x 100%.Chỉ tiêu này trực tiếp phản ánh hiệu qnar cuản công tác quản lý chấtlượng
Kvpcl càng thấp thì hiệu quả quản lý chất lượng càng lớn
Trong điều kiện nước ta hiện nay cần phấn đấu nhằm giảm tỷ lệ nàyxuống dưới 3%
1.2.3.3 Một số chỉ tiêu khác đánh giá hiệu quả công tác quản lý chất lượng.
- Tỷ lệ thiệt hại cá biệt (tgi)
tgi = (( CPtc + CPsc) / CPsx ) x 100%
Trong đó:
CPtc: chi phí thi công hạng mục công trình phá đi làm lại
CPsc: chi phí sử chữa
CPsx: chi phí sản xuất trong kỳ
- Tỷ lệ thiệt hại chung:
Trang 21Tg = ∑ Cti / ∑ Ci
∑ Cti: tổng thiệt hại
∑ Ci: tổng chi phí sản xuất trong kỳ
ΔTg = Tg1 – Tgo Tg = Tg1 – Tgo
ΔTg = Tg1 – Tgo tg = tg1 – tgo
Nếu ΔTg = Tg1 – Tgo tg > 0 cho thấy chất lượng sản phẩm trong kỳ giảm và ngược lại.Nếu ΔTg = Tg1 – Tgo Tg < 0 cho biết tỷ lệ thiệt hại bình quân trong kỳ tăng và ngượclại
- Tỷ lệ chi phí phòng ngừa so với tổng chi phí sản xuất trong kỳ
Đây là loại chi phí liên quan đến việc lập kế hoạch, hoàn thiện và duy trì
hệ thống quản lý chất lượng, đào tạo cán bộ, kiểm tra đo lường hệthống….Việc tăng chi phí phòng ngừa sẽ góp phần làm giảm các chi phí saihỏng hoặc không đạt Do đó chỉ tiêu này cũng có thể dùng để đánh giá hiệuquả của hoạt động quản lý chất lượng
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1.3.1 Vai trò của ngành xây dựng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Xây dựng cơ bản có thể coi là một ngành sản xuất vật chất, ngành duynhất tạo ra cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống y tế, quốcphòng, giáo dục và các công trình dân dụng khác
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hoạt động xâydựng cơ bản góp phần to lớn vào việc tạo ra cơ sở hạ tầng cho các ngành
Trang 22khác Nhìn vào cơ sở hạ tầng của các ngành đó ta có thể thấy được trình độphát triển, hiện đại của ngành đó như thế nào
Nhờ có việc thi công các công trình xây dựng đô thị hóa nông thôn mà
nó đã góp phần vào việc cải thiện khoảng giữa thành thị và nông thôn, nângcao trình độ văn hóa và điều kiên sống cho những người dân vùng nông thôn,
từ đó góp phần đổi mới đất nước
Ngoài ra, ngành xây dựng còn đóng góp rất lớn vào tổng GDP của cảnước Sự phát triển của ngành cho thấy sự lớn mạnh về nền kinh tế đất nước.Các cơ sở hạ tầng, kiến trúc đô thị càng hiện đại càng chứng tỏ đó là một đấtnước có nền kinh tế phát triển, có nền khoa học công nghệ tiên tiến và mứcsống của người dân nơi đây rất cao
1.3.2 Tình hình chất lượng công trình xây dựng nói chung hiện nay ở nước ta.
1.3.2.1 Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng công trình xây dựng ở nước ta.
Từ khi Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới, ngành xây dựng có cơ hộilớn chưa từng có để phát triển Thành công của công cuộc đổi mới đã tạo điềukiện vô cùng thuận lợi cho ngành xây dựng vươn lên, đầu tư nâng cao nănglực, vừa phát triển, vừa tự hoàn thiện mình, và đã đóng góp không nhỏ vàotăng trưởng kinh tế đất nước Các doanh nghiệp của ngành không ngừng lớnmạnh về mọi mặt, làm chủ được công nghệ thiết kế và đã thi công xây dựngđược những công trình quy mô lớn, phức tạp mà trước đây phải thuê nướcngoài
Chúng ta đã tự thiết kế, thi công nhà cao tầng, nhà có khẩu độ lớn, cáccông trình ngầm và nhiều công trình đặc thù khác Bằng công nghệ mới,chúng ta đã xây dựng thành công hầm Hải Vân, hầm qua Đèo Ngang, nhiều
Trang 23loại cầu vượt sông khẩu độ lớn, các nhà máy nhiệt điện, thủy điện quy mô lớn
mà chính chúng ta đang chứng kiến Các đô thị mới, khang trang, hiện đại đã
và đang mọc lên bằng chính bàn tay, khối óc con người Việt Nam.Qua thửthách, nhiều doanh nghiệp xây dựng nhanh chóng trưởng thành, khẳng định vịthế
Đồng thời trong thời gian qua, Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Ban Thường
vụ Công đoàn Xây dựng Việt Nam phát động ‘Cuộc vận động đảm bảo vànâng cao chất lượng công trình, sản phẩm xây dựng, giai đoạn 2001 – 2005’.Cuộc vận động này đã đạt được nhiều kết quả quan trọng và có ý nghĩa thiếtthực về kinh tế – xã hội
Trong 5 năm qua, cuộc vận động đã thu hút 290 doanh nghiệp (DN)hành nghề xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng thuộc cácthành phần kinh tế, các Bộ, Ngành hưởng ứng tham gia Kết quả 5 năm đã có
548 công trình, sản phẩm vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng được tặngthưởng huy chương vàng và bằng chất lượng cao; 34 lượt DN được tặng cờđơn vị xuất sắc về đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình sản phẩm xâydựng hàng năm; 574 tập thể và cá nhân được tặng bằng khen của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng và của Ban Thường vụ công đoàn Xây dựng Việt Nam Hệthống quản lý chất lượng của các đơn vị tham gia cuộc vận động đã đượccủng cố, hoàn thiện theo các tiêu chí của tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc
Trang 24lượng vẫn còn khá nhiều Vấn đề này đã gây nhiều bức xúc trong xã hội.Theo văn bản số 1058 gửi Bộ trưởng Bộ xây dựng mới đây báo cáo về tìnhhình chất lượng công trình xây dựng năm 2007.
Theo báo cáo của UBND thành phố, TPHCM hiện có 1.884 công trìnhxây dựng, trong đó có 258 công trình (CT) mới khởi công (có 148 CT dândụng), 713 CT đang thi công (224 CT dân dụng) và 913 CT đã hoàn thànhđưa vào sử dụng (361 CT dân dụng)
Năm 2007, TPHCM đã xảy ra 24 sự cố công trình, trong đó 9 sự cốthuộc cấp độ nhẹ, 8 sự cố cấp độ vừa và 7 sự cố cấp độ nghiêm trọng
Trong thời gian qua, thành phố xảy ra nhiều vụ việc xây dựng nhà caotầng, công trình có quy mô lớn không phép, sai phép vi phạm quy trình quản
lý chất lượng công trình dẫn đến những thiệt hại lớn về tài sản, ảnh hưởng đếnđời sống sinh hoạt của nhiều người dân, gây bức xúc trong xã hội
Theo Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Hữu Tín, sự cố CT xâydựng có thể xảy ra ở bất kỳ loại CT nào và đều có thể gây ra những hậu quảnghiêm trọng
Ở quận 8 và huyện Bình Chánh, dù xây dựng nhà cấp 4 nhưng do thicông không cẩn thận đã gây ra hậu quả chết người hay sự cố gây sập đổ bấtngờ cho nhiều căn nhà trên đường Nguyễn Cửu Vân (quận Bình Thạnh)
Dù cao ốc Pacific , Sài Gòn Recidences là CT cấp đặc biệt nhưng dobiện pháp thi công tầng hầm sai phép và không an toàn nên đã gây lún sụt,nghiêng, hư hỏng các CT lân cận
Bên cạnh đó, tại các tỉnh, thành phố trên cả nước cũng có nhiều côngtrình xây dựng tư nhân đã xảy ra sự cố ngay khi đang thi công, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến tính mạng của người lao động cũng như sự an toàn của các
Trang 25công trình lân cận Điển hình có vụ sập nhà số 106/9I Điện Biên Phủ(TPHCM) hồi tháng 1/2007; sập sàn bê tông nhà đang xây tại khu tái định cư
dự án Chợ đầu mối Hóc Môn (TPHCM) ngày 24/4/2007; sập sàn sênô nhà tại
xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh (TPHCM) ngày 28/5/2007;
Trong năm 2007, Sở XD đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, thường xuyênkiểm tra các CT xây dựng và tiến hành xử lý nghiêm hàng chục trường hợp viphạm
Báo cáo của UBND thành phố còn cho biết tuy đã phân cấp nhưng ýthức, trách nhiệm của nhiều quận – huyện còn kém Nhiều sự cố CT xảy ra,
cơ quan quản lý nhà nước mới tiến hành xử phạt, thống kê sau khi báo chíphát hiện, đưa tin Theo ông Nguyễn Hữu Tín, sắp tới TPHCM sẽ quy tráchnhiệm cụ thể đối với địa phương để xử lý những trường hợp trên
Theo UBND thành phố, do lực lượng cán bộ chuyên trách vừa yếu, vừathiếu nên việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng CT xâydựng trên địa bàn chủ yếu còn tập trung vào các CT xây dựng từ nguồn vốnngân sách hoặc CT do thành phố quản lý trực tiếp trong các KCX, KCN tậptrung, CT phục vụ tái định cư…
Các CT vốn tư nhân tuy ngày càng có quy mô lớn nhưng cơ quan chứcnăng không thể kiểm tra hết nếu không có chế độ báo cáo nghiêm ngặt vớimẫu biểu chi tiết, khoa học Năm 2007, Sở XD tổ chức 2 đoàn kiểm tra các
CT dân dụng đã có giấy phép xây dựng và đang trong gia đoạn thi công, kếtquả là đã phát hiện, đề xuất các biện pháp chấn chỉnh, ngăn ngừa kịp thời các
vi phạm Tuy nhiên, rất nhiều chủ đầu tư …đã không hợp tác, thậm chí có
trường hợp còn gây khó khăn cho đoàn kiểm tra.[1]
[ 1] Việt Báo - Theo_Tien_Phong_huy thinh_ Thứ hai, 03 Tháng ba 2008, 10:35 GMT+7
Trang 261.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng.
CLCTXD là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sứcquan tâm Nếu ta quản lý CLCTXD tốt thì sẽ không có chuyện công trìnhchưa xây xong đã đổ do các bên đã tham ô rút ruột nguyên vật liệu hoặc nếukhông đổ ngay thì tuổi thọ công trình cũng không được đảm bảo như yêu cầu
Vì vậy việc nâng cao công tác quản lý CLCTXD không chỉ là nâng cao chấtlượng công trình mà còn góp phần chủ động chống tham nhũng chủ độngngăn ngừa tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng Theo kết quảthực tế cho thấy, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của nhà nước vềquản lý chất lượng công trình thì ở đó chất lượng công trình tốt
Công trình xây dựng khác với sản phẩm hàng hoá thông thường khác vìcông trình xây dựng được thực hiện trong một thời gian dài do nhiều ngườilàm, do nhiều vật liệu tạo nên chịu tác động của tự nhiên rất phức tạp Vì vậy,việc nâng cao công tác quản lý CLCTXD là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cốthì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người và của, đồng thời cũng rất khó khắcphục hậu quả
Nâng cao công tác quản lý CLCTXD là góp phần nâng cao chất lượngsống cho con người Vì một khi CLCTXD được đảm bảo, không xảy ranhững sự cố đáng tiếc thì sẽ tích kiệm được rất nhiều cho ngân sách quốc gia
Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội,nâng cao đời sống cho nhân dân, hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo
Trang 271.3.4 Mục tiêu và phương hướng phát triển chung của ngành xây dựng trong những năm tới.
1.3.4.1 Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của ng nh xây d à ựng trong giai đoạn tới.
Năm 2008 là năm bản lề của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, với chỉ tiêutăng trưởng được Quốc hội thông qua là 9%, với quyết tâm của Chính phủ làphấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản của Kế hoạch 5 năm ngay trong năm
2008 Năm 2008 còn là năm Kỷ niệm 50 năm thành lập Ngành Xây dựng ViệtNam, phát huy những thành tựu đã đạt được, toàn ngành đẩy mạnh phong tràothi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2008
Phát huy những thành tựu đã đạt được, mục tiêu đề ra cho năm 2008 vànhững năm tiếp theo là: "Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiếntrong khu vực, cả trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật liệu xây dựng, kiếntrúc và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở; đầu tư trang thiết bịtiên tiến, nhanh chóng tiếp cận và làm chủ các công nghệ xây dựng hiện đạitrong thi công xây lắp các công trình lớn và phức tạp như: công trình thủyđiện, nhiệt điện, nhà cao tầng, công trình có khẩu độ hoặc chiều cao lớn, cầu,hầm, công trình ngầm, công trình dầu khí, v.v ; phấn đấu đạt giá trị tăng thêm
từ 10 đến 10,2%/năm"
Nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành xây dựng trong giai đoạn mới
là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả và sứccạnh tranh của doanh nghiệp, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ chủyếu là:
Tiếp tục tổ chức thực hiện các Định hướng phát triển đô thị đến năm
2020 nhằm thực hiện sắp xếp lại hệ thống đô thị trên địa bàn cả nước
Trang 28Tập trung thực hiện Chương trình phát triển nhà ở đến năm 2020, phấnđấu năm 2008 đạt từ 30 đến 32 triệu m2 sàn nhà ở, nâng diện tích bình quânlên trên 12 m2 sàn/người theo nghị quyết của kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóaXI.
Hoàn thành việc Ðiều chỉnh Quy hoạch tổng thể ngành vật liệu xây dựngViệt Nam đến năm 2020, Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sảnlàm VLXD đến năm 2010, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1-2007.Tiếp tục thực hiện Quy hoạch phát triển công nghiệp xi-măng đến năm 2020,đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy xi-măng; năm 2008 sản lượng xi-măng dự kiến 40 triệu tấn, tăng 10,4% so với năm 2007
Tập trung chỉ đạo chương trình cơ khí, lựa chọn và đầu tư vào các thiết
bị công nghệ hiện đại với mức độ tự động hóa cao, nhằm chế tạo một số cácthiết bị, sản phẩm cơ khí và phụ tùng thiết bị xây dựng quan trọng, thay thếcác sản phẩm nhập ngoại như: các thiết bị nhiệt điện, thủy điện có công suấttrung bình đến 50MW, dây chuyền xi-măng 2.500 tấn/ngày, dây chuyềnVLXD, thang máy, thang cuốn, cần cẩu, máy xúc, máy ủi
Quan tâm đầu tư vào trang thiết bị tiên tiến, nhanh chóng tiếp cận, đổimới và làm chủ các công nghệ xây dựng hiện đại trong thi công xây lắp, nângcao năng lực tham gia thực hiện các dự án, công trình xây dựng có quy môlớn, phức tạp ở trong nước và ngoài nước Tăng cường công tác quản lý chấtlượng công trình xây dựng, công tác an toàn trong xây dựng
Tiếp tục đẩy nhanh việc sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệpnhà nước, hình thành một số tập đoàn mạnh trong các lĩnh vực chủ yếu nhưcông nghiệp xây dựng, công nghiệp xi-măng, phát triển đô thị và bất độngsản đủ năng lực để cạnh tranh với các doanh nghiệp, nhà thầu nước ngoàitrong việc thực hiện các dự án lớn đồng thời có khả năng vươn ra nhận thầu
Trang 29các công trình lớn ở nước ngoài Phấn đấu giá trị sản xuất kinh doanh đạt125.165 tỷ đồng, với mức tăng trưởng 21,5%; giá trị thực hiện đầu tư là49.000 tỷ đồng
1.3.4.2 Mục tiêu cụ thể cho vấn đề chất lượng công trình xây dựng.
Điều này được thể hiện rất rõ trong Chỉ thị số 06/CT-BXD ban hànhngày 27 tháng 4 năm 2006 về tiếp tục phát triển và nâng cao hiệu quả cuộcvận động “Đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình, sản phẩm xây dựng”trong kế hoạch 5 năm (2006 – 2010)
Phấn đấu đến năm 2010, 100% các DN đều có hệ thống quản lý chấtlượng phù hợp với tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO – 9000
Không ngừng đổi mới nâng cao công tác tổ chức, điều hành quản lýdoanh nghiệp áp dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến, đầu tư thiết bị hiện đạiphục vụ sản xuất kinh doanh, thực hiện nghiêm túc các quy trình công nghệsản xuất, đảm bảo an toàn, tiến độ, chất lượng và hiệu quả
Phấn đấu tất cả các công trình xây dựng, sản phẩm vật liệu xây dựng, cơkhí xây dựng, sản phẩm thiết kế, tư vấn của các DN đều được đăng ký, thựchiện đạt yêu cầu chất lượng và chất lượng cao theo tiêu chuẩn Việt Nam vàquốc tế
1.3.4.3 Hướng dẫn cụ thể cho vấn đề chất lượng công trình xây dựng.
Chỉ thị số 06/CT-BXD ban hành ngày 27 tháng 4 năm 2006 cũng nêurõ:
1 - Tất cả các DN phải quán triệt và thực hiện đầy đủ các qui định củaLuật Xây dựng cũng như các văn bản hướng dẫn của các cơ quan quản lý Nhànước về quản lý chất lươợng công trình, sản phẩm xây dựng Xây dựng được
hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO –
Trang 309000 để chủ động tự kiểm soát chất lượng các giai đoạn công việc từ ngườicông nhân trực tiếp đến các cấp quản lý kỹ thuật chất lượng của DN cho từngcông trình xây dựng, sản phẩm xây dựng.
2 - Thông qua các công trình, sản phẩm đăng ký đảm bảo chất lượng caophải tổ chức phổ biến, tuyên truyền ngay từ đầu đến từng tổ chức cá nhân làmviệc tại các công trình, trong từng dây chuyền sản xuất biết và chấp hànhnghiêm chỉnh các qui định đảm bảo chất lượng và an toàn lao động, phòngchống cháy nổ trong suốt quá trình làm ra sản phẩm
3 - Trong mỗi công trình xây dựng, sản phẩm xây dựng đăng ký phải cónội dung chiều sâu, đổi mới công nghệ đi đôi với đào tạo mới, đào tạo lại độingũ công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý v.v nhằm không ngừng nângcao sức cạnh tranh của DN và hiệu quả kinh tế Nhất thiết không sử dụng laođộng không được đào tạo vào những công việc có yêu cầu chuyên môn kỹthuật
4 - Qua cuộc vận động cải tiến, đổi mới công tác khen thưởng, nhằmđộng viên kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong cuộcvận động, cũng như đánh giá, công nhận những công trình, sản phẩm đạt chấtlượng cao ở mỗi cấp
5 - Xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức, lao động ngành xâydựng theo hướng chuyên nghiệp hoá và chuyên môn hoá, đảm bảo yêu cầu đãđược xác định trong Chỉ thị số 08/2005/CT-BXD ngày 31/10/2005 của Bộtrưởng Bộ Xây dựng về tổ chức cuộc vận động “Xây dựng và phát triển lựclượng CNVC-LĐ ngành Xây dựng trong tình hình mới”
1.3.5 Các điều lệ trong quản lý chất lượng công trình xây dựng.
(Ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ xây dựng số102/BXD-GD ngày 15-6-1992)
Trang 31Điều 3: Nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng của các đơn vị sản xuất.
1 Có tổ chức thích hợp để kiểm tra, quản lý chất lượng sản phẩm, côngtrình xây dựng một cách có hệ thống
2 Các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng, hàng hoá, thiết bị dùng trongcác công trình xây dựng chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm và quản lýchất lượng theo quy định của Nhà nước
3 Các đơn vị khảo sát, thiết kế, xây lắp phải có quy trình quản lý chấtlượng sản phẩm phù hợp, chịu trách nhiệm trước pháp luật về phần việc củamình trong công trình xây dựng, phải quy định thời gian bảo hành Quá trìnhđưa công trình vào sử dụng, sản xuất, nếu có sự cố lớn trong lúc tuổi thọ côngtrình vẫn còn, các đơn vị khảo sát, thiết kế, xây lắp vẫn bị truy cứu tráchnhiệm nếu nguyên nhân sự cố đó là do vi phạm chất lượng khảo sát, thiết kế,xây lắp gây ra
4 Các đơn vị là chủ đầu tư công trình xây dựng:
a Công trình thuộc sở hữu Nhà nước - Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản
lý chất lượng công trình xây dựng một cách toàn diện Nếu không đủ trình độ
Trang 32về kỹ thuật xây dựng phải thuê tổ chức (hoặc cá nhân) có đủ điều kiện chuyênmôn để quản lý chất lượng công trình.
b Công trình thuộc các sở hữu khác Chủ đầu tư nếu không đủ trình độ
về kỹ thuật xây dựng phải thuê tổ chức (hoặc cá nhân) có đủ điều kiện chuyênmôn thực hiện xây dựng và quản lý chất lượng công trình Chủ đầu tư chịutrách nhiệm trước pháp luật về thủ tục xây dựng bảo vệ môi trường, an toàncho người và phòng chống cháy
Điều 4: Công trình đạt tiêu chuẩn chất lượng xây dựng để được nghiệm
thu, cấp giấy sử dụng, phải có đủ các yêu cầu tối thiểu sau:
1 Hồ sơ nghiệm thu chất lượng từng phần việc và toàn bộ công trình, hồ
sơ hoàn công; hồ sơ hướng dẫn sử dụng, giấy bảo hành, giấy phép đưa côngtrình vào sử dụng
2 Công trình được xây dựng theo quy hoạch và các quy định trong giấyphép xây dựng
3 Thiết kế kỹ thuật đúng quy trình quy phạm và đáp ứng yêu cầu củaluận chứng kinh tế kỹ thuật, báo cáo kinh tế kỹ thuật được duyệt hoặc yêu cầuxây dựng đặt ra
4 Vật liệu xây dựng, trang thiết bị đưa vào công trình phải đảm bảo chấtlượng, đúng theo thiết kế quy hoạch
5 Thi công xây lắp đúng tiêu chuẩn quy trình kỹ thuật, đúng giấy phépxây dựng, đúng thiết kế kỹ thuật được duyệt
Điều 5: Phạm vi và đối tượng áp dụng bản điều lệ.
1 Phạm vi ở tất cả các công trình xây dựng, không phân biệt quy mô,xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, không phân biệt nguồn vốn, hình thức đầu
tư, hình thức sở hữu đều phải tuân thủ các quy dịnh của bản điều lệ này
Trang 332 Đối tượng: áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phầnkinh tế, kể cả các tổ chức, cá nhân người nước ngoài đến hành nghề xây dựng
ở Việt Nam
Điều 6: Để đảm bảo chất lượng công trình xây dựng, nghiêm cấm.
1 Mọi hành vi gian dối về chất lượng công trình xây dựng
2 Sử dụng các têu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành đã hết hiệu lực,các tiêu chuẩn của nước ngoài khi chưa được cơ quan có thẩm quyền chophép
3 Sử dụng những người không có chuyên môn, không đúng chuyênngành để quản lý chất lượng công trình xây dựng
4 Bàn giao đưa vào sử dụng từng bộ phận hoặc toàn bộ công trình khichưa được nghiệm thu
5 Mọi tổ chức, cá nhân không có giấy phép hành nghề thực hiện kinhdoanh xây dựng (bao gồm khảo sát, thiết kế, xây lắp, kiểm tra kỹ thuật)
Điều 7: Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia công tác xây
1.3.5.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Ban hành và áp dụng tiêu chuẩn
Trang 34Điều 8: Tiêu chuẩn xây dựng là văn bản pháp chế kỹ thuật, quy định quy
cách, chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp thử, kiểm định chất lượng sảnphẩm xây dựng công trình xây dựng trong các giai đoạn chuẩn bị đầu tư,chuẩn bị xây dựng, xây lắp, nghiệm thu bàn giao và sử dụng công trình
Điều 9: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) trong xây dựng gồm tiêu chuẩn
Việt Nam bắt buộc áp dụng và tiêu chuẩn Việt Nam khuyến khích áp dụng
1 Các tiêu chuẩn Việt Nam bắt buộc áp dụng là tiêu chuẩn liên quan đến
ổn định độ bền, tuổi thọ, an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, phòng chốngcháy công trình Các tổ chức, cá nhân hành nghề xây dựng bắt buộc phải camkết áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành (TCN) khi ký kết hợpđồng xây dựng với các chủ đầu tư công trình
2 Các tiêu chuẩn khuyết khích sử dụng là tiêu chuẩn nhằm nâng caochất lượng công trình xây dựng, có các chỉ tiêu chất lượng cao hơn quy địnhcủa tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành
3 Hai năm một lần Bộ Xây dựng công bố bằng văn bản danh mục cáctiêu chuẩn Việt Nam , tiêu chuẩn ngành bắt buộc áp dụng trong xây dựng.Trường hợp cần sử dụng tiêu chuẩn của nước ngoài phải được Bộ Xây dựngthoả thuận
Quản lý chất lượng đối với công tác thiết kế xây dựng
Điêu 14 Việc thẩm tra và xét duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán công
trình xây dựng phải được tiến hành theo phân cấp đã được quy định ở Điều 18của Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản theo Nghị định 385-HĐBT và theo vănbản hướng dẫn của Bộ Xây dựng
Điều 15 Chỉ tổ chức thiết kế mới có quyền sửa đổi thiết kế khi cần thiết
nhưng các sửa đổi đó không được khác cơ bản với thiết kế kỹ thuật đã được
Trang 35cấp có thẩm quyền phê duyệt Các thay đổi cũng phải qua thủ tục kiểm tra,xét duyệt theo quy định.
Điều 16 Nghiêm cấm những việc làm sau:
1 Thiết kế kỹ thuật mà không có tài liệu khảo sát, đo đạc hoặc dùng tàiliệu khảo sát đo đạc không được xác thực; thiết kế các công trình chưa có luậnchứng kinh tế kỹ thuật hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật được duyệt
2 Giao bản vẽ mà không qua kiểm tra chất lượng, không đủ dấu tự kiểmtra
3 Gian dối trong việc tính tổng dự toán, Cố tình tính sai khối lượng,nâng đơn giá
4 Trốn tránh kiểm tra, xét duyệt chất lượng thiết kế
Quản lý chất lượng trong công tác xây lắp
Điều 17 Tổ chức xây lắp khi tiến hành công tác xây lắp phải được đảm
bảo theo đúng thiết kế, quy trình, quy phạm tiêu chuẩn Nhà nước, theo đúnghợp đồng Phải tổ chức kiểm tra chất lượng nội bộ, tạo điều kiện cho việcgiám sát tác giả của phía thiết kế, giám sát kỹ thuật của chủ đầu tư
Điều 18 Trong quá trính thực hiện hợp đồng tổ chức xây lắp phải:
1 Làm đầy đủ hồ sơ, sổ sách ghi chép, thí nghiệm, hồ sơ hoàn công theođúng quy định
2 Báo cáo với chủ đầu tư và cơ quan quản lý chất lượng xây dựng khiphát hiện các sai sót
3 Có trách nhiệm, tổ chức kiểm tra tại chỗ lúc thi công bộ phận côngtrình ấn dấu, bộ phận có kết cấu phức tạp đòi hỏi trình độ kỹ thuật và côngnghệ cao
Trang 364 Giữ gìn, bảo quản tốt bản vẽ thi công các hồ sơ kỹ thuật làm tài liệuhoàn công và lưu trữ.
Điều 19 Nghiêm cấm những việc làm sau:
1 Sử dụng các nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc, trang thiết bịkém phẩm chất, không phù hợp chủng loại hoặc không đủ số lượng theo quyđịnh của thiết kế đưa vào công trình
2 Không làm đủ thí nghiệm theo yêu cầu đối với các khâu công việc vàsản phẩm, gian dối kết quả thí nghiệm
3 Gian dối khối lượng, chất lượng trong thanh quyết toán
4 Trốn tránh việc kiểm tra, thanh tra, nghiệm thu chất lượng xây lắp
5 Thi công xây lắp các công trình chưa có thiết kế và dự toán đượcduyệt
Nghiệm thu – bàn giao công trình xây dựng
Điều 20 Việc nghiệm thu và bàn giao công trình xây dựng giữa chủ đầu
tư và tổ chức xây lắp phải làm ngay sau khi làm xong từng khâu công việcchủ yếu, từng bộ phận công trình từng hạng mục công trình hay toàn bộ côngtrình như Điều 32 Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản theo Nghị định 385-HĐBT và tiêu chuẩn Việt Nam đã quy định Cơ quan có thẩm quyền chỉ cấpgiấy phép sử dụng công trình khi công trình đã dược nghiệm thu, bàn giaohợp thức
Quản lý chất lượng trong quá trình sử dụng công trình
Điều 22 Việc sử dụng công trình đã bàn giao phải theo đúng công năng
và các yêu cầu đặt ra trong luận chứng kinh tế kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật đãđược cấp có thẩm quyền phê duyệt, không được tự ý thay đổi công năng hoặccải tạo, mở rộng làm thay đổi cơ bản kiến trúc, kết cấu công trình
Trang 37Điều 23 Chủ công trình có trách nhiệm tổ chức quan trắc biến dạng
công trình, thực hiện chế độ theo dõi, duy trì bảo quản sửa chữa công trìnhthường xuyên theo quy định đối với những công trình quan trọng và có kỹthuật phức tạp
Khi công trình xây dựng có sự cố, biến dạng hư hỏng cục bộ, sụp đổ, chủcông trình phải có văn bản ngay với cơ quan quản lý xây dựng sở tại theo quyđịnh của Nhà nước để tổ chức điều tra, xác định nguyên nhân
Điều tra, giám định sự cố công trình
Điều 24 Tất cả các công trình xây dựng đang thi công, đã xây dựng
xong hoặc đang sử dụng, khi xảy ra sụp đổ một bộ phận hoặc toàn bộ côngtrình không được tuỳ tiện thu dọn xoá bỏ hiện trường khi chưa làm xong cácyêu cầu về thu thập, ghi chép, đo, chụp, làm tài liệu phục vụ việc điều tra,phân tích nguyên nhân sự cố và quy kết trách nhiệm theo quy định
Việc điều tra, giám định sự cố công trình phải được tiến hành theo đúngquy định do Bộ Xây dựng ban hành
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TẠI CÔNG TY TÂY HỒ.
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TÂY HỒ VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG KINH TẾ CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Tây Hồ.
Trong tiến trình hội nhập và phát triển của cả nước nói chung và củangành xây dựng nói riêng, nhiều công ty xây dựng được thành lập và mở rộng
để phục vụ cho công cuộc đô thị hóa đất nước Tuy nhiên đối với những côngtrình dự án lớn tầm quốc gia thì các doanh nghiệp tư nhân chưa đủ sức đểđảm nhận Trước nhu cầu cấp thiết đó, ngày 18 tháng 4 năm 1996 Bộ trưởng
Bộ Quốc Phòng ra quyết định 505/QĐ_QP sát nhập doanh nghiệp Công tyTây Hồ và Công ty xây dựng 232, thành lập Công ty Tây Hồ thuộc Tổng CụcCông Nghiệp Quốc Phòng với số vốn ban đầu là 3.790 triệu đồng Công ty có
số đăng ký kinh doanh 010600102 do sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố HàNội cấp ngày 30/12/2003
Quyết định thành lập Công ty Tây Hồ do Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng banhành dựa trên những văn bản chủ yếu sau:
- Nghị định số 15/CP ngày 02 tháng 03 năm 1993 của chính phủ vềnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quanngang Bộ
- Luật doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 4 năm 1995
Trang 39- Thông cáo số 1119ĐMDN/TB ngày 13 tháng 3 năm 1996 của chínhphủ
* Trụ sở của Công ty Tây Hồ:
- Từ lúc thành lập đến năm 1998: Công ty ở số 34A – Đường Trần Phú –
- Xây dựng các công trình Công nghiệp, dân dụng, giao thông, thủy lợi,
hạ tầng kỹ thuật, trang trí nội ngoại thất Xây dựng đường dây và trạm biếnáp
- Đầu tư phát triển hạ tầng và kinh doanh nhà
- Lắp đặt thiết bị công trình, dây truyền sản xuất
- Khảo sát thiết kế và tư vấn xây dựng
- Khoan, khảo sát và khai thác giếng nước ngầm, lắp đặt hệ thống cấpthoát nước
- Khai thác kinh doanh đất đá, cát, sỏi
- Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, vật tư thiết bị xây dựng, vật tưthanh xử lý
Trang 40- Chế biến gỗ, sản xuất đồ mộc các loại.
- Sản xuất và kinh doanh xi măng
- Nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu, vật liệu xây dựngphục vụ sản xuất kinh doanh của công ty
Triết lý kinh doanh của Công ty là: luôn lấy trách nhiệm và chất lượng làmục tiêu cao nhất trong quản lý và kinh doanh của mình
Từ khi ra đời đến nay, Công ty Tây Hồ có rất nhiều thay đổi, với nhữngmốc lịch sử đáng nhớ :
- Ngày 30/4, nâng cấp đội xây dựng số 5 thành xí nghiệp xây dựng 497
- Ngày 22/7, thành lập xí nghiệp xây dựng giao thông 797
- Ngày 8/8, thành lập xí nghiệp xây dựng 897 trên cơ sở sát nhập các độixây dựng số 1,2,3
- Ngày 26/10, thành lập xí nghiệp xây lắp điện nước
Năm 1999:
- Ngày 10/9, chuyển trụ sở Công ty từ 34 A Trần Phú_Ba Đình_ Hà Nội
về Đường Hoàng Quốc Việt_Cầu Giấy_Hà Nội