1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Goi dong co hoat dong trong day hoc chuong trinh con

50 495 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 407,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của loài người nhằm truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm, những hiểu biết của xã hội loài người đã tích lũy được. Hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc rất nhiều yếu tố, song yếu tố mang tính chất then chốt để nâng cao chất lượng là phương pháp dạy học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học được xác định trong nghị quyết Trung Ương 4 khóa VII, nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII, được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005) và được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Trong luật có ghi: “Đổi mới phương pháp giảng dạy là một vấn đề lớn của ngành giáo dục nước ta hiện nay. Phải phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác chủ động tư duy sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học và môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức và thực tiễn, tác dụng đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thí học tập của học sinh”. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

Trang 1

2 Trong nghiệp vụ của người thầy giáo có hai vấn đề quan trọng: thứ nhất là thực tiễn về tiềm năng - những kiến thức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản Thứ hai là thực tiễn về nghiệp vụ - thầy giáo phải biết cách truyền thụ kiến thức phù hợp với trình độ của học sinh Trong đó, thực tiễn thứ hai là điều quyết định trong nghiệp vụ của thầy giáo, nó đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy giáo Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhất với nhau Thầy giáo không thể mang hết các kiến thức lý thuyết cao xa và trừu tượng dạy cho học sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầy giáo hiểu biết quá

có thể thấy định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định, không

Trang 2

còn là vấn đề tranh luận Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

2.2 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh là một quá trình lâu dài; không thể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên

từ bỏ được kiểu dạy học truyền thụ kiến thức, tiếp thu thụ động đã quen thuộc từ lâu việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là bản thân mỗi giáo viên cần có một sự nỗ lực để tìm tòi, sáng tạo trong công tác giảng dạy của mình

2.3 Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề hết sức quan trọng, nhất là với bộ môn Tin học hiện đang được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn này, theo em không phải cứ tìm được nhiều bài toán khó, bài toán hay để giảng dạy cho học sinh Mà vấn đề đặt ra là chúng

ta cần phải tích cực tìm tòi, sáng tạo trong việc đưa ra những bài toán đó để giúp cho học sinh có sự hứng thú, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giài quyết học tập,

từ đó biết vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể ngoài thực tế

3 Trong việc giảng dạy cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản Thầy giáo còn phải biết kích thích tính tích cực, sự sáng tạo say

mê học hỏi của học sinh trong việc học tập của các em Bởi vì, việc học tập tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt các mục tiêu đó Điều này được thực hiện trong dạy học không chỉ đơn giản

bằng việc nêu rõ mục tiêu mà quan trọng hơn còn do gợi động cơ

4 Turbo Pascal là ngôn ngữ lập trình có cấu trúc, nó được dùng phổ biến ở

nước ta hiện nay trong công tác giảng dạy, lập trình tính toán, đồ họa Turbo Pascal được dùng trong chương trình giảng dạy Tin học ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông

4.1 Trong các vấn đề về Tin học được đưa vào giảng dạy ở chương trình bậc

học phổ thông hiện nay Khi nói đến vấn đề dạy học lập trình cho học sinh, vấn

Trang 3

đề dạy học cho học sinh về chương trình con là một trong những vấn đề chiếm vai trò quan trọng Bởi vì, sử dụng chương trình con để hợp lý hóa, tiết kiệm công sức lập trình Đồng thời, chương trình con có thể giúp cho người lập trình

dễ sửa chữa, dễ kiểm tra Vấn đề đặt ra là: gợi động cơ hoạt động cho học sinh khi giảng dạy về chương trình con như thế nào? Đó chính là vấn đề mà bản thân

em hết sức quan tâm

4.2 Để thực hiện được điều đó, theo em chúng ta cần phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những bài toán phù hợp, kích thích được sự độc lập, tích cực của học sinh trong học tập Trên cơ sở đó, học sinh có thể tự mình tìm ra được những ý tưởng sáng tạo vận dụng thiết thực vào cuộc sống thực tế khi nhu cầu nảy sinh, khi đó các em có thể tự mình hoàn thành được ý tưởng đó

4.3 Trên cơ sở những gì mà học sinh được học tập về môn lập trình Pascal, học sinh có thể sử dụng một cách thành thạo các ngôn ngữ khác để hoàn thành tốt hơn những ứng dụng trong thực tế Bởi vì, ngôn ngữ Pascal có tính cấu trúc mạnh, có cơ sở và nó đòi hỏi chương trình phải chặt chẽ, logic Đặc biệt, khi học

về chương trình con, học sinh có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về ngôn ngữ lập trình, nhìn nhận vấn đề một cách sáng sủa hơn, chặt chẽ hơn và nhất là chương trình con có thể giúp cho các em hoàn thành những chương trình lớn hơn vượt ra những bài toán bình thường mà nội bộ môn học đòi hỏi Chính vì vậy, việc gợi động cơ cho học sinh trong việc dạy học chương trình con là một công việc quan trọng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo giúp cho học sinh nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, sáng tạo hơn và nhất là giúp cho các em

có thể yêu thích nhiều hơn nữa ngôn ngữ lập trình Pascal

Với tất cả những lý do nêu trên, em quyết định chọn đề tài này

Trang 4

II Định hướng nghiên cứu

1 Mục đích nghiên cứu

Tạo động cơ cho học sinh ý thức về ý nghĩa của các hoạt động khi sử dụng chương trình con trong công việc lập trình Từ đó, học sinh có thể liên hệ , vận dụng sáng tạo vào giải quyết các bài toán lập trình và các tình huống thực tế

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu các vấn đề về chương trình con của ngôn ngữ lập trình Pascal, các tài liệu về phương pháp giảng dạy Từ đó, đưa ra các biện pháp có thể gợi động cơ hoạt động cho học sinh thông qua các ví dụ cụ thể về chương trình con

III Phương pháp nghiên cứu

1 Nghiên cứu lý luận

Trong nghiên cứu lý luận người ta dựa vào những tài liệu sẵn có, những lý

thuyết đã được khẳng định, những thành tựu của nhân loại trên những lĩnh vực khác nhau như Tâm lý học, Giáo dục học, Tin học, để xem xét vấn đề, tìm ra giải pháp hợp lý có sức thuyết phục vận dụng vào PPDH Tin học

Người ta cũng nghiên cứu cả những kết quả của bản thân chuyên ngành PPDH Tin học để kế thừa những cái hay, phê phán và gạt bỏ những cái dở, bổ xung và hoàn chỉnh những nhận thức đã đạt được

Những hình thức thường dùng trong nghiên cứu lý luận là:

- Phân tích tài liệu lý luận : Giúp chúng ta chọn đề tài, đề ra mục đích nghiên

cứu, hình thành giả thuyết khoa học, xác định tư tưởng chủ đạo và đánh giá sự kiện Khi nghiên cứu lý luận, ta cần phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát để tìm

ra ý mới Cái mới ở đây có thể là một lý thuyết hoàn toàn mới, nhưng cũng có thể

là một cái mới đan kết với những cái cũ, có thể là một sự tổng hợp những nét riêng lẻ đã chứa trong cái cũ, nêu bật cái bản chất từ những cái cũ, bổ xung, cụ thể hóa lý thuyết cũ

Trang 5

- So sánh quốc tế : Giúp chúng ta lựa chọn, xây dựng phương án tác động giáo

dục trên cơ sở đánh giá, so sánh tài liệu, cách làm của những nước khác nhau

- Phân tích tiên nhiệm : Thường dựa vào những yếu tố lịch sử, những cách tiếp

cận khác nhau của một lý thuyết, những cách định nghĩa khác nhau của một khái niệm, để dự kiến những quan niệm có thể có của học sinh về một kiến thức Tin học Nó cũng được dùng để kiểm nghiệm một hiện tượng, một quá trình có thỏa mãn những tiêu chuẩn, yêu cầu, điều kiện đặt ra hay không

2 Quan sát - điều tra

Quan sát điều tra được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục Đó là phương pháp tri giác có mục đích một hiện tượng giáo dục nào đó để thu lượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng mà ta dự định khảo sát Chúng ta quan tâm đến chất lượng của các mối quan hệ, của các hoạt động, của tình huống Điều tra giống quan sát ở chỗ cùng dựa vào và khai thác những hiện tượng có sẵn, không chủ động gây nên những tác động sư phạm, nhưng quan sát thiên về xuất phát từ những dấu hiệu bên ngoài, còn điều tra có thể khai thác những thông tin sâu kín từ bên trong, chẳng hạn cho làm những bài kiểm tra rồi đánh giá

Quan sát - điều tra giúp chúng ta theo dõi hiện tượng giáo dục theo trình tự thời gian, phát hiện những biến đổi số lượng, chất lượng gây ra do tác động giáo dục Nó giúp ta thấy được những vấn đề thời sự cấp bách đòi hỏi phải nghiên cứu hoặc góp phần giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu Môi trường tự nhiên là nguồn cung cấp dữ liệu trực tiếp cho ta Người nghiên cứu đến trực tiếp một nơi nào đó

mà họ quan tâm để quan sát và thu thập dữ liệu, bởi vì các hoạt động chỉ có thể hiểu tốt nhất là trong môi trường tự nhiên, trong ngữ cảnh mà chúng xuất hiện Quan sát - điều tra thực tiễn sư phạm, chẳng hạn thăm lớp dự giờ sẽ giúp chúng ta nhận thức được thực trạng dạy học Tin, phát hiện được những vấn đề thời sự cấp bách cần nghiên cứu, giúp ta thu được những tài liệu sinh động và bổ ích cho nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 6

Theo mối quan hệ giữa đối tượng quan sát - điều tra với người nghiên cứu thì

có các dạng quan sát - điều tra trực tiếp, gián tiếp, công khai, kín đáo Theo dấu hiệu về thời gian thì có quan sát - điều tra liên tục, gián đoạn

Quan sát - điều tra cần có mục đích cụ thể (chẳng hạn để thấy được hoạt động tích cực của học sinh trong giờ học), có nội dung cụ thể (chẳng hạn sự gây động

cơ và hướng đích của giáo viên, số lượng học sinh giơ tay xin phát biểu, số lượng câu hỏi, chất lượng câu trả lời của học sinh thể hiện sự suy nghĩ sâu sắc hay hời hợt, sự tập trung chú ý thể hiện qua hướng nhìn, cử chỉ, ) và có tiêu chuẩn đánh giá, đo lường các kết quả quan sát cụ thể (chẳng hạn một giờ như thế nào được đánh giá là học sinh hoạt động rất tích cực, khá tích cực, kém tích cực) Các loại

dữ liệu thu thập được trong nghiên cứu bao gồm văn bản ghi chép các cuộc phỏng vấn, các sổ ghi chép, ảnh, băng hình, ghi âm, phiếu điều tra, nhật ký, giúp ta dựng lại một cách đầy đủ những gì mà ta đã quan sát được, giúp ta lý giải được vì sao họ lại nghĩ như thế, tại sao họ lại làm như vậy?,

Trong khi quan sát - điều tra diễn biến thực của những hiện tượng sư phạm, có khi người ta tình cờ phát hiện ra những sự kiện, hiện tượng sư phạm mới ngoài

dự kiến ban đầu

cụ thể hóa một cách sáng tạo tư tưởng, luận điểm, lý luận giáo dục đã đi vào cuộc sống Trong quá trình nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm, có khi người ta khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật của những hiện tượng giáo dục

Những kinh nghiệm cần được đặc biệt chú ý là kinh nghiệm tiên tiến, kinh nghiệm thành công và kinh nghiệm lặp lại nhiều lần Kinh nghiệm giáo dục ở những đơn vị tiên tiến có thể được coi là dạng lý luận giáo dục đã được kiểm

Trang 7

chứng trong thực tiễn, trong những tình huống, điều kiện cụ thể của môi trường giáo dục Những bài học của sự thành công cần được đề cập với tư cách là cứ liệu đối chiếu, so sánh làm rõ kinh nghiệm thành công Chúng cần được xem xét một cách khách quan, khoa học, biện chứng theo tính lịch sử của vấn đề rút ra những kết luận có tính thuyết phục, có độ Tin cậy cao Qua tổng kết kinh nghiệm, chúng

ta có được những bài học kinh nghiệm hàm chứa những tri thức, thông Tin, kỹ năng, những giải pháp, biện pháp về hướng đi và cách làm mới có giá trị, đem lại hiệu quả, chất lượng cao hơn trong điều kiện đổi mới giáo dục của đất nước hiện nay

Tổng kết kinh nghiệm phải có lý luận soi sáng, giải thích tính chất hợp lý, phù hợp với những quy luật đã được khẳng định thì mới có thể thoát khỏi những sự kiện lộn xộn, những kinh nghiệm vụn vặt, hời hợt không có tính phổ biến, mới loại bỏ được những yếu tố ngẫu nhiên, đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đạt tới những kinh nghiệm có giá trị khoa học đích thực Chỉ khi đó tổng kết kinh nghiệm mới thật sự là một phương pháp nghiên cứu khoa học hữu hiệu Những bài học kinh nghiệm, những kết luận về lý luận giáo dục góp phần bổ xung, làm cho lý luận giáo dục được hoàn thiện hơn, mang tính thực tiễn cao hơn, tránh được tình trạng lý luận suông Bài học kinh nghiệm giáo dục phải bảo đảm có được một sự khái quát nhất định, mang tính khoa học với tính lý luận cụ thể và đặc biệt phải mang tính thực tiễn cao

Bài học kinh nghiệm cần trình bày theo trình tự sau:

- Tên bài học kinh nghiệm

- Nêu bối cảnh xuất hiện vấn đề mà khi giải quyết dẫn đến bài học kinh nghiệm

- Những kết quả đạt được gắn với nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống biện pháp đã vận dụng đạt kết quả cao

- Đánh giá tác dụng, hiệu quả của bài học kinh nghiệm, đưa ra nhận định có tính khái quát về bài học mang tính lý luận

Trang 8

Tổng kết kinh nghiệm không chỉ đơn giản là trình bày lại những công việc đã làm và những kết quả đã đạt được Là một phương thức nghiên cứu khoa học, nó phải được tiến hành theo một quy trình nghiêm túc, thường là như sau:

Phát hiện cần đảm bảo cả về mặt định tính và phần nào về mặt định lượng, tức

là phải thu thập đủ về dữ liệu, tư liệu về sự kiện, việc làm, các hoạt động đã tiến hành đạt kết quả cao nhất Trong đó cần chú trọng đến những dữ liệu, tư liệu, thông tin mà nội dung của chúng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả với nguyên nhân và biện pháp Những bước của quá trình phát hiện có thể là:

- Nêu mục đích yêu cầu phát hiện

- Triển khai những hình thức phát hiện

- Thẩm định, bổ sung thông tin

- Tiến hành xử lý thông tin

Liệt kê sự kiện, mô tả quá trình

Tước bỏ những yếu tố ngẫu nhiên làm bộc lộ cái bản chất

Phát hiện mối quan hệ nhân quả

Dùng lý luận soi sáng

Dùng thực nghiệm kiểm chứng

Trang 9

Khi tiến hành xử lý thông tin phải căn cứ vào cái có thực thu được qua quá trình khảo sát, phát hiện thu thập được Dùng lý luận để phân tích các tư liệu, số liệu rút ra được từ thực tiễn Rút ra bài học kinh nghiệm dưới dạng khái quát mang tính lý luận hay khẳng định về mặt lý luận và thực tiễn Trong quá trình xử

lý, cần áp dụng những thao tác tư duy khoa học, trừu tượng hóa các yếu tố ngẫu nhiên, tìm ra tính đặc thù, tất yếu mà chúng đã thể hiện trong bối cảnh, hoàn cảnh

sự điều khiển của nhà nghiên cứu Nhà nghiên cứu tổ chức quá trình giáo dục một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, tự giác thiết lập và thay đổi những điều kiện thực nghiệm cho phù hợp với ý đồ nghiên cứu của mình

Trong những điều kiện nhất định, thực nghiệm giáo dục cho phép ta khẳng định hoặc bác bỏ một giả thuyết khoa học đã đề ra

Trong thực nghiệm giáo dục ta cần giải thích rõ kết quả, làm rõ nguyên nhân bằng lý luận hoặc bằng sự phân tích quá trình thực nghiệm

Thực nghiệm giáo dục là một phương pháp nghiên cứu rất có hiệu lực, song thực hiện nó rất công phu, rất khó khăn Khó khăn là do chúng ta thực hiện một tác động lên những con người cụ thể, kết quả thu được phụ thuộc vào nhiều yếu

tố tâm lý Những kết quả thực nghiệm thường chỉ có ý nghĩa xác suất, phải xử lý bằng phương pháp thống kê Để thống kê cho kết quả Tin cậy, cần phải đo lường, định lượng được các dấu hiệu, đó là việc làm không dễ Vì thế ta không nên lạm dụng phương pháp thực nghiệm giáo dục Khi nghiên cứu một hiện tượng giáo

Trang 10

dục, trước hết có thể dùng những phương pháp không đòi hỏi quá nhiều công sức,

ví dụ như nghiên cứu lý luận, quan sát, tổng kết kinh nghiệm Chỉ ở những chỗ các phương pháp này chưa đủ sức thuyết phục, chỉ ở một số khâu mấu chốt, ta mới dùng thực nghiệm giáo dục

Thông thường những phương pháp được sử dụng kết hợp với nhau, làm cho kết quả thu được vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn Chẳng hạn, qua nghiên cứu lý luận, quan sát, tổng kết kinh nghiệm, người ta đề xuất một giả thuyết khoa học rồi đem thực nghiệm giáo dục để kiểm nghiệm Sau đó, lại dùng

lý luận để phân tích kết quả, xác định nguyên nhân và khái quát hóa lên một trình

độ cao hơn, tổng quát hơn những điều đã đạt được

Trang 11

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GỢI ĐỘNG CƠ HOẠT ĐỘNG

Gợi động cơ là làm cho học sinh có ý thức về ý nghĩa của những hoạt động

và của đối tượng hoạt động Gợi động cơ nhằm làm cho những mục tiêu sư phạm biến thành những mục tiêu của cá nhân học sinh, chứ không phải chỉ là sự vào bài, đặt vấn đề một cách hình thức

Ở những lớp dưới, thầy giáo thường dùng những cách như cho điểm, khen chê, thông báo kết quả học tập cho gia đình, để gợi động cơ Càng lên lớp cao, cùng với sự trưởng thành của học sinh, với trình độ nhận thức và giác ngộ chính trị ngày càng cao những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung hướng và những nhu cầu nhận thức, nhu cầu đời sống, trách nhiệm đối với xã hội ngày càng trở nên quan trọng

Gợi động cơ không phải chỉ là việc làm ngắn ngủi lúc bắt đầu dạy một tri thức

nào đó, mà phải xuyên suốt quá trình dạy học Vì vậy, có thể phân biệt gợi động

cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian và gợi động cơ kết thúc Trong đề tài này em

xin đưa ra một số giải pháp gợi động cơ hoạt động trong việc giảng dạy chương trình con của ngôn ngữ lập trình Pascal theo từng giai đoạn như trên

Trang 12

1 Gợi động cơ mở đầu

Để Gợi động cơ mở đầu chúng ta có thể gợi động cơ xuất phát từ thực tế hoặc

xuất phát từ nội bộ Tin học

Việc xuất phát từ thực tế không những có tác dụng gợi động cơ mà còn góp phần hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Nhờ đó, học sinh nhận rõ việc nhận thức và cải tạo thế giới đã đòi hỏi phải suy nghĩ và giải quyết những vấn đề Tin học như thế nào, tức là nhận rõ Tin học bắt nguồn từ những nhu cầu của đời sống thực tế Vì vậy, chúng ta cần khai thác triệt để mọi khả năng để gợi động cơ xuất phát từ thực tế Tuy nhiên, để gợi động cơ xuất phát từ thực tế cần chú ý các điều kiện sau:

- Vấn đề đặt ra phải đảm bảo tính chân thực, đương nhiên có thể đơn giản hóa

vì lý do sư phạm trong trường hợp cần thiết

- Việc nêu vấn đề không đòi hỏi quá nhiều tri thức bổ xung

- Con đường từ lúc nêu vấn đề cho tới khi giải quyết vấn đề càng ngắn càng tốt

Mặc dù Tin học phản ánh thực tế một cách toàn bộ và nhiều tầng Tuy nhiên không phải bất cứ nội dung nào, hoạt động nào cũng có thể gợi động cơ xuất phát

từ thực tế Vì vậy, ta còn tận dụng cả những khả năng gợi động cơ xuất phát từ nội bộ Tin học

Gợi động cơ từ nội bộ Tin học là nêu vấn đề Tin học xuất phát từ nhu cầu Tin học, từ việc xây dựng khoa học Tin hoc, từ những phương thức tư duy và hoạt động Tin học Gợi động cơ theo cách này là cần thiết vì:

- Việc gợi động cơ xuất phát từ thực tế không phải bao giờ cũng thực hiện được

- Việc gợi động cơ từ nội bộ Tin học sẽ giúp học sinh hình dung được đúng sự hình thành và phát triển của Tin học cùng với những đặc điểm của nó và có thể dần dần tiến tới hoạt động Tin học một cách độc lập

Trang 13

Thông thường khi bắt đầu một nội dung lớn, chẳng hạn một phân môn hay một chương ta nên cố gắng xuất phát từ thực tế Còn đối với từng bài hay từng phần của bài thì cần tính tới những khả năng gợi động cơ từ nội bộ Tin học Đó là những cách sau đây:

1.1 Đáp ứng nhu cầu xóa bỏ sự hạn chế

Xét bài toán : “Viết chương trình cho máy tính chu vi, diện tích và đường chéo của ba hình chữ nhật theo hai kích thước của mỗi hình Trong đó:

- Hình thứ nhất có hai kích thước là a1, a2

- Hình thứ hai có hai kích thước là b1, b2

- Hình thứ ba có hai kích thước là a1+b1 và a2*b2”

Var a1, b1, a2, b2, c1, c2, c3, d1, d2, d3, m1, m2, m3 : Real;

Trang 14

Writeln('Hinh chu nhat thu nhat:');

Writeln('Chu vi bang : ',c1:0:2);

Writeln('Dien tich bang : ',d1:0:2);

Writeln('Duong cheo bang: ',m1:0:2);

Writeln('Hinh chu nhat thu hai:');

Writeln('Chu vi bang : ',c2:0:2);

Writeln('Dien tich bang : ',d2:0:2);

Writeln('Duong cheo bang: ',m2:0:2);

Writeln('Hinh chu nhat thu ba:');

Writeln('Chu vi bang : ',c3:0:2);

Writeln('Dien tich bang : ',d3:0:2);

Writeln('Duong cheo bang: ',m3:0:2);

Readln

End

Chương trình trên để thực hiện được yêu cầu của đề bài, chúng ta phải viết đi viết lại ba dòng liên tiếp tính chu vi, diện tích và đường chéo của từng hình chữ nhật Giả sử nếu phải tính đến n hình chữ nhật thì vấn đề quả thực là hết sức phức tạp Trong bài toán trên ta còn chưa có phần kiểm tra điều kiện nhập vào của mỗi hình Nếu có thêm điều kiện này, chắc chắn chương trình còn dài nữa Vấn đề đặt

ra là: làm thế nào có thể xóa bỏ được sự hạn chế này? Ở đây, chúng ta có thể hướng dẫn cho học sinh sử dụng chương trình con để khắc phục sự hạn chế đó Thay vì phải viết nhiều lần lệnh nhập, tính đi tính lại cho từng hình ta có thể viết

2 thủ tục:

1 Thủ tục nhập hai cạnh của hình chữ nhật

2 Thủ tục Tính ba giá trị cho mỗi hình

Var a1, b1, a2, b2: Real;

Procedure Nhap(Var x, y: Real; i: Byte);

Trang 15

Begin

Writeln('Nhap hai kich thuoc cua hinh chu nhat thu ',i,':');

Repeat

Write('Canh thu nhat: '); Readln(x);

Write('Canh thu hai : '); Readln(y);

If (x <= 0) Or (y <= 0) Then Writeln('Nhap lai!');

Writeln('Dien tich bang : ',a * b:0:2);

Writeln('Duong cheo bang: ',sqrt(a * a + b * b):0:2);

1.2 Hướng tới sự tiện lợi hợp lý hóa công việc

Xét bài toán sau: “Nhập vào 1 dãy n số nguyên lớn hơn 1 Viết ra màn hình tất

cả các số của dãy thỏa mãn điều kiện là số nguyên tố”

Trang 16

Write('Nhap so phan tu: '); Readln(n);

Writeln('Nhap cac phan tu cua day Chu y: A[k] >= 2');

bài toán trên chúng ta có thể sửa chữa thành bài toán: “Viết ra màn hình tất cả các số của dãy thỏa mãn điều kiện là hợp số” chỉ bằng hai câu lệnh:

- Dòng lệnh Writeln(‘Cac so nguyen to cua day so tren la:’); Sửa thành: Writeln(‘Cac so la hop so cua day so tren la:’);

Trang 17

- Dòng lệnh : If NgTo(A[k]) Then Write(A[k]:6) ta thay bằng dòng lệnh If Not

NgTo(A[k]) Then Write(A[k]:6)

1.3 Chính xác hóa một khái niệm

Có những khái niệm mà học sinh đã biết ở từng bài riêng lẻ chưa thể đưa ra ngay những nhận xét, những kết luận chính xác liên quan tới khái niệm đó; tới một thời điểm nào đó có đủ điều kiện thì chúng ta có thể gợi lại vấn đề và giúp học sinh chính xác hóa khái niệm đó Chẳng hạn, ta cần chính xác hóa khái niệm

sử dụng tham biến của chương trình con Sau khi học cách sử dụng tham trị, chúng ta có thể yêu cầu học sinh làm bài tập sau:

“Viết một thủ tục nhập vào số đo bán kính của 3 đường tròn Sau đó tính chu vi

và diện tích của mỗi đường tròn đó”

Trang 18

Chương trình trên cần sửa lại như sau:

Trang 19

Writeln('Duong tron 1 Chu vi bang:',2 * pi * r1:6:1,' Dien tich bang: ',pi *

1.4 Hướng tới sự hoàn chỉnh hệ thống

Để có thể giúp học sinh nắm bắt được các kiến thức về chương trình con một cách có hệ thống Sau khi học xong về chương trình con, chúng ta có thể đưa ra

sơ đồ sau:

Tiếp theo, để giúp cho học sinh nhìn thấy vấn đề có hệ thống một các rõ ràng hơn, đặc biệt là giúp cho học sinh hiểu rõ các vấn đề về chương trình con Chẳng hạn đâu là biến toàn cục, đâu là biến địa phương, khi nào dùng tham biến, khi nào dùng tham trị, các chương trình con gọi lẫn nhau như thế nào?, Chúng ta có thể đưa ra ví dụ sau:

Trang 20

“Viết chương trình nhập vào số cạnh của n tam giác, sau đó tính diện tích của mỗi tam giác vừa nhập và tổng diện tích của tất cả các tam giác đó”

Var a:array[1 3,1 100] Of Real; {Bien toan cuc}

Function Ktra(x, y, z: Real): Boolean; {Ham co tham tri}

Write('Nhap do dai canh thu nhat: '); Readln(a);

Write('Nhap do dai canh thu hai : '); Readln(b);

Write('Nhap do dai canh thu ba : '); Readln(c);

If Not Ktra(a, b, c) Then

Writeln('Ba do dai vua nhap khong phai la 3 canh tam giac! Nhap lai:'); Until Ktra(a, b, c);

End;

Function DT(m, n, p:Real): Real; {Ham co tham tri}

Var d: Real; {Bien cuc bo}

Begin

d := (m + n + p) / 2;

DT := sqrt(d * (d - m) * (d - n) * (d - p));

End;

Procedure Tinh; {Thu tuc khong co tham chieu}

Var k, n, j: Integer; tong: Real; {Bien cuc bo}

Begin

Write('Nhap so tam giac: ');Readln(n);

Trang 21

tong:=0;

For k:=1 to n do

Nhap(a[1,k], a[2,k], a[3,k], k);

For k:=1 to n do Begin

Tong := tong + DT(a[1, k], a[2,k], a[3,k]);

Writeln('Dien tich cua tam giac thu ',k,': ',DT(a[1, k], a[2, k], a[3, k]):6:1); End;

Writeln('Tong dien tich cua ',n,' tam giac la: ',tong:6:1);

Trang 22

Học sinh đã biết trong bảng mã ASCII mỗi ký tự viết hoa A, B, C, , Z được

mã hóa bằng các con số từ 65 đến 90 Còn các ký tự thường a, b, c, z được mã hóa bằng các con số từ 97 đến 122 Ta thấy rõ mỗi ký tự viết hoa và viết thường của một chữ cách nhau 32 đơn vị Chính vì vậy, ta có thể sử dụng quy luật này để đổi một xâu ký tự viết HOA thành xâu ký tự viết thường bằng cách dùng một vòng For chạy từ đầu xâu đến cuối xâu và đổi từng ký tự thành mã ASCII, nếu gặp ký tự viết hoa, ta cộng mã ASCII của nó thêm 32 đơn vị Chương trình như sau:

Write('Doi sang chu thuong: ');

For i := 1 to Length(x) Do Begin

Trang 23

Write('Nhap do dai canh thu nhat: '); Readln(m);

Write('Nhap do dai canh thu hai : '); Readln(n);

Write('Nhap do dai canh thu ba : '); Readln(p);

If Not Ktra(m, n, p) Then

Writeln('Ba do dai vua nhap khong phai la 3 canh tam giac! Nhap lai:'); Until Ktra(a, b, c);

Trang 24

Tương tự, chúng ta yêu cầu học sinh giải bài toán sau:

“Viết chương trình tìm độ dài 3 đường trung tuyến của một tam giác khi biết

ba cạnh của tam giác”

Write('Nhap do dai canh thu nhat: '); Readln(a);

Write('Nhap do dai canh thu hai : '); Readln(b);

Write('Nhap do dai canh thu ba : '); Readln(c);

If Not Ktra(a, b, c) Then

Writeln('Ba do dai vua nhap khong phai la 3 canh tam giac! Nhap lai:'); Until Ktra(a, b, c);

Trang 25

1.7 Khái quát hóa

Xuất phát từ bài toán: “Tìm ước chung lớn nhất của 2 số ”

Var a, b: Integer;

Begin

Repeat

Writeln('Nhap vao 2 so:'); Readln(a,b);

If (a<=0) Or (b<=0) then Writeln(‚Nhap lai!’);

Until (a>0) And (b>0);

Write('UCLN(',a,',',b,') = ');

While a <> b do Begin

If a > b Then a := a - b

Else b := b - a;

Ngày đăng: 23/07/2016, 20:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ sau: - Goi dong co hoat dong trong day hoc chuong trinh con
Sơ đồ sau (Trang 19)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w