Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục phổ thông lànền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặtnhững cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Hơn 60 năm qua (1945 - 2007), nền giáo dục nước ta đã trải qua biết baothử thách, thăng trầm, nhưng vẫn luôn giữ vững bản chất là nền giáo dục “củadân, do dân và vì dân”, vẫn phát triển, ngay trong những điều kiện hết sức khókhăn của chiến tranh và của trình độ kinh tế non kém Đảng ta đã có nhiều chủtrương, biện pháp giáo dục kịp thời, sáng suốt đào tạo và bồi dưỡng con người,thích hợp với hoàn cảnh đất nước, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại củacuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước và công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộcđổi mới đang tiến hành Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng vị trí, vai trò củagiáo dục trong sự nghiệp cách mạng Ngày nay, giáo dục được coi là quốc sáchhàng đầu
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục phổ thông lànền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặtnhững cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về đạo đức, trítuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham giaxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chính vì thế mà giáo dục phổ thông là bộ phận rấtquan trọng trong hệ thống giáo dục nước ta, luôn được Đảng và Nhà nước đặcbiệt quan tâm
Đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, đã mở ragiai đoạn mới của dân tộc, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủnghĩa xã hội Từ đây, nhiệm vụ chính trị của nền giáo dục nước ta là phục vụ xây
Trang 2dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ nền độc lập của đất nước Giai đoạn từ năm
1975 đến năm 2000, lịch sử phát triển giáo dục của Việt Nam nói chung và lịch
sử phát triển giáo dục phổ thông nói riêng nằm trong bối cảnh của rất nhiều biếnđộng kinh tế - xã hội, của một đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh lâudài và ác liệt, của sự thăng trầm về kinh tế vv…Chính vì vậy, đây cũng là thời kỳ
mà Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (1979)
và công cuộc đổi mới giáo dục kéo dài (bắt đầu từ năm 1987) cùng với nhiều chủtrương chính sách cụ thể đối với giáo dục phổ thông trong từng giai đoạn Nhữngchính sách đó đã đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của giáo dục, đưa giáo dụcnước nhà đạt được những thành tựu to lớn, góp phần không nhỏ vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, lịch sử phát triển củagiáo dục nói chung và đặc biệt là giáo dục phổ thông nước ta nói riêng giai đoạnnày không phải đi lên theo một đường thẳng đứng mà có những bước thăngtrầm, lên xuống trong từng giai đoạn, rất nhiều vấn đề đã đặt ra
Thực tế cho thấy, nền giáo dục của ta đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng, trở thành nền giáo dục của toàn dân, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại nhữngyếu kém và bất cập cần được giải quyết Việc tìm ra các giải pháp nhằm nângcao chất lượng giáo dục theo hướng hiệu quả, hiện đại, phù hợp với trình độ pháttriển của thế giới trên cơ sở phát huy truyền thống dân tộc và giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho giáo dục Việt Namhiện nay
Muốn vậy, ngoài việc tham khảo mô hình giáo dục của một số nước tiêntiến, thì một điều rất cần thiết là phải nhìn nhận, tiếp thu những kinh nghiệm giáodục trong lịch sử giáo dục của đất nước Với mục đích tìm hiểu chính sách củaĐảng ta đối với giáo dục phổ thông giai đoạn này cũng như quá trình thực hiện
Trang 3chính sách đó trong thực tế, phân tích rõ những thành tựu cũng như những hạnchế của nó, từ đó nhìn nhận, đánh giá, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm
để xây dựng phương hướng phát triển đúng đắn của giáo dục phổ thông ViệtNam giai đoạn sau này Chính vì lý do đó mà tôi chọn đề tài cho luận văn Thạc
sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam của mình là: “Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 2000)”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục ViệtNam nói chung và giai đoạn từ 1975 nói riêng Các sách đó có một số cuốn cóđiểm qua về lịch sử giáo dục phổ thông cũng như những chính sách của Đảng vàNhà nước đối với giáo dục phổ thông từ năm 1975, tuy nhiên cũng rất sơ sài vì
đó chỉ là một phần nhỏ trong cuốn sách, thời gian cũng chỉ hạn chế đến thờiđiểm viết cuốn sách, hoặc chỉ quan tâm đến một vấn đề nào đó của giáo dục phổthông Theo thứ tự thời gian xuất bản, có thể kể đến như:
Cuốn “35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông”, của Võ Thuần
Nho (cb) do Nxb Giáo dục xuất bản năm 1980, đề cập đến lịch sử giáo dục phổthông nước ta từ năm 1945 đến 1980, trong đó dành một phần rất khiêm tốn đểnói về tình hình giáo dục phổ thông nước ta từ sau ngày giải phóng đến năm
1980 với những số liệu thống kê Cuốn sách giúp cho chúng ta nắm được lịch sử
cơ bản của 35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông Việt Nam
Cuốn “Tổng kết giáo dục 10 năm (1975 - 1985) ” của Bộ Giáo dục do Nxb
Giáo dục ban hành năm 1986, đã tiến hành tổng kết, nêu ra những chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục, sự triển khai của Bộ Giáodục cũng như tình hình tổng quát, những phân tích nhận xét của giáo dục ViệtNam trong giai đoạn này, trong đó có đề cập đến tình hình ngành giáo dục phổ
Trang 4thông Mặc dù không đi sâu vào ngành giáo dục phổ thông nhưng cuốn sách đãcung cấp những tài liệu quan trọng và bổ ích, nhất là những số liệu thống kê vềtình hình giáo dục phổ thông nước ta.
Cuốn “Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945 - 1990)” do Phạm Minh Hạc
(cb), được Nxb Giáo dục phát hành năm 1992 Trong đó, viết hết sức sơ lược vềcác các cuộc cải cách giáo dục, hệ thống giáo dục phổ thông, một vài quan tâmđến công cuộc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục giai đoạn 1975 - 1990
Cuốn “50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)”
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nxb Giáo dục phát hành năm 1995 Cuốn sách
là một công trình đồ sộ của nhiều tác giả, cuốn sách là bức tranh toàn cảnh nói
về sự phát triển của giáo dục Việt Nam từ 1945 đến 1995, trong đó có ngànhgiáo dục phổ thông giai đoạn 1975 - 1995 Mặc dù sơ lược về lịch sử phát triển,nhưng cuốn sách cũng đã cung cấp những tài liệu cơ bản về các mặt của giáo dụcphổ thông giai đoạn này từ đường lối chính sách đến tình hình phát triển củagiáo dục phổ thông và những đánh giá, nhận xét chung về giáo dục Việt Nam
Cuốn “Từ bộ Quốc gia đến bộ giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)” do Vũ
Xuân Ba, Phạm Duy Bình, Nguyễn Minh Đường (cb) được Nxb Giáo dục pháthành năm 1995 Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tập thể cácnhà khoa học về lịch sử cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 1945 đến 1995.Cuốn sách dành một phần nói về sự chỉ đạo của Bộ đối với ngành giáo dục phổthông, trong đó có đề cập sơ qua giai đoạn 1975 - 1995 Mặc dù chỉ mang tínhchất sơ thảo nhưng cuốn sách cũng cho ta thấy Bộ Giáo dục đã quan tâm chỉ đạo,triển khai các đường lối chính sách về giáo dục phổ thông của Đảng đối vớingành giáo dục phổ thông giai đoạn này như thế nào
Trang 5Cuốn “Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của Viện
Khoa học giáo dục được Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2001,trong đó có trình bày tình hình, những đánh giá tổng hợp về giáo dục phổ thônggiai đoạn 1975 - 1995 Tuy nhiên đó mới chỉ là sự khái quát sơ lược về giáo dục
và nhà trường phổ thông Việt Nam giai đoạn này, giới hạn đến năm 1995, bảnthân cuốn sách cũng là sự kế thừa những cuốn sách trước đã viết về giáo dục phổthông của nước ta
Cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” của tác
giả Lê Văn Giạng do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2003, trong đó códành một phần nhỏ mô tả hoạt động nền giáo dục của nước Việt Nam thống nhất
và chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến năm 2000) Tuy nhiên như tên gọi củacuốn sách, tác giả cũng mới chỉ trình bày một cách khái quát nhất có thể của nềngiáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục phổ thông giai đoạn này được đề cập đếnmột cách sơ sài
Cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” do Bùi Minh Hiền biên soạn được Nxb
Đại học sư phạm phát hành năm 2004 Đây là giáo trình dùng cho sinh viên cáctrường Đại học và Cao đẳng sư phạm, viết hết sức sơ lược về lịch sử giáo dụcViệt Nam, trong đó có dành hai chương viết về giáo dục Việt Nam hai giai đoạn
1975 - 1986 và 1986 đến nay (năm 2004) Cuốn sách không dành viết riêng vềgiáo dục phổ thông, nhưng qua việc trình bày những chính sách, những tổng kếttình hình giáo dục Việt Nam nói chung, ta có thể chọn lọc ra những phần liênquan đến giáo dục phổ thông giai đoạn 1975 - 2000
Kế thừa thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn của chúng tôi sẽ cốgắng tập hợp những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dụcphổ thông giai đoạn 1975 - 2000 và các hoạt động cơ bản của ngành giáo dục để
Trang 6triển khai thực hiện, trên cơ sở đó mạnh dạn phân tích và đưa ra những nhận xét
về giáo dục phổ thông giai đoạn này Vấn đề sẽ được trình bày trong một hệthống chặt chẽ, lôgíc và có tính lịch sử Chúng tôi coi đó là đóng góp mới của đềtài
3 Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dụcphổ thông giai đoạn 1975 - 2000 Trên cơ sở tìm hiểu những đường lối, chínhsách, chủ trương của Đảng đối với giáo dục phổ thông giai đoạn này cũng nhưquá trình triển khai thực hiện những chính sách đó như thế nào, đồng thời căn cứvào hoàn cảnh lịch sử cụ thể từ đó phân tích, đánh giá để để xem xét kết quả:những thành tựu, vai trò của Đảng cũng như những vấn đề tồn tại, hạn chế,những nguyên nhân lý giải cho sự phát triển thăng trầm của giáo dục phổ thônggiai đoạn này và một số bài học kinh nghiệm rút ra cho sự lãnh đạo của Đảng đốivới sự phát triển của giáo dục phổ thông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ chủ trương, đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục phổ thông trong giai đoạn 1975
- 2000 cùng những hoạt động của hệ thống giáo dục này dưới sự lãnh đạo củaĐảng
Phạm vi nghiên cứu đề tài được giới hạn trong 25 năm (1975 - 2000), trongmột thời kỳ hết sức quan trọng của đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, thốngnhất đất nước, vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và bước đầu phát triển đấtnước
Trang 7Giáo dục là một khái niệm rộng lớn được cấu thành bởi nhiều yếu tố, đề tàinày chỉ khảo cứu về giáo dục phổ thông - một trong những yếu tố quan trọngnhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
5.1 Nguồn tư liệu.
Nguồn tư liệu phục vụ cho luận văn là các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng vềgiáo dục và giáo dục phổ thông được khai thác chủ yếu từ các Văn kiện Đảng;các tài liệu của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục; các cuốn sách tậphợp các văn kiện, các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước,của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục và giáo dục phổ thông; đặc biệt là đề tài
kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu từ các cuốn sách, các công trìnhnghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học đi trước về giáo dục phổ thông; bêncạnh đó là việc khai thác những số liệu thống kê từ những tổng kết của Bộ Giáodục và Đào tạo, của Tổng cụ Thống kê Nguồn tư liệu chủ yếu là tài liệu có độchính xác cao và có khả năng đáp ứng tốt cho nghiên cứu của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Để có được những phân tích, đánh giá thật sự khoa học, khách quan trongkhi nghiên cứu, đề tài dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục và đào tạo
Để khai thác tốt nguồn tư liệu hiện có và để trình bày vấn đề “Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 2000)”
theo một hệ thống hợp lý, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:Phương pháp sử liệu học chữ viết nhằm xử lý nguồn sử liệu chữ viết rấtphong phú và khai thác được những thông tin lịch sử tin cậy
Trang 8Phương pháp thống kê mô tả để thấy được những thay đổi về cơ cấu và kếtquả hoạt động giáo dục thông qua các con số.
Phương pháp lịch sử được ứng dụng để trình bày nội dung của đề tài theotiến trình lịch sử
Phương pháp lôgíc được sử dụng trong các phần khái quát, tổng kết, đánhgiá của luận văn
6 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Luận văn đượckết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 1986).Chương 2: Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1986 đến 2000).Chương 3: Một vài nhận xét, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đã đặt ra
Trang 9CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
hệ trẻ từ tuổi có khả năng học tập đến tuổi có khả năng lao động thành nhữngnhân cách của một chế độ xã hội nhất định, từ đó mà trở thành người lao động,người công dân theo lý tưởng của xã hội đó
Nhiệm vụ của giáo dục phổ thông trong chế độ xã hội chủ nghĩa là đào tạongười lao động làm chủ và phát triển toàn diện, đồng thời chuẩn bị lao động dựtrữ cho sự phân công lao động xã hội Con người phát triển toàn diện, theo ýnghĩa đầy đủ của nó, là con người được phát triển mọi khả năng của mình, đượcđào tạo để tinh thông những hoạt động chủ yếu của xã hội, trước hết của laođộng sản xuất, trở thành những nhân cách sáng tạo, góp phần xây dựng đất nước.Giáo dục phổ thông còn là nền tảng văn hóa vì nó đóng vai trò quyết địnhtrong sự hình thành con người mới Trường phổ thông đã phụ trách đào tạo conngười từ bé cho đến lúc trưởng thành, tức là vào quãng thời gian mà con người
có thể tiếp thụ sự giáo dục một cách bền vững nhất, tiếp thụ hoàn chỉnh từ trí tuệđến tình cảm, từ tri thức đến thực hành Đó là một phương tiện tác động đến con
Trang 10người mạnh mẽ và có hiệu lực hơn bất cứ hoạt động văn hóa nào khác Và cảnhững hoạt động văn hóa khác muốn đi vào con người thì cũng phải qua sự môigiới của giáo dục Hơn nữa, không có phương tiện văn hóa nào đặt nền móngcho thế giới quan khoa học bằng hệ thống kiến thức về tự nhiên, xã hội và conngười.
Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, và cũng vì thế mà làsức mạnh tương lai của một dân tộc, vì ba lẽ:
Một là, văn hóa phổ thông là cái cửa đầu tiên mở cho nhân dân đi chiếm
lĩnh toàn bộ giá trị văn hóa, là bệ phóng đầu tiên của mọi phát minh khoa học và
kỹ thuật
Hai là, giáo dục phổ thông là phương tiện quan trọng nhất để hình thành
con người mới, là bộ phận quan trọng nhất của cách mạng tư tưởng và văn hóa
Ba là, giáo dục phổ thông có tác dụng thúc đẩy tất cả các hoạt động văn hóa
khác và trên cơ sở phối hợp với các hoạt động văn hóa khác ấy để bồi dưỡng nênchính cái sản phẩm của giáo dục phổ thông
“Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân,dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minhlàm nền tảng” [62 tr.8] Đồng thời, nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam là: học
đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thựctiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Trong Luật Giáo dục (Luật số 11/1998/QH10 ngày 2/12/1998) của Việt
Nam đã khẳng định: “Giáo dục phổ thông là ngành giáo dục mang tính phổ cậptrong giáo dục quốc dân có mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạođức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cáchcon người Việt Nam xã hội chủ nghĩa xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân
Trang 11chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham giaxây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tínhphổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễncuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáodục ở mỗi bậc học, cấp học… Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng lớp học,môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh.” [2, tr.94 - 96].
Vốn văn hóa phổ thông là nền tảng cho phép mọi người có thể nhảy caotrong mọi lĩnh vực hoạt động, và ngược lại, bất cứ một thiếu sót nào trong việchọc phổ thông đều để lại hậu quả tai hại trong con người trên bước đường tươnglai của nó
1.2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG BƯỚC ĐẦU CỦA NƯỚC VIỆT NAM THỐNG NHẤT.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, đã mở ragiai đoạn mới của dân tộc, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và tiến lên chủnghĩa xã hội
Tháng 9 năm 1975, Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương khóa III
đã đề ra nhiệm vụ chiến lược mới:
Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vàhoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiếnhành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về giáo dục, miền Bắc có nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua
“Hai tốt”, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tích cực giúp đỡ giáo dục
Trang 12miền Nam Miền Nam cần mau chóng xóa bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ, xâydựng hệ thống giáo dục mới, nâng cao giác ngộ chính trị cho giáo viên và họcsinh, xây dựng tổ chức quản lý của ngành.
Năm học 1975 - 1976, cả nước đã tiến hành khai giảng trong bầu không khítưng bừng, phấn khởi trước thắng lợi vĩ đại của dân tộc và trong niềm vui kỷniệm 30 năm ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, các hoạt động chủ yếu của nhà trường phổthông vẫn là làm tốt việc dạy và học các bộ môn văn hóa, lao động sản xuất vàhoạt động xã hội Ngành cũng quan tâm hết sức đến việc nâng cao phẩm chấtchính trị đạo đức và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên Đối với họcsinh, đặc biệt ở cấp I và cấp II, chú ý giáo dục thật tốt 5 điều Bác dạy, thườngxuyên sinh hoạt theo chủ đề: “Vâng lời Bác dạy, thi đua làm nghìn việc tốt,mừng Tổ quốc nở hoa, mừng Đội 35 tuổi”
Ngày 17/6/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 221- CT/TWhướng dẫn công tác giáo dục ở miền Nam
Căn cứ vào chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác giáo dục phổthông ở miền Nam có những nhiệm vụ sau: mau chóng đưa giáo dục trở lại hoạtđộng bình thường; kết hợp việc cải tạo nền giáo dục cũ và xây dựng nền giáodục mới, lấy công tác giáo dục chính trị và xây dựng tổ chức làm nhiệm vụ trungtâm, làm cho giáo dục trở thành một lực lượng cách mạng góp phần xây dựng xãhội mới; đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ cho nhân dân lao động, bổ túc văn hóacho cán bộ và thanh niên, coi đó là nhiệm vụ số một; phát triển giáo dục phổthông và mẫu giáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con em nhân dân lao độngđược đi học; xây dựng hệ thống các trường sư phạm để đào tạo cán bộ, giáo viên
Trang 13mới; tổ chức lại việc quản lý giáo dục, chuẩn bị cho kế hoạch phát triển lâu dàicủa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thống nhất trong cả nước.
Thực hiện chỉ thị số 221, các tỉnh miền Nam lần lượt khai trường, lập banđiều hành lâm thời do quần chúng đề cử để quản lý nhà trường Học sinh được tổchức học bù để chuẩn bị thi lên lớp 6 và thi tú tài, việc chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệplớp 12 (tú tài) tiến hành đồng thời với việc chuẩn bị khai trường vào năm họcmới
Cuối tháng 9/1975, gần 62.000 thí sinh của 29 tỉnh, thành phía Nam đã dựthi tốt nghiệp phổ thông dưới chế độ mới [63, tr 234]
Ngày 19/10/1975, các trường phổ thông khắp các tỉnh miền Nam đã tưngbừng khai giảng năm học giải phóng mới với 4 triệu học sinh phổ thông, mẫugiáo và gần 10 vạn giáo viên Mở đầu năm học là việc tổ chức học tập thư Bác
Hồ gửi học sinh nhân ngày khai trường 9/1945 để xác định thái độ, động cơ họctập mới, rèn luyện đạo đức người học sinh dưới chế độ mới
Ngay năm học đầu, các trường phổ thông ở miền Nam đã chuyển sang hệthống giáo dục mới Trường phổ thông mới gồm 12 năm chia làm 3 cấp: cấp I (5năm) gắn với trường cấp II (4 năm), cấp III tức trường phổ thông trung học cóphân khoa (3 năm) Nội dung giáo dục đổi mới, tiến bộ cả về tư tưởng chính trịlẫn mặt khoa học Bộ Giáo dục đã kịp thời ban hành chương trình mới, biên soạn
và in 20 triệu bản sách giáo khoa cấp I, cấp II, cấp III gửi vào miền Nam thaycho sách cũ Hầu hết các giáo viên cũ được tuyển dụng lại
Miền Bắc đã kịp thời cử cán bộ, giáo viên vào Nam bổ sung những nơithiếu hụt, đặc biệt là đội ngũ quản lý, chỉ đạo giáo dục Mặt khác, chính quyềnmới đã đào tạo cấp tốc một số giáo viên mới
Trang 14Mùa hè năm 1975, các giáo viên miền Nam đã được tham dự một lớp họcchính trị, nghiệp vụ Mọi người thảo luận dân chủ về tình hình, nhiệm vụ cáchmạng, ý nghĩa chiến thắng đế quốc Mĩ và tay sai, nghiên cứu về chương trình,tính chất của nền giáo dục mới Nhờ vậy, các giáo viên đã nhận thức rõ rànghơn, phấn khởi bắt tay vào khôi phục nhanh chóng các sinh hoạt của nhà trường.
Cơ cấu thành phần xã hội của học sinh được cải tiến một bước Trường họcđược phân bổ đều hơn, bố trí ở các vùng đông dân lao động, ở nông thôn, ở vùngdân tộc ít người, các khu kinh tế mới Trường học vùng giải phóng cũ được củng
cố và mở rộng thêm Con em nhân dân lao động, các gia đình cách mạng, liệt sĩđược ưu tiên nhận vào học Trong chế độ cũ có tới 2.500 trường tư thục, một nửa
là tôn giáo, nay là “công lập hóa” một số lớp trường, tách nhà trường khỏi ảnhhưởng của tôn giáo và chủ trương đưa dần toàn bộ trường tư vào sự quản lý củaNhà nước Các giáo viên trường tư sẽ được Nhà nước xem xét và tuyển dụng.Học sinh các trường phổ thông đều được miễn học phí
Ngày 19/1/1976, Thủ tướng ra quyết định số 41/TTg về việc ngân sách Nhànước đảm nhiệm in sách giáo khoa phát không cho toàn thể học sinh ở các cấphọc, từ mẫu giáo đến cấp III Đó là một sự cố gắng lớn của Đảng và Chính phủ.Nhiều nơi đã có sáng kiến lập tủ sách dùng chung cho nhà trường, tổ chức chohọc sinh mượn và bảo quản tốt
Tháng 4/1976 Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà tiến hành thắng lợi, bầu
ra Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam Đến tháng 12/1976, Đại hội Đảng lầnthứ IV đã vạch ra con đường cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạnnước ta đã độc lập và thống nhất
Vấn đề xây dựng con người mới, Đại hội chỉ rõ những đặc trưng cần phảibồi dưỡng là “làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần
Trang 15quốc tế vô sản” Để xây dựng con người mới, giáo dục phổ thông phải là “nềntảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những
cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa” Vì vậy, nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới
là phải “đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới” và thực hiện tốtnguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng
Những năm đã qua, giáo dục tuy đã thu hút được những thành tựu to lớn,song cũng còn nhiều mặt yếu kém, thiếu sót Thực trạng của giáo dục trong thời
kỳ mới không đủ đáp ứng những yêu cầu của cách mạng Bởi vậy, Đại hội IV đãquyết định phải “tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, làm cho hệ thốnggiáo dục quốc dân gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa”.Tháng 4/1977, hội nghị tổng kết 5 năm thi đua “Hai tốt” theo gương cácđiển hình tiên tiến được tổ chức (1971 - 1976) Sau 5 năm phấn đấu, nhiều đơn
vị tiên tiến xuất hiện Số trường vừa học vừa làm lên tới 47 trường phân bố trênkhắp các địa bàn đất nước Nhiều hình thức học tập và lao động phong phú, thíchhợp với từng vùng kinh tế khác nhau
Qua những bài học kinh nghiệm phong phú của các đơn vị mới và cũ, hộinghị một lần nữa khẳng định, đánh giá cao những đóng góp của phong trào, đặcbiệt là bào học về tinh thần cách mạng tiến công, tự mình khắc phục mọi khókhăn, gian khổ, sáng tạo và kiên trì thực hiện mục tiêu, nguyên lý của Đảng vềgiáo dục Hội nghị đã nhất trí cao là cần thiết tiếp tục phát động phong trào thiđua “Hai tốt” theo gương các trường học tiên tiến Phát huy kết quả hội nghị,năm học 1977 - 1978 đã diễn ra một khí thế “đồng khởi thi đua” sôi nổi
Năm 1976 toàn miền Nam có hơn 3 triệu người mù chữ trong đó có 1,5triệu trong độ tuổi 12 đến 50 Nhưng đến ngày 28/2/1978, toàn miền Nam đã cơ
Trang 16bản hoàn thành xóa nạn mù chữ, với “1.323.670 người đã thoát nạn mù chữ, tỉ lệngười biết chữ trong độ tuổi 12 đến 50 là 94,15% [44; tr.49] Trong năm học
1978 - 1979, ở nhiều địa phương như Tiền Giang, Nghĩa Bình, Nghệ Tĩnh, HảiHưng… phong trào phổ cập cấp I đã diễn ra sôi nổi Việc phổ cập cấp II cũng cónhiều tiến bộ mới
Ngày 21/3/1978, quyết định số 63/CP của Hội đồng Chính phủ đã thể chếhóa loại trường phổ thông vừa học vừa làm, quy định một số biện pháp để đảmbảo cho loại trường này có điều kiện phát triển
Ở miền Nam trong 3 năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà trườngphổ thông đều có những tiến bộ mọi mặt Bên cạnh việc dạy và học văn hóa, cáctrường thành phố đều tham gia phong trào quét sạch tàn dư văn hóa phản động,cải tạo tư sản thương nghiệp Các trường nông thôn tham gia phong trào bổ túcvăn hóa, phong trào làm thủy lợi
Ngày 16/6/1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị số 47-CT/TWhướng dẫn công tác giáo dục miền Nam trong 3 năm 1978 - 1980, đề ra kế hoạchphát triển giáo dục tích cực và vững chắc về bổ túc văn hóa, mầm non và phổthông
Về kiến thức văn hóa, điều đáng lưu ý là có nhiều học sinh giỏi xuất hiện.Trong kỳ thi toán quốc tế năm 1979, đoàn học sinh Việt Nam có 4 em thì cả 4
em đều đoạt giải: 1 giải nhất và 3 giải nhì
Tuy vậy, nhìn chung cả nước, chất lượng giáo dục toàn diện còn thấp, chưađáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội của một nước Việt Nam thống nhất
1.3 TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA.
1.3.1 SƠ LƯỢC HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945.
Trang 17Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủcộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước Ngày 3/9/1945 trongthư gửi học sinh nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vaitrò của giáo dục phục vụ sự phục hưng của một nước mới giành được độc lập:
“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được
vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ mộtphần lớn ở công học tập của các cháu” Cùng ngày đó, trong phiên họp đầu tiêncủa Chính phủ, Chủ tịch nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đềnghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ”, coi nạn thất học là một thứ giặc nguyhiểm như giặc ngoại xâm và nạn đói, và đề ra nhiệm vụ nâng cao dân trí là mộtnhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ
Vừa tiến hành chiến dịch chống nạn mù chữ, Chính phủ nước Việt Nam dânchủ cộng hòa tiếp tục phát triển đại học và trung học, chủ trương cải cách nềngiáo dục thành nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạothế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước, một nền giáo dụclàm phát triển hoàn toàn những năng lực vốn có của học sinh
Chính phủ chủ trương xây dựng một nền giáo dục nhân dân, dân chủ, phụng
sự sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một nền giáo dục tôn trọng nhânphẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng Từ sau cách mạng tháng Tám đếnnăm 1975, trên đất nước ta đã trải qua 2 cuộc cải cách giáo dục:
- Cải cách giáo dục năm 1950
- Cải cách giáo dục năm 1956
Cuộc cải cách giáo dục năm 1950:
Ngay từ tháng 10/1945 Chính phủ đã thành lập Hội đồng cố vấn học chính
để nghiên cứu một chương trình cải cách giáo dục Nhưng vì từ tháng 9/1945 ở
Trang 18miền Nam và từ tháng 12/1946 ở cả miền Bắc, nhân dân ta phải tiến hành cuộcchiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp (cuộc chiến tranh này kết thúc bằngthắng lợi của Việt Nam tại chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5/1954), nên đếntháng 7/1950 Hội đồng Chính phủ mới thông qua đề án cải cách giáo dục vàquyết định bắt đầu thực hiện cuộc cải cách này.
Theo đề án cải cách này nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòađược chính thức tuyên bố là nền giáo dục của dân, do dân, vì dân; được xây
dựng theo nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng Mục tiêu đào tạo: giáo dục
thế hệ trẻ thành những người công dân trung thành với Tổ quốc, có năng lực và
phẩm chất phục vụ đất nước Phương châm giáo dục: học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn Về nội dung giáo dục phổ thông tập trung vào một số môn
như tiếng Việt, Văn, Toán, Lí, Hóa, Sinh; có các môn học mới: thời sự - chínhsách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất; không học các môn: ngoại ngữ, nhạc,
vẽ, nữ công gia chánh Theo tinh thần của cuộc cải cách lần này, nước ta đã thựchiện dạy tiếng Việt ở bậc đại học, hoàn tất việc đưa tiếng Việt vào vào dạy ở nhàtrường vốn đã được triển khai sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Cơ cấu trường phổ thông:
Sau cách mạng tháng Tám, hệ thống giáo dục phổ thông được sửa đổi
thành hệ 11 năm (4 + 4 +3) với bậc tiểu học 4 năm và bậc trung học 7 năm, trong
đó trung học bậc cao (trung học chuyên khoa) (3 năm) có 3 ban là ban Toán LíHóa, ban Lí Hóa Sinh và ban Văn Sử Địa
Với cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất này, hệ thống giáo dục phổ thôngđược cơ cấu lại thành hệ 9 năm (4 + 3 + 2) cho phù hợp với hoàn cảnh khángchiến, bao gồm 3 cấp học: cấp I, cấp II, cấp III Cấp I: 4 năm (không kể vỡ lòng)(lớp 1 - 4), thay cho cấp tiểu học; cấp II: 3 năm (lớp 5 - 7), thay cho bậc trung
Trang 19học đệ nhất cấp gồm 4 năm và cấp III: 2 năm (lớp 8 - 9), thay cho bậc trung họcchuyên khoa (hay trung học đệ nhị cấp) gồm 3 năm.
Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông còn có hệ thống giáo dục bình dân,giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục cao đẳng, đại học
Tháng 2/1951, Đại hội Đảng lần thứ II đã họp, quyết định Đảng ra côngkhai hoạt động, đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động ViệtNam Nghị quyết của Đại hội đã soi sáng cho ngành giáo dục thực hiện thắng lợinhững mục tiêu của cải cách giáo dục
Cuộc cải cách giáo dục năm 1956:
Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 được tiến hành ở các vùng giải phóng,trong vùng thuộc quyền kiểm soát của bọn thực dân Pháp các trường vẫn dạytheo số năm học phổ thông từ tiểu học đến hết trung học đệ nhị cấp là 12 năm,với nội dung, chương trình cơ bản giống trước năm 1945
Như vậy là, cho đến lúc giải phóng và hòa bình lập lại (1954) ở miền Bắc từ
vĩ tuyến 17 trở lên có hai hệ thống giáo dục phổ thông: hệ thống giáo dục phổthông 9 năm và hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm Việc gấp rút thống nhất hai
hệ thống giáo dục là một đòi hỏi khách quan cấp thiết Hội nghị lần thứ VII củaTrung ương Đảng khóa II (3/1955) đã nêu nhiệm vụ phải mau chóng “chấnchỉnh và củng cố giáo dục phổ thông, thống nhất hai hệ thống giáo dục của vùng
tự do cũ và các vùng mới giải phóng” [12, tr 20]
Tháng 3/1956 Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ hai vàgiao cho Bộ Giáo dục bắt đầu triển khai đề án đó Tháng 8/1956 Chính phủ banhành “chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”
Mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục lần này là: “đào tạo, bồi dưỡng thế hệ
thanh niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công
Trang 20dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của Nhànước, có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sởđộc lập và dân chủ” [44, tr 27].
Phương châm giáo dục là liên lệ lí luận với thực tiễn, gắn nhà trường với
đời sống xã hội Nội dung giáo dục có tính chất toàn diện, gồm bốn mặt: đứcdục, trí dục, thể dục, mĩ dục, trong đó lấy “trí dục là cơ sở” đồng thời tăng cườnggiáo dục tư tưởng và giáo dục đạo đức cũng trên cơ sở coi trọng giảng dạy trithức có hệ thống Trong phương pháp, tăng cường thực hành, tăng cường giờ laođộng sản xuất, chú ý nhiều hơn đến ứng dụng tri thức vào đời sống
Hệ thống giáo dục phổ thông từ 9 năm nâng lên 10 năm, bao gồm:
- Cấp I: 4 năm, từ lớp 1 đến lớp 4;
- Cấp II: 3 năm, từ lớp 5 đến lớp 7;
- Cấp III: 3 năm, từ lớp 8 đến lớp 10
Số tiết học trong tuần ở cấp I vẫn giữ như trước đây (17 - 19 tiết), ở cấp II
và cấp III tăng lên từ 20 giờ (cấp II), 21 giờ (cấp III) lên 29 - 30 giờ
1.3.2 TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IV, ngày 11/1/1979, BộChính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáodục
Lý do và yêu cầu của cuộc cải cách:
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam đã đổitên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và vạch ra phương hướng, nhiệm vụxây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc, mà nội dung chủ yếu là từng bước xâydựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chế độ làm chủ tập thể, xây dựng con
Trang 21người mới và nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, bằng cách “tiến hành đồng thời
ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹthuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật làthen chốt” [28, tr 5, 6]
Để đáp ứng những yêu cầu đó, nước ta có một cơ sở thuận lợi: “đó là nhữngthành tựu đáng tự hào của sự nghiệp giáo dục trong hơn 20 năm qua” [28, tr 9].Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, sự pháttriển của giáo dục Việt Nam (đến năm 1979) cả về số lượng và chất lượng đềukhông đáp ứng được, còn nhiều nhược điểm và thiếu sót
“Sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa của ta phát triển nhanh về số lượng,nhưng còn yếu về chất lượng toàn diện Nội dung và phương pháp giáo dục chưathấu suốt nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất,nhà trường gắn liền với xã hội” [28, tr 12]
Hệ thống giáo dục chưa bồi dưỡng đúng mức cho thế hệ trẻ những phẩmchất và năng lực của con người mới, chưa chuẩn bị đầy đủ cho học sinh đi vàosản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Hệ thống giáo dục cũng chưa bảo đảm việc hìnhthành đội ngũ lao động mới có ý chí cách mạng kiên cường, có trình độ kiếnthức, tác phong công tác và lối sống phù hợp Chưa đảm bảo yêu cầu học tậpthường xuyên và rộng rãi của đông đảo nhân dân lao động
Về hạn chế trong giáo dục phổ thông, Nghị quyết nêu: “Học sinh tốt nghiệpcác trường phổ thông chưa được chuẩn bị kiến thức cần thiết, về ý thức, năng lực
và sức khỏe để trở thành những người lao động kiểu mới Nội dung giáo dục củatrường phổ thông chưa toàn diện, chủ yếu chỉ mới dạy kiến thức văn hóa chung,còn coi nhẹ kiến thức kỹ thuật và quản lý; phương pháp giáo dục của trường phổthông còn có phần đơn giản và cũ kỹ, coi nhẹ thực hành và lao động sản xuất, do
Trang 22đó chưa phát huy trí thông minh, óc sáng tạo của học sinh…Mức độ phổ cậpgiáo dục phổ thông trong cả nước còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế vàvăn hóa trong giai đoạn mới” [28, tr 13].
Vì vậy, yêu cầu cải cách nền giáo dục đáp ứng yêu cầu mới của cách mạngViệt Nam là tất yếu Từ năm 1975, trên đất nước ta đã bắt đầu xây dựng một nềngiáo dục thống nhất cho cả nước, đó là một điều thuận lợi để thực hiện cải cáchgiáo dục, cải cách giáo dục sẽ có tác dụng làm cho nền giáo dục thống nhất mộtcách đầy đủ hơn
Phương hướng và nội dung cải cách giáo dục:
Nghị quyết đã đề ra những mục tiêu sau:
- Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi thơ ấu cho đếnlúc trưởng thành nhằm tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người ViệtNam mới, con người làm chủ tập thể và phát triển toàn diện
- Thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân, tạo điều kiện thuận lợi choviệc tiến hành ba cuộc cách mạng và tăng cường quốc phòng bảo vệ Tổ quốc
- Đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động mới cóphẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, có trình độ khoa học, kỹ thuật vàquản lý phù hợp với yêu cầu phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa
Về nội dung giáo dục, Nghị quyết chỉ rõ cần phải ra sức “nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện, tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể,
đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta” [28,tr.25] Cần tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa Mác -Lênin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đường lối và chính sách của Đảng, truyềnthống tốt đẹp của dân tộc và đạo đức mới của người lao động làm chủ tập thể…
Trang 23Nguyên lí giáo dục vẫn là “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với laođộng sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” Nguyên lý này quyết định hệthống giáo dục về nội dung, phương pháp, cơ cấu, làm cho công tác giáo dục gắnchặt với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nguyên lí giáo dục nóitrên xuất phát từ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và củaĐảng ta về con người mới.
Để thực hiện được mục tiêu, nguyên lý giáo dục, phải tiến hành cải cáchtoàn bộ hệ thống, nội dung và phương pháp giáo dục
Riêng hệ thống giáo dục phổ thông, cần mở những trường lớp cho nhữnghọc sinh có năng khiếu đặc biệt cũng như những trường lớp dành riêng cho trẻ
em có tật (mù, câm, điếc, chậm phát triển)
Nghị quyết còn chỉ rõ hướng cải cách về hệ thống giáo dục chuyên nghiệp
và đại học, về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và đưa ra những yêu cầu về biênsoạn chương trình mới, sách giáo khoa, cơ sở vật chất và thiết bị cho giảng dạy,
về tổ chức quản lí, nghiên cứu khoa học vv… Mặt khác, cần phải vận độngphong trào quần chúng rộng rãi tham gia xây dựng nhà trường mới dưới sự lãnhđạo của Đảng bộ các cấp
Hệ thống giáo dục phổ thông mới:
Nghị quyết số 14 của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đãvạch ra mô hình của hệ thống giáo dục quốc dân mới, đáp ứng những yêu cầuxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông là cốt lõi, là nềntảng Vì thế bất cứ một cuộc cải cách giáo dục nào cũng phải đề cập trước tiênđến cải cách trường phổ thông Từ khi có khả năng học tập đến lúc bước vào đời,
Trang 24mọi người đều phải qua trường phổ thông, đó là con đường tối ưu chuẩn bị conngười cho cuộc sống xã hội.
Ngày 27/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định về hệ thống giáodục phổ thông mới Quyết định xác định hệ thống giáo dục phổ thông trong nước
là hệ thống trường phổ thông 12 năm Quyết định còn đề ra nhiệm vụ chuyển hệthống giáo dục phổ thông hiện hành sang hệ thống mới từng bước, có trọngđiểm, bắt đầu từ năm học 1981 - 1982
Trường phổ thông có nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ từ 6 tuổiđến tuổi trưởng thành, và được chia làm hai bậc: trường phổ thông cơ sở vàtrường phổ thông trung học
Như vậy, trong cải cách giáo dục lần thứ ba, hệ thống giáo dục phổ thông
12 năm gồm 2 bậc học:
- Bậc phổ thông cơ sở: 9 năm, gồm hai cấp học, cấp I: 5 năm, bao gồm cảhọc vần và cấp II: 4 năm
- Bậc phổ thông trung học 3 năm (cấp III)
Sau đây, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể các bậc học, nội dung cũng nhưphương pháp giáo dục của các bậc học phổ thông theo hệ thống giáo dục phổthông mới được thể hiện trong Nghị quyết 14
Trường phổ thông cơ sở: là một thể thống nhất từ lớp 1 đến lớp 9; đó là bậc
học phổ cập bắt buộc cho tất cả nhi đồng và thiếu niên từ 6 tuổi tròn đến 15 tuổitròn Trường phổ thông cơ sở có nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh đạttrình độ văn hóa phổ thông tương đối hoàn chỉnh, có năng lực làm các loại laođộng phổ thông, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp, sẵn sàng đi vào học nghề vàtham gia sản xuất, tham gia công tác trong xã hội, hoặc tiếp tục học lên bậc phổthông trung học bằng nhiều con đường khác nhau
Trang 25Nội dung giáo dục ở trường phổ thông cơ sở có tính chất toàn diện và kỹ
thuật tổng hợp
Các môn khoa học tự nhiên cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản
về toán học, vật lý học, hóa học, sinh học, địa lý học theo quan điểm hiện đại, vàđược vận dụng theo hướng gắn với thực tế Việt Nam Về khoa học xã hội, cầncoi trọng các môn giáo dục công dân và đạo đức cách mạng, lịch sử Việt Nam vàthế giới, địa lý Việt Nam và thế giới, tiếng Việt, văn học Việt Nam và những ángvăn hay của văn học thế giới Coi trọng việc dạy cho học sinh biết một thứ tiếngnước ngoài Bồi dưỡng một bước cho học sinh về kiến thức và thói quen thẩmmỹ
Học sinh phổ thông cơ sở cần có những hiểu biết kỹ thuật phổ thông, nhưnhững kiến thức thông thường về kỹ thuật nông nghiệp, những nguyên tắc cấutạo và hoạt động của các công cụ, các cơ cấu máy đơn giản, cách sử dụng nhữngcông cụ sản xuất phổ thông; đồng thời học sinh cũng phải được giáo dục laođộng một cách có phương pháp để xây dựng tinh thần sẵn sàng lao động, ý thứctrách nhiệm trong lao động, thói quen lao động có tổ chức, có kỹ thuật, theo tácphong đại công nghiệp Ở các lớp trên cần hướng dẫn cho học sinh biết đại thểđặc tính của những nghề nghiệp sẽ lựa chọn
Ở trường phổ thông cơ sở, việc giáo dục cho học sinh ý thức và thói quengiữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể là rất quan trọng
Về phương pháp giáo dục, cần coi trọng việc xây dựng cho học sinh tính
chủ động trong học tập và thói quen tự học Kết hợp với việc học tập văn hóa,cần tổ chức cho học sinh tham gia lao động sản xuất theo mức độ phù hợp vớilứa tuổi Tăng cường sinh hoạt đoàn thể và hoạt động xã hội của học sinh thôngqua Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và Đội nhi đồng Hồ Chí Minh
Trang 26Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông cơ sở, học sinh có thể tiếp tục vào họccác loại trường phổ thông trung học hoặc các loại trường chuyên nghiệp…
Trường phổ thông trung học, từ lớp 10 đến lớp 12, có nhiệm vụ nâng cao và
hoàn chỉnh trình độ văn hóa phổ thông cho những học sinh đã tốt nghiệp bậc phổthông cơ sở Hoàn thành bậc phổ thông trung học, học sinh có thể vào học cáctrường đại học, trường cao đẳng, một số trường trung học chuyên nghiệp vàtrường dạy nghề đòi hỏi trình độ văn hóa cao, hoặc có thể đi ngay vào lao độngsản xuất Trong mạng lưới các trường phổ thông trung học, đi đôi với loại trườngthông thường, cần phát triển tốt loại trường vừa học vừa làm cho lứa tuổi thanhniên
Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học cũng mang tính chất toàn
diện và kỹ thuật tổng hợp, nhưng có chú ý hơn đến việc phát huy sở trường vànăng khiếu cá nhân
Các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội giảng dạy trong trường phổthông trung học sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức lý luận khoa học hiệnđại, được chọn lọc theo hướng sát với thực tế Việt Nam Những kiến thức đó về
tự nhiên, xã hội và con người là cơ sở khoa học giúp học sinh hoàn chỉnh chomình thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, giúp học sinh vữngbước đi vào thực tiễn cách mạng, sản xuất và xây dựng của nước ta
Đi đôi với việc học tập những môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội,học sinh còn được học những kiến thức phổ thông về quản lý và kỹ thuật (cơ khí,điện, trồng trọt và chăn nuôi), về cách sử dụng những máy móc thường dùngtrong sản xuất và trong đời sống
Trang 27Học sinh trường phổ thông trung học cần được học tốt tiếng nước ngoài đểnâng cao năng lực học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật hiện đại, và tiếp thukho tàng văn hóa phong phú của thế giới.
Ở trường phổ thông trung học, cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ và nghệthuật (âm nhạc, mỹ thuật…), giáo dục và rèn luyện thể chất, hoạt động văn hóa,nghệ thuật, thể dục thể thao và luyện tập quân sự
Để phát huy sở trường và năng khiếu của từng học sinh, đồng thời để chuẩn
bị đáp ứng tốt những yêu cầu của đất nước về phát triển kinh tế, văn hóa và củng
cố quốc phòng, ở trường phổ thông trung học sẽ thực hiện việc phân ban một
cách hợp lý trên cơ sở giáo dục toàn diện.
Đặc điểm của phương pháp giáo dục ở bậc phổ thông trung học là kết hợp
nhuần nhuyễn học tập văn hóa với lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học,hoạt động xã hội và sinh hoạt đoàn thể, đảm bảo cho học sinh đang độ tuổi thanhniên có thể củng cố và nâng cao vốn kiến thức, phát triển tư duy khoa học và kỹthuật, bồi dưỡng tốt ý thức, kỹ năng và thói quen lao động kiểu mới, phát huymạnh hơn nữa tính năng động và vai trò làm chủ tập thể của mình thông qua quátrình vừa học tập vừa tham gia cải tạo thiên nhiên và xã hội theo mức độ thíchhợp
Cần coi trọng bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học chohọc sinh, hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu sách, báo khoa học, thảo luậnchuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học
Triển khai hệ thống giáo dục phổ thông mới sẽ làm cho chất lượng giáo dụcphổ thông được nâng cao đúng hướng Điều đó có nghĩa là, thế hệ trẻ qua trườngphổ thông mới sẽ được phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của kinh tế
- xã hội Việt Nam trong khoảng 20 năm của giai đoạn này và có năng lực đẩy
Trang 28mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta vào đầu thế kỷ sau Hệthống giáo dục phổ thông mới đã được xây dựng trên những nguyên tắc của nhàtrường xã hội chủ nghĩa mà sản phẩm cuối cùng của nó là những con người,những lớp người đáp ứng tích cực sự phân công lao động và cuộc sống mới,ngày càng tiếp cận những thành tựu hiện đại của cách mạng thế giới và của khoa
học kỹ thuật
1.3.3 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG.
Tiến hành cải cách giáo dục phổ thông ở nước ta không có nghĩa chỉ làchuyển sang hệ thống mới, với chương trình học mới, mà còn là cuộc vận độngtoàn Đảng, toàn dân làm theo đường lối, quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩacủa Đảng Vì thế năm học 1979 - 1980 tuy chưa chuyển sang hệ thống mới vàchương trình mới, song đã từng bước thực hiện cải cách giáo dục
Trong năm 1979, Nghị quyết đã được triển khai một cách rộng rãi, quy mô
để các lực lượng trong và ngoài ngành học tập, nghiên cứu
Cuộc cải cách lần này tiến hành làm 2 vòng Vòng đầu là hình thành đượcnhững cơ sở và nội dung lớn của nền giáo dục mới, vòng 2 là vòng sửa đổi, bổsung và hoàn chỉnh
Cuộc cải cách giáo dục phổ thông triển khai theo cách “cuốn chiếu”, nghĩa
là lần lượt làm từng lớp học, mỗi năm một lớp, bắt đầu từ năm học 1981 - 1982,thay sách cải cách giáo dục ở lớp 1 Như vậy sẽ kéo dài 12 năm mới thay sáchcải cách giáo dục đến lớp 12 Toàn ngành, toàn cơ quan Bộ đều hăng hái và nỗlực, nhưng đã phải vượt qua bao nhiêu vất vả và khó khăn
Ngày 27/3/1979, Ủy ban cải cách giáo dục đã họp phiên đầu tiên dưới sựchủ tọa của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Ủy ban và đồng chí Tố Hữu,phó chủ tịch Ủy ban
Trang 29Để mở đầu cho việc thực hiện Nghị quyết, bước vào năm học 1979 - 1980,
Ủy ban cải cách giáo dục Trung ương đã ra quyết định số 1 phát động phong tràotăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong các trường học Đối tượng giáodục không chỉ là học sinh mà bao gồm cả giáo viên và cha mẹ học sinh Cuộcvận động này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chuẩn bị tiền đề để nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao sức chiến đấu của nhà trường chốngnhững hiện tượng tiêu cực, chuẩn bị cho việc thực hiện chương trình mới, hệthống mới
Do hậu quả của chiến tranh biên giới và thiên tai, năm học 1979 - 1980 diễn
ra trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn to lớn song sự nghiệp giáo dục vẫn tiếp tụcphát triển ở tất cả các ngành học Riêng giáo dục phổ thông, số lượng học sinh
ba cấp của cả nước đều tăng, cụ thể là “cuối năm 1979, tổng số học sinh phổthông lên tới 11.803.869 em, trong đó cấp I có 8.025.909, cấp II có 3.139.739 em
và cấp III là 638.221 em” [75, tr 164] Phong trào phổ cập cấp I cho trẻ vàngười lớn cũng được đẩy mạnh hơn
Chỉ thị số 06/CT (tháng 3/1983) của Bộ giáo dục quy định tiêu chuẩn phổcập cấp I cho trẻ em gắn với điều kiện phải có về số lượng, chất lượng giáo viên,
về cơ sở vật chất thiết bị của nhà trường để được công nhận là đơn vị đạt tiêuchuẩn phổ cập giáo dục cấp I Chỉ thị 06 quy định 90% số trẻ em 15 tuổi phảihọc xong chương trình cấp I cải cách giáo dục (gọi là mức I) và 10% số trẻ em
15 tuổi phải học xong phải học xong chương trình cấp I ở mức thấp hơn (gọi làmức II) Trong khi chờ đợi Bộ ban hành chương trình cấp I phổ cập (ngắnhạn…) các địa phương tạm thời rút gọn chương trình cấp I cải cách giáo dục và
sử dụng chung sách giáo khoa cải cách giáo dục để dạy học ở các lớp buổi tối,lớp tình thương…
Trang 30Ngành giáo dục phổ thông đã tập trung nhiều công sức thực hiện phong tràohọc đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế Lao động sản xuất và hướng nghiệp
là một nội dung quan trọng trong trường học Thực hiện quyết định 48/HĐBT(7/12/1982) của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động của các trung tâmkhoa học kỹ thuật - hướng nghiệp, Bộ đã thành lập Ban lao động sản xuất vềhướng nghiệp, đã chỉ đạo thành lập được hệ thống các trung tâm khoa học kỹthuật - hướng nghiệp cấp tỉnh làm cơ sở cho sự phát triển hệ thống này ở cấphuyện Đây là loại mô hình hướng nghiệp dạy nghề rất phù hợp với hoàn cảnhViệt Nam Nhiều trường phổ thông được tăng cường thiết bị thí nghiệm, trang bịxưởng trường Các trường vừa học vừa làm được thành lập ở nhiều dạng khácnhau Không khí trường phổ thông trở nên sôi động hơn, gắn với đời sống xã hộihơn
Ngành giáo dục phổ thông còn rất coi trọng việc giáo dục chính trị đạo đứccho học sinh, đã xây dựng chương trình chủ điểm cho từng cấp học, từng nămhọc gắn với các sự kiện chính trị lớn của đất nước, phù hợp với từng lứa tuổi vớinhiều sinh hoạt phong phú hơn…Ngành cũng rất chú ý đến phát triển giáo dục ởmiền núi, vùng khó khăn bằng cách xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộcnội trú từ cấp Trung ương, tỉnh huyện đến cụm xã…Cũng trong giai đoạn này,
hệ thống trường cán bộ quản lý được phát triển và củng cố
Đối với các tỉnh phía Nam, việc tổng kết và mở Hội nghị khoa học về
chương trình nghiên cứu giáo dục đồng bằng sông Cửu Long họp trong hai ngày
23 và 24/9/1981 đã được đánh giá là một sự kiện đầu tiên nghiên cứu giáo dụctrên một địa bàn rộng lớn có tầm quan trọng đặc biệt về mặt nông nghiệp đối với
cả nước
Trang 31Báo cáo của Bộ, do Thứ trưởng Hồ Trúc trình bày với nhan đề “Ngành giáodục phổ thông đối với nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật phát triển kinh tế và xã hộivùng đồng bằng sông Cửu Long” đã nêu lên một cách súc tích nhiều vấn đề cótầm quan trọng chiến lược cho giáo dục phổ thông đồng bằng sông Cửu Long,làm chuyển biến bước đầu các trường trong khu vực này.
Qua hội nghị, Bộ đã nhìn thấy rõ những khó khăn của giáo dục phổ thôngkhu vực này: ở các xã xa đường quốc lộ, nhất là ở các xã vùng xâu, vùng căn cứkháng chiến, chỉ có 40% - 50% số trẻ em trong độ tuổi đi học cấp I, tỉ lệ học sinhlưu ban và bỏ học có nơi tới 25% - 30%, ảnh hưởng của lũ lụt khiến cho số tuầnthực học (35 tuần) của năm theo cải cách giáo dục không thể thực hiện được;giáo viên thiếu nhiều; học sinh ở vùng kênh rạch khó đi tới học ở các điểmtrường lập trong xã…Vì vậy, Bộ đã đề ra chủ trương “Nghiên cứu ban hànhchương trình cấp I ngắn hạn” (100 tuần), và năm 1984 ở vùng bị lũ lụt, Bộ chorút gọn chương trình xuống còn 26 tuần thực học
Hội nghị khoa học về giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long (1981) còn làtiền đề để đến năm 1985, phân viện Khoa học giáo dục tại Thành phố Hồ ChíMinh đề xuất một số biện pháp góp phần chuyển hướng giáo dục phổ thông ởvùng này
Ngành giáo dục phổ thông cũng đã giải quyết tích cực những khó khăntrong đời sống giáo viên để thực hiện được yêu cầu đặt ra của công cuộc cải cáchgiáo dục Trong những năm học 1978 - 1979 đến 1981 - 1982, đời sống khókhăn, tình trạng giáo viên, nhất là ở các tỉnh phía Nam, bỏ nghề đã trở thành mốiquan tâm lớn của Bộ giáo dục Bộ đã đề xuất với Đảng và Nhà nước giải quyếtđược một số vấn đề cụ thể, tồn tại từ lâu
Trang 32Bằng quyết định 15-CP (14/1/1981) Chính phủ cho phép ngành giáo dục lập
“quỹ bảo trợ nhà trường” Mục đích của quỹ bảo trợ là: góp phần sửa chữa, xâydựng cơ sở vật chất cho nhà trường, mua sắm thêm đồ dùng dạy học, giấy bútcho thầy giáo, góp phần cải thiện đời sống giáo viên, khen thưởng, khuyến khíchthầy giáo dạy giỏi, học trò học giỏi
Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng ngày 28/9/1982 lấy ngày 20/11 hàngnăm là ngày Nhà giáo Việt Nam Nghị quyết 73/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởngngày 12/7/1983 điều chỉnh thang lương giáo viên tốt nghiệp đại học sư phạmtheo thang lương kỹ sư, lương giáo viên tốt nghiệp trung học sư phạm theo thanglương kỹ thuật viên
Ngành giáo dục phổ thông cũng rất quan tâm đến vai trò của các đoàn thểnhư phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đẩymạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, phối hợp và tạo điều kiện hoạt động chocông đoàn giáo dục Việt Nam trong việc chỉ đạo thi đua hai tốt và chăm sóc đờisống thầy, cô giáo v.v…
Triển khai cải cách giáo dục đã có nhiều cố gắng trong xây dựng cơ sở vậtchất - kỹ thuật trường học Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 248/TTg ngày23/11/1973 của Thủ tướng Chính phủ, “trong 10 năm từ 1975 đến 1985, cả nước
đã xây dựng thêm được 185.000 nghìn phòng học các loại (trong đó có 130.000phòng học kiên cố và bán kiên cố) và hơn 2 triệu mét vuông các công trình phục
vụ khác (thư viện, phòng thí nghiệm, nhà làm việc, nhà ở cho giáo viên, v.v…),với số vốn huy động khoảng 16 tỉ đồng (tính theo giá năm 1984)” [12, tr.349].Đến năm học 1983 - 1984, các tỉnh phía Bắc đã căn bản thanh toán được tìnhtrạng học 3 ca, 4 ca Một số huyện đã có đủ phòng học bằng gạch ngói học 2 ca,
số trường xây dựng kiên cố cao tầng theo phương thức “Nhà nước và nhân dân
Trang 33cùng làm” ngày càng nhiều Trường sở được xây dựng ngày càng đúng quy cáchhơn do có sự hướng dẫn của Ban xây dựng cơ bản của Bộ Giáo dục.
Cùng với việc xây dựng trường sở, vấn đề trang thiết bị đồ gỗ (bàn ghế họcsinh, giáo viên, bảng lớp, tủ…) cũng được chú ý tăng cường Một số địa phương
đã có ý thức đóng bàn ghế cho học sinh theo kích thước và mẫu hướng dẫn của
Bộ Riêng đối với các trường trực thuộc Bộ Giáo dục cũ, “trong 10 năm (1975 1985) đã đầu tư hơn 200 triệu đồng vốn xây dựng cơ bản và gần 100 triệu vốn sựnghiệp xây dựng được gần 300.000m2 nhà cửa và trang thiết bị phục vụ giảngdạy, học tập, lao động, sản xuất” [12, tr.350]
-Thiết bị dạy học cho giáo dục phổ thông trong thời kỳ này cũng được chú ýhơn Từ Bộ đến các địa phương đã có các cơ quan chuyên lo việc sản xuất, cungứng, hướng dẫn tổ chức quản lý, sử dụng thiết bị dạy học cho các trường phổthông Bộ giáo dục đã ban hành quy chế bảo quản đồ dùng dạy học và bằng cách
ấy khuyến khích các thầy cô giáo cải tiến đồ dùng dạy học Chỉ thị 23/CT ngày16/10/1984 quy định nội dung công việc giáo viên cần làm để sản xuất đồ dùngdạy học, quy định chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cộng tác viên làm đồ dùng dạyhọc “Từ năm 1976 - 1985 các trường đã trang bị trên 1000 loại thiết bị dạy họckhác nhau: tranh ảnh, bản đồ, phim đèn chiếu, phim xinê, băng đĩa ghi âm giáokhoa, mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm, máy móc v.v…Mỗi loại thiết bịhàng ngàn chiếc” [12, tr.350]
Để tăng cường thiết bị dạy học cho các trường phổ thông ngành giáo dục đãphát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học với 2 cuộc thi và triển lãm thiết bịdạy học tự làm ở từng miền vào năm 1976 và 1978, và cuộc thi toàn quốc vàonăm 1981, 1985 đã thu hút hàng loạt giáo viên và học sinh tham gia, tạo ra hàngnghìn mẫu thiết bị dạy học phục vụ cho việc dạy học ở các trường phổ thông
Trang 34Cuộc tổng kết công tác giáo dục 10 năm (1975 - 1985) đã được tiến hànhvào năm 1986 là một dịp nhìn lại quá trình phát triển của ngành sau một thập kỷ
kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Cuộc tổng kết đã điểm lạitình hình phát triển của các ngành học, những điều kiện chủ yếu để phát triển sựnghiệp giáo dục Từ đó mà rút ra những nhận xét, đánh giá chung về nhữngthành tựu, những tồn tại chủ yếu, những bài học kinh nghiệm lớn nhằm mở ramột thời kỳ mới của giáo dục
Riêng về ngành học phổ thông, cuộc tổng kết đã đi sâu vào từng cấp học cả
về số lượng và chất lượng
Về cấp phổ thông cơ sở: Trong 10 năm phát triển, đến 1986, mạng lưới
trường cấp I phổ thông cơ sở đã mở rộng ở khắp các địa bàn Hầu như ở mỗi xãđều có một trường phổ thông cơ sở hai cấp, hoặc ít nhất cũng có cấp I Đây làđiều kiện quan trọng để trẻ em đến tuổi đi học được thỏa mãn yêu cầu học tập.Theo số liệu thống kê thì: “Năm học 1975 - 1976, trong cả nước có7.404.000 trẻ em đi học cấp I phổ thông cơ sở Đến năm học 1984 - 1985, con số
đó lên tới 8.166.372 trẻ em, chiếm 13,69% dân số” [21, tr 17]
Nhìn chung trong cả nước, học sinh cấp I tăng không nhanh, song đều đặn,
ổn định Chủ trương phổ cập cấp I được tiến hành tích cực “Việc huy động trẻtrong độ tuổi ra lớp đạt một tỉ lệ cao (98% ở miền xuôi, 80% ở miền núi)” [21,
tr 17]
Về chất lượng giáo dục, ở các trường tiên tiến và các trường trọng điểm cảicách giáo dục, học sinh đã được rèn luyện về nhiều mặt, các em chăm ngoan, cótiến bộ hơn trong học tập Ở các lớp “thay sách”, nền nếp học tập và sinh hoạtđược duy trì, kỷ luật trật tự khá hơn trước Qua khảo sát ở một số địa phương,
Trang 35kết quả học tập ở lớp 1 “thay sách” hơn hẳn các lớp vỡ lòng trước đây, “Toánđạt 80%, học vàn và tập đọc: 70%, tập viết: 50%” [21, tr 18].
Tuy vậy, sự phát triển về số lượng ở cấp I không đồng đều trên các địa bàn.Trong khi nhiều nơi đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục cấp I và đang đi vàophổ cập cấp II, thì ở một số nơi khác, vấn đề phổ cập cấp I còn đang rất khókhăn Ở Đồng bằng sông Cửu Long, tỉ lệ trẻ đi học cấp I đúng độ tuổi chỉ đạt60% Ở vùng sâu, vùng cao còn thấp hơn nữa, dao động từ 20% đến 30% Cónhững xã trẻ em chưa bao giờ học quá lớp 2 Tình trạng tái mù chữ ở trẻ em thểhiện khá rõ Hiện tượng lưu ban và bỏ học ở cấp I không trầm trọng như ở cấp II
và có xu hướng giảm đi, nhưng vẫn còn cao và là trở ngại lớn cho việc phổ cậpcấp I “Năm học 1984 - 1985, số học sinh lưu ban của toàn cấp học là 8,44%.Tình hình lưu ban ở lớp 1 còn đáng lo ngại hơn” [21, tr 19]
Chất lượng văn hóa cũng có sự chênh lệch khá lớn giữa các trường tiên tiến,các trường trọng điểm cải cách với các trường thuộc diện đại trà, giữa các trường
ở miền xuôi với miền núi, ở thành thị với nông thôn (có nơi chất lượng văn hóa
“đạt yêu cầu 95 - 100%, nhưng có nơi chỉ đạt 25 - 30%” [21, tr 19] )
Chất lượng giáo dục toàn diện của các lớp ở cấp I nhìn chung chưa có thayđổi, chuyển biến gì đáng kể Giáo dục thể chất vẫn bị coi nhẹ Rất nhiều học sinhcấp I bị cong vẹo cột sống, suy dinh dưỡng, giun sán, đau mắt hột Công tácquản lý sức khỏe của học sinh còn rất lỏng lẻo vì chưa có quy định, cũng nhưchưa có tổ chức y tế trường học
Giáo dục thẩm mĩ được chú ý hơn ở các lớp “thay sách”, nhưng lại rất thiếu
cơ sở vật chất và giáo viên, cách dạy nặng về cung cấp kiến thức hơn là giáo dụctình cảm và thói quen tốt Qua việc thay sách cấp I, một số vấn đề đặt ra là phảiquan tâm hơn nữa đến công tác nghiên cứu khoa học giáo dục, tổ chức thực
Trang 36nghiệm đối với cấp I, tổng kết các lớp học trọng điểm cải cách để xác địnhphương pháp giáo dục ở cấp I, làm sáng tỏ về tâm lý lứa tuổi trẻ em Việt Nam.
Từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trở thành những chuyêngia cấp học quan trọng này
Để hoàn chỉnh công tác cải cách giáo dục, cũng cần xem xét lại chươngtrình, nội dung, kế hoạch giáo dục nhằm khắc phục hiện tượng “quá tải” Có điềuchỉnh cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện ở các vùng dân tộc, miềnnúi, các nơi xa xôi, hẻo lánh Đảm bảo sự phát triển toàn diện và việc xây dựngnhân cách của học sinh, tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên, chú ý cơ cấu,quy mô và cách bố trí trường lớp thuận lợi hơn cho việc đi lại, học tập của họcsinh
Cấp II phổ thông cơ sở: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV chỉ rõ: “Phát
triển tích cực, vững chắc và từng bước tiến tới phổ cập cấp II phổ thông cơ sở”
Vì vậy, ngành giáo dục đã cố gắng để nâng cao tỉ lệ trẻ trong độ tuổi đi học
“Năm học 1975 - 1976, cả nước có 2.410.000 học sinh cấp II Năm học
1980 - 1981, con số đó lên tới 3.158.867 em, và năm học 1984 - 1985 xấp xỉ 3,1triệu, chiếm 5,2% dân số” [21, tr 20] Riêng đối với các tỉnh của vùng mới giảiphóng thì số học sinh cấp II đã tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ trước 1975.Mạng lưới trường phổ thông cơ sở cấp II khá đầy đủ thu nhận trẻ đã học hếtcấp I “Năm học 1884 - 1985, tổng số trường phổ thông cấp II là 12.265 trường,trong đó trường chỉ có cấp II là 179” [21, tr 21] Trong đó có 62 trường là lá cờđầu của cả nước và của 40 tỉnh, thành và hàng trăm trường tiên tiến xuất sắc cấphuyện Đó là những trường tiến bộ rõ rệt trong việc đảm bảo chất lượng giáo dụctoàn diện Ở nhiều huyện hoặc nhiều cụm trường đã có nước trung tâm thínghiệm thực hành giúp nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh Học sinh ở các
Trang 37trường chuyên, lớp chọn học tập chăm chỉ, hứng thú, đạt kết quả khá tốt, nhưng
tỉ lệ chỉ chiếm từ 10 đến 15% tổng số học sinh
Nhiều trường có chuyển biến rõ rệt trong việc tổ chức lao động sản xuất,hướng nghiệp, dạy nghề đơn giản cho học sinh Ở một số vùng nông nghiệp,thầy và trò đã tự xây dựng cơ sở vật chất của trường mình hoặc áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất địa phương Ở những xã, huyện đã có sự phốihợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất và chính quyền, tìm cách phân luồng họcsinh cấp II kết hợp với đào tạo và sử dụng, giúp học sinh an tâm học tập vàchuẩn bị tốt để đi vào cuộc sống
Sau khi có Nghị quyết 01 và 06 của Ủy ban cải cách giáo dục Trung ương,nhiều trường đã kiên trì đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị và đạo đức Hoạtđộng Đội thiếu niên tiền phong có sức hấp dẫn hơn, nhiều hình thức hoạt độngngoại khóa phong phú, thích hợp với lứa tuổi
Việc thành lập Hội đồng Giáo dục các cấp và sự phối hợp giữa các nhàtrường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục, cùng với ảnh hưởng tích cựccủa kỉ luật dạy và học được chú ý hơn, công tác lao động sản xuất, hướng nghiệp
đã dần vào nề nếp, đã tạo được ở nhiều trường cấp II những chuyển biến tốt vềmặt tư tưởng, đạo đức; thể hiện thái độ lao động, ý thức trật tự kỷ luật của họcsinh
Tốc độ phát triển giáo dục cấp II khá nhanh, nhất là đối với các tỉnh phíaNam, nhưng không ổn định Hiện tượng lưu ban, bỏ học ở cấp II là cao nhất và
có xu hướng tăng lên trong nhiều năm Bảng 1.1 sau đây nêu rõ tình trạng đótrong một số năm học
Trang 38Bảng 1.1: Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học (% tổng số học sinh của cấp học).Năm học 1979 - 1980 1980 - 1981 1983 - 1984 1984 - 1985
(Nguồn [75, tr 168])Vấn đề phân luồng, sử dụng học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở là vấn đềbức xúc Con đường học nghề cho các em chưa mở rộng Hệ thống trường dạynghề còn nhỏ bé, ít ỏi Do đó, vấn đề dạy nghề ở trường phổ thông cấp II đượcđặt ra cấp bách Trong thực tế, do chưa chuẩn bị tốt cho học sinh bước vào cuộcsống, sức ép mở rộng trường phổ thông trung học một cách đa dạng ngày mộttăng Ở thành phố, khá đông học sinh học xong cấp II đi vào phổ thông trung học(60 đến 70%), còn ở nông thôn tuy ít hơn song tỉ lệ ngày một gia tăng (xấp xỉ50%)
Chất lượng giáo dục ở cấp II về nhiều mặt chưa thể yên tâm Nhìn chung,không có những biểu hiện gì nghiêm trọng Các em học tập, sinh hoạt có kỷ luật,
nề nếp, gắn bó với tập thể, với Đội, Đoàn Song một số không ít còn lười học,thiếu lễ độ, văn minh
Về văn hóa, chương trình một mặt còn nặng nề, quá tải, mặt khác nội dunglại bị cắt xén, giản lược ở nhiều bộ môn Do đó, kiến thức học sinh thu nhậnđược đã ít ỏi lại không vững chắc, thiếu hệ thống
Bên cạnh đó, nhiều địa phương tổ chức “lớp chuyên” thu hút các em họcsinh giỏi, có năng khiếu từng môn Những lớp này có chế độ học tập, sinh hoạtkhác các lớp bình thường Cách tổ chức có một số yếu tố tích cực, song cũng bộc
lộ nhiều nhược điểm
Trang 39Các hoạt động khác như thể dục thể thao, rèn luyện thân thể, giáo dục thẩmmỹ… nằm trong tình trạng chung, không được quan tâm bao nhiêu, trừ một sốtrường trọng điểm.
Học sinh phổ thông cơ sở sẽ là nguồn lao động chủ yếu phục vụ cho sảnxuất địa phương cũng như nền kinh tế quốc dân Thực trạng giáo dục cho thấyngành giáo dục phải nhanh chóng tìm ra những biện pháp tích cực để nâng caochất lượng giáo dục, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống Điều đó có một
ý nghĩa kinh tế - xã hội hết sức to lớn
Về phổ thông trung học (cấp III):
Cấp III là cấp hoàn thành bậc học phổ thông, trực tiếp chuẩn bị mọi mặt chohọc sinh trở thành những người công dân, những người lao động, những chiến sĩbảo vệ đất nước, học tiếp tục học lên các trường đại học, chuyên nghiệp để cóthể đi xa hơn trong nghề nghiệp, trong hoạt động khoa học kỹ thuật và trongcông tác phục vụ cách mạng
Về mặt phát triển, “năm học 1975 - 1976 cả nước có trên 600 trường cấpIII, với trên 10 nghìn lớp học và trên 50 vạn học sinh, chiếm tỉ lệ 1,03% dân số.Năm học 1984 - 1985 đã có 892 trường phổ thông trung học rải khắp ở cáchuyện, có huyện có tới 3 - 4 trường, với 16.302 lớp, 778.285 học sinh, chiếm1,3% dân số” [21, tr 25]
Như vậy, số học sinh hàng năm vẫn tăng đều, đặc biệt ở các tỉnh phía Nam
vì trước giải phóng, số trường đã ít lại chỉ tập trung ở các thành phố, nay pháttriển ở khắp các địa phương
So với cấp I và cấp II, tỉ lệ lưu ban, bỏ học ở cấp III thấp hơn và có chiềuhướng giảm đi
Bảng 1.2 Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học (% tổng số học sinh của cấp học)
Trang 40Năm học 1976 - 1977 1979 - 1978 1983 - 1984 1984 - 1985
(Nguồn [75, tr 169])Điều này chứng tỏ cấp III vẫn có sức kích thích mạnh mẽ, cả địa phương,gia đình và bản thân học sinh đều quan tâm đến việc phát triển, đến chất lượng
và hiệu quả giáo dục của cấp học này
Ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng đối với cấp III trong công tác giáo dụctoàn diện về văn hóa - khoa học, về chính trị - tư tưởng - đạo đức, về lao độngsản xuất và hướng nghiệp, về hoạt động thể dục thể thao và văn nghệ Đặc biệt là
đã kiên trì triển khai có kế hoạch hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường theoquyết định số 126 - CP ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ và Nghị quyếtcủa Đại hội Đảng lần thứ V
Toàn ngành giáo dục đã xây dựng được 66 trường phổ thông trung học vừahọc vừa làm, trong đó có những trường trở thành tiên tiến Trên cơ sở tổ chức tốtvấn đề lao động sản xuất và hướng nghiệp, chuẩn bị tích cực cho học sinh ratrường, các đơn vị này đã đồng thời bảo đảm nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, đạt được những tiến bộ rõ rệt về giáo dục chính trị - tư tưởng - đạo đức, vềkhoa học - kỹ thuật, về giáo dục thể chất, cung cấp cho toàn ngành nhiều kinhnghiệm quý báu về gắn nhà trường với cuộc sống, phát triển giáo dục gắn vớicác mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể, về cách thức liên kết nhà trường với các cơ sởsản xuất, về cách làm giáo dục chủ động, sáng tạo, có kết quả phù hợp với điềukiện Việt Nam, nêu cao tinh thần tự lực tự cường trong hoàn cảnh đất nước cònnhiều khó khăn trong giai đoạn này Điển hình là các trường Trần Hưng Đạo ởHải Phòng, trường Quán Triều ở Bắc Thái, trường Liên Hà ở Hà Nội, trườngHoài An ở Nghĩa Bình…