Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn học mỗi sinh viên đều đã nắm vững được những nguyên tắc chung nhất của kế toán quản trị các hoạt động của một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh..
Trang 1Lời nói đầu
Trong những năm qua thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng XHCN nền kinh tế
nước ta đã có sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ Trong bối cảnh đó các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải đổi mới, tăng cường và
nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh
Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ
quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và
kiểm soát các hoạt động kinh tế Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài
chính, kế toán quản trị là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính,
đảm nhiệm tổ chức hệ thống thông tin có ích cho các quyết định kinh tế Vì vậy,
kế toán quản trị có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ với hoạt động tài chính
nhà nước, mà còn với hoạt động tài chính của mỗi doanh nghiệp
ở nước ta, kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và ứng dụng trong thời gian
gần đây Do vậy, việc hiểu để vận dụng có hiệu quả kế toán quản trị ở các doanh
nghiệp có ý nghĩa lớn lao để tăng cường khả năng hội nhập, tạo nên sự an tâm
cho nhà quản trị khi có trong tay một công cụ khoa học hỗ trợ cho quá trình quản
lý điều hành doanh nghiệp
Chính vì vậy, kế toán quản trị là môn học rất quan trọng đối với sinh viên
chuyên ngành kinh tế nói chung và chuyên ngành kế toán nói riêng Nó cung cấp
cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất mà bất cứ một kế toán viên cần phải
nắm được
Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn học mỗi sinh viên đều đã nắm
vững được những nguyên tắc chung nhất của kế toán quản trị các hoạt động của
một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Việc thực hiện đồ án môn học là rất cần
thiết để sinh viên có thể tổng hợp lại kiến thức đã học, đào sâu và nắm vững lý
thuyết kế toán và vận dụng các phương pháp kế toán vào thực hành công tác kế
toán trong hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp Cùng với việc giúp sinh
viên nắm chắc các kiến thức cơ bản của môn học, đồ án còn rèn luyện kỹ năng
Trang 2thực hành và nhận ra những hạn chế, thiếu sót, những tư duy sai lệch trong quá
trình học tập để kịp thời điều chỉnh sửa chữa
Trong phạm vi hẹp của đồ án môn học, em sẽ trình bày những hiểu biết cơ
bản nhất và chung nhất về môn học “Kế Toán Quản Trị” mà em đã được học
Nhưng do kiến thức về nghiệp vụ kế toán còn hạn hẹp và kinh nghiệm thực tế
còn chưa có, cho nên trong quá trình làm đồ án còn nhiều sai sót Em rất mong
được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phạm
Thị Hồng Hạnh đã giúp đỡ em hoàn thành đồ án môn học này Đồ án được thực
hiện trên cơ sở dữ liệu mà em đã thu thập thông qua đợt thực tập nghiệp vụ kinh
tế tại Công ty than Vàng Danh - một đơn vị trực thuộc Tập đoàn than và khoáng
sản Việt Nam
Đồ án của em gồm 3 chương :
Chương I: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị
Chương II : Phân tích biến động chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp (công ty than Mạo khê)
Chương III : Phân tích điểm hoà vốn và lựa chọn phương án kinh doanh
của Công ty than Mạo Khê
Trang 3CHƯƠNG I:
CƠ Sở Lý LUậN Về Kế TOáN QUảN TRị
1.1 Những vấn đề cơ bản về kế toán quản trị
Trang 41.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Nhà quản trị muốn thắng thế trên thị trường cần phải biết rõ tình hình kinh
tế tài chính thực tế của mình như thế nào, muốn vậy họ cần phải sử dụng hàng
loạt công cụ quản lý, trong đó kế toán là một công cụ quan trọng bậc nhất, đặc
biệt là kế toán quản trị
Kế toán quản trị là một bộ phận của hạch toán kế toán, làm nhiệm vụ thu
thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh
một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành,
tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ
doanh nghiệp Đồng thời kế toán quản trị còn đánh giá, theo dõi việc thực hiện
kế hoạch để đảm bảo sử dụng có hiệu quả và quản lý chặt chẽ tài sản của doanh
doanh nghiệp đó Các chức năng cơ bản của quản lý hoạt động doanh nghiệp
nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra có thể được khái quát trong sơ đồ sau đây:
Trang 5Qua sơ đồ trên ta thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế
hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay trở lại khâu lập kế hoạch
cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định
Để làm tốt các chức năng này đòi hỏi các nhà quản trị phải đề ra những
quyết định đúng đắn nhất cho các hoạt động của doanh nghiệp Muốn có những
quyết định có hiệu quả và hiệu lực, các nhà quản trị có yêu cầu về thông tin rất
lớn Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu, dù không phải là duy nhất, cung cấp nhu
cầu thông tin đó
b Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ của kế toán quản trị là:
- Tính toán và đưa ra mô hình về nhu cầu vốn cho một loại sản phẩm, một
thời hạn giao hàng, một thời hạn giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó
Lập kế hoạch
Thực hiện
Kiểm tra
Trang 6- Tính toán, đo lường chi phí cho một loại sản phẩm, một thời hạn giao
hàng, hay một thời hạn giải quyết một vấn đề nào đó
- Giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên các chi phí này, cần
phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có thể can thiệp, tác động vào các
nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh chi phí
c Chức năng:
- Chính thức hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu;
- Lập dự toán sản xuất kinh doanh;
- Thu thập kết quả thực hiện;
- Soạn thảo báo cáo đánh giá
1.1.3 Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính
Tiêu thức Kế toán tài chính Kế toán quản trị
1 Mục đích sử
dụng thông tin
- Phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính trên cơ sở số liệu thu thập
- Phục vụ cho nhà quản trị trong việc lập
kế hoạch và đưa ra phương án kinh doanh
2 Đối tượng sử
dụng thông tin
- Chủ thể bên trong và bên ngoài doanh nghiệp: Nhà quản trị, khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, nhà đầu tư, nhà nước
- Chủ thể bên trong doanh nghiệp: nhà quản trị – những người trực tiếp điều hành doanh nghiệp
Trang 7- Thông tin phải tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực đã quy định
- Phản ánh thông tin dự báo trong tương lai
- Là những thông tin chi tiết, thể hiện cả chỉ tiêu giá trị, hiện vật, thời gian lao động
- Không tuân thủ các nguyên tắc mà xây dựng theo yêu cầu nhà quản trị, miễn là đảm bảo tính linh hoạt, kịp thời
- Theo yêu cầu của nhà quản trị (có thể thường xuyên hoặc định kỳ)
Trang 81.1.4 Vai trò, ý nghĩa của kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết phải có các yếu tố
sản xuất cơ bản, đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động
Trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nguyên vật liệu là đối tượng lao
động, tài sản cố định và các công cụ dụng cụ khác không đủ tiêu chuẩn tài sản cố
định là tư liệu lao động, còn lao động của con người là yếu tố sức lao động
a Kế toán quản trị vật tư, hàng hoá:
Kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp để ra
quyết định sản xuất kinh doanh do đó thông tin cần phải cập nhật và liên tục
Điều đó cũng có nghĩa là các tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư, hàng hoá cả
chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu thành tiền theo từng mặt hàng, từng nhóm, từng loại,
ở từng nơi bảo quản, sử dụng phải được hạch toán chi tiết để sẵn sàng phục vụ
cho yêu cầu của quản trị Muốn vậy công tác hạch toán vật tư hàng hoá phải đảm
bảo các yêu cầu sau:
- Tổ chức hạch toán chi tiết vật tư hàng hoá theo từng kho, từng bộ phận
kế toán doanh nghiệp
- Theo dõi liên tục hàng ngày tình hình nhập xuất tồn kho của từng loại,
nhóm mặt hàng vật tư hàng hoá cả chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu thành tiền
- Đảm bảo đối chiếu khớp và chính xác tương ứng giữa các số liệu của kế
toán chi tiết với số liệu hạch toán chi tiết tại kho, giữa số liệu của kế toán chi tiết
với số liệu của kế toán tổng hợp về tình hình vật tư, hàng hoá
- Báo cáo cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết hàng ngày, hàng tuần
về tình hình vật tư hàng hoá theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp
b Kế toán quản trị tài sản cố định:
Trang 9Trong quá trình sử dụng TSCĐ vào sản xuất kinh doanh, giá trị của TSCĐ
bị hao mòn dần và chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh
Nhưng TSCĐ hữu hình vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến khi
hư hỏng Mặt khác TSCĐ được sử dụng và bảo quản ở các bộ phận khác nhau
trong doanh nghiệp Bởi vậy kế toán chi tiết TSCĐ phải phản ánh và kiểm tra
tình hình tăng, giảm, hao mòn TSCĐ của toàn doanh nghiệp và của từng nơi bảo
quản, sử dụng theo từng đối tượng ghi TSCĐ Ngoài các chỉ tiêu phản ánh nguồn
gốc, thời gian hình thành TSCĐ, công suất thiết bị, số hiệu TSCĐ, kế toán phải
phản ánh nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại của từng đối tượng ghi
TSCĐ tại từng nơi sử dụng, bảo quản TSCĐ Việc theo dõi TSCĐ theo nơi sử
dụng nhằm gắn trách nhiệm bảo quản, sử dụng tài sản với từng bộ phận, từ đó
nâng trách nhiệm và hiệu quả trong bảo quản sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp
c Kế toán quản trị lao động và tiền lương (tiền công)
Lao động là yếu tố quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh Nói
đến yếu tố lao động là nói đến lao động sống, tức là sự hao phí có mục đích về
thể lực và trí lực của con người để tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện hoạt động
kinh doanh Để bù lại phần hao phí đó của lao động, doanh nghiệp phải trả cho
họ khoản tiền phù hợp với số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp Số
tiền này được gọi là tiền lương hay tiền công
Kế toán quản trị lao động, tiền lương phải cung cấp các thông tin
về số lượng lao động, thời gian lao động, kết quả lao động và quỹ lương cho các
nhà quản trị doanh nghiệp Từ những thông tin này các nhà quản trị đưa ra được
phương án tổ chức quản lý lao động, bố trí hợp lý lực lượng lao động của doanh
nghiệp vào từng khâu công việc cụ thể, nhằm phát huy tốt nhất năng lực của
Trang 10người lao động, tạo điều kiện tăng năng suất lao động, giảm chi phí nhân công
trong chi phí sản xuất kinh doanh
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của kế toán quản trị chi phí giá thành
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn luôn quan
tâm đến việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến lợi
nhuận Vì vậy vấn đề quan trọng được đặt ra cho nhà quản trị doanh nghiệp là
phải kiểm soát chi phí của doanh nghiệp
Vấn đề chi phí không chỉ là sự quan tâm của các doanh nghiệp mà còn là
mối quan tâm của người tiêu dùng, của xã hội nói chung
Theo kế toán tài chính, chi phí được hiểu là một số tiền hoặc một phương
tiện mà doanh nghiệp hoặc cá nhân bỏ ra để đạt được mục đích nào đó Bản chất
của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật
chất, có thể định lượng được như số lượng sản phẩm, tiền, hoặc dưới dạng tinh
thần, kiến thức, dịch vụ được phục vụ
1.1.6 Phân loại chi phí
Chi phí được nhà quản trị sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Do vậy,
chi phí được phân loại theo nhiều cách, tuỳ theo mục đích của nhà quản trị trong
từng quyết định Nhận định và thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại
chi phí là chìa khoá của việc đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình
tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp
a Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
* Tác dụng:
- Cho thấy vị trí, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp
Trang 11- Là căn cứ để xác định giá thành và tập hợp chi phí
- Cung cấp thông tin có hệ thống phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính
* Theo tiêu thức này chi phí được phân loại thành chi phí sản xuất và chi
phí ngoài sản xuất
- Chi phí sản xuất: là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản
phẩm hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ trong một kỳ nhất định
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí của những loại nguyên vật liệu mà cấu tạo thành thực thể của sản phẩm, có giá trị và có thể xác định
được một cách tách biệt rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm
+ Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí thanh toán cho công nhân trực tiếp vận hành dây chuyền sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ
+ Chi phí sản xuất chung: là tất cả các khoản chi phí phát sinh ở phân xưởng mà không thể đưa vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp
- Chi phí ngoài sản xuất: là những khoản chi phí không liên quan đến việc
chế tạo sản xuất sản phẩm, mà nó tham gia vào quá trình tiêu thụ và quản lý
+ Chi phí bán hàng: là tất cả những chi phí liên quan đến việc xác tiến tiêu thụ sản phẩm
+ Chi phí quản lý: là những chi phí liên quan đến việc điều hành quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
b Phân loại theo cách ứng xử của chi phí
Trang 12* Tác dụng: Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và
chủ động điều tiết chi phí đối với lĩnh vực quản trị doanh nghiệp; xác định mức
độ biến động của chi phí so với mức độ biến động của khối lượng sản phẩm sản
xuất ra
* Theo tiêu thức này chi phí được phân loại thành chi phí biến đổi, chi phí
cố định và chi phí hỗn hợp
- Chi phí biến đổi: là toàn bộ chi phí biến đổi khi khối lượng sản phẩm
biến đối và tỉ lệ thuận với khối lượng sản phẩm Chi phí biến đổi tính cho một
đơn vị sản phẩm không thay đổi, CPBD bằng 0 khi mức độ hoạt động hoạt động
- Chi phí cố định: là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt
động thay đổi trong phạm vi phù hợp Định phí tính cho một đơn vị sản phẩm tỉ
lệ nghịch với khối lượng sản phẩm sản xuất Nó không thể giảm đi bằng 0 khi
Trang 13- Chi phí hỗn hợp: là những khoản chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu
tố biến đổi, cả yếu tố cố định
c Phân loại chi phí theo mối quan hệ với sản phẩm
* Tác dụng: Xem xét những khoản mục chi phí nào ảnh hưởng trực tiếp
đến doanh thu của kỳ mà chúng phát sinh, những khoản mục chi phí nào ảnh
hưởng đến kỳ mà sản phẩm được đem đi tiêu thụ, từ đó có những kế hoạch sản
xuất và tiêu thụ hợp lý
* Theo cách phân loại này chi phí được phân loại thành chi phí sản phẩm
và chi phí thời kỳ:
- Chi phí sản phẩm: là toàn bộ chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản
phẩm và nó chỉ được thu hồi khi sản phẩm được đem đi tiêu thụ Còn nếu sản
phẩm chưa được tiêu thụ thì nó nằm trên giá trị hàng tồn kho Chi phí sản phẩm
gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản
xuất chung
- Chi phí thời kỳ: là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán Vì
thế chi phí thời kỳ có ảnh hưởng đến lợi tức của kỳ mà chúng phát sinh Vậy chi
phí thời kỳ bao gồm các loại chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
d Phân loại chi phí theo mục đích ra quyết định
* Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí có thể tách biệt cho từng đối
tượng, từng hoạt động cụ thể và tự bản thân nó hiển nhiên được chuyển thẳng
cho từng hoạt động cụ thể
Trang 14- Chi phí gián tiếp: là những chi phí cùng một lúc phát sinh liên quan đến
nhiều đối tượng và không thể tách biệt được trực tiếp cho từng đối tượng Do đó
nếu muốn tính chi phí gián tiếp cho từng đối tượng thì phải tiến hành phân bổ
theo những tiêu thức nhất định
Tuy nhiên có những khoản chi phí nếu xét cho từng hoạt động cụ thể thì là
chi phí gián tiếp nhưng nếu xét cho từng bộ phận hoặc trong phạm vi toàn doanh
nghiệp thì lại là chi phí trực tiếp
* Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là những khoản
mục chi phí phản ánh phạm vi quyền hạn của các nhà quản trị các cấp đối với
các loại chi phí đó Như vậy, các nhà quản trị cấp cao có phạm vi quyền hạn
rộng đối với chi phí hơn
* Chi phí thích hợp và chi phí không thích hợp
- Chi phí thích hợp: là những chi phí phát sinh có sự chênh lệch giữa các
* Chi phí cơ hội: là lợi nhuận tiềm ẩn lớn nhất mà doanh nghiệp bị mất đi
khi lựa chọn phương án này thay cho phương án kia
Trang 15e Phân loại chi phí trên các báo cáo kế toán
Bảng kê chi phí sản xuất trong kỳ
1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2 Chi phí nhân công trực tiếp
3 Chi phí sản xuất chung
4 Tổng chi phí phát sinh trong kỳ
5 Chi phí dở dang đầu kỳ
6 Chi phí dở dang cuối kỳ
Trang 163 Lợi nhuận gộp
4 Chi phí bán hàng
5 Chi phí quản lý doanh nghiệp
6 Lợi nhuận thuần
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(Sử dụng nội bộ)
1 Doanh thu thuần
2 Chi phí biến đổi
- Chi phí sản xuất biến đổi
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi
- Chi phí ngoài sản xuất biến đổi
+ Chi phí bán hàng biến đổi
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp biến đổi
Trang 17- Chi phí ngoài sản xuất cố định
+ Chi phí bán hàng cố định
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp cố định
5 Lợi nhuận
1.2 Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
1.2.1 Các khái niệm cơ bản trong phân tích mối quan hệ CP-KL-LN
a Số dư đảm phí (lãi trên biến phí)
* Tổng số dư đảm phí
- Tổng số dư đảm phí là số dư biểu hiện bằng số tuyệt đối của tổng doanh
thu sau khi đã trừ đi tổng chi phí biến đổi và phần còn lại sẽ được dùng để bù
- Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu thể hiện số tương đối giữa tổng số dư đảm
phí với tổng doanh thu hoặc giữa số dư đảm phí đơn vị với giá bán
SDĐP = DT – CPBĐ
Trang 18- Công thức:
Tỷ lệ SDĐP =
SDĐP
= SDĐPđv
b Kết cấu của chi phí
- Là chỉ tiêu thể hiện số tương đối của biến phí và định phí so với tổng chi
phí của doanh nghiệp
- Những doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao trong tổng chi phí thì lợi
nhuận sẽ nhạy cảm với biến động của doanh thu Đây sẽ là điểm thuận lợi khi
doanh nghiệp tăng doanh thu
- Những doanh nghiệp có tỷ lệ định phí thấp trong tổng chi phí thì lợi
nhuận sẽ ít nhạy cảm hơn so với biến động của doanh thu Điều này sẽ làm cho
doanh nghiệp có độ an toàn cao hơn khi làm ăn thất bại
c Đòn bảy kinh doanh
- Đòn bảy kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng của lợi nhuận
so với mức độ tăng của doanh thu hay phản ánh mức độ sử dụng chi phí cố định
trong doanh nghiệp
1.2.2 Phân tích điểm hoà vốn
a Khái niệm
Trang 19- Điểm hoà vốn là điểm tại đó doanh thu của doanh nghiệp vừa đủ bù đắp
chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra
Doanh thu
Biến phí Định phí Lợi nhuận
Mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận
- Theo mô hình trên ta có khái niệm: Điểm hoà vốn là điểm tại đó số dư
đảm phí vừa đủ bù đắp chi phí cố định
- Phân tích điểm hoà vốn giúp cho nhà quản trị xem xét quá trình kinh
doanh một cách chủ động và tích cực, xác định rõ ràng vào lúc nào trong kỳ kinh
doanh, hay ở mức sản xuất nào và tiêu thụ bao nhiêu thì đạt hoà vốn Từ đó có
biện pháp chỉ đạo tích cực để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
b Phương pháp xác định điểm hoà vốn
* Xác định sản lượng hoà vốn
- Sản lượng hoà vốn là mức sản lượng tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể bù
đắp được chi phí bỏ ra Công thức:
Trang 20GB – CPBĐ đv SDĐPđv
* Xác định doanh thu hoà vốn
- Doanh thu hoà vốn là doanh thu của mức tiêu thụ hoà vốn
- Công thức:
- Khi doanh nghiệp sản xuất nhiều sản phẩm thì cần phải xác định doanh
thu hoà vốn của toàn doanh nghiệp sau đó căn cứ vào tỷ trọng doanh thu
của từng loại sản phẩm để xác định DThv cho từng loại sản phẩm, sau đó
mới xác định SLhv của từng loại sản phẩm
Trang 21SLhv =
DThvi GB
* Doanh thu an toàn: là phần chênh lệch của doanh thu thực hiện được với doanh
thu hoà vốn Công thức:
Mức DT an toàn = Mức DT thực hiện – Mức DT hoà vốn
- Doanh thu an toàn phản ánh mức doanh thu thực hiện được đã vượt quá mức
doanh thu hoà vốn như thế nào Chỉ tiêu này có giá trị càng lớn càng thể hiện
tính an toàn cao của hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tính rủi ro trong kinh
doanh càng thấp và ngược lại
Tỷ lệ doanh thu an toàn =
Mức doanh thu an toàn
Mức doanh thu thực hiện
Trang 22A
Biến phí
e ứng dụng phân tích điểm hoà vốn
* Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với giá bán:
- Xét mối quan hệ giữa sản lượng bán với giá bán hoà vốn: Sản
lượng tiêu thụ của doanh nghiệp càng cao thì giá bán để đạt được hoà vốn phải
thấp và ngược lại
- Xét mối quan hệ giữa giá bán với sản lượng hoà vốn: Giá bán càng cao thì sản lượng hoà vốn càng thấp và ngược lại
* Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với kết cấu hàng bán:
- Kết cấu hàng bán là tỷ trọng của từng mặt hàng bán chiếm trong tổng số mặt hàng đem bán
Qmm=
LNmm + CPCĐ SDĐPđv
Trang 23- Doanh nghiệp dự tính trước tỷ lệ lãi phải đạt được trong kỳ rồi từ đó
có kế hoạch tăng cường cho công tác quảng cáo tiếp thị sản phẩm nhằm tăng
doanh thu tiêu thụ (với điều kiện lãi trên 1 ĐVSP >0), điều này cũng có nghĩa là
doanh nghiệp sẽ phải chi thêm một khoản chi phí cho quảng cáo tiếp thị Khi đó
doanh nghiệp sẽ phải tính toán và xác định sản lượng cần tiêu thụ là bao nhiêu để
đạt đến điểm hoà vốn, và để đạt được mức lãi đã dự tính thì doanh nghiệp phải
tiêu thụ được bao nhiêu sản phẩm
SLmm =
CPCĐ + LNmm SDĐPđv
DTmm
=
CPCĐ + LNmm
Tỷ lệ SDĐP
Quyết định khung giá bán:
- Khung giá bán càng rộng thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội giảm
giá, càng tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Khung giá bán được xác định là đoạn mức giá cao nhất và mức giá
thấp nhất mà doanh nghiệp có thể bán Thông thường khung giá bán được xác
định là từ giá bán hoà vốn đến giá thị trường
Quyết định lựa chọn đơn đặt hàng:
- Doanh nghiệp sẽ lựa chọn chấp nhận đơn đặt hàng nếu đơn đặt hàng
đó có mang lại SDĐP Giả định:
Trang 24+ ĐđH đó không làm ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ hiện tại
+ ĐđH đó không làm thay đổi quy mô sản xuất của doanh nghiệp
- Đơn đặt hàng đó sẽ được chấp nhận khi GB>CPBĐđv
Quyết định tiếp tục hay ngừng sản xuất
- Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp sẽ
ngừng hoạt động nếu khoản lỗ do việc sản xuất kinh doanh lớn hơn chi phí cố
định phải chịu khi ngừng hoạt động và ngược lại
Chương II:
Phân tích sự biến động chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
Trang 252.1 Giới thiệu sơ lược về công ty than Mạo Khê và vai trò của việc phân tích
biến động trong hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.1 Giới thiệu về công ty than Mạo Khê
Công ty than Mạo Khê thuộc Tập đoàn công nghiệp Than khoáng sản Việt
Nam, nằm ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Trước cách mạng tháng 8 -
1945 gọi là Mỏ Mạo Khê Sau ngày hoà bình lập lại được gọi là Mỏ than Mạo
Khê Ngày 16-11-2001 được đổi thành Công ty than Mạo Khê Phía đông giáp
với xã Hoàng Quế, phía tây giáp với xã Kim Sen, phía nam giáp với xã Yên Thọ
và thị trấn Mạo Khê, phía bắc là đồi núi cao giáp với xã Tràng Lương Công ty
than Mạo Khê có lịch sử khai thác trên 158 năm So với các mỏ than hầm lò hiện
nay, Mỏ Mạo Khê có trữ lượng và quy mô khai thác lớn Mạo Khê nằm ở vị trí
tương đối thuận lợi Các phía đông tây, nam của mỏ là vùng nông thôn đồng
bằng rộng lớn với các xã Yên Thọ, Vĩnh Khê, Kim Sen, Hoàng Quế (của huyện
Đông Triều) Xa hơn vượt qua sông đà bạch là Huyện Kinh Môn Tỉnh Hải
Dương một trong những nơi cung cấp nguồn lực cho mỏ Ba mặt bao quanh (trừ
phía bắc) tương đối bằng có hệ thống giao thông liên vùng Về đường bộ, quốc
lộ 18A đi Hạ Long (trung tâm kinh tế chính trị của Quảng Ninh) và ngược lại
phía Phả Lại – Bắc Ninh – Hà Nội Đồng thời quốc lộ 18A lại có nhánh đường
200 đi Hải Phòng, tuyến đường sắt quốc gia Yên Viên, Kép, Uông Bí, Hạ Long
có nhiều nhánh vào tận nhà sàng Về đường thủy gần như duy nhất chỉ có con
sông Đà Bạch (một nhánh có con sông Kinh Thầy) chẩy ra sông Bạch Đằng có
Trang 26cảng Bến Cân là nơi trung chuyển than bằng đường thủy đi khắp nơi Các tuyến
đường bộ và đường thủy đã hợp thành hệ thống giao thông thuận tiện cho mỏ
trong việc vận chuyển nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm và trong sinh hoạt
2.1.2 Vai trò của công tác phân tích biến động của chi phí sản xuất kinh
doanh
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan tới khối lượng
sản phẩm, công tác hay lao vụ đã hoàn thành Giá thành lao động là chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp đóng vai trò quyết định với hiệu quả kinh tế xã hội của quá trình
sản xuất kinh doanh
Giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm luôn là một trong những
phương pháp quan trọng với bất kỳ doanh nghiệp nào, để tăng cường khả năng
cạnh tranh phát triển sản xuất, nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội như:
Lợi nhuận, đóng góp cho xã hội, nâng cao mức sống cho người lao động
Nhiệm vụ của việc phân tích chi phí và giá thành sản phẩm là :
- Kiểm tra tính đúng đắn của công tác hạch toán chi phí sản xuất và giá
thành trên cơ sở những yêu cầu của hạch toán như: Tính đúng, tính đủ và hợp lý
- Đánh giá thực trạng của tình hình chi phí sản xuất và giá thành, ảnh
hưởng của tình hình đó đến hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh
- Làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh trong lĩnh vực chi
phí sản xuất
2.2 Phân tích sự biến động của các khoản mục chi phí trong tổng chi phí
2.2.1 Phân tích tổng hợp sự biến động của các khoản mục chi phí (trong mối
quan hệ với doanh thu)
Qua bảng 2.1 ta thấy tổng chi phí phát sinh trong quý 1 năm 2009 là
64.097.645.335 đồng giảm so với quý 4 năm 2008 là 1.935.111.615 đồng tương
ứng với 2,93%, cụ thể như sau :
Trang 27Chi phí NVLTT giảm 871.068.217 đồng tương ứng với 11,41% sơ với
quý trước đó, chi phí NVLTT tính trên 1000 đồng DT giảm 8,07 đồng- 9,01%,
điều này là do doanh nghiệp thắt chặt việc quản lý chi phí nhằm nâng cao năng
suất cũng như y thức của người lao động trong sản xuất, tránh lãng phí Và thực
tế cho thấy việc làm của công ty đã đem lại hiệu quả ; tuy doanh thu của công ty
giảm do lượng thành phẩm bán được giảm nhưng mức độ giảm thì nhỏ hơn
nhiều so với mức giảm chi phí NVL
Chi phí nhân cộng trực tiếp cũng giảm 805.672.517 đồng (4,48%); chi phí
nhân công trực tiếp tính trên 1000 đồng doanh thu lại giảm 4 đồng tương đương
với 1,9% Chi phí NCTT giảm; do công ty cắt giảm công nhân làm việc kém
hiệu quả Mức giảm chi phí NCTT nhỏ hơn mức giảm DT là 1 dấu hiệu tốt vì
chất lượng lao động của công ty tăng
Chi phí sản xuất chung giảm 600.309.792 đồng tương ứng 2,52%, chi phí
sản xuất chung tính trên 1000 đồng doanh thu tăng 0,34 đồng (0,12%) điều này
phản ánh công ty đã quản lý tốt các khoản chi phí này
Chi phí bán hàng quý 1 năm 2009 là 4.915.427.992 đồng tăng
270.181.678 đồng so với quý 4 năm 2008, chi phí tính trên 1000 đồng doanh thu
tăng 8,68%; 4,73 đồng Sự biến động của chi phí này cho thấy công ty đã phải
đầu tư thêm cho hoạt động bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng so với quý 4 - 2008 là 71.757.233 đồng
tương ứng với 0,6%, chi phí này tính trên 1000 đồng doanh thu cũng tăng 3,32%
(4,65 đồng) do công ty bổ sung thêm thiết bị văn phòng và tăng lương cho cán
bộ quản lý Tuy nhiên với sự sụt giảm doanh thu lớn trong quý này thì việc tăng
chi phí quản lý doanh nghiệp tăng là không tốt cho công ty
Nhìn chung, trong quý 1 năm 2009, chi phí sản xuất kinh doanh của công
ty Than Mạo Khê giảm so với quý trước đó Nguyên nhân chủ yếu do sự điều
Trang 28chỉnh có mục đích của công ty trên cả 3 khoản mục chi phí chủ yếu là NVLTT,
NCTT, SXC, tuy nhiên ta vẫn cần phân tích sâu hơn để hiểu rõ sự biến động của
các yếu tố chi phí
2.2.2 Phân tích sự biến động của từng yếu tố chi phí trong từng khoản mục
chi phí
a Phân tích sự biến động của các yếu tố chi phí trong chi phí NVLTT
* Chi phí NVLTT là chi phí của những loại nguyên vật liệu mà cấu tạo thành
thực thể của sản phẩm, có giá trị và có thể xác định được một cách tách biệt rõ
ràng và cụ thể cho từng sản phẩm
Ở công ty than Mạo Khê chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được chia ra thành
3 loại là : chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu, chi phí động lực
Qua bảng 2.2.1 cả 3 loại chi phí đều giảm trong đó:
+ Chi phí NVL giảm 462.089.591 đồng tương đương với 8,15% so với quý 4
năm 2008 Chi phí NVL tính trên 1000 đồng DT giảm 3,77 đồng tương đương
5,67%
+ Chi phí nhiên liệu giảm 0,60% (5.692.642), tính trên 1000 đồng doanh thu
thì chi phí này tăng 0,24 đồng - 2,09%
+ Chi phí động lực cũng giảm 403.285.984 đồng tương ứng 39,9%, xét trên
1000 đồng doanh thu thì chi phí này giảm 4,54 đồng tương đương 38,27% so với
quý 4 - 2008
Nguyên nhân dẫn đến việc giảm chi phí NVL cũng như chi phí nhiên liệu và
động lực là do công tác quản lý chặt chẽ làm cho công ty tiết kiệm được NVL, ý
thức của công nhân sản xuất tăng tránh được những lãng phí trong sản xuất, ngoài
ra còn có thể do giá nguyên vật liệu giảm Đáng chú ý tốc độ giảm của doanh thu so
Trang 29với các chỉ tiêu là thấp hơn rất nhiều cho thấy việc làm của công ty tuy bước đầu
không đem lại hiệu quả kinh tế ngay tức thì nhưng cải thiện được tình hình lao động
và sử dụng nguyên vật liệu trong nội bộ công ty Dù vậy, phương pháp này chỉ nên
duy trì trong 1 thời gian nhất định bởi nếu duy trì quá lâu sẽ ảnh hưởng đến doanh
thu của công ty
Phương hướng tổ chức trong thời gian tới, đó là :
- Một mặt duy trì quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu
- Mặt khác phải tăng cường đầu tư nhằm tăng doanh thu cho công ty,
không để tình trạng doanh thu sụt giảm Tính toán trước xu hướng biến
động tăng, giảm của giá cả trên thị trường để có biện pháp dự trữ
nguyên vật liệu
b Phân tích sự biến động của các yếu tố chi phí trong chi phí NCTT
* Sơ lược về chi phí nhân công:
- Lao động là một trong những yếu tố đầu vào đặc biệt của quá trình sản
xuất kinh doanh, là điều kiện đầu tiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của
loài người, yếu tố cơ bản nhất quyết định quá trình sản xuất Để cho quá trình tái
sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp
nói riêng được diễn ra thường xuyên, liên tục thì một vấn đề thiết yếu là phải tái
sản xuất sức lao động Nghĩa là sức lao động của con người bỏ ra phải được bồi
hoàn dưới dạng thù lao lao động Trong nền kinh tế hàng hoá, thù lao lao động
được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương
- Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động , là thu
nhập chủ yếu của người lao động, các DN sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh
tế làm nhân tố tăng năng suất lao động Đối với các DN, tiền lương phải trả cho
Trang 30người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm Do vậy DN phải sử
dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí lao động trong đơn vị sản
phẩm
- Kèm theo chi phí nhân công là các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ
* Chi phí NCTT là chi phí thanh toán cho công nhân trực tiếp vận hành
dây chuyền sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ
Ta xem xét bảng 2.2.2 để thấy được sự biến động của các yếu tố thuộc chi
Phân tích sự biến động của yếu tố tiền lương và các khoản trích tiền lương
giữa 2 kì : trước hết chi phí NCTT giảm sơ với quý 4 năm 2008 là 805.672.517
đồng tương đương với 4,48% trong đó chi phí tiền lương giảm 486.317.467 đồng
đồng nghĩa với giảm 3,39%; xét trên 1000 đồng doanh thu thì chi phí tiền lương
giảm 1,3 đồng (0,77%) so với năm trước
Các khoản trích theo lương theo đó giảm 301.986.252 đồng tương đương
11,07% Đông thời chi phí này xét trên 1000 đồng DT giảm 2,77 đồng (8,66%)
Chi phí tiền ăn ca giảm 17.368.798 đồng tương ứng với 1,97% Chi phí ăn ca
trên 1000 đồng doanh thu giảm 0,07 đồng tương đương với 0,68%
Như vậy sự giảm chi phí NCTT chủ yếu là do sự giảm chi phí tiền lương là
yếu tố chiếm tỉ trọng lớn nhất trong chi phí NCTT, chi phí tiền lương giảm do công
Trang 31ty giảm bớt số công nhân, tốc độ giảm của chi phí này lớn hơn tốc độ tăng doanh
thu cho thấy dù số lương công nhân giảm nhưng năng suất lao động của công nhân
lại tặng Tuy vậy mức độ giảm chi phí tiêng lương của công ty là khá lớn, điều này
có thể ảnh hưởng đến mức lương của mỗi công nhân viên, gây ảnh hưởng xấu đến
tâm lý người lao động ảnh hưởng đến năng suất ở 1 số bộ phận nào đó
Chi phí tiền ăn ca tính trên 1000 đồng doanh thu tăng, cho thấy công ty đã
quan tâm hơn đến công nhân viên
Cũng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, việc giảm tiền lương trong thời
gian dài sẽ ảnh hưởng xấu đến công ty do đó, trong thời gian tới cần có biện pháp
khích lệ người lao động tăng năng suất như:
- Tăng lương, thưởng cho công nhân viên, tổ chức các hoạt động văn nghệ
thể thao để tăng tinh thần cho người lao động, khiến không khí lao động
vui vẻ hơn
- Giảm lao động thừa, không có khả năng làm việc hoặc tinh thần lao động
kém gây giảm năng suất lao động cho công ty
- Bên cạnh việc giảm lao động thừa cần tuyển dụng lao động có chất lượng
cao hơn, tổ chức cho nhân viên đi học nâng cao năng lực chuyên môn…
c Phân tích sự biến động của các yếu tố chi phí trong chi phí SXC
* Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí không thể nhận diện cụ thể và
tách biệt cho từng sản phẩm, khi tính chi phí sản xuất chung cho từng sản phẩm
thì phải phân bổ
* Phân loại: Chi phí sản xuất chung ở Công ty than Mạo Khê bao gồm:
Trang 32- Chi phí vật liệu gián tiếp: Phản ánh chi phí vật liệu xuất dùng cho phân
xưởng, như vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, công cụ, dụng cụ thuộc
bộ phận quản lý sản xuất và cung cấp dịch vụ…Chi phí động lực sử dụng trong
các bộ phận quản lý sản xuất, cung cấp dịch vụ;
- Chi phí dụng cụ quản lý: Phản ánh chi phí công cụ, dụng cụ dùng cho bộ
phận quản lý sản xuất, cung cấp dịch vụ;
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ trực tiếp cho
hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ và TSCĐ dùng cho bộ phận
quản lý sản xuất ;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài : Phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ
cho hoạt động của bộ phận cung cấp dịch vụ như: chi phí sửa chữa, chi phí thuê
ngoài, chi phí điện, nước, điện thoại, tiền thuê TSCĐ
- Chi phí khác bằng tiền : Phản ánh chi phí bằng tiền ngoài các chi phí trên
phục vụ cho hoạt động của bộ phận sản xuất, cung cấp dịch vụ
- Chi phí lương nhân viên quản lý phân xưởng: phản ánh các khoản phải
trả cho cán bộ công nhân viên quản lý phân xưởng, như tiền lương, các khoản
phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của ban giám đốc,
nhân viên quản lý ở các phòng ban
* Phân tích sự biến động của từng yếu tố
Chi phí sản xuất chung quý 1 năm 2009 giảm 600.309.792 đồng so với quý
trước tương ứng với tỉ lệ 2,52% trong đó:
- Chi phí nguyên vật liệu tăng 87.450.026 đồng đồng tương ứng với
4,87% ; tỉ trọng của chi phí NVL trong chi phí SXC qua đó tăng 0,57%
Trang 33Chi phí nguyên vật liệu tính trên 1000 đồng doanh thutawng 1,62 đồng
tương đương với 7,71% so với quý 4 năm 2008
- Chi phí CCDC giảm 130.755.238 đồng tương ứng với 21,14%; tỷ trọng
của chi phí này trong chi phi SXC giảm 0,5% Chi phí CCDC tính trên
1000 đồng doanh thu giảm 1,38 đồng tương đương với 19,01%
- Chi phí tiền lương cho NVQLPX tăng 585.978.006 triệu, đồng nghĩa với
việc tăng 6,23% so với quý 4 năm 2008 Khi tính tỷ trọng trên 1000 đồng
doanh thu, chi phí này tăng 10,05 đồng tương đương với 9,11%
- Chi phí dịch vụ mua ngoài tính đến cuối quý 1 năm 2009 là
2.313.001.138 đồng, giảm 2.545.275.183 đồng tương đương với 52,39%
Tỷ trọng của chi phí này trong tổng chi phí sản xuất chung qua đó giảm
10,41% Chi phí dịch vụ mua ngoài tính trên 1000 đồng DT giảm 29,13
đồng tương đương với 51,10%
- Chi phí khác bằng tiền tăng 862.802.077 đồng tương ứng với 29,29% Tỉ
trọng của chi phí này trên tổng chi phí SXC tăng 4,03% Xét trên 1000
đồng doanh thu, chi phí khác bằng tiền dùng trng sản xuất chung đã tăng
11,33 đồng tương đương với 32,79%
Nguyên nhân :
- Chi phí nguyên vật liệu phụ tăng là do sự biến động của giá cả thị trường
- Việc giảm chi phí công cụ dụng cụ là kết quả từ việc quản lý chặt chẽ chi
phí này đồng thời cắt giảm 1 số loại công cụ dụng cụ ở 1 số phòng ban
- Quỹ lương của nhân viên quản lý phân xưởng tăng do công ty mời 1 số
chuyên gia nước ngoài về làm việc nhằm tăng hiệu quả lao động, đồng