1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạymôn ngữu văn lớp 7 THCS

22 325 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chương trình và sách giáo khoa mới, giáo viên có thể phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong việc tiếp cận lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt đi sâu nhấn mạnh vào mối quan hệ

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÔNG TRIỀU

TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐỨC CẢNH

-    -

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạymôn ngữu văn lớp 7 THCS”

Tác giả: Hà Thị Anh Thơ Tổ: Văn-Sử-Ngoại ngữ NĂM HỌC 2008-2009

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

I 1 - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Năm học 2008- 2009 là năm học tiếp tục thực hiện nghị quyết số

40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nghị quyết số

41/2000/QH10 về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chỉ thị số 06-CT/TW ngày

07/ 11/2006 của Bộ chính trị Trung ương Đảng về cuộc vận động “Học tập và

làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chỉ thị số 33/2006/CT - TTg ngày

08/9/2006 của thủ tướng chính phủ về “ Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành

tích trong giáo dục”, cuộc vận động “ Hai không” Là năm học thực hiện chủ đề

“Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và

triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ

Giáo dục đào tạo phát động

Theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục THCS, các môn học ở bậc

THCS có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều có những thay đổi, có lẽ môn Ngữ

văn là môn có sự thay đổi nhiều nhất Điều đó có nghĩa bởi môn Ngữ văn là môn

học chiếm vị trí quan trọng, có tác động tích cực đến hoạt động của các môn học

khác và ngược lại

Mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn trong nhà trường THCS đã nêu rõ:

“ Môn Ngữ văn góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ

thông cơ sở, có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quí trọng gia đình bè bạn, có

lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao

đẹp Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo,

bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân - thiện - mĩ trong nghệ thuật, trước

hết là trong văn học Có năng lực thực hành, năng lực sử dụng tiếng Việt như một

công cụ để tư duy giao tiếp Đó cũng là những con người có ham muốn đem tài

trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”

Để đạt được những mục tiêu trên, việc áp dụng quan điểm tích hợp vào việc

biên soạn chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học đã được tiến

hành trong những năm qua và đã đạt được những kết quả nhất định

Trang 3

Với chương trình và sách giáo khoa mới, giáo viên có thể phát huy tính

tích cực chủ động của học sinh trong việc tiếp cận lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt

đi sâu nhấn mạnh vào mối quan hệ gắn bó giữa ba phần Văn bản - Tiếng việt -

Tập làm văn trong cùng một đơn vị bài học

Về phương pháp giảng dạy Ngữ văn theo quan điểm tích hợp, bên cạnh

việc chú ý cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học đặc thù của từng phân

môn, lại phải vừa khai thác những yếu tố chung của 3 phân môn Đồng thời cần

chú ý hình thành và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh, đặc biệt là các kĩ năng

nghe, đọc, viết, nói, đặt trong mối tương quan giữa 3 phần như đã nói ở trên

Xuất phát từ đó, trong quá trình vận dụng thực tế phương pháp dạy học

người giáo viên phải sáng tạo Thay cho phương pháp dạy học thụ động như

trước đây là phương pháp dạy học tích cực Trong đó thày chỉ giữ vai trò là người

tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức và kiểm tra, đánh giá kết

quả hoạt động của các em, còn học sinh với vai trò là chủ thể của hoạt động lĩnh

hội Các em hoàn toàn chủ động, tích cực trong việc tự nghiên cứu, thảo luận,

phát hiện kiến thức và thể hiện, đồng thời tự kiểm tra kết quả hoạt động của mình

trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên Muốn làm tốt được điều đó, trong mỗi giờ

học, giáo viên cùng học sinh phải thực hiện hài hoà các khâu, các bước Đặc biệt

để tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả, người giáo viên

phải sáng tạo, sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương pháp, hình thức tổ chức

dạy học

Trong năm học này việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được

Bộ Giáo dục Đào tạo quan tâm và đã đưa vào những nhiệm vụ trọng tâm của

năm học Đó là việc làm hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của thời

đại công nghệ hiện đại Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi cũng rất quan

tâm đến việc thực hiện nhiệm vụ này Ngay từ đầu năm, tôi đã suy nghĩ và lựa

chọn chuyên đề: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ văn ở khối lớp

mình được phân công giảng dạy: khối 7 Qua quá trình giảng dạy môn Ngữ văn

lớp 7 trong năm học này, tôi nhận thấy học sinh có khả năng lĩnh hội kiến thức

tương đối tốt, có hứng thú cao với việc học tập nghiên cứu bộ môn Bên cạnh đó,

Trang 4

học sinh là con em công nhân vùng mỏ, có điều kiện học tập tốt: về thời gian, về

sự quan tâm của gia đình trong việc mua sắm đồ dùng học tập, tài liệu tham

khảo…Đồng thời, các em có vốn từ vựng phong phú, có năng lực giao tiếp tương

đối tốt Về các kỹ năng của bộ môn các em thường xuyên được rèn luyện kỹ năng

nghe, đọc, nói, viết Xong điều mà tôi quan tâm và băn khoăn là khi thực hiện

ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học với một số học sinh còn mới mẻ, liệu

các em có hứng thú học tập để chiếm lĩnh tri thức, tạo không khí giờ học sôi nổi

để tiết học đạt hiệu quả hay không? Và để có câu trả lời đó, ngay từ đầu năm

học, tôi đã đi sâu nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ dạy

góp phần nâng cao chất lượng và bước đầu đã thu được kết quả tốt

I 2 - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Khi nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào giờ dạy, tôi

muốn cung cấp cho học sinh được nhiều kiến thức liên quan đến bài giảng qua

các ví dụ minh hoạ, khắc sâu những kiến thức cơ bản cho HS, tạo cho học sinh

có hứng thú cao trong quá trình nghiên cứu, lĩnh hội các kiến thức mới, tái tạo

các kiến thức cũ HS được chủ động làm việc nhiều hơn với các kiến thức, các

yêu cầu mà GV đưa ra Đồng thời GV có thể liên kết với các phần mềm khác làm

cho bài dạy sinh động GV sẽ tiết kiệm được thời gian ghi bảng phụ, dành thời

lượng bao quát các hoạt động khác của HS Giờ học sôi nổi, khoảng cách giữa

GV và HS bị thu hẹp, tạo không khí giờ học thân thiện hơn

I.3 - THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM:

Khi nghiên cứu áp dụng chuyên đề này, trong năm học 2008 – 2009 tôi đã

lựa chọn đối tượng học sinh khối lớp 7 trường T.H.C.S Nguyễn Đức Cảnh và ở

môn được phân công giảng dạy: Ngữ văn 7

I.4- ĐÓNG GÓP VỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:

Đi sâu nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào dạy học, giáo viên

giúp các em học sinh có điều kiện tốt hơn trong việc tự nghiên cứu, tiếp nhận và

vận dụng kiến thức Qua sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải có được

những kĩ năng cơ bản để có thể đáp ứng được những yêu cầu của giờ học, từ đó

Trang 5

tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành kiến thức kĩ năng của môn học

sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Trên thực tế, để có thể hình thành được những kiến thức, kĩ năng cho học

sinh không phải là một việc làm đơn giản, không thể đạt được hiệu quả trong thời

gian ngắn Bởi vậy, công việc này đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tâm huyết

với nghề nghiệp, có lòng kiên trì, nhẫn nại, mới có thể mang lại những thành

công Bên cạnh đó, thì ý thức, sự say mê hứng thú từ phía người học cũng góp

phần không nhỏ để đưa đến hiệu quả công việc, bởi quá trình dạy, học là một quá

trình có sự tác động đa chiều giữa người học và người dạy Như đã nói ở trên,

thày chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện

kĩ năng, còn trò đóng vai trò chủ động lĩnh hội, biến những tri thức của thày,

những con chữ im lặng trên sách vở thành tri thức của riêng mình, trên cơ sở đó

mà hình thành những kiến thức, kĩ năng cơ bản Vì thế, ứng dụng công nghệ

thông tin trong dạy học nói chung, phân môn Ngữ văn nói riêng vô cùng quan

trọng và cần thiết, là việc nên làm thường xuyên đối với bất kì một giáo viên

nào trực tiếp làm công tác giảng dạy

II PHẦN NỘI DUNG

II.1- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là việc sử dụng các phần mềm

hỗ trợ cho việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong các

giờ học như: Microsoft PowerPoint, Violet Các phần mềm này có tác dụng

mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, hình thức dạy học, là công cụ hỗ trợ đắc lực

cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy và học môn Ngữ văn nói

riêng Qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi thấy rằng việc ứng dụng công nghệ

thông tin vào dạy học sẽ giúp học sinh tiếp thu bài học một cách dễ dàng, cho

phép giáo viên minh hoạ bài học bằng những hình ảnh làm cho giờ học sinh động

hấp dẫn, trong thời lượng một tiết học có thể giải quyết được nhiều công việc

khác nhau Học sinh sẽ được làm việc nhiều hơn để củng cố khắc sâu hơn những

kiến thức vừa được lĩnh hội Vậy làm thế nào để việc ứng dụng công nghệ thông

Trang 6

tin trong dạy học có hiệu quả cao nhất trong các giờ lên lớp ? Đó là câu hỏi mà

tôi luôn trăn trở và thực sự lưu tâm chú trọng

Giờ dạy ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ là những dòng chữ dày

đặc trên phông chiếu mà giáo viên trình cho học sinh xem mà có thể kết hợp với

các hình thức dạy học khác như: trao đổi, thảo luận nhóm, học sinh làm việc cá

nhân trong các giờ dạy cung cấp kiến thức mới, giờ dạy ôn tập Nếu sử dụng

giáo án điện tử một cách linh hoạt và phù hợp sẽ làm giảm sự phụ thuộc của học

sinh vào lời giảng của giáo viên, chuyển tải thông tin nội dung kiến thức sâu

hơn, học sinh hiểu bài nhanh hơn, nhớ kiến thức lâu hơn, và còn góp phần giáo

dục tư cách, rèn luyện kĩ năng thực hành cho người học, nó có tác động đến mọi

hoạt động nhận thức của học sinh, phát huy trí sáng tạo, kích thích hứng thú trong

quá trình dạy học, mang lại những kết quả tích cực, đảm bảo tính khoa học, tính

giáo dục, tính mĩ thuật Có lẽ cũng bởi vì vậy mà trong các hội nghị chuyên đề

về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, các giáo viên trực tiếp

đứng lớp đều được khuyến khích làm và giảng dạy bằng giáo án điện tử Thực tế

trong năm học này, việc sử dụng giáo án điện tử đã phổ biến ở tất cả các trường

trong huyện nói riêng, trong toàn nghành nói chung bởi những tác dụng hữu ích,

tích cực của nó Theo xu hướng chung đó, là một giáo viên đứng lớp, trực tiếp

làm công tác giảng dạy, tôi đã nghiên cứu các tài liệu về ứng dụng công nghệ

thông tin trong dạy học và đã áp dụng vào các bài giảng Ngữ văn 7 trong năm

học này, bước đầu tôi thấy đã thu được những kết quả đáng kể Trong phạm vi

bài viết này, tôi sẽ trình bày những nội dung cụ thể mà bản thân tôi đã nghiên cứu

và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

II.2- CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

II.2.1 Điều tra cơ bản:

Trên cơ sở điều tra cơ bản từ đầu năm học, thăm dò ý kiến của học sinh, tôi

thấy rằng nhiều học sinh còn ngại học Văn, cá biệt có một số học sinh còn tâm lý

sợ học Một số em cho rằng các giờ học mà giáo viên ứng dụng công nghệ thông

tin, vì theo dõi bài học trên phông chiếu nhiều lúc khó nhìn, những slide có nhiều

chữ, chữ thường nhỏ, mờ Có những kiểu hiệu ứng chạy chữ quá sinh động học

Trang 7

sinh sẽ chú ý vào đó mà không chú ý đến bài học Giáo viên không viết bảng, các

em khó theo dõi tiến trình của bài

Kết quả khảo sát đầu năm cho thấy, học sinh còn hạn chế nhiều về kĩ năng

diễn đạt dùng từ đặt câu, kĩ năng trình bày một vấn đề còn lúng túng, còn sai

nhiều lỗi chính tả, dấu câu Bởi vậy kết quả bài kiểm tra còn thấp, cụ thể là:

Trước tình hình đó, tôi đã chủ động phát huy kinh nghiệm của cá nhân, học

hỏi thêm đồng nghiệp, tìm tòi tài liệu nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về ứng

dụng công nghệ thông tin trong dạy học, linh hoạt trong vận dụng các hình thức

đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp, tích cực, vận dụng sáng tạo lí

thuyết công nghệ thông tin vào việc dạy các giờ học Ngữ văn Trong thực tế

giảng dạy môn Ngữ văn tôi đã áp dụng việc ứng dụng công nghệ thông tin, kết

hợp với việc đổi mới phương pháp theo quan điểm tích hợp, phát huy tính tích

cực chủ động của học sinh Tôi đã từng bước tháo gỡ những khó khăn, trao đổi

kinh nghiệm với đồng nghiệp, và đã ít nhiều thành công trong việc ứng dụng

công nghệ thông tin vào dạy học

II.2.2- Phương pháp áp dụng

1 Trong phân môn Tiếng Việt

a Cung cấp kiến thức lý thuyết cho học sinh

Kiến thức lý thuyết tiếng Việt thường rất khô khan, cứng nhắc bởi vậy,

một số học sinh thường có tâm lí ngại học khi nghiên cứu tiếp cận, đòi hỏi người

giáo viên phải xoá bỏ tâm lý đó cho học sinh Vì vậy, việc “ mềm hoá” kiến thức

là điều mà mỗi giáo viên nên làm Nhưng làm như thế nào lại là việc mà mỗi giáo

viên băn khoăn, nhất là những giờ dạy ứng dụng công nghệ thông tin Bên cạnh

việc xây dựng một hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh, giáo viên cần chú ý đến

việc phát huy hiệu quả của hiệu ứng xuất hiện và màu sắc của chữ Trong các giờ

dạy ứng dụng công nghệ thông tin, tôi đã suy nghĩ nhiều về việc đó Chọn các

Trang 8

hiệu ứng xuất hiện chữ và màu sắc của chữ sẽ thu hút được học sinh học tập Các

hiệu ứng xuất hiện chữ với độ nhanh chậm vừa phải, giúp cho học sinh dễ theo

dõi Trong bài dạy giáo viên cần lựa chọn một kiểu hiệu ứng xuất hiện chữ sao

cho không rời rạc, không bay lượn để tránh cho học sinh sự mất tập trung chú ý

Với những đơn vị kiến thức là điểm nhấn của bài, cần lưu ý với học sinh giáo

viên có thể chọn những màu chữ khác nhau

Ngoài ra, để cho bài giảng sinh động, giáo viên có thể sử dụng các hình

ảnh minh hoạ để giúp học sinh hình thành các kiến thức của bài Điều đó làm cho

bài giảng sinh động, kích thích trí tưởng tượng của học sinh

b Hướng dẫn học sinh giải các bài tập trong phần luyện tập:

Khi biên soạn sách, các nhà biên soạn đã xây dựng trong tiết học một hệ

thống bài tập thường có các dạng : bài tập nhận biết, bài tập sáng tạo, nâng cao

Trong một tiết học, yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh giải quyết đủ các

dạng bài tập đó Để giảm bớt không khí nặng nề, căng thẳng, tận dụng thời gian

cũng như tạo không khí sôi nổi trong khi hướng dẫn học sinh luyện tập, giáo viên

có thể dùng phần mềm hỗ trợ Violet để tạo các dạng bài tập khác nhau như: bài

tập trắc nghiệm đúng - sai; bài tập điền khuyết, bài tập kéo thả Cũng có thể sử

dụng hình ảnh sinh động giúp học sinh giải các bài tập

c Trong phần củng cố kiến thức toàn bài:

Giáo viên có thể sử dụng phần mềm Violet, Powerpoint tạo cho học sinh

chơi trò chơi đoán ô chữ bí mật Việc làm này vừa có tác dụng củng cố khắc sâu

kiến thức vừa được nghiên cứu cho học sinh, lại vừa giúp giáo viên có thể kiểm

tra các kiến thức cũ qua việc xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm

ra từ chìa khoá của ô chữ bí mật

2 Trong phân môn Văn ( Các văn bản)

Giờ dạy các văn bản thường vẫn là những giờ học mà học sinh hứng thú

khi giáo viên dùng giáo án điện tử Các giờ học này, học sinh được xem nhiều

các hình ảnh như: chân dung các nhà văn, các hình ảnh minh hoạ khác, bìa các

tác phẩm văn học Khi phân tích văn bản học sinh được được theo dõi quá trình

hướng dẫn của giáo viên qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt và phần trình chiếu nhịp

Trang 9

nhàng Đồng thời giỏo viờn cú thể sưu tầm cỏc thước phim tư liệu, tranh ảnh cỏc

địa danh minh hoạ tạo cho bài học sinh động

II.2.3 Vận dụng vào giảng dạy một số bài cụ thể

a Dạy tiết 27 - Bài: Quan hệ từ:

Bài dạy này cung cấp kiến thức cho học sinh hiểu thế nào là quan hệ từ,

cỏch dựng quan hệ từ, biết vận dụng quan hệ từ trong khi núi và viết Để chuẩn bị

cho bài giảng điện tử này, tụi sử dụng phần mềm Powpoint tạo cỏc slide trỡnh

chiếu, xõy dựng hệ thống cõu hỏi dẫn dắt học sinh phõn tớch tỡm hiểu cỏc ngữ liệu

trong sỏch giỏo khoa Đồng thời tỡm thờm một số vớ dụ để khai thỏc kiến thức

liờn quan và tớch hợp với cỏc kiến thức khỏc về từ loại trong chương trỡnh

Cấu tạo của bài học gồm hai đơn vị kiến thức cơ bản Trong đơn vị kiến thức thứ

nhất của bài: Thế nào là quan hệ từ?, sau khi học sinh đó nắm được khỏi niệm, để

giỳp học sinh cú sự phõn biệt quan hệ từ với cỏc từ loại khỏc như danh từ, trợ từ,

tụi đó chọn cỏc màu chữ khỏc nhau để học sinh dễ nhận thấy sự phõn biệt đú

Trong slide này, tụi đưa ra hai bài tập nhỏ Bài tập 1 giỳp học sinh phõn biệt

danh từ “ của” ( trong nghĩa của cải) với quan hệ từ “ của”( mang ý nghĩa quan hệ

sở hữu) Bài tập 2 giỳp học sinh phõn biệt quan hệ từ “ mà” với trợ từ “ mà”

Tụi đó chọn những màu chữ khỏc nhau để học sinh dễ phõn biệt Trong giờ dạy,

tụi lần lượt trỡnh chiếu từng bài tập và yờu cầu học sinh phõn biệt Sau khi học

sinh trả lời, tụi trỡnh chiếu đỏp ỏn Cụ thể như sau:

- Đ ây là cuốn sá ch của nó.

- Nhà nó lắm của

( của : quan hệtừ) ( của : danh từ)

2 Phõn biệt ý nghĩa của những từ “mà” trong cỏc cõu văn sau:

a Tôi khuyê n bảo nhiều lần mà nó không nghe.

( mà : quan hệtừ dù ng đểnối hai vếcủa câu ghép)

b M ẹđã nhắc nhở con rồi mà ( mà : trợ từ dù ng đểthểhiện thá i độ của ng- ời nói)

Trang 10

* Khi cung cấp kiến thức cho học sinh về các cặp quan hệ từ, tôi cũng sử dụng

những màu chữ khác nhau để học sinh dễ nhận thấy các quan hệ từ tương ứng với

nhau, tạo nên cặp quan hệ từ Trong slide này, tôi trình chiếu các quan hệ từ

đứng trước trong cặp quan hệ từ rồi yêu cầu học sinh tìm các quan hệ từ thứ hai

để tạo thành cặp và yêu cầu học sinh nêu rõ ý nghĩa của từng cặp quan hệ từ Câu

hỏi thứ hai, tôi yêu cầu học sinh đặt câu văn ra phiếu học tập, rồi gọi một số học

sinh trình bày Cụ thể như sau:

b Dạy tiết 39 - Bài: Từ trái nghĩa

Bài học có hai đơn vị kiến thức Sau khi hướng dẫn học sinh phân tích, tìm

hiểu đơn vị kiến thức thứ nhất, tôi chuyển qua đơn vị kiến thức thứ hai Để giúp

học sinh tìm được một số thành ngữ có sử dụng từ trái nghĩa và nêu tác dụng của

việc dùng các từ trái nghĩa ấy, tôi sử dụng một số hình ảnh minh hoạ cho một số

thành ngữ có nội dung tương phản nhau và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ

tương ứng với từng hình ảnh Trước hết, tôi trình chiếu cho học sinh quan sát

hình ảnh minh hoạ và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ Tôi đã sử dụng những

hình ảnh động kết hợp với phần mềm Flat tạo ra những mũi tên chuyển động

Nhờ những hình ảnh động mà học sinh nhận biết được nội dung hình ảnh và tìm

Trang 11

Xanh vỏ đỏ lòng

Tiết 39:

I Lý thuyết

Cũng trong tiết học này, khi chuyển sang phần luyện tập, hướng dẫn học

sinh làm bài tập số 4, tôi cũng đã sử dụng một số hình ảnh minh hoạ về chủ đề

quê hương cho học sinh quan sát và làm bài tập Nhờ những bức tranh này mà

học sinh được bổ sung những hình ảnh về quê hương, vì vậy mà các em viết

đoạn văn một cách nhanh hơn, câu văn giàu hình ảnh hơn

Ngày đăng: 23/07/2016, 15:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh minh hoạ và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ. Tôi đã sử dụng những - skkn ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạymôn ngữu văn lớp 7 THCS
nh ảnh minh hoạ và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ. Tôi đã sử dụng những (Trang 10)
Hình ảnh đối lập: - skkn ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạymôn ngữu văn lớp 7 THCS
nh ảnh đối lập: (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w