Với chương trình và sách giáo khoa mới, giáo viên có thể phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong việc tiếp cận lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt đi sâu nhấn mạnh vào mối quan hệ
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÔNG TRIỀU
TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐỨC CẢNH
- -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạymôn ngữu văn lớp 7 THCS”
Tác giả: Hà Thị Anh Thơ Tổ: Văn-Sử-Ngoại ngữ NĂM HỌC 2008-2009
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
I 1 - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Năm học 2008- 2009 là năm học tiếp tục thực hiện nghị quyết số
40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nghị quyết số
41/2000/QH10 về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chỉ thị số 06-CT/TW ngày
07/ 11/2006 của Bộ chính trị Trung ương Đảng về cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chỉ thị số 33/2006/CT - TTg ngày
08/9/2006 của thủ tướng chính phủ về “ Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành
tích trong giáo dục”, cuộc vận động “ Hai không” Là năm học thực hiện chủ đề
“Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và
triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ
Giáo dục đào tạo phát động
Theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục THCS, các môn học ở bậc
THCS có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều có những thay đổi, có lẽ môn Ngữ
văn là môn có sự thay đổi nhiều nhất Điều đó có nghĩa bởi môn Ngữ văn là môn
học chiếm vị trí quan trọng, có tác động tích cực đến hoạt động của các môn học
khác và ngược lại
Mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn trong nhà trường THCS đã nêu rõ:
“ Môn Ngữ văn góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ
thông cơ sở, có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quí trọng gia đình bè bạn, có
lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao
đẹp Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo,
bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân - thiện - mĩ trong nghệ thuật, trước
hết là trong văn học Có năng lực thực hành, năng lực sử dụng tiếng Việt như một
công cụ để tư duy giao tiếp Đó cũng là những con người có ham muốn đem tài
trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”
Để đạt được những mục tiêu trên, việc áp dụng quan điểm tích hợp vào việc
biên soạn chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học đã được tiến
hành trong những năm qua và đã đạt được những kết quả nhất định
Trang 3Với chương trình và sách giáo khoa mới, giáo viên có thể phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh trong việc tiếp cận lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt
đi sâu nhấn mạnh vào mối quan hệ gắn bó giữa ba phần Văn bản - Tiếng việt -
Tập làm văn trong cùng một đơn vị bài học
Về phương pháp giảng dạy Ngữ văn theo quan điểm tích hợp, bên cạnh
việc chú ý cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học đặc thù của từng phân
môn, lại phải vừa khai thác những yếu tố chung của 3 phân môn Đồng thời cần
chú ý hình thành và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh, đặc biệt là các kĩ năng
nghe, đọc, viết, nói, đặt trong mối tương quan giữa 3 phần như đã nói ở trên
Xuất phát từ đó, trong quá trình vận dụng thực tế phương pháp dạy học
người giáo viên phải sáng tạo Thay cho phương pháp dạy học thụ động như
trước đây là phương pháp dạy học tích cực Trong đó thày chỉ giữ vai trò là người
tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức và kiểm tra, đánh giá kết
quả hoạt động của các em, còn học sinh với vai trò là chủ thể của hoạt động lĩnh
hội Các em hoàn toàn chủ động, tích cực trong việc tự nghiên cứu, thảo luận,
phát hiện kiến thức và thể hiện, đồng thời tự kiểm tra kết quả hoạt động của mình
trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên Muốn làm tốt được điều đó, trong mỗi giờ
học, giáo viên cùng học sinh phải thực hiện hài hoà các khâu, các bước Đặc biệt
để tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả, người giáo viên
phải sáng tạo, sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học
Trong năm học này việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được
Bộ Giáo dục Đào tạo quan tâm và đã đưa vào những nhiệm vụ trọng tâm của
năm học Đó là việc làm hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của thời
đại công nghệ hiện đại Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi cũng rất quan
tâm đến việc thực hiện nhiệm vụ này Ngay từ đầu năm, tôi đã suy nghĩ và lựa
chọn chuyên đề: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ văn ở khối lớp
mình được phân công giảng dạy: khối 7 Qua quá trình giảng dạy môn Ngữ văn
lớp 7 trong năm học này, tôi nhận thấy học sinh có khả năng lĩnh hội kiến thức
tương đối tốt, có hứng thú cao với việc học tập nghiên cứu bộ môn Bên cạnh đó,
Trang 4học sinh là con em công nhân vùng mỏ, có điều kiện học tập tốt: về thời gian, về
sự quan tâm của gia đình trong việc mua sắm đồ dùng học tập, tài liệu tham
khảo…Đồng thời, các em có vốn từ vựng phong phú, có năng lực giao tiếp tương
đối tốt Về các kỹ năng của bộ môn các em thường xuyên được rèn luyện kỹ năng
nghe, đọc, nói, viết Xong điều mà tôi quan tâm và băn khoăn là khi thực hiện
ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học với một số học sinh còn mới mẻ, liệu
các em có hứng thú học tập để chiếm lĩnh tri thức, tạo không khí giờ học sôi nổi
để tiết học đạt hiệu quả hay không? Và để có câu trả lời đó, ngay từ đầu năm
học, tôi đã đi sâu nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ dạy
góp phần nâng cao chất lượng và bước đầu đã thu được kết quả tốt
I 2 - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Khi nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào giờ dạy, tôi
muốn cung cấp cho học sinh được nhiều kiến thức liên quan đến bài giảng qua
các ví dụ minh hoạ, khắc sâu những kiến thức cơ bản cho HS, tạo cho học sinh
có hứng thú cao trong quá trình nghiên cứu, lĩnh hội các kiến thức mới, tái tạo
các kiến thức cũ HS được chủ động làm việc nhiều hơn với các kiến thức, các
yêu cầu mà GV đưa ra Đồng thời GV có thể liên kết với các phần mềm khác làm
cho bài dạy sinh động GV sẽ tiết kiệm được thời gian ghi bảng phụ, dành thời
lượng bao quát các hoạt động khác của HS Giờ học sôi nổi, khoảng cách giữa
GV và HS bị thu hẹp, tạo không khí giờ học thân thiện hơn
I.3 - THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM:
Khi nghiên cứu áp dụng chuyên đề này, trong năm học 2008 – 2009 tôi đã
lựa chọn đối tượng học sinh khối lớp 7 trường T.H.C.S Nguyễn Đức Cảnh và ở
môn được phân công giảng dạy: Ngữ văn 7
I.4- ĐÓNG GÓP VỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
Đi sâu nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào dạy học, giáo viên
giúp các em học sinh có điều kiện tốt hơn trong việc tự nghiên cứu, tiếp nhận và
vận dụng kiến thức Qua sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải có được
những kĩ năng cơ bản để có thể đáp ứng được những yêu cầu của giờ học, từ đó
Trang 5tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành kiến thức kĩ năng của môn học
sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Trên thực tế, để có thể hình thành được những kiến thức, kĩ năng cho học
sinh không phải là một việc làm đơn giản, không thể đạt được hiệu quả trong thời
gian ngắn Bởi vậy, công việc này đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tâm huyết
với nghề nghiệp, có lòng kiên trì, nhẫn nại, mới có thể mang lại những thành
công Bên cạnh đó, thì ý thức, sự say mê hứng thú từ phía người học cũng góp
phần không nhỏ để đưa đến hiệu quả công việc, bởi quá trình dạy, học là một quá
trình có sự tác động đa chiều giữa người học và người dạy Như đã nói ở trên,
thày chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện
kĩ năng, còn trò đóng vai trò chủ động lĩnh hội, biến những tri thức của thày,
những con chữ im lặng trên sách vở thành tri thức của riêng mình, trên cơ sở đó
mà hình thành những kiến thức, kĩ năng cơ bản Vì thế, ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học nói chung, phân môn Ngữ văn nói riêng vô cùng quan
trọng và cần thiết, là việc nên làm thường xuyên đối với bất kì một giáo viên
nào trực tiếp làm công tác giảng dạy
II PHẦN NỘI DUNG
II.1- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là việc sử dụng các phần mềm
hỗ trợ cho việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong các
giờ học như: Microsoft PowerPoint, Violet Các phần mềm này có tác dụng
mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, hình thức dạy học, là công cụ hỗ trợ đắc lực
cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy và học môn Ngữ văn nói
riêng Qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi thấy rằng việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào dạy học sẽ giúp học sinh tiếp thu bài học một cách dễ dàng, cho
phép giáo viên minh hoạ bài học bằng những hình ảnh làm cho giờ học sinh động
hấp dẫn, trong thời lượng một tiết học có thể giải quyết được nhiều công việc
khác nhau Học sinh sẽ được làm việc nhiều hơn để củng cố khắc sâu hơn những
kiến thức vừa được lĩnh hội Vậy làm thế nào để việc ứng dụng công nghệ thông
Trang 6tin trong dạy học có hiệu quả cao nhất trong các giờ lên lớp ? Đó là câu hỏi mà
tôi luôn trăn trở và thực sự lưu tâm chú trọng
Giờ dạy ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ là những dòng chữ dày
đặc trên phông chiếu mà giáo viên trình cho học sinh xem mà có thể kết hợp với
các hình thức dạy học khác như: trao đổi, thảo luận nhóm, học sinh làm việc cá
nhân trong các giờ dạy cung cấp kiến thức mới, giờ dạy ôn tập Nếu sử dụng
giáo án điện tử một cách linh hoạt và phù hợp sẽ làm giảm sự phụ thuộc của học
sinh vào lời giảng của giáo viên, chuyển tải thông tin nội dung kiến thức sâu
hơn, học sinh hiểu bài nhanh hơn, nhớ kiến thức lâu hơn, và còn góp phần giáo
dục tư cách, rèn luyện kĩ năng thực hành cho người học, nó có tác động đến mọi
hoạt động nhận thức của học sinh, phát huy trí sáng tạo, kích thích hứng thú trong
quá trình dạy học, mang lại những kết quả tích cực, đảm bảo tính khoa học, tính
giáo dục, tính mĩ thuật Có lẽ cũng bởi vì vậy mà trong các hội nghị chuyên đề
về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, các giáo viên trực tiếp
đứng lớp đều được khuyến khích làm và giảng dạy bằng giáo án điện tử Thực tế
trong năm học này, việc sử dụng giáo án điện tử đã phổ biến ở tất cả các trường
trong huyện nói riêng, trong toàn nghành nói chung bởi những tác dụng hữu ích,
tích cực của nó Theo xu hướng chung đó, là một giáo viên đứng lớp, trực tiếp
làm công tác giảng dạy, tôi đã nghiên cứu các tài liệu về ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học và đã áp dụng vào các bài giảng Ngữ văn 7 trong năm
học này, bước đầu tôi thấy đã thu được những kết quả đáng kể Trong phạm vi
bài viết này, tôi sẽ trình bày những nội dung cụ thể mà bản thân tôi đã nghiên cứu
và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
II.2- CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
II.2.1 Điều tra cơ bản:
Trên cơ sở điều tra cơ bản từ đầu năm học, thăm dò ý kiến của học sinh, tôi
thấy rằng nhiều học sinh còn ngại học Văn, cá biệt có một số học sinh còn tâm lý
sợ học Một số em cho rằng các giờ học mà giáo viên ứng dụng công nghệ thông
tin, vì theo dõi bài học trên phông chiếu nhiều lúc khó nhìn, những slide có nhiều
chữ, chữ thường nhỏ, mờ Có những kiểu hiệu ứng chạy chữ quá sinh động học
Trang 7sinh sẽ chú ý vào đó mà không chú ý đến bài học Giáo viên không viết bảng, các
em khó theo dõi tiến trình của bài
Kết quả khảo sát đầu năm cho thấy, học sinh còn hạn chế nhiều về kĩ năng
diễn đạt dùng từ đặt câu, kĩ năng trình bày một vấn đề còn lúng túng, còn sai
nhiều lỗi chính tả, dấu câu Bởi vậy kết quả bài kiểm tra còn thấp, cụ thể là:
Trước tình hình đó, tôi đã chủ động phát huy kinh nghiệm của cá nhân, học
hỏi thêm đồng nghiệp, tìm tòi tài liệu nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy học, linh hoạt trong vận dụng các hình thức
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp, tích cực, vận dụng sáng tạo lí
thuyết công nghệ thông tin vào việc dạy các giờ học Ngữ văn Trong thực tế
giảng dạy môn Ngữ văn tôi đã áp dụng việc ứng dụng công nghệ thông tin, kết
hợp với việc đổi mới phương pháp theo quan điểm tích hợp, phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh Tôi đã từng bước tháo gỡ những khó khăn, trao đổi
kinh nghiệm với đồng nghiệp, và đã ít nhiều thành công trong việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào dạy học
II.2.2- Phương pháp áp dụng
1 Trong phân môn Tiếng Việt
a Cung cấp kiến thức lý thuyết cho học sinh
Kiến thức lý thuyết tiếng Việt thường rất khô khan, cứng nhắc bởi vậy,
một số học sinh thường có tâm lí ngại học khi nghiên cứu tiếp cận, đòi hỏi người
giáo viên phải xoá bỏ tâm lý đó cho học sinh Vì vậy, việc “ mềm hoá” kiến thức
là điều mà mỗi giáo viên nên làm Nhưng làm như thế nào lại là việc mà mỗi giáo
viên băn khoăn, nhất là những giờ dạy ứng dụng công nghệ thông tin Bên cạnh
việc xây dựng một hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh, giáo viên cần chú ý đến
việc phát huy hiệu quả của hiệu ứng xuất hiện và màu sắc của chữ Trong các giờ
dạy ứng dụng công nghệ thông tin, tôi đã suy nghĩ nhiều về việc đó Chọn các
Trang 8hiệu ứng xuất hiện chữ và màu sắc của chữ sẽ thu hút được học sinh học tập Các
hiệu ứng xuất hiện chữ với độ nhanh chậm vừa phải, giúp cho học sinh dễ theo
dõi Trong bài dạy giáo viên cần lựa chọn một kiểu hiệu ứng xuất hiện chữ sao
cho không rời rạc, không bay lượn để tránh cho học sinh sự mất tập trung chú ý
Với những đơn vị kiến thức là điểm nhấn của bài, cần lưu ý với học sinh giáo
viên có thể chọn những màu chữ khác nhau
Ngoài ra, để cho bài giảng sinh động, giáo viên có thể sử dụng các hình
ảnh minh hoạ để giúp học sinh hình thành các kiến thức của bài Điều đó làm cho
bài giảng sinh động, kích thích trí tưởng tượng của học sinh
b Hướng dẫn học sinh giải các bài tập trong phần luyện tập:
Khi biên soạn sách, các nhà biên soạn đã xây dựng trong tiết học một hệ
thống bài tập thường có các dạng : bài tập nhận biết, bài tập sáng tạo, nâng cao
Trong một tiết học, yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh giải quyết đủ các
dạng bài tập đó Để giảm bớt không khí nặng nề, căng thẳng, tận dụng thời gian
cũng như tạo không khí sôi nổi trong khi hướng dẫn học sinh luyện tập, giáo viên
có thể dùng phần mềm hỗ trợ Violet để tạo các dạng bài tập khác nhau như: bài
tập trắc nghiệm đúng - sai; bài tập điền khuyết, bài tập kéo thả Cũng có thể sử
dụng hình ảnh sinh động giúp học sinh giải các bài tập
c Trong phần củng cố kiến thức toàn bài:
Giáo viên có thể sử dụng phần mềm Violet, Powerpoint tạo cho học sinh
chơi trò chơi đoán ô chữ bí mật Việc làm này vừa có tác dụng củng cố khắc sâu
kiến thức vừa được nghiên cứu cho học sinh, lại vừa giúp giáo viên có thể kiểm
tra các kiến thức cũ qua việc xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm
ra từ chìa khoá của ô chữ bí mật
2 Trong phân môn Văn ( Các văn bản)
Giờ dạy các văn bản thường vẫn là những giờ học mà học sinh hứng thú
khi giáo viên dùng giáo án điện tử Các giờ học này, học sinh được xem nhiều
các hình ảnh như: chân dung các nhà văn, các hình ảnh minh hoạ khác, bìa các
tác phẩm văn học Khi phân tích văn bản học sinh được được theo dõi quá trình
hướng dẫn của giáo viên qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt và phần trình chiếu nhịp
Trang 9nhàng Đồng thời giỏo viờn cú thể sưu tầm cỏc thước phim tư liệu, tranh ảnh cỏc
địa danh minh hoạ tạo cho bài học sinh động
II.2.3 Vận dụng vào giảng dạy một số bài cụ thể
a Dạy tiết 27 - Bài: Quan hệ từ:
Bài dạy này cung cấp kiến thức cho học sinh hiểu thế nào là quan hệ từ,
cỏch dựng quan hệ từ, biết vận dụng quan hệ từ trong khi núi và viết Để chuẩn bị
cho bài giảng điện tử này, tụi sử dụng phần mềm Powpoint tạo cỏc slide trỡnh
chiếu, xõy dựng hệ thống cõu hỏi dẫn dắt học sinh phõn tớch tỡm hiểu cỏc ngữ liệu
trong sỏch giỏo khoa Đồng thời tỡm thờm một số vớ dụ để khai thỏc kiến thức
liờn quan và tớch hợp với cỏc kiến thức khỏc về từ loại trong chương trỡnh
Cấu tạo của bài học gồm hai đơn vị kiến thức cơ bản Trong đơn vị kiến thức thứ
nhất của bài: Thế nào là quan hệ từ?, sau khi học sinh đó nắm được khỏi niệm, để
giỳp học sinh cú sự phõn biệt quan hệ từ với cỏc từ loại khỏc như danh từ, trợ từ,
tụi đó chọn cỏc màu chữ khỏc nhau để học sinh dễ nhận thấy sự phõn biệt đú
Trong slide này, tụi đưa ra hai bài tập nhỏ Bài tập 1 giỳp học sinh phõn biệt
danh từ “ của” ( trong nghĩa của cải) với quan hệ từ “ của”( mang ý nghĩa quan hệ
sở hữu) Bài tập 2 giỳp học sinh phõn biệt quan hệ từ “ mà” với trợ từ “ mà”
Tụi đó chọn những màu chữ khỏc nhau để học sinh dễ phõn biệt Trong giờ dạy,
tụi lần lượt trỡnh chiếu từng bài tập và yờu cầu học sinh phõn biệt Sau khi học
sinh trả lời, tụi trỡnh chiếu đỏp ỏn Cụ thể như sau:
- Đ ây là cuốn sá ch của nó.
- Nhà nó lắm của
( của : quan hệtừ) ( của : danh từ)
2 Phõn biệt ý nghĩa của những từ “mà” trong cỏc cõu văn sau:
a Tôi khuyê n bảo nhiều lần mà nó không nghe.
( mà : quan hệtừ dù ng đểnối hai vếcủa câu ghép)
b M ẹđã nhắc nhở con rồi mà ( mà : trợ từ dù ng đểthểhiện thá i độ của ng- ời nói)
Trang 10* Khi cung cấp kiến thức cho học sinh về các cặp quan hệ từ, tôi cũng sử dụng
những màu chữ khác nhau để học sinh dễ nhận thấy các quan hệ từ tương ứng với
nhau, tạo nên cặp quan hệ từ Trong slide này, tôi trình chiếu các quan hệ từ
đứng trước trong cặp quan hệ từ rồi yêu cầu học sinh tìm các quan hệ từ thứ hai
để tạo thành cặp và yêu cầu học sinh nêu rõ ý nghĩa của từng cặp quan hệ từ Câu
hỏi thứ hai, tôi yêu cầu học sinh đặt câu văn ra phiếu học tập, rồi gọi một số học
sinh trình bày Cụ thể như sau:
b Dạy tiết 39 - Bài: Từ trái nghĩa
Bài học có hai đơn vị kiến thức Sau khi hướng dẫn học sinh phân tích, tìm
hiểu đơn vị kiến thức thứ nhất, tôi chuyển qua đơn vị kiến thức thứ hai Để giúp
học sinh tìm được một số thành ngữ có sử dụng từ trái nghĩa và nêu tác dụng của
việc dùng các từ trái nghĩa ấy, tôi sử dụng một số hình ảnh minh hoạ cho một số
thành ngữ có nội dung tương phản nhau và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ
tương ứng với từng hình ảnh Trước hết, tôi trình chiếu cho học sinh quan sát
hình ảnh minh hoạ và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ Tôi đã sử dụng những
hình ảnh động kết hợp với phần mềm Flat tạo ra những mũi tên chuyển động
Nhờ những hình ảnh động mà học sinh nhận biết được nội dung hình ảnh và tìm
Trang 11Xanh vỏ đỏ lòng
Tiết 39:
I Lý thuyết
Cũng trong tiết học này, khi chuyển sang phần luyện tập, hướng dẫn học
sinh làm bài tập số 4, tôi cũng đã sử dụng một số hình ảnh minh hoạ về chủ đề
quê hương cho học sinh quan sát và làm bài tập Nhờ những bức tranh này mà
học sinh được bổ sung những hình ảnh về quê hương, vì vậy mà các em viết
đoạn văn một cách nhanh hơn, câu văn giàu hình ảnh hơn