Bản ảnh 73: Chân đế bát men xanh lá cây thời Trần Bản ảnh 74: Chân đế bát men xanh lá cây thời Trần Bản ảnh 75: Chân đế đĩa men xanh lá cây thời Trần Bản ảnh 76: Chân đế âu men xanh lá c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu không ngừng của bản thân, sự động viên giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với PGS.TS Tống Trung Tín, người không chỉ tạo mọi điều kiện cho tôi về mọi mặt trong quá trình làm luận văn, mà thầy còn là người vô cùng nhẫn nại và tỉ mỉ chỉ bảo tôi Luận văn cũng không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong Viện Khảo cổ học và sự hỗ trợ của các đồng nghiệp trong dự án khai quật và chỉnh lý điện Kính Thiên trong suốt quá trình làm việc của tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo ở Bộ môn Khảo cổ học, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Xin gửi lời cảm
ơn bạn bè đồng môn và đồng nghiệp
Tuy đã cố gắng nhưng luận văn vẫn còn nhiều hạn chế thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, bổ sung của những các nhà nghiên cứu, các thầy cô và những người quan tâm tới đề tài để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, VÀ BẢN ẢNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TƯ LIỆU 5
1.1 Tổng quan về tình hình phát hiện và nghiên cứu gốm men Lý, Trần trong khu vực Thăng Long – Hà Nội 5
1.1.1.Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954 5
1.1.2 Những phát hiện và nghiên cứu từ sau năm 1954 5
1.2 Tình hình phát hiện và nghiên cứu gốm men Lý, Trần qua các đợt khai quật khu vực điện Kính Thiên 2011 - 2013 8
1.2.1 Vài nét về khu vực trung tâm và Chính điện Kính Thiên 8
1.2.2 Khai quật khu vực Chính điện Kính Thiên trong các năm 2011-2013 10
1.3 Tiểu kết chương 1 13
CHƯƠNG 2 GỐM MEN THỜI LÝ, TRẦN QUA CÁC ĐỢT KHAI QUẬT TẠI KHU VỰC ĐIỆN KÍNH THIÊN 2011-2013 15
2.1 Gốm men thời Lý 15
2.1.1 Dòng men trắng 15
2.1.2 Dòng men ngọc 33
2.1.3 Dòng men xanh lục 36
2.1.4 Dòng men nâu 37
2.1.5 Dòng men trắng vẽ hoa nâu 38
2.1.6 Dòng men nâu vẽ hoa trắng 38
2.2 Gốm men thời Trần 38
2.2.1 Dòng men trắng 38
2.2.2 Dòng men ngọc 58
2.2.3 Dòng men xanh lá cây 65
2.2.4 Dòng men xanh lục 69
Trang 62.2.5 Dòng men trắng vẽ hoa nâu 76
2.2.6 Dòng men trắng vẽ hoa lam 77
2.3 Tiểu kết chương 2 79
CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG VÀ GIÁ TRỊ GỐM MEN LÝ, TRẦN TẠI KHU VỰC ĐIỆN KÍNH THIÊN 81
3.1 Đặc trưng của đồ gốm men thời Lý, Trần tại khu vực điện Kính Thiên 81
3.1.1 Đặc trưng của đồ gốm men thời Lý 81
3.1.2 Đặc trưng của đồ gốm men thời Trần 85
3.2 Giá trị của đồ gốm men thời Lý, Trần ở khu vực điện Kính Thiên 91
3.2.1 Gốm men thời Lý, Trần phản ánh trình độ kỹ thuật cao, sáng tạo trong sản xuất đồ gốm 91
3.2.2 Gốm men thời Lý, Trần ở khu vực chính điện Kính Thiên góp phần phản ánh một số đặc điểm lịch sử văn hóa thời Lý – Trần 91
3.2.3 Gốm men thời Lý, Trần phản ánh tính chất, đặc trưng của khu di tích Chính điện Kính Thiên 92
3.3.Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7BẢNG VIẾT TẮT
BA : Bản ảnh
BV : Bản vẽ ĐKĐ : Đường kính đáy ĐKM : Đường kính miệng ĐKT : Điện Kính Thiên H1 : Hố 1
H.1 : Hình 1
GM : Gốm men HĐĐ : Hố đất đen HĐVHKH : Hội đồng văn hóa khoa học HMR : Hố mở rộng
KCH : Khảo cổ học KHXH : Khoa học Xã hội LVH : Lớp văn hóa LXT : Lớp xáo trộn Nxb : Nhà xuất bản
Trang 8Bảng 2.3 Bảng thống kê mảnh miệng bát thời Lý
Bảng 2.4 Bảng thống kê mảnh thân bát thời Lý
Bảng 2.5 Bảng thống kê mảnh chân đế bát thời Lý
Bảng 2.6 Bảng thống kê đĩa thời Lý
Bảng 2.7 Bảng thống kê mảnh miệng đĩa thời Lý
Bảng 2.8 Bảng thống kê mảnh thân đĩa thời Lý
Bảng 2.9 Bảng thống kê mảnh chân đế đĩa thời Lý
Bảng 2.10 Bảng thống kê số lượng loại hình gốm men thời Trần Bảng 2.11 Bảng thống kê loại hình bát thời Trần
Bảng 2.12 Bảng thống kê mảnh đủ dáng, mảnh chân đế bát thời Trần Bảng 2.13 Bảng thống kê loại hình đĩa thời Trần
Bảng 2.14 Bảng thống kê mảnh đủ dáng, chân đế đĩa thời Trần Bảng 2.15 Bảng thống kê loại hình âu thời Trần
Bảng 2.16 Bảng thống kê mảnh đủ dáng, chân đế âu thời Trần
Bảng 2.17 Bảng thống kê loại hình bình thời Trần
Bảng 2.18 Bảng thống kê loại hình chậu thời Trần
Bảng 3.1 Bảng thống kê kỹ thuật tạo chân đế thời Lý
Bảng 3.2 Bảng thống kê kỹ thuật chồng nung thời Lý
Trang 9SƠ ĐỒ
Sơ đồ 01: Vị trí hố khai quật H1, H2, H3, H4 năm 2011
Sơ đồ 02: Vị trí hố khai quật H7 năm 2011
Sơ đồ 03: Vị trí hố khai quật năm 2012
Sơ đồ 04: Sơ đồ vị trí hố khai quật trong khu vực điện Kính Thiên 2013
Sơ đồ 05: Sơ đồ hố khai quật năm 2013
BẢN VẼ
Bản vẽ 01: Chân đế bát men trắng thời Lý, nhóm 1, loại I
Bản vẽ 02: Chân đế bát men trắng thời Lý, nhóm 1, loại I, kiểu I-2a(2) Bản vẽ 03: Chân đế bát men trắng thời Lý nhóm 1
Bản vẽ 04: Chân đế bát men trắng thời Lý, nhóm 2
Bản vẽ 05: Chân đế bát men trắng thời Lý, nhóm 2, loại II
Bản vẽ 06: Chân đế đĩa men trắng thời Lý, nhóm 1, loại I
Bản vẽ 07: Chân đế đĩa men trắng thời Lý, nhóm 1, loại II
Bản vẽ 08: Chân đế đĩa men trắng thời Lý, nhóm 2, loại I
Bản vẽ 09: Chân đế đĩa men trắng thời Lý, nhóm 2, loại II
Bản vẽ 10: Hộp men trắng thời Lý
Bản vẽ 11: Gốm men ngọc thời Lý
Bản vẽ 12: Mảnh thân gốm men nâu vẽ hoa trắng thời Lý
Bản vẽ 13: Chân đế bát men trắng thời Trần
Bản vẽ 14: Chân đế bát men trắng thời Trần nhóm 2
Bản vẽ 15: Chân đế bát men trắng thời Trần, nhóm 2
Bản vẽ 16: Chân đế bát men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu III-5 Bản vẽ 17: Chân đế bát men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu III-5 Bản vẽ 18: Chân đế bát men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu III-5 Bản vẽ 19: Chân đế bát men trắng thời Trần, nhóm 2, loại IV, kiểu IV-1 Bản vẽ 20: Chân đế bát men trắng thời Trần, nhóm 2, loại IV, kiểu IV-1 Bản vẽ 21: Chân đế đĩa men trắng thời Trần
Bản vẽ 22: Chân đế đĩa men trắng thời Trần
Bản vẽ 23: Chân đế đĩa men trắng thời Trần, nhóm 3, loại III
Trang 10Bản vẽ 24: Chân đế đĩa men trắng thời Trần, nhóm 3
Bản vẽ 25: Gốm men trắng thời Trần
Bản vẽ 26: Chân đế bát men ngọc thời Trần
Bản vẽ 27: Chân đế bát men ngọc thời Trần, loại II
Bản vẽ 28: Gốm men ngọc thời Trần
Bản vẽ 29: Chân đế bát men xanh lá cây thời Trần
Bản vẽ 30: Chân đế đĩa men xanh lá cây thời Trần
Bản vẽ 31: Chân đế bát men xanh lục thời Trần
Bản vẽ 32: Chân đế bát men nâu thời Trần
Bản vẽ 33: Chân đế bát men nâu thời Trần
Bản vẽ 34: Gốm men nâu thời Trần
Bản vẽ 35: Chân đế bát có thành ngoài phủ men nâu, thành trong phủ men trắng thời Trần
Bản vẽ 36: Chân đế đĩa có thành ngoài phủ men nâu, thành trong phủ men trắng thời Trần
Bản vẽ 37: Gốm có thành ngoài phủ men nâu, thành trong phủ men trắng thời Trần
Bản vẽ 38: Âu men trắng vẽ hoa nâu thời Trần
Bản vẽ 39: Chân đế bát men trắng vẽ hoa lam thời Trần
Bản vẽ 40: Gốm men trắng vẽ hoa lam thời Trần
BẢN ẢNH
Bản ảnh 01: Hiện trường mặt bằng các hố khai quật năm 2011
Bản ảnh 02: Hiện trường hố khai quật năm 2012
Bản ảnh 03: Hiện trường hố khai quật năm 2013
Bản ảnh 04: Địa tầng hố khai quật H1 năm 2013
Bản ảnh 05: Tầng văn hóa Đại La
Bản ảnh 06: Các di tích thời Lý
Bản ảnh 07: Các di tích thời Trần
Bản ảnh 08: Các di tích thời Lê sơ
Bản ảnh 09: Các di tích thời Lê Trung Hưng
Bản ảnh 10: Các dấu tích thời Nguyễn
Trang 11Bản ảnh 12: Các phương pháp chồng nung
Bản ảnh 11: Các phương pháp chồng nung
Bản ảnh 13: Các phương pháp chồng nung
Bản ảnh 15: Chân đế bát men trắng thời Lý nhóm 1, loại I, kiểu 2a
Bản ảnh 14: Chân đế bát men trắng thời Lý nhóm 1, loại I, kiểu 1
Bản ảnh 16: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý nhóm 1, loại II
Bản ảnh 17: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý, nhóm 1, loại III
Bản ảnh 18: Chân đế bát men trắng thời Lý nhóm 2, loại I, kiểu 1
Bản ảnh 19: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý nhóm 2
Bản ảnh 20: Mảnh miệng, mảnh thân bát men trắng thời Lý
Bản ảnh 21: Mảnh thân bát men trắng thời Lý
Bản ảnh 22: Chân đế đĩa men trắng thời Lý nhóm 1
Bản ảnh 23: Chân đế đĩa men trắng thời Lý nhóm 1
Bản ảnh 24: Chân đế đĩa men trắng thời Lý
Bản ảnh 25: Chân đế đĩa men trắng thời Lý nhóm 2
Bản ảnh 26: Một số loại hình gốm men trắng thời Lý
Bản ảnh 27: Nắp hộp thời Lý
Bản ảnh 28: Chân đế bát men ngọc thời Lý
Bản ảnh 29: Chân đế bát men ngọc thời Lý nhóm 2
Bản ảnh 30: Chân đế đĩa men ngọc thời Lý
Bản ảnh 31: Gốm men xanh lục thời Lý
Bản ảnh 32: Gốm men nâu thời Lý
Bản ảnh 33: Ấm hoa nâu thời Lý
Bản ảnh 34: Chân đế bát men trắng thời Trần nhóm 1
Bản ảnh 35: Chân đế bát gốm men trắng thời Trần nhóm 1, loại II, kiểu II-2 Bản ảnh 36: Chân đế bát gốm men trắng thời Trần nhóm 2, loại I, kiểu 1 Bản ảnh 37: Chân đế bát gốm men trắng thời Trần nhóm 2
Bản ảnh 38: Chân đế bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2
Bản ảnh 39: Chân đế bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III
Bản ảnh 40: Chân đế bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu 5 Bản ảnh 41: Bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu 5
Trang 12Bản ảnh 42: Bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu 5
Bản ảnh 43: Bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2, loại IV, kiểu 1
Bản ảnh 44: Bát men trắng thời Trần, nhóm 2, loại IV, kiểu 1
Bản ảnh 45: Bát gốm men trắng thời Trần, nhóm 2, loại IV, kiểu 2
Bản ảnh 46: Chân đế đĩa gốm men trắng thời Trần, nhóm 1, loại I
Bản ảnh 47: Đĩa gốm men trắng thời Trần, nhóm 1, loại II
Bản ảnh 48: Đĩa gốm men trắng thời Trần, nhóm 2
Bản ảnh 49: Chân đế đĩa gốm men trắng thời Trần, nhóm 3
Bản ảnh 50: Chân đế đĩa gốm men trắng thời Trần, nhóm 3, loại III
Bản ảnh 51: Chân đế đĩa men trắng thời Trần, nhóm 3, loại III
Bản ảnh 52: Chân đế đĩa men trắng thời Trần, nhóm 3, loại III, kiểu III-3c(1) Bản ảnh 53: Chân đế đĩa men trắng thời Trần, nhóm 3, loại III
Bản ảnh 54: Chân đế đĩa gốm men trắng thời Trần, nhóm 3, loại IV
Bản ảnh 55: Chân đế âu men trắng thời Trần, loại I
Bản ảnh 56: Chân đế âu men trắng thời Trần, loại II
Bản ảnh 57: Chân đế bình men trắng thời Trần,
Bản ảnh 58: Chân đế bình men trắng thời Trần, nhóm 2
Bản ảnh 59: Bình men trắng thời Trần
Bản ảnh 60: Gốm men trắng thời Trần
Bản ảnh 61: Chậu men trắng thời Trần
Bản ảnh 62: Gốm men trắng thời Trần
Bản ảnh 63: Chân đế đĩa đèn men trắng thời Trần
Bản ảnh 64: Chân đế bát men ngọc thời Trần
Bản ảnh 65: Chân đế bát men ngọc thời Trần, loại II, kiểu 2
Bản ảnh 66: Chân đế bát men ngọc thời Trần, loại II
Bản ảnh 67: Chân đế bát men ngọc thời Trần loại II
Bản ảnh 68: Gốm men ngọc thời Trần
Bản ảnh 69: Âu men ngọc thời Trần
Bản ảnh 70: Âu men ngọc thời Trần
Bản ảnh 71: Tước men ngọc thời Trần
Bản ảnh 72: Chân đế bát men xanh lục thời Trần
Trang 13Bản ảnh 73: Chân đế bát men xanh lá cây thời Trần
Bản ảnh 74: Chân đế bát men xanh lá cây thời Trần
Bản ảnh 75: Chân đế đĩa men xanh lá cây thời Trần
Bản ảnh 76: Chân đế âu men xanh lá cây thời Trần
Bản ảnh 77: Gốm men xanh lá cây thời Trần
Bản ảnh 78: Chân đế bát men nâu thời Trần, nhóm 2, loại III, kiểu III-1
Bản ảnh 79: Chân đế bát men nâu thời Trần, nhóm 2
Bản ảnh 80: Chân đế đĩa gốm men nâu thời Trần
Bản ảnh 81: Gốm men nâu thời Trần
Bản ảnh 82: Chân đế bát có thành ngoài phủ men nâu, thành trong phủ men trắng thời Trần
Bản ảnh 83: Đĩa có thành ngoài phủ men nâu, thành trong phủ men trắng thời Trần
Bản ảnh 84: Gốm có thành ngoài phủ men nâu, thành trong phủ men trắng thời Trần
Bản ảnh 85: Gốm men trắng vẽ hoa nâu thời Trần
Bản ảnh 86: Gốm men trắng vẽ hoa lam thời Trần
Bản ảnh 87: Bát gốm men trắng vẽ hoa lam thời Trần
Bản ảnh 88: Chân đế đĩa men trắng vẽ hoa lam thời Trần
Bản ảnh 89: Chân đế âu men trắng vẽ hoa lam thời Trần
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong các di tích khảo cổ học lịch sử, đồ gốm là loại hình di vật rất phổ biến,
có ý nghĩa quan trọng trong việc phục dựng lại bức tranh sinh động lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam Nghiên cứu đồ gốm một cách có hệ thống sẽ cung cấp những thông tin để giải mã nhiều vấn đề như kỹ thuật, thẩm mỹ, tình hình sản xuất, giao thương buôn bán, đặc trưng xã hội…qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước
Việt Nam với bề dày lịch sử trải qua nhiều triều đại bao gồm các thời kỳ bị
đô hộ và độc lập Với mỗi một triều đại, một giai đoạn thì đời sống xã hội lại có những thay đổi dựa trên các yếu tố nội sinh và ngoại sinh mà đặc trưng biểu hiện của nó rõ nét ở hệ thống các loại hình đồ dùng sinh hoạt, vật liệu kiến trúc…và gốm
sứ cũng có những biểu hiện như vậy Bởi vậy ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm tới đồ gốm từ nhiều phương diện như loại hình, nguồn gốc, trang trí hoa văn và hoạt động kinh tế
Hiện nay, với những cuộc khai quật khảo cổ học đô thị, các nhà nghiên cứu đã
có điều kiện tiếp cận hơn với các tư liệu khảo cổ trên chất liệu gốm men Ở Thăng Long, trong các cuộc khai quật lớn ở 18 Hoàng Diệu, Văn Cao, Đào Tấn, Bưởi,… đã thu được rất nhiều hiện vật gốm men Vì vậy một vài công trình nghiên cứu cũng đã
đề cập đến loại hình gốm men qua các triều đại Đã có nhiều bài viết rất hay đi sâu
vào nghiên cứu gốm Lý, Trần TS Bùi Minh Trí đã có bài “Nét đẹp gốm Hoàng cung thời Lý ở 18 Hoàng Diệu”, Đỗ Đức Tuệ, Hà Văn Cẩn có bài “Đồ gốm sứ Lý Trần ở địa điểm Văn Cao – Hoàng Hoa Thám”, hay bài “Đĩa gốm có chữ Động Nhân Cung
ở 62 – 64 Trần Phú” của Hà Văn Cẩn, Bùi Vinh, Đỗ Đức Tuệ, hiện nay còn có luận
văn của Ngô Thị Thanh Thúy đang làm về gốm Lý Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội… Tất cả đóng góp này góp phần nhận diện gốm sứ Lý, Trần ở Thăng Long trong dòng chảy của gốm sứ Việt Nam
Năm 2011, 2012, 2013, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội nay là Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long Hà Hội tiến hành các đợt thám sát và khai quật trong khu vực điện Kính Thiên Khu vực điện Kính Thiên là một khu di tích có tầm quan trọng bậc nhất của Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long Nơi đây có điện Kính Thiên là
Trang 15chính điện thiết triều của nhà Lê Sơ, nhà Mạc và nhà Lê Trung Hưng Theo giả thiết của nhiều nhà nghiên cứu, nơi đây cũng từng là chính điện Thiên An của triều Lý và triều Trần Trong năm 2011, tiến hành đào 5 hố thám sát với tổng diện tích 100m2, trong đó có 4 hố nằm ở các vị trí xung quanh 2 bậc thềm rồng của Điện Kính Thiên,
1 hố ở gần khu vực Tây Nam Hậu Lâu Năm 2012, 2013 tiếp tục mở các hố khai quật tập trung ở khu vực phía trước thềm điện Kính Thiên và phía Tây Bắc Đoan Môn với tổng diện tích là 1547m2 Kết quả khai quật đã thu được số lượng hiện vật lớn trong đó có nhiều gốm Lý, gốm Trần, gốm Lê Sơ, gốm Lê Mạc, và gốm Lê Trung Hưng, gốm Nguyễn Gốm Lý, gốm Trần xuất hiện không nhiều như gốm của thời khác Tuy nhiên tập hợp tất cả lại cũng cho ta một sưu tập đáng kể góp phần nghiên cứu gốm sứ Lý, Trần Các loại gốm Lý Trần đã xuất hiện gồm có bát, đĩa, bình, vò…với các dòng men trắng, men nâu, men ngọc, hoa nâu, hoa lam…Kỹ thuật chế tác gốm khá điêu luyện, hoa văn tinh tế mang các đặc trưng rất riêng Vì vậy nghiên cứu gốm sứ Lý, Trần ở khu vực điện Kính Thiên góp phần cung cấp những thông tin để xây dựng hệ thống phát triển của các loại hình gốm men trong lịch sử đồng thời cũng cung cấp cứ liệu cho việc nghiên cứu diện mạo Thăng Long thời Lý, thời Trần và đặc trưng đời sống xã hội đương thời Chẳng hạn nghiên cứu đặc trưng gốm Lý, Trần ở đây có thể giúp ta đánh giá, đoán định tính chất của di tích khu vực điện Kính Thiên vào thời Lý, thời Trần là như thế nào? Hoặc thông qua nguồn tư liệu gốm men chúng ta cũng có thể hiểu được đôi nét về sinh hoạt trong Hoàng cung Thăng Long thời Lý, thời Trần
Tác giả luận văn may mắn được trực tiếp tham gia khai quật tại điện Kính Thiên từ năm 2013 cho đến nay Qua quá trình khai quật tác giả đã nhận thấy đây là một cơ hội tốt để góp phần tìm hiểu đồ gốm men Lý, Trần, tác giả đã quyết đinh
chọn đề tài luận văn “Gốm men thời Lý, Trần qua các đợt khai quật ở khu vực điện Kính Thiên từ năm 2011 đến năm 2013”
Trang 16- So sánh tổng hợp và tiến hành phân tích, đánh giá đặc trưng gốm men thời
Lý, Trần ở khu vực điện Kính với hệ thống gốm men ở khu vực phụ cận và mối tương quan với các loại di vật khác trong di tích
Thông qua việc nghiên cứu gốm sứ Lý, Trần góp phần tìm hiểu thêm về tính chất khu vực điện Kính Thiên thời Lý, Trần
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng: nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn này là toàn bộ số di vật
gốm men (tập trung vào các loại đồ gia dụng như bát, đĩa, chậu, tước,…) có niên đại
Lý, Trần thu được qua các đợt khai quật ở khu vực điện Kính Thiên từ năm 2011 đến năm 2013
Về phạm vi: về không gian tập trung tìm hiểu gốm men Lý, Trần trong khu
vực điện Kính Thiên, có sự so sánh với gốm sứ ở các di tích khác trong khu vực Thăng Long – Hà Nội Về thời gian, từng nguồn tư liệu gốm men Lý Trần ở khu vực điện Kính Thiên, luận văn thử tìm hiểu thêm các đặc trưng của gốm men thời
Lý, Trần từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học như: điều tra, thám sát, khai quật và lấy tư liệu tại hiện trường… cũng như các kỹ thuật nghiên cứu khảo cổ học trong phòng: thống kê, đo vẽ hiện vật, chụp và xử lý ảnh… Các phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp về kỹ thuật chế tác cũng như nghệ thuật trang trí trên gốm sứ
Phân loại hiện vật theo các trình tự: niên đại, dòng men, loại hình Về niên đại, chúng tôi đưa ra những tiêu chí tương đối để phân chia gốm men thời Lý và gốm men thời Trần Về dòng men, dựa vào màu sắc, chất liệu, độ thủy tinh hóa để xác định các dòng men Về loại hình, trên cơ sở những hiện vật nguyên, đủ dáng ở trong sưu tập này cũng như ở một vài sưu tập khác để xác định loại hình của các mảnh vỡ miệng, thân, và chân đế một cách tương đối Trong những loại hình này, lại tiếp tục phân loại theo hiện vật đủ dáng và các mảnh vỡ miệng, thân, chân đế Tuy nhiên, vì số lượng hiện vật đủ dáng không nhiều, ít kiểu loại nên chúng tôi lấy chân đế để phân chia thành các kiểu loại nhỏ và phân loại hiện vật đủ dáng, mảnh chân đế chung với nhau Đối với mảnh vỡ miệng và thân, do đều là các mảnh vỡ
Trang 17nhỏ nên việc phân chia kiểu loại chỉ mang tính tương đối dựa vào các hiện vật đủ dáng đã có Những tiêu chí để phân chia kiểu loại là kỹ thuật chân đế, đặc điểm phủ men, xương gốm, hoa văn và kỹ thuật chồng nung Việc phân chia cụ thể chi tiết các đặc điểm nhằm xác định giai đoạn và tiến trình phát triển của gốm men thời Lý, Trần
Kết hợp liên ngành, trong luận văn còn sử dụng các phương pháp: nghiên cứu Khu vực học, Hán Nôm học, Dân tộc học…
Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong việc xem xét lý giải đôi nét về xã hội và văn hóa Lý – Trần tại khu vực chính điện Kính Thiên
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn tập hợp và hệ thống hóa khối tư liệu di vật gốm men thời Lý, Trần thu được qua các đợt khai quật ở khu vực chính điện Kính Thiên từ năm 2011 đến 2013
- Xác định những đặc trưng cơ bản của gốm men Lý, Trần tại khu vực điện Kính Thiên trên các phương diện loại hình, dòng men, hoa văn, kỹ thuật chế tạo
- Góp phần tìm hiểu đôi nét về giá trị lịch sử văn hóa của khu di tích điện Kính Thiên nói riêng và Thăng Long nói chung cũng như một vài khía cạnh xã hội thời Lý - Trần thông qua đồ gốm men thời Lý, Trần
6 Bố cục luận văn
Luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tư liệu
Chương 2 Gốm men Lý, Trần qua các đợt khai quật ở khu vực điện Kính
Thiên 2011-2013 Chương 3 Đặc trưng và giá trị gốm men Lý, Trần tại khu vực điện Kính
Thiên
Trang 18CHƯƠNG I TỔNG QUAN TƯ LIỆU
1.1 Tổng quan về tình hình phát hiện và nghiên cứu gốm men Lý, Trần trong khu vực Thăng Long – Hà Nội
1.1.1.Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954
Trước năm 1954, những phát hiện và nghiên cứu về khu vực Thăng Long –
Hà Nội chủ yếu là của người Pháp Đây là những phát hiện về hiện vật của các thời
Lý, Trần, Lê trong khu vực Hà Nội Những phát hiện này đều mang tính đơn lẻ, sưu tập ngẫu nhiên do việc xây dựng, mở mang thành phố và các công trình công cộng
ở trong khu vực Hà Nội mà tập trung chủ yếu ở phần phía Tây của thành Thăng Long thời Lý, Trần
Các phát hiện và khai quật đã thu đựơc một khối lượng di vật lớn, trong đó
có nhiều hiện vật gốm thời Lý, Trần Một số di vật gốm men Lý – Trần được người châu Âu đưa về một số Bảo tàng châu Âu như Pháp, Bỉ Một số khác đã được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam Tuy nhiên tất cả đều không có phân loại, báo cáo khoa học Những bài viết, nghiên cứu khá ít ỏi, tiêu biểu có thể kể đến cuốn “Nghệ thuật Việt Nam” của Louis Bezacier được xuất bản ở Paris năm 1955 Trong cuốn sách này, tác giả đã so sánh những di vật tìm thấy ở nội thành Hà Nội với chùa Phật Tích ở Bắc Ninh Dưới quan điểm thực dân, nhiều học giả cho rằng những di vật thời Lý, Trần là dấu vết thành Đại La của Cao Biền và gọi đó là thời
kỳ nghệ thuật Đại La
Như vậy, trước năm 1954 đã có những phát hiện về đồ gốm men Lý, Trần Nhưng chưa có một nghiên cứu khoa học bài bản nào về đồ gốm men Lý, Trần ở Thăng Long Những nghiên cứu của người Pháp chủ yếu đi sâu vào nghệ thuật Việt Nam và phân kỳ nghệ thuật Việt Nam Quan điểm của họ có chỗ chưa được chính xác và đã được một số học giả phê phán
1.1.2 Những phát hiện và nghiên cứu từ sau năm 1954
Từ sau năm 1954, việc nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long được các học giả trong nước quan tâm hơn Để nghiên cứu về Thăng Long, một khía cạnh không thể thiếu đó là các di vật, trong đó có đồ gốm Cho đến thập niên 70, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực như khảo cổ, văn hóa, nghệ thuật…
Trang 19cùng với sự ra đời của các ấn phẩm “những phát hiện mới về khảo cổ học” và “tạp chí khảo cổ học” …đã tạo điều kiện cho những phát hiện mới về gốm men thời Lý, Trần được công bố, là những dữ liệu quan trọng để tiến hành nghiên cứu về loại hình này Đó là những phát hiện của các cá nhân trong khu vực nội, ngoại thành Hà Nội Số lượng những phát hiện này khá nhiều, nhưng đó chỉ là những phát hiện lẻ
tẻ, ngẫu nhiên Bên cạnh đó là những phát hiện gốm men thời Lý, Trần trong các cuộc khai quật Đó là những tư liệu quan trọng để xác định niên đại của hiện vật
Khu vực Quần Ngựa trong các năm 1970-1971, 1971-1972, 1978 đã được Trường Đại học Tổng hợp và Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành khai quật
để tìm dấu vết của Hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần Cuộc khai quật đã xuất
lộ nhiều hiện vật, trong đó có một số mảnh gốm men thuộc loại hình đồ gia dụng thời Lý, Trần [38, tr.62-70]
Năm 1998, Viện Khảo cổ học khai quật địa điểm Hậu Lâu (Ba Đình, Hà Nội), thu được một số mảnh gốm men có niên đại cuối thời Trần [51, tr.5-26]
Cùng năm 1998, Viện Khảo cổ học cũng tiến hành khai quật địa điểm Bắc Môn (Ba Đình, Hà Nội), thu được nhiêu hiện vật gốm men trắng, men ngọc và men lam sắt có niên đại thế kỷ 13-14 [50, tr.33-41]
Năm 1999, Viện Khảo cổ học tiếp tục khai quật địa điểm Đoan Môn (Ba Đình, Hà Nội), thu được những hiện vật thuộc dòng gốm men nâu và men lam sắt
Năm 2002, Viện Khảo cổ học và Ban quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội điều tra và đào
Trang 20thám sát hai đợt tại địa điểm 62-64 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội Đến năm 2008, tiến hành khai quật địa điểm này với quy mô lớn bao gồm 26 hố đào, tổng diện tích
2626 m2 Cuộc khai quật đã thu được hàng nghìn hiện vật gốm men Lý, Trần bao gồm nhiều loại hình, trong đó có một số lượng không nhỏ mảnh bao nung và phế phẩm của lò nung gốm thời Lý, Trần [8,9,10]
Từ tháng 12 năm 2002 đến tháng 3 năm 2004, để phục vụ việc xây dựng nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật tại địa điểm 18 Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội đã thu được một khối lượng di vật đồ sộ, trong đó có rất nhiều hiện vật gốm men thời Lý, Trần [55]
Năm 2003 và 2004, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) đã tiến hành 2 đợt khai quật di tích chùa Báo Ân (thôn Trung, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội) nằm bên tả sông Thiên Đức Cuộc khai quật đã thu được nhiều mảnh gốm men
có niên đại thế kỉ XIII-XIV [1,2]
Tháng 11 năm 2003, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Sở Văn hoá - Thông tin
Hà Nội (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội) đã phối hợp tiến hành thám sát và khai quật di tích Ủng Thành - Đoài Môn (phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội) Cuộc khai quật được tiến hành trên 6 hố đào với tổng diện tích trên 100m2, đã thu được nhiều hiện vật, trong đó có một số mảnh gốm men thời Lý, Trần
Năm 2005, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) tiếp tục khai quật di tích chùa Bà Tấm (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội) Tại đây đã thu được nhiều mảnh gốm men là các loại hình đồ gia dụng hàng ngày của thời Lý, Trần [3]
đền-Năm 2006, Bộ môn Khảo cổ học và Bảo tàng Nhân học (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội) phối hợp với Viện Khảo cổ học, Văn phòng Ban chỉ đạo kỉ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, Bảo tàng Hà Nội tiến hành điều tra khảo sát và khai quật một số địa điểm trên địa bàn huyện Đông Anh, Sóc Sơn Tại địa điểm Bến Long Tửu (thôn Đông Ngàn, huyện Đông Anh), ngay ven bờ sông đã xuất lộ nhiều hiện vật có niên đại từ thế kỉ XI-XIV Ở khu vực Đầu Vè (thôn Lại Đà, huyện Đông Anh) xuất lộ rất nhiều mảnh gốm men thời Trần, gốm men thời Lý có số lượng rất ít
Năm 2006 đến năm 2008, Viện Khảo cổ học đã tiến hành 1 đợt điều tra thám sát và 4 đợt khai quật, di dời tại di tich đàn Nam Giao Tại đây, đã xuất lộ nhiều loại
Trang 21hình hiện vật thuộc nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có một số mảnh gốm men thời Lý, Trần
Năm 2007, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tiến hành thám sát và khai quật di tích miếu Đồng Cổ (thôn Nguyên Xá, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội) Tại địa điểm này, đã thu được nhiều hiện vật gốm men thời Trần
Năm 2011, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở VHTTDL Hà Nội, Ban Quản
lý Dựng án Giao thông đô thị Hà Nội, Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội tiến hành khai quật nút giao thông Văn Cao – Hoàng Hoa Thám, với tổng diện tích 200m2 Hiện vật gốm men thu được qua đợt khai quật có niên đại từ thời Lý đến thời Lê bao gồm nhiều loại hình phong phú Trong đó hiện vật gốm men thời Lý, Trần có số lượng lớn nhất [63, tr.86-96]
Như vậy, các cuộc khai quật ở Kinh đô Thăng Long và vùng phụ cận khá nhiều Tuy nhiên, nhiều các cuộc khai quật còn đang trong quá trình chỉnh lý như cuộc khai quật địa điểm 18 Hoàng Diệu, địa điểm 62 – 64 Trần Phú, địa điểm Vườn Hồng Một số công trình đã hoàn chỉnh hồ sơ khoa học nhưng chưa có công trình công bố Vì vậy, việc tham góp nghiên cứu tổng hợp chưa có điều kiện phát huy Trong khi đó, thì tại khu vực Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, đã có thêm các cuộc khai quật mới theo khuyến nghị của UNESCO
1.2 Tình hình phát hiện và nghiên cứu gốm men Lý, Trần qua các đợt khai quật khu vực điện Kính Thiên 2011 - 2013
1.2.1 Vài nét về khu vực trung tâm và Chính điện Kính Thiên
Khu vực di tích trung tâm có ranh giới phía bắc là đường Phan Đình Phùng, phía Đông là đường Nguyễn Tri Phương, phía Nam là đường Điện Biên Phủ và phía tây là đường Hoàng Diệu Khu vực này là một phần di tích nằm trong tổng thể khu
di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long Trong đó vẫn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử hiện hữu trên mặt đất Đó là Đoan Môn, nền điện Kính Thiên với đôi rồng
đá thời Lê sơ, Bắc Môn và Cột Cờ thời Nguyễn, di tích nhà D67, hầm D67 và hầm chỉ huy tác chiến Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam
Khu vực Chính điện Kính Thiên là một khu di tích có tầm quan trọng bậc nhất của Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long Nơi đây có điện Kính Thiên là chính điện thiết triều của thời Lê Sơ, thời Mạc và thời Lê Trung Hưng, tồn
Trang 22tại ở thời Nguyễn với tên gọi là điện Long Thiên mà dấu tích nền móng còn tồn tại đến ngày nay Theo các ghi chép của sử sách cũ thì vị trí mà điện Kính Thiên tọa lạc chính là nền cũ của Chính điện Càn Nguyên thời Lý, và Chính điện Thiên An thời Lý và thời Trần nằm trên đỉnh Núi Nùng hay còn gọi là Long Đỗ
Trong khu vực trục trung tâm và khu vực Chính điện Kính Thiên từ năm
1998 đến năm 2013 đã có 7 cuộc khai quật và thám sát ở các địa điểm Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn, điện Kính Thiên… Riêng khu vực Chính điện Kính Thiên từ nền điện Kính Thiên đã khai quật liên tục trong các năm 2008, 2011, 2012, 2013,
2014, 2015 và hàng năm khu vực này vẫn đang tiếp tục được khai quật Các cuộc khai quật đều tìm thấy những dấu vết của di tích và di vật của các thời kỳ lịch sử Đại La, Lý, Trần, Lê, Nguyễn
Khai quật địa điểm Hậu Lâu năm 1998
Cuộc khai quật ở khu vực điện Kính Thiên đầu tiên là tại địa điểm Hậu Lâu Khai quật với tổng diện tích 206m2 Xuất hiện các vết tích kiến trúc gạch, giếng, bể, móng nền và các loại hình di vật như: gạch Bắc thuộc Giang Tây quân, gạch lát nền hình hoa sen, chân tảng hình sen, lá đề gắn tượng uyên ương…
Về cơ bản hố khai quật vào vị trí một phần “sông cổ” hay “hồ cổ” hoạt động vào thời Lê sơ và có thể là từ trước thời Lê sơ Vết tích kiến trúc chỉ tìm thấy ít trong thời Lê trung hưng Tuy nhiên về di vật có rất nhiều vật liệu có niên đại Lý, Trần, Lê sơ với chất lượng cao Trong đó đồ gốm men thời Lý, Trần có
số lượng không nhiều nhưng khá phong phú về dòng men và loại hình
Khai quật địa điểm Đoan Môn năm 1999
Khai quật 2 hố với tổng diện tích 133,2m2 Xuất hiện các vết tích kiến trúc sân nền và viền đá lát, đường gạch hoa chanh…Di vật lớn về số lượng và phong phú về loại hình với 2025 mảnh vật liệu kiến trúc của gạch lát nền, ngói ống, tượng đầu rồng, lá đề trang trí rồng phượng; 8655 mảnh gốm men và gốm sành
Từ các di vật gạch vuông in hình hoa sen, gạch ngói ống màu đỏ, đầu ngói in hình hoa sen thấy được vết tích con đường thời Lý Thời Trần đã tiếp thu và xây dựng lại con đường này Toàn bộ vết tích con đường tìm thấy thuộc về thời Trần đồng thời
có tận dụng lại vật liệu thời Lý Sang thời Lê bỏ hẳn toàn bộ vết tích của giai đoạn trước và xây dựng Đoan Môn mới với lớp đất sét san lấp làm nền dày 20cm
Trang 23Khai quật địa điểm Bắc Môn năm 1999
Khai quật 2 hố với tổng diện tích 60,40m2 Ở cả hai hố xuất lộ vết tích nền móng kiến trúc khá lớn, được xây dựng bằng gạch vồ Kiến trúc ở hố 1 gần như là kiến trúc của nhà cửa hay đền tháp, xây giật cấp, móng gạch vụn xây mỏng Kiến trúc ở hố 2 là một đoạn tường thành, gạch xây xếp giật cấp; móng gạch xây khá dầy
và kiên cố Bước đầu xác định hai kiến trúc có cùng niên đại vào khoảng thế kỷ XV-XVIII
Di vật bao gồm vật liệu xây dựng và đồ gốm men Vật liệu xây dựng có 3833 mảnh chủ yếu là các mảnh ngói ống thời Lê, đầu ngói trang trí, yếm ngói, diềm ngói
và các mảnh kê Đồ gốm có 5841 mảnh, rất phong phú về loại hình nhưng chủ yếu
là gốm men Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII
Khai quật địa điểm điện Kính Thiên năm 2008
Khai quật với diện tích 60,40m2, nằm ở phía Nam nhà Cục Tác Chiến, cách thềm rồng của điện Kính Thiên khoảng 75m về phía Nam, nằm trên trục trung tâm chạy thẳng từ cửa Đoan Môn vào điện Kính Thiên
Qua khai quật xuất lộ nền gạch ở phía Đông và phía Tây của hố khai quật Kết cấu của nền được xây dựng bằng gạch vồ màu xám hoặc màu đỏ, các viên gạch còn nguyên hoặc đã bị vỡ Kích thước trung bình 37,5cm x 17cm, không có hoa văn trang trí Giữa 2 nền gạch là khoảng đầm gia cố nền của đường đi, trong đó xác định được biên của tâm đường, rộng 3,8m (tính từ mép ngoài)
Di vật phong phú Từ lớp 3 đến mặt nền gạch vồ tìm được chủ yếu là các di vật của thời Lê thế kỷ XVIII – XIX, đó là các loại ngói men xanh, ngói men vàng, gạch vồ
và các mảnh gốm sứ có niên đại thế kỷ XVII - XVIII – XIX
Lớp văn hóa 5 (nằm dưới lớp gia cố thời Lê) chứa các di vật: gạch, ngói ống thời Trần; lá đề trang trí phượng thời Lý
1.2.2 Khai quật khu vực Chính điện Kính Thiên trong các năm 2011-2013
Các cuộc khai quật ở khu vực Chính điện Kính Thiên từ năm 2011 – 2013,
có địa tầng tương đối thống nhất, các di tích xuất lộ dày đặc, nằm chồng chéo lên nhau Tình hình và kết quả khai quật tóm tắt như sau:
Trang 241.2.2.1 Vị trí và diện tích khai quật
Năm 2011, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Trung tâm Bảo tồn khu Di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội nay là Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội tiến hành đào 5 hố thám sát với tổng diện tích 100m2 (sơ đồ 01), trong đó có 4
hố nằm ở các vị trí xung quanh 2 bậc thềm rồng của điện Kính Thiên, 1 hố ở gần khu vực Tây Nam Hậu Lâu Cụ thể vị trí của từng hố như sau:
Hố khai quật 01 (H1) được mở dọc theo chiều Đông - Tây Diện tích khai quật là 10m2 (5m x 2m), nằm sát lan can phía Tây của bậc thềm rồng phía Nam điện Kính Thiên
Hố khai quật 02 (H2) được mở dọc theo chiều Bắc - Nam Diện tích khai quật là 10m2 (5m x 2m), nằm sát lan can phía Đông của bậc thềm rồng phía Đông điện Kính Thiên
Hố khai quật 03 (H3) được mở dọc theo chiều Đông - Tây, phía trước của thành bậc thềm rồng ở phần sau điện Kính Thiên Có diện tích khai quật là 32m2(8m x 4m)
Hố khai quật 04 (H4) được mở dọc theo chiều Bắc - Nam, nằm ở phía Đông của nhà Con Rồng Diện tích khai quật là 20m2 (5m x 4m)
Hố khai quật 05 (H7) được mở ở gần khu vực Tây - Nam Hậu Lâu Diện tích
Đợt 2 tiến hành khai quật 500m2, ở vị trí nằm song song với hố khai quật đợt
1 năm 2013 về phía Tây, cạnh tường hành cung phía Tây thời Nguyễn
1.2.2.2 Địa tầng tiêu biểu
Các hố khai quật từ năm 2011 đến năm 2013 có địa tầng tương đối thống nhất Tiêu biểu nhất là địa tầng hố khai quật đợt 1 năm 2013, có tầng văn hóa kéo dài từ thời Đại La đến thời Nguyễn
Trang 25Địa tầng hố khai quật được chia thành 5 lớp tương ứng với 5 lớp văn hóa hiện đại, Nguyễn, Lê, Lý-Trần và Đại La Địa tầng có độ sâu trung bình là 3m – 3,5m, tương ứng cao độ +9,2m đến +5,5m so với mực nước biển, gồm các lớp văn hóa chồng xếp lên nhau, từ trên xuống dưới: lớp hiện đại, lớp văn hóa thời Nguyễn
01 (LVH01), lớp văn hóa thời Lê 02 (LVH02), lớp văn hóa Lý – Trần 03 (LVH03)
và lớp văn hóa Đại La (LVH04) Về cơ bản khá thống nhất với địa tầng năm 2012,
cụ thể từ trên xuống dưới như sau:
- Lớp hiện đại: Dày từ 0cm đến 50cm
Chứa các dấu vết kiến trúc hiện đại sân nền và móng gạch
- Lớp văn hóa thời Nguyễn 01 (LVH01) có độ dày 50cm, là lớp đất tôn nền sân thời Nguyễn Lớp đất này bị xáo trộn mạnh do việc xây dựng các công trình kiến trúc hiện đại Trong đó chứa nhiều di vật khảo cổ học như gạch vồ màu xám,
đồ sành, đồ gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19
- Lớp văn hóa thời Lê 02 (LVH02) có độ dày 55cm - 60cm, gồm nhiều lớp đất chồng xếp lên nhau Về cơ bản có 2 lớp chính: lớp đất thời Lê trung hưng dày trung bình từ 25cm – 30cm, trong lớp này có di tích sân gạch vồ và lớp gia cố sân bằng gạch xám vụn, các lớp đất thời Lê sơ dày 30cm – 35cm chủ yếu là lớp đất sét tôn nền màu vàng xanh loang lổ và vết tích nền gạch, cống nước, nền kiến trúc nằm cận kề với lớp Trần phía dưới
- Lớp văn hóa 03 (LVH03), lớp văn hóa thời Lý – Trần, dày 2,45m nằm ở độ sâu 1,75m đến 4,2m Đất có màu nâu, hoặc vàng loang lổ, có chứa nhiều gạch ngói màu đỏ, đồ gốm, sành và các dấu tích kiến trúc móng trụ ngói, tường bao, bồn hoa thời Trần chồng lên các dấu tích kiến trúc thời Lý ở phía dưới
- Lớp văn hóa Đại La 04 (LVH04), nằm phía dưới nền sét và kiến trúc thời
Lý, độ dày tại vị trí thám sát là 40cm - 50cm Đất màu nâu xám thẫm rất xốp, chứa những di vật khảo cổ gạch ngói xám và đồ gốm
1.2.2.3 Di tích tiêu biểu
Qua 3 năm khai quật, nhiều di tích đã được xuất lộ, bao gồm nhiều loại hình
di tích có niên đại từ thời Đại La đến thời Nguyễn, cụ thể:
- Thời Đại La: do diện tích khai quật đến tầng văn hóa Đại La rất ít nên các vết tích xuất lộ chưa rõ ràng (BA05)
Trang 26- Thời Lý: đã xuất lộ các móng trụ sỏi, nền sân gạch vuông, tường bao và đường nước lớn (BA06)
- Thời Trần: xuất lộ các loại di tích như móng kiến trúc, cống nước, bồn hoa, sân nền, và đường nước lớn…Các di tích này thuộc nhiều giai đoạn khác nhau (BA07)
- Thời Lê: các di tích xuất lộ thuộc 2 thời kỳ Lê Sơ và Lê Trung hưng Bao gồm các dấu tích của sân đại triều, đường Ngự đạo, tường hành cung, hệ thống móng của các kiến trúc khác nhau, cống nước (BA08, 09)
- Thời Nguyễn: xuất lộ 2 dấu tích kiến trúc, nền gạch vuông và cống nước (BA10)
1.2.2.4 Vài nét về tình hình di vật
Các cuộc khai quật đã thu được số lượng di vật khá lớn, có xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản Bao gồm các loại vật liệu kiến trúc, sành, gốm men, đồ gỗ, đồ kim loại
Đồ gốm men thời Lý, Trần thu được qua 3 năm khai quật là 3765 hiện vật, trong đó thời Lý có 291 hiện vật, thời Trần có 3465 hiện vật Số lượng hiện vật nguyên và hiện vật đủ dáng rất ít, hầu hết đều là các mảnh vỡ nhỏ
1.3 Tiểu kết chương 1
Gốm men Lý, Trần đã được phát hiện từ những năm 20 của thế kỷ trước bởi các học giả người Pháp Các phát hiện đều mang tính lẻ tẻ và không nằm trong địa tầng Kết quả nghiên cứu chưa thực sự chính xác do hạn chế bởi phương pháp khai quật và tư liệu
Đến thập niên 70, những phát hiện và nghiên cứu về gốm Lý, Trần xuất hiện nhiều hơn và do các học giả Việt Nam thực hiện Bên cạnh những phát hiện mang tính ngẫu nhiên, đã có những phát hiện đồ gốm Lý, Trần nằm trong địa tầng của các cuộc khai quật Những nghiên cứu về gốm Lý, Trần được tiếp cận từ nhiều hướng như lịch sử, mỹ thuật, kỹ thuật, sản xuất,…là những tài liệu bước đầu để nhận thức chung về gốm Lý, Trần Tuy nhiên hầu như chưa có các công trình nghiên cứu, phân loại thực sự bài bản và hầu như vắng bóng việc nghiên cứu thời Lý
Khoảng cuối thế kỷ 20, nhiều cuộc khai quật ở khu vực Thăng Long – Hà Nội đã được tiến hành Qua đó gốm men Lý, Trần được phát hiện ngày càng nhiều
Trang 27hơn, phong phú và đa dạng hơn Đồ gốm được phát hiện trong địa tầng hố khai quật cung cấp những thông tin đáng tin cậy về niên đại và diễn biến phát triển của các loại hình Đã có một số bài viết đã nêu lên được những đặc điểm khác nhau giữa gốm thời Lý và gốm thời Trần, tìm ra được những đặc trưng của thời đại
Trong các di tích đã phát hiện ở Thăng Long – Hà Nội thì khu vực điện Kính Thiên là một di tích quan trọng Do tính chất của di tích nên diện tích khai quật đến lớp Lý-Trần không nhiều, đặc biệt là thời Lý Chính vì vậy số lượng gốm men thời
Lý thu được qua khai quật rất ít Cho đến nay, chưa có một chuyên khảo về sưu tập gốm Lý, Trần ở khu vực này Hầu hết gốm Lý, Trần ở khu vực này vẫn chỉ là tư liệu thô trên báo cáo khai quật Do vậy, luận văn cố gắng tiếp cận khối tư liệu gốm men thời Lý và thời Trần để làm đề tài nghiên cứu
Trang 28CHƯƠNG 2 GỐM MEN THỜI LÝ, TRẦN QUA CÁC ĐỢT KHAI QUẬT
TẠI KHU VỰC ĐIỆN KÍNH THIÊN 2011-2013
2.1 Gốm men thời Lý
Qua 3 năm khai quật tại khu vực điện Kính Thiên, số lượng gốm men thời Lý thu được là 291 hiện vật Hiện vật thu được khá phong phú về kiểu loại, có mặt ở các dòng men: men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, men trắng vẽ hoa nâu và men nâu vẽ hoa trắng (Bảng 2.1)
2.1.1 Dòng men trắng
Dòng men trắng là dòng men có số lượng hiện vật lớn nhất trong tổng số gốm men thời Lý Men trắng thời Lý thường có màu trắng xám, trắng xanh, phủ đều, thường không bị chảy, đọng men Bề mặt men mịn, bóng, rạn nhỏ đều Đây cũng là dòng men phát hiện được nhiều loại hình phong phú nhất, bao gồm bát, đĩa,
âu, bình, lọ, bình vôi, chậu, tước, hộp, nắp hộp…
2.1.1.1 Bát
Số lượng bát men trắng thời Lý thu được qua 3 năm khai quật là 149 hiện vật, là loại hình có số lượng lớn nhất (Bảng 2.2) Các hiện vật hầu hết là mảnh vỡ miệng, thân, đáy Cụ thể:
Dựa vào kỹ thuật tạo chân đế có thể chia loại hình bát gốm men trắng thời
Lý thành 2 nhóm lớn:
Trang 29- Nhóm 1: nhóm chân đế bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật cắt tiện
- Nhóm 2: nhóm chân đế bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật vét cong
NHÓM 1: Nhóm chân đế bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật cắt tiện
Nhóm chân đế này có các đặc điểm nổi bật như kỹ thuật cắt tiện ở góc chân
đế bao trùm lên toàn bộ nhóm, kỹ thuật này không có ở nhóm 2 Kỹ thuật này có lẽ được thực hiện bằng cách dùng công cụ cắt có các cạnh góc sắc để khoét lòng chân
đế Dấu vết để lại là góc chân đế là góc tù không có dấu vết cạo lõm và thường có vết xước tròn quanh lòng chân đế Bên cạnh đó nhóm 1 còn có một số các đặc trưng như sau:
+ Mép chân đế nhỏ cắt bằng, hoặc cắt vát, diện cắt nông, không rõ, đáy bát đầy và phẳng, để mộc
+ Lớp men phủ đến mép chân đế hoặc quá nửa chân đế
+ Chồng nung được thực hiện bằng các phương pháp như sử dụng bột chống dính, con kê rỗng, con kê bột chống dính, chồng nung trực tiếp
Phương pháp chồng nung bằng bột chống dính là phương pháp nhúng mép chân đế của sản phẩm vào bột chống dính trước khi xếp chồng lên sản phẩm khác Phương pháp này thường để lại dấu vòng bột chống dính trong lòng sản phẩm và dưới mép chân đế (BA11, H.1) Ở thời Lý, dấu vết bột chống dính thường nhỏ, đều khác với thời Trần thường có dấu vết bột chống dính to, dày, không đều
Phương pháp chồng nung bằng con kê rỗng là phương pháp sử dụng con kê hình ống hoặc con kê vành khăn đặt ở trong lòng chân đế Phương pháp này thường được sử dụng đối với các sản phẩm có trang trí hoa văn trong lòng sản phẩm, phủ men đến hết mép chân đế Các sản phẩm này có thể được nung đơn chiếc hoặc xếp nung ở trên cùng Phương pháp này để lại vệt cháy (màu đỏ cam) hình tròn (là hình của con kê rỗng) trong lòng chân đế (BA11, H.2)
Phương pháp chồng nung bằng con kê bột chống dính là phương pháp sử dụng con kê được vê lại từ bột chống dính Dấu vết để lại trong lòng sản phẩm thường là 3 cục bột chống dính to, màu trắng, dạng bột (BA11, H.3)
Trang 30Phương pháp chồng nung trực tiếp là phương pháp chồng nung không sử dụng các phương pháp chống dính giữa các sản phẩm Các sản phẩm sử dụng phương pháp này, dưới mép chân đế thường bị dính men và xương ở phần tiếp xúc của sản phẩm xếp bên dưới (BA11, H.4)
Phương pháp chồng nung bằng con kê dạng cục đất là phương pháp sử dụng các cục đất nhỏ đặt ở giữa sản phẩm chồng nung Đặt các cục đất ở trong lòng chân
đế của sản phẩm, sau đó xếp chồng lên sản phẩm bên dưới Phương pháp này để lại dấu chân kê nhỏ thường có hình tam giác ở trong lòng và dưới chân đế của sản phầm (BA12, H.1)
Trong hệ thống gốm nhóm 1, sự khác nhau về hình dáng, kỹ thuật, kích thước và hoa văn tạo nên một số kiểu loại nhỏ hơn, bao gồm 3 loại chính như sau:
- Loại I: Chân đế bát mảnh, mặt cắt chân đế hình chữ “v”
Dựa vào kích thước, có thể chia chân đế bát loại I thành 2 kiểu như sau:
Kiểu I-1: Chân đế bát cao
Kiểu chân đế bát này có một số đặc điểm sau:
Chân đế cao từ 1,5 cm trở lên, mỏng, thành ngoài chân đế đứng, mép đế hơi thu, thành trong chân đế hơi vát nhẹ, tạo cho chân đế có mặt cắt hình chữ “v” Mép chân đế cắt bằng hoặc cắt vát mép trong, diện cắt nông không rõ, diện tiếp xúc nhỏ
Men màu trắng ngà, trắng xanh phủ đều, mỏng, mịn, hầu như không có hiện tượng chảy, đọng men
Xương gốm màu trắng ngà, xốp
Trang trí hoa văn ở trong lòng bát, xếp nung bằng con kê rỗng hoặc bột chống dính
Dựa vào các chi tiết khác, có thể chia chân đế bát kiểu 1 thành 3 phụ kiểu:
+Phụ kiểu I-1a: chân đế của loại bát có trang trí hoa văn
Phụ kiểu I-1a có 2 mảnh vỡ chân đế có kích thước: ĐKĐ: 6,1 – 6,7cm, chân
đế cao 2,1 – 2,5cm, dày chân đế khoảng 0,2cm
Phụ kiểu này thuộc loại bát có trang trí hoa văn trong lòng, đề tài hoa lá bằng kỹ thuật khắc chìm dưới men kết hợp chải răng lược, nét hoa văn khắc mảnh, mềm mại Men phủ đều đến hết mép trong chân đế Không có vết xếp nung trong lòng, có đường tròn trong lòng chân đế là dấu vết chồng nung bằng con kê rỗng (BA14, H.1; BV01, H.1)
Trang 31+Phụ kiểu I-1b: chân đế bát có mép chân đế cắt nông, không trang trí hoa
văn (BA14, H.2; BV01, H.2)
Có 5 mảnh vỡ chân đế thuộc phụ kiểu I-1b, có chân đế cao 1,7 – 2,6, mép đế mỏng 0,2 – 0,4 cm, cắt vát 2 rìa mép đế, vết cắt nông tạo diện tiếp xúc nhỏ, ĐKĐ 5,3 – 6,3cm Men trắng xanh, trắng ngà, phủ đến mép ngoài chân đế Chồng nung bằng bột chống dính để lại vết bột chống dính ở trong lòng bát và mép chân đế
Trong phụ kiểu này có một tiêu bản có kích thước nhỏ, kí hiệu GM.LY.05 có ĐKĐ 5,3cm, cao chân đế 1,1cm (mặc dù bát có chiều cao chân đế trung bình, nhưng tỉ lệ giữa chân đế và đường kính đáy bằng với tỉ lệ của loại chân đế cao nên vẫn xếp vào loại bát có chân đế cao) Điểm đặc biệt của tiêu bản này là trong lòng chân đế được tráng son nâu dưới men, màu son nhạt, bóng Đây là hiện tượng ít gặp trong hệ thống gốm men thời Lý ở sưu tập này (BA14, H.3)
+Phụ kiểu I-1c có đặc điểm mép chân đế được cắt 2 lần, mép ngoài cắt bằng
hoặc hơi vát, mép trong cắt sâu, diện cắt rộng (BA14, H.4)
Có 3 mảnh vỡ chân đế thuộc phụ kiểu này, có các đặc điểm tương đối giống với phụ kiểu I-1b Đường kính đáy lớn hơn 2 phụ kiểu trên 6,8-7,2cm, chân đế cao 1,5-1,7cm Mép chân đế và xương gốm đều dày hơn hai kiểu trên
Kiểu I-2: chân đế bát thấp và trung bình
Kiểu I-2 bao gồm các mảnh chân đế có chiều cao trung bình từ 1-1,4cm, thấp 0,3-0,9cm, xương gốm trắng hoặc hơi ngả xám, đanh, chắc, bị rỗ Trong đó, có 2 phụ kiểu với những đặc điểm khác nhau khá rõ ràng, cụ thể như sau:
+Phụ kiểu I-2a: chân đế bát cao trung bình, thành ngoài chân đế thẳng
(BA15; BV01, H.3,6; BV02)
Phụ kiểu này có 11 mảnh vỡ chân đế có đặc điểm mép đế hơi thu, vê tròn, thành trong hơi xiên nhẹ tạo mặt cắt chân đế hình chữ “v” lệch (trọng tâm dồn vào mép ngoài), lòng chân đế đầy, phẳng Lòng bát lõm cong, thành cong vát đều Sử dụng kỹ thuật xếp nung bằng con kê rỗng Trong lòng bát trang trí hoa văn motif dây hoa lá (hoa cúc, hoa sen) kết hợp với văn chải răng lược, bằng phương pháp khắc chìm dưới men là chủ yếu, bên cạnh đó còn có phương pháp in khuôn Nét khắc hoa văn sắc, mảnh, mềm mại Men phủ đều đến hết mép trong chân đế, còn nhiều lỗ bọt khí ở phần tiếp giáp giữa thân và chân đế
Trang 32Trong phụ kiểu này có 1 tiêu bản bát nhỏ (GM.LY.07), có chân đế mảnh, đáy bằng, không trang trí hoa văn (BA15, H.1; BV01, H.3)
+Phụ kiểu I-2b: chân đế bát cao trung bình và thấp, thành ngoài chân đế
hơi vát
Có 5 mảnh chân đế thuộc phụ kiểu này, có đặc điểm khác với phụ kiểu I-1 có thành ngoài chân đế hơi vát, thành trong vát tạo mặt cắt hình chữ “v” cân, mép đế cắt bằng hoặc hơi vát, diện tiếp xúc nhỏ, lòng chân đế đầy, để lại dấu kỹ thuật cắt tiện là những vết xước đều chạy quanh trong lòng chân đế
Men phủ mỏng từ thành ngoài chân đế hoặc dưới thành ngoài bát đến trong lòng bát, có hiện tượng bong men Sử dụng kỹ thuật chồng nung bằng bột chống dính và con kê (vê lại từ bột chống dính) Trang trí hoa văn khắc chìm dưới men, vết khắc sâu, to, cứng
Loại II: Chân đế bát dày, mặt cắt chân đế hình chữ nhật
Loại II có chân đế dày hơn loại I (0,3 – 0,7cm), thành chân đế đứng tạo mặt cắt chân đế hình chữ nhật Cắt vát rìa mép ngoài hoặc cả 2 rìa mép chân đế, vết cắt nông, không rõ, diện tiếp xúc nhỏ Lòng chân đế bằng và thường có các đường xước nhỏ chạy theo vòng tròn
Men trắng ngà, trắng xám phủ đến 2/3 thành ngoài bát, bề mặt men rạn, men còn nhiều sạn đen nhỏ, có hiện tượng bong men, không có hiện tượng chảy, đọng men Xương gốm dày, thô, màu trắng xám, trắng ngà, bị rỗ nhiều do đất nhào chưa
kỹ Chồng nung trực tiếp, hoặc có những tiêu bản không có dấu vết chồng nung
Dựa vào đặc điểm của chân đế, chia loại II thành 3 kiểu sau:
Kiểu II-1: chân đế bát có lòng chân đế bằng, phẳng
Kiểu bát có thành trong cao bằng hoặc gần bằng thành ngoài chân đế tạo lòng chân đế bằng và phẳng Dựa vào hoa văn và kỹ thuật, có thể chia kiểu bát này thành
Trang 33+Phụ kiểu II-1b: chân đế bát có kích thước lớn, không trang trí hoa văn
(BA16, H.2; BV03, H.2)
ĐKĐ: 8,4cm, cao chân đế : 1,35cm, dày chân đế: 0,7cm Trong lòng bát
có đường vành khuyên, khắc chìm dưới men, vết khắc nông, rộng Men màu trắng xám, bề mặt rạn, bị bong men, trong lòng dính nhiều cục sạn đen to Mép chân đế dính men và xương của bát xếp bên dưới là dấu vết của kỹ thuật chồng nung trực tiếp
+Phụ kiểu II-1c: chân đế bát giống phụ kiểu II-1a nhưng có kích cỡ nhỏ
(BA16, H.3)
Kiểu II-2: chân đế của bát có lòng chân đế đầy, phẳng hoặc có rốn lõm
Bát có chân đế thấp và trung bình (0,7-1cm), dày 0,4-0,5cm Điểm khác của kiểu bát này là thành trong thấp hơn thành ngoài tạo lòng chân đế đầy và có rốn lõm Men phủ đến hết thành ngoài bát và có hiện tượng sống men Không thấy dấu vết chồng nung
Dựa theo kích cỡ chia thành 2 phụ kiểu:
+Phụ kiểu II-2a: chân đế bát có kích cỡ lớn, đường kính đáy 7,1cm, chân đế
cao 0,7cm thuộc loại chân đế thấp (BA16, H.4)
+Phụ kiểu II-2b: chân đế bát kích cỡ nhỏ, đường kính 5,2-6,1cm, chân đế
cao 1cm thuộc loại chân đế trung bình (BA16, H.5; BV03, H.3)
Kiểu II-3: chân đế bát có lòng chân đế lõm
Chân đế bát kiểu II-3 có các đặc điểm giống với kiểu II-1, chỉ khác đặc điểm chân đế có thành trong cao hơn thành ngoài tạo lòng chân đế lõm (BA16, H.6)
Có 2 tiêu bản thuộc kiểu này, khá đồng nhất về chất liệu và màu men Xương gốm màu trắng xám, đanh, chắc, ít bị rỗ Men màu trắng xám phủ 2/3 thành ngoài bát, bề mặt men rạn, có nhiều sạn cát nhỏ, không có hiện tượng chảy, đọng men.Trong lòng bát có đường gờ tròn nổi quanh phần đáy bát Không trang trí hoa văn, không thấy dấu vết chồng nung
Loại III: Chân đế bát có mép chân đế cắt phẳng
Chân đế bát loại III có thành ngoài chân đế đứng, thành trong vát hoặc hơi cong lồi, mép đế cắt phẳng tạo mặt cắt chân đế hình thang Lòng chân đế bằng, có các vết xước nhỏ theo vòng tròn
Trang 34Men trắng xám, trắng ngà, bề mặt mịn, rạn, có hiện tượng bị bong men Men tráng mỏng, phủ đều đến hết thành ngoài bát Xương gốm mịn, xốp, mỏng màu trắng ngà, trắng xám
Dựa vào trang trí hoa văn chia thành 2 kiểu:
Kiểu III-1: chân đế bát cao 1,5-1,6cm, ĐKĐ 6,3-7cm, chân đế dày khoảng
0,4cm Không trang trí hoa văn (BA17, H.1; BV03, H.4)
Kiểu III-2: chân đế của loại bát nhỏ, chân đế thấp 0,7cm, ĐKĐ 4,5cm, dày
0,3cm Men màu trắng xám, tráng mỏng đến hết thành ngoài bát Bát có trang trí hoa văn hình 2 con bướm đối xứng nhau kết hợp với đường chải răng lược ở giữa lòng bát Hoa văn trang trí bằng kỹ thuật khắc chìm dưới men, nét khắc mảnh, nhỏ (BA17, H.2; BV03, H.5)
NHÓM 2: Nhóm chân đế bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật vét cong
Đặc điểm cơ bản của chân đế bát nhóm 2 là có góc chân đế lõm cong do được miết tay hoặc cạo lõm Lòng chân đế tương đối bằng và có hình chóp Bên cạnh đó, còn có một số đặc điểm sau:
Men màu trắng xanh là chủ yếu (ít màu trắng xám, trắng ngà), phủ đều mỏng đến 2/3 thành ngoài bát hoặc hết thành ngoài bát Bề mặt men mịn, rạn nhỏ, ít bị chảy, đọng men, phổ biến hiện tượng bong men Xương gốm màu trắng đục, trắng xám, xốp Chồng nung bằng phương pháp dùng bột chống dính hoặc chồng nung trên cùng
Loại I: Chân đế của bát có thành chân đế mỏng
Loại chân đế bát này có thành chân đế đứng, mỏng, mép chân đế cắt vát, tạo diện tiếp xúc nhỏ Loại I có 2 kiểu sau:
Kiểu I-1: Chân đế bát có mép chân đế cắt vát nhưng vết cắt nông
Chân đế bát kiểu này có đặc điểm là có vết cắt nông, nhỏ, đôi khi không nhìn
rõ vết cắt Kiểu I-1 của nhóm 2 khá giống với kiểu I-1 của nhóm 1, điểm khác biệt
rõ nhất là góc chân đế lõm cong Kiểu I-1 có 2 phụ kiểu:
+Phụ kiểu I-1a: Chân đế bát cao (BA18, H.1-3; BV04, H.1)
Có 13 mảnh vỡ chân đế thuộc phụ kiểu này, có kích thước chân đế cao 2,1cm, dày 0,3cm, ĐKĐ 6,2-7,2cm
Trang 351,6-+Phụ kiểu I-1b: chân đế bát cao trung bình, thấp (BV04, H.2-4)
Có 9 mảnh vỡ chân đế thuộc phụ kiểu này, kích thước chân đế cao 1,4cm, dày khoảng 0,3cm, ĐKĐ 5,2-7,2cm Bát có thành chân đế mảnh, lòng chân đế đầy hoặc gần bằng
0,7-Trong phụ kiểu này, có sự khác nhau giữa dáng bát và hoa văn trang trí như sau:
I-1b.1: bát có lòng lõm xuống, thành cong, tráng men đến hết thành ngoài bát, men màu xanh, phủ đều, không có hiện tượng chảy, đọng men Không có dấu vết chồng nung (BA18, H.4)
I-1b.2: bát có lòng khá bằng, thành cong thường có hiện tượng bong men Xương gốm màu trắng xám hoặc đỏ cam, dày và xốp (BA18, H.5)
I-1b.3: bát giống với I-1b.2, điểm khác là bát có thành vát cong và có trang trí hoa văn motif hoa lá trong lòng bát Trang trí hoa văn bằng kỹ thuật khắc chìm dưới men, vết khắc to, rõ, cứng (BA18, H.6)
Kiểu I-2: Chân đế bát có mép chân đế cắt vát 2 lần
Có 10 mảnh chân đế thuộc phụ kiểu này Chân đế bát kiểu I-2 có dáng khá giống với kiểu I-1a, thành chân đế dày hơn, mép ngoài cắt bằng hoặc cắt vát, mép trong cắt sâu hơn mép ngoài, lòng chân đế khá bằng, hình chóp nón Xương gốm màu trắng xám
Theo kích thước chân đế, có thể chia thành 3 phụ kiểu nhỏ
I-2a: chân đế cao (BA19, H.1)
I-2b: chân đế cao trung bình (BA19, H.2)
I-2c: chân đế thấp (BA19, H.3; BV04, H.5-6)
Loại II: Chân đế bát dày
Chân đế bát loại II thường có chân đế cao trung bình và dày, thành trong chân đế choãi Chân đế bát loại 2 có 2 kiểu:
Kiểu II-1: Chân đế bát có mép chân đế cắt 2 lần, không rõ diện cắt, diện tiếp xúc phẳng
Chân đế cao trung bình 0,9-1,4cm, dày 0,4-0,5cm, ĐKĐ 5,7-6,2cm Bát
có góc chân đế miết cong do được miết bằng tay, lòng chân đế hình chóp nón Men màu trắng mốc do bị bong men, phủ gần hết thành ngoài bát, không có hiện
Trang 36tượng chảy, đọng men Bề mặt men thô, ráp Xương gốm màu đỏ cam, xốp và bị rỗ (BA19, H.4; BV05, H.1)
Kiểu II-1 có 4 mảnh vỡ chân đế và 1 tiêu bản đủ dáng
Tiêu bản đủ dáng kí hiệu GM.LY.31, có kích thước: ĐKM 16cm, ĐKĐ 5,8cm, cao 6,3cm Thuộc loại bát có thành loe xiên, miệng hơi ngả, mép miệng dày 0,35cm, được vê tròn Chân đế thấp 0,7cm, dày gần 0,6cm, thành chân đế đứng, cắt vát 2 rìa mép vết cắt nông không rõ, góc chân đế lõm cong, lòng chân đế hình chóp Men trắng mốc do bị bong men phủ đến hết 2/3 thành ngoài bát, chân đế để mộc Lớp men phủ mỏng, đều, không có hiện tượng chảy, đọng men Xương gốm dày khoảng 0,8cm, màu hồng cam, khá chắc, mịn Kỹ thuật chồng nung bằng bột chống dính Vết bột chống dính để lại trong lòng, nhỏ, đều
Kiểu II-2: Chân đế bát có mép ngoài chân đế cắt vát, thành trong miết cong tạo một đường lõm cong từ mép chân đế đến đỉnh lòng chân đế
Có 7 mảnh vỡ chân đế thuộc kiểu II-2 Men trắng xanh phủ gần hết thành ngoài bát, không có hiện tượng chảy, đọng men Hầu hết xương gốm có màu trắng xám, trắng ngà, những tiêu bản bị bong men thường có xương gốm màu đỏ cam (BA19, H.5; BV05, H.2)
Kiểu I-1: có 4 mảnh, miệng thẳng, mép miệng vuốt nhỏ đều Là miệng của bát có thành vát xiên Có đường chỉ khắc chìm gần miệng bát ĐKM: 20-28cm, dày: 0,15-0,3cm
Kiểu I-2: có 1 mảnh, miệng thẳng, mép vuốt nhỏ, mép ngoài thẳng, mép trong hơi ngả Kiểu miệng này tương ứng với loại bát có thành hơi cong Mảnh vỡ nhỏ không xác định được ĐKM, độ dày: 0,1cm
Trang 37Kiểu I-3: có 5 mảnh, miệng đứng, mép ngoài tạo gờ cong, mặt cắt miệng hình chữ D hẹp ĐKM: 18cm, dày: 0,3-0,5cm
Loại II: Miệng loe
Đặc điểm của loại miệng này có mép miệng vuốt cong chờm ra ngoài thân, vuốt mỏng hoặc hơi vê tròn Men trắng xanh, trắng ngà, mỏng, đều, bề mặt rạn, bóng, mịn Xương gốm trắng ngà, trắng xanh, mỏng Có 26 mảnh thuộc loại miệng loe, trong đó có các kiểu sau:
Kiểu II-1: miệng hơi ngả, mép vê tròn, trong kiểu này có 9 mảnh không có hoa văn, 3 mảnh có trang trí các đường khắc chìm dưới men hoặc hoa sen in khuôn
và 4 mảnh có mép tạo viền răng cưa Thường có ĐKM: 16-19,6cm, dày: 0,2-0,3cm
Kiểu II-2: mép miệng vuốt mỏng Men trắng xanh, trắng mốc do bị bong men Xương gốm màu trắng xanh ĐKM: 16cm, dày: 0,15cm
Kiểu II-3: mép miệng vê chờm ra ngoài tạo thành một đường gờ nổi nhỏ Xương mỏng, thân cong đều Men màu trắng xám, trắng mốc, thường không trang trí hoa văn ĐKM: 14-16cm, dày:0,15-0,2cm
Kiểu II-4: miệng ngả, mép miệng cắt phẳng ĐKM: 16cm, dày: 0,25cm Kiểu II-5: miệng cúp, tạo cổ hình lòng máng, mép miệng loe, vê tròn ĐKM: 15,2cm, dày: 0,25cm Men trắng ngà, bề mặt rạn, xỉn màu
c Mảnh thân
Số lượng mảnh thân bát men trắng thời Lý thu được là 33 mảnh (bảng 2.4) Nhìn chung các đặc điểm của mảnh thân đều có những đặc điểm đồng nhất với mảnh miệng và mảnh đáy Dựa vào hoa văn trang trí, có thể chia mảnh thân thành 2 loại
Loại I: Mảnh thân không trang trí hoa văn
Có 24 mảnh, đều không trang trí hoa văn Men trắng xanh, trắng mốc do bị bong men Bề mặt men rạn, bóng, mịn Xương gốm trắng ngà, trắng xanh hoặc đỏ cam (đối với những tiêu bản bị bong men)
Loại II: Mảnh thân có trang trí hoa văn
Có 8 mảnh đều có trang trí trong lòng bát với motif hoa văn các đường cong, hoa lá, cá khắc chìm dưới men, thường kết hợp với hoa văn phẩy răng lược ở trong lòng Một số tiêu bản trang trí ở thành ngoài bát bằng các đoạn cong ngắn khắc vạch giống vết móng tay bấm lên Vết khắc mảnh, mềm mại Có các loại men trắng ngà,
Trang 38NHÓM 1: Nhóm chân đế đĩa có góc chân đế cắt tiện
Loại I: Chân đế đĩa có thành chân đế mảnh, diện tiếp xúc nhỏ
Kiểu I-1: Chân đế đĩa có kỹ thuật chồng nung bằng bột chống dính
Chân đế đĩa thuộc kiểu này chỉ có 1 mảnh chân đế, kí hiệu GM.LY.44 Chân
đế thấp 0,6cm, đường kính đáy 5,6cm, thành ngoài và thành trong đều đứng tạo mặt cắt chân đế hình chữ nhật, cắt vát mép ngoài chân đế, vết cắt nông, trôn đế đầy, phẳng Đĩa lòng phẳng, hẹp Men màu trắng xám, phủ mỏng, đều đến gần hết thành ngoài đĩa Không có hiện tượng chảy, đọng men Bề mặt men rạn, bóng, mịn Xương gốm màu trắng xám, mịn, đanh, có ít vết rỗ nhỏ Không trang trí hoa văn, chỉ có đường chỉ khắc vạch quanh lòng bát (BA22, H.1; BV06, H.1)
Kiểu I-2: Chân đế đĩa có kỹ thuật chồng nung bằng con kê rỗng
Chân đế đĩa kiểu I-2 có thành ngoài chân đế đứng, thành trong hơi vát, mép chân đế cắt bằng hoặc vuốt nhọn, tạo diện tiếp xúc nhỏ Lòng chân đế đầy, phẳng Đĩa lòng phẳng, rộng
Trang 39Men màu trắng phớt xanh phủ hết mép trong chân đế Men phủ đều, mỏng,
bề mặt men rạn, mịn, bóng Không có hiện tượng chảy men, đọng men và bong men Xương gốm trắng xám, đanh, chất liệu mịn, rất ít vết rỗ Trang trí hoa văn khắc chìm dưới men Motif hoa văn hoa lá kết hợp với hoa văn chải răng lược Có 5 mảnh vỡ chân đế và 1 hiện vật đủ dáng thuộc phụ kiểu này, trong đó dựa vào kích thước có 2 phụ kiểu:
+Phụ kiểu I-2a: Chân đế thấp, trung bình
Đĩa có chân đế cao 0,6-1,4cm, đường kính đáy 5,9-6,6cm, dày 0,1-0,25cm (BA22, H.2; BV06, H.2)
+Phụ kiểu I-2b: Chân đế đĩa liền sát thân
Chân đế đĩa thuộc phụ kiểu này có ĐKĐ 7cm
Mảnh đĩa đủ dáng có ĐKM 18,2cm, ĐKĐ 8,5cm, cao 4,5cm Thuộc loại đĩa thành cao, cong đều, lòng phẳng, miệng loe, mép miệng vê tròn Chân đế thấp liền sát thân (0,5cm), dày 0,1cm, lòng chân đế đầy, phẳng gần như không có thành trong chân đế, mép chân đế vuốt nhỏ Góc chân đế cắt tiện, lòng chân đế còn rõ vết xước vòng quanh Chân đế thuộc nhóm 1, loại I, kiểu 2b
Trong lòng đĩa có trang trí hoa văn khắc vạch dây lá uốn cong kết hợp với hoa văn phẩy răng lược, vết khắc hoa văn mảnh, mềm mại Men trắng xám, phủ đều, mỏng đến hết thành ngoài chân đế, bề mặt men rạn, mịn, bóng Không có hiện tượng chảy, đọng men Xương gốm màu trắng đục, đanh, mịn
Loại II: Chân đế đĩa có mặt cắt hình chữ nhật, diện tiếp xúc lớn
Chân đế đĩa loại II đều thuộc loại đĩa có chân đế thấp, mặt cắt chân đế hình chữ nhật, thành chân đế dày, lòng chân đế phẳng Men trắng ngà, trắng xám, phủ đều đến hết thành ngoài đĩa Bề mặt men rạn, mịn, đều, có hiện tượng bong men Xương gốm dày, xốp Chồng nung bằng con kê bột chống dính hoặc không có vết chồng nung
Kiểu II-1: Chân đế đĩa thấp, mép chân đế cắt phẳng
Chân đế thấp, chỉ cao 0,2 - 0,6cm, chủ yếu là 0,3cm Đường kính đáy 8,4cm, đặc biệt có 1 tiêu bản cỡ lớn, đường kính đáy 13,2cm Mép chân đế cắt phẳng tạo diện tiếp xúc phẳng, lòng chân đế đầy, phẳng Men màu trắng ngà, xương gốm màu trắng đục Thường không trang trí hoa văn, hoặc trang trí hoa văn motif hoa lá bằng kỹ thuật khắc chìm dưới men và phẩy răng lược
Trang 406-Có 3 mảnh chân đế thuộc kiểu II-1(BA22, H.4-5; BV07, H.1)
Kiểu II-2: Chân đế đĩa có mép chân đế cắt vát
Chân đế đĩa kiểu II-2c có đặc điểm cắt vát 2 rìa mép Dựa vào chi tiết của chân đế, có thể chia thành 3 phụ kiểu sau:
+Phụ kiểu II-2a: Chân đế đĩa có lòng chân đế bằng
Chân đế thấp, trung bình 0,6-1,2cm, đường kính đáy 6,1-7,4cm, dày 0,7cm Thành ngoài chân đế đứng, thành trong đứng tạo mặt cắt chân đế hình chữ nhật, lòng chân đế bằng, phẳng Cắt vát 2 rìa mép, diện cắt nông, diện tiếp xúc phẳng Đĩa cỡ lớn, lòng phẳng, rộng Men phủ gần hết thành ngoài đĩa, hầu hết đều
0,5-bị bong men Không có trang trí hoa văn (BA23, H.1; BV07, H.2)
Chân đế của kiểu đĩa này có các đặc điểm khá giống với cấu trúc chân đế của bát nhóm 1, kiểu II-1
Có 3 mảnh vỡ chân đế thuộc phụ kiểu này
+Phụ kiểu II-2b: Chân đế đĩa thấp, dày
Chân đế thấp 0,5cm, đường kính đáy 5.6-7,2cm, dày 0,6cm Mặt cắt chân đế gần hình chữ nhật, cắt vát 2 rìa mép, lòng đế bằng, có rốn lõm Kiểu chân đế giống kiểu chân đế bát nhóm 1, kiểu II-2 Đĩa lòng rộng, giữa phần thân và đáy đĩa thường
có đường gập (BA23, H.2; BV07, H.3)
Men trắng xanh hoặc trắng mốc Phủ đều đến hết thành ngoài đĩa Có hiện tượng bong men Xương gốm màu trắng phấn, phần không tráng men có màu đỏ cam Không trang trí hoa văn
Có 2 mảnh vỡ chân đế thuộc phụ kiểu này
+Phụ kiểu II-2c: Chân đế đĩa thấp, nhỏ
Chân đế cao 0,4-0,7cm, đường kính đáy 6,8cm, dày 0,2-0,4cm Thuộc loại chân đế thấp, mảnh nhỏ, trôn đế đầy hoặc gần bằng, cạo phẳng Đĩa lòng phẳng, thành cong, trong lòng có đường gờ tạo ranh giới giữa phần thân và đáy đĩa (BA23, H.3-6; BV07, H.4-6)
Men màu trắng ngà, trắng mốc (do bị bong men) phủ gần hết thành ngoài chân
đế Men còn nhiều lỗ bọt khí, bề mặt men rạn, rỗ Xương gốm màu trắng ngà, đỏ cam (tiêu bản bị bong men) Đĩa thuộc phụ kiểu này thường không trang trí hoa văn hoặc trang trí hoa văn phẩy răng lược và văn hoa lá bằng kỹ thuật khắc chìm dưới men