1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về tôn giáo để giải quyết vấn đề đạo tin lành từ năm 2001 đến nay

88 456 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 626,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là người tiên phong trong cách tiếp cận văn hóa đối với tôn giáo Hồ Chí Minh đã xử lý thành công nhiều vấn đề tôn giáo, góp phần củng cố tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

LÊ THỊ VÂN SƠN

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐẠO TIN LÀNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình học và luận văn này, tôi đã nhận được sự giảng dạy và giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô khoa Khoa học chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến GS.TS Đỗ Quang Hưng đã dành rất nhiều tâm huyết, thời gian, công sức hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn cao học

Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và quí thầy cô khoa Sau đại học đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa học

Mặc dù đã cố gắng hết năng lực của mình để hoàn thiện luận văn nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nên tôi rất mong nhận được những góp ý quý báu của quý thầy cô, anh chị và các bạn

Hà Nội, tháng 09 năm 2015

Học viên

Lê Thị Vân Sơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Học viên thực hiện luận văn

Lê Thị Vân Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỂ TÀI 10

7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 10

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO 11

1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 11

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 15

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TIN LÀNH Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 45

2.1 Giải quyết vấn đề Tin lành từ năm 2001 đến nay 45

2.2.1 Chỉ thị 01(2005) về đạo Tin lành 48

2.2.2 Giải quyết vấn đề Tin lành ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay 55

2.2.3 Những thành tựu và một số vấn đề đặt ra 66

2.3.Giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo để giải quyết vấn đề đạo Tin lành Việt Nam 72

2.3.1.Việc theo đạo, truyền đạo và hoạt động tôn giáo (sinh hoạt động, truyền đạo và quản đạo) phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật 73

2.3.2 Tập trung phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào 75

2.3.3 Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo 76

Trang 6

2.3.4 Kiện toàn và phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở, các tổ chức quần chúng và vai trò của trưởng làng, già bản, trưởng thôn 77

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay ở nước ta, Đảng khẳng định: lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng và toàn thể dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh tuy đã đi xa chúng ta nhưng những gì Người để lại vẫn còn mãi với thời gian, khẳng định sự trường tồn của giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

Vấn đề tôn giáo nói chung và mối quan hệ tôn giáo nói riêng là vấn đề mang tính nhạy cảm, nóng bỏng trong đời sống chính trị và xã hội, là vấn đề

khó giải quyết Trong tình hình nước ta hiện nay, các thế lực thù địch trong và

ngoài nước đang lợi dụng, núp trong chương trình “diễn biến hòa bình” “bạo loạn lật đổ” không ngừng chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam Lợi dụng

sự đa dạng về tôn giáo cũng như dân tộc, chúng âm mưu chia rẽ tôn giáo

trong lòng dân tộc, lợi dụng tôn giáo, dùng tôn giáo - một “thủ đoạn chính trị”

để chống phá Nhà nước Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI đã nêu rõ: “Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, thực hành chính sách tự do tín ngưỡng Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc, cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống lại

âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động chia rẽ đồng bào theo tôn giáo này với đồng bào theo tôn giáo khác”1 Hơn nữa, trước luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch một cách thâm độc và tinh vi, việc nghiên cứu tư tưởng đại đoàn kết dân tộc nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng là việc cần thiết để khơi dậy tình đoàn kết dân tộc, khẳng định tình đoàn kết đó bền chặt lâu dài, giúp chúng ta chiến thắng kẻ thù

1

Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.117.

Trang 8

Là người tiên phong trong cách tiếp cận văn hóa đối với tôn giáo Hồ Chí Minh đã xử lý thành công nhiều vấn đề tôn giáo, góp phần củng cố tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hơp cho sự nghiệp cách mạng

Hơn thế nữa, trong suốt cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, Người

đã có những quan hệ với các tôn giáo, những người đứng đầu các tôn giáo cũng như tín đồ, ai cũng như ai, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng nào Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề tôn giáo một cách khéo léo, chân tình Trong những quan hệ của Hồ Chí Minh với tôn giáo như Công giáo, Phật giáo… và Tin lành có những giá trị lý luận và thực tiễn to lớn Hiện nay, việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam có những diễn biến phức tạp, trong đó có vấn đề Tin lành phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây

Vì vậy, việc nghiên cứu ,vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

để giải quyết vấn đề đạo Tin lành đặc biệt là từ năm 2001 đến nay, góp phần giải quyết tốt vấn đề Tin lành, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn cấp bách của đề tài trong bối cảnh hiện nay và phục

vụ tốt cho việc học tập Từ những lý do cấp thiết trên tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo để giải quyết vấn đề đạo Tin lành

từ năm 2001 dến nay” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và với từng tôn giáo cụ thể nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu Cụ thể:

“Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng”, của Viện nghiên cứu

Tôn giáo thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Nxb

Chính trị Quốc gia, 1998.Cuốn “ Lịch sử Hội Thánh Tin lành Việt Nam

(1911-1956) ghi dấu 100 năm Tin lành trên đất Việt ( 1911-2011)”, Nxb Tôn

giáo, 2010 của Mục sư Lê Hoang Phu Đây là những tài liệu cung cấp nguồn

Trang 9

Tài liệu trình bày một cách toàn diện, mang lại cho bạn đọc cái nhìn tổng

quan tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh về tôn giáo

Một số cuốn sách “Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh”, Nxb Lao

động, Hà Nội, 1999: tác giả Đỗ Quang Hưng cũng có đề cập đến “Vấn đề tôn

giáo tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về

dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam”, Nxb QĐND,

Hà Nội, 2003 do Đỗ Quang Hưng chủ biên đã nghiên cứu, đề cập tới nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, góc độ tiếp cận khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung

Ngoài các cuốn sách nghiên cứu của các tác giả kể trên có thể kể đến các bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí: Nguyễn Đức Lữ, “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về đoàn kết lương giáo”, Tạp chí lịch sử Đảng, 3/1995; Nguyễn Ngọc Hà,“Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo”, Tạp chí Lịch sử

Đảng, 1/1996; Lê Đại Nghĩa, “Về tư tưởng đoàn kết lương giáo của Chủ tịch

Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1/2009; Trần Duy Hiển

“Đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số

783/2008…

Khi nghiên vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo để giải quyết vấn đề đạo Tin lành, các công trình nghiên cứu có đề cập một cách chung chung mối quan hệ này Các công trình phần lớn là đề cập đến vấn đề tôn giáo, dĩ nhiên khi nói đến tôn giáo trong đó có đạo Tin lành Tuy nhiên, để nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ này còn rất hạn chế chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về việc vận dụng tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề Tin lành trong một giai đoạn cụ thể như luận văn muốn đề cập

Công trình nghiên cứu của Đỗ Quang Hưng chủ biên (2003), Tư tưởng

Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam,

Nxb QĐND, Hà Nội Cuốn Nghiên cứu tôn giáo: nhân vật và sự kiện, Nxb

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010 Đặc biệt các công trình nghiên

Trang 10

cứu chuyên sâu: Nguyễn Ái Quốc và đạo Tin lành, Tạp chí Công tác Tôn giáo,

số 5(81), năm 2013 Hồ Chí Minh với đạo Tin Lành, Tạp chí Khoa học Xã hội

số 5 (177)- 2013 Đạo Tin lành ở Đông Bắc Á: Những kịch bản giải quyết

xung đột với văn hóa bản địa, Tạp chí khoa học xã hội số 5(66)- 1013 Công

trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân chủ biên: Góp phần tìm hiểu đạo

Tin lành ở Việt Nam,Viện thông tin khoa học; Học viện chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội (1997), Đạo Tin lành ở Việt Nam – thực trạng và xu

hướng, Viện khoa học công an, Hà Nội (1997), đây thực sự là những công

trình nghiên cứu về vấn đề tôn giáo có giá trị tham khảo rất lớn đối với tác giả Các bài viết đã đưa ra tình hình đạo Tin lành nói chung, mối quan hệ giữa

Hồ Chí Minh với đạo Tin lành, những vấn đề về đạo Tin lành đặc biệt là khu vực Đông Bắc Á và Việt Nam, tuy nhiên bài viết chỉ đề cập trong một giai đoạn nhất định

Các công trình nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quý giá cho tôi và những ai nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo nói chung và với đạo Tin lành nói riêng Nhưng phần lớn các công trình đề cập một cách chung chung tư tưởng Hồ Chí Minh với các tôn giáo, hay một tôn giáo cụ thể như Công giáo, Phật giáo… nhưng ít đề cập đến vấn đề đạo Tin lành Thoảng qua có một số ý kiến song đó là những ý kiến đơn lẻ, trong các bài viết ngắn, phân tán hay những ý kiến đánh giá, nhìn nhận vấn đề dưới những góc độ tiếp cận khác nhau của từng tác giả Do vậy việc nghiên cứu vấn đề này cần phải nhìn nhận, tiếp cận không chỉ dưới góc độ triết học, lịch sử, xã hội học… mà phải nhìn nhận dưới nhiều góc độ tiếp cận, tiếp tục mở rộng và đi sâu hơn nữa

Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hoá, xã hội… Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng

Trang 11

công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, lẽ dĩ nhiên khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo cần nhìn nhận mối quan hệ của Người với từng tôn giáo cụ thể ra sao, để từ đó có cái nhìn đúng đắn, phù hợp với điều kiện lịch sử

Từ góc độ chính trị học, việc nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề đạo Tin lành một vấn đề mới mẻ, ít được nghiên cứu Đặc biệt là ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ này trong bối cảnh chính trị Việt Nam hiện nay, là một việc làm khoa học có tính cấp thiết

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích

Làm rõ quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo để giải quyết vấn đề đạo Tin lành ở Việt Nam từ đó kiến nghị những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết tốt hơn nữa những vấn đề đạo Tin lành ở Việt Nam theo

tư tưởng Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

- Làm rõ quá trình vận dụng những tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

đề giải quyết vấn đề Tin lành ở nước ta từ năm 2001 đến nay

- Xác định những vấn đề đặt ra và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề đạo Tin lành ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung, về đạo Tin lành nói riêng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề đạo Tin lành

ở Việt Nam

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo thể hiện trong các tác phẩm của Người bao gồm cả các tác phẩm mới sưu tầm được, chưa công bố chính thức

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến nay

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở lý luận

của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo

Luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu về tôn giáo nói chung và đạo Tin lành nói riêng của một số công trình đã được công bố

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng các

phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh vv…

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỂ TÀI

- Chỉ ra cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và nội dung

cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

- Giải quyết tốt quá trình vận dụng những tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đề giải quyết vấn đề Tin lành ở nước ta từ năm 2001 đến nay

- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề đạo Tin lành ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục công trình nghiên cứu gồm có 2 chương và 5 tiết:

Trang 13

mà cả trong hành động cụ thể Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc, trong

đó có đại đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng và những người không có tín ngưỡng, giữa những người có tín ngưỡng khác nhau, tất cả đều vì mục tiêu độc lập dân tộc vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển và hoàn thiện của mỗi cá nhân con người Việt Nam vì sự phát triển của dân tộc

Vấn đề tôn giáo có rất sớm trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, chúng

ta đều biết rằng từ đầu 1921, mối quan tâm lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc là

mở rộng các hoạt động trong Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp và bắt

đầu truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về trong nước Nhưng có điều đặc biệt là,

bên cạnh việc gắn bó với thợ thuyền , Hội những người Việt Nam yêu nước ở

Pháp, Nguyễn ái Quốc cũng dành một phần tâm lực của mình cho “vấn đề tôn

giáo” Cũng từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc thu thập tư liệu để viết cuốn sách

chuyên khảo nhất đời mình là Bản án chế độ thực dân Pháp, sau này được in

ở Paris, 1925 Trong cuốn sách đó , chương X có tên là Chủ nghĩa giáo hội,

hoàn toàn được dành cho việc nghiên cứu vao trò của đạo Công giáo, đặc biệt

là tầng lớp giáo sỹ (chủ yếu là giáo sỹ thuộc Hội Thừa sai Paris, Pháp) Đó

Trang 14

cũng là chương sách “kinh điển” về mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân và Giáo hội, khi nó bị lợi dụng trong những mưu đồ chính trị thuộc địa

Cuối thế kỷ XIX phong trào yêu nước Vệt Nam, tiêu biểu là phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nước chống thực dân Pháp

đã phát triển rầm rộ trong cả nước, kéo dài gần 20 năm Những phong trào vũ trang yêu nước của nhân dân ta bị dập tắt trong biển máu Trong khi dó tình hình tôn giáo Việt Nam cũng đang diễn ra phức tạp, mâu thuẫn giữa người có đạo và người không có đạo cũng ngày càng trở nên gay gắt

Trong khi đó các thế lực xâm lược không ngừng lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của mình Chúng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ những người có đạo và không có đạo, tuyên truyền chống phá cách mạng, chống lại cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta Từ bối cảnh lịch sử đó, nhận thấy đoàn kết là một sức mạnh cho sự thắng lợi của cách mạng bên cạnh các nhân tố khác, cách mạng Việt Nam buộc phải giải quyết vấn đề tôn giáo, nhằm đoàn kết toàn dân cùng tham gia kháng chiến, trong đó có vấn đề đạo Tin lành

Các tôn giáo được truyền vào Việt Nam qua nhiều con đường khác nhau Hai tôn giáo Công giáo và Tin lành được truyền vào Việt Nam là do các giáo sĩ, thừa sai người nước ngoaì vào Các hình thức truyền giáo của hai tôn giáo này đều gắn với liền với các thương nhân người nước ngoài Đạo Tin lành được truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII qua các mục sư tuyên úy hoặc các tín đồ là thương nhân người Pháp, Hà Lan, Anh Nhân vật quen biết đầu thế kỷ XIX là Jean Baptiste Chaigneau, một trong những cố vấn cho Gia Long ở Huế đồng thời cũng là tín đồ của đạo Tin lành

Bản thân Hồ Chí Minh trước các vấn đề của dân tộc, người luôn có tư tưởng về vấn đề dân tộc và tôn giáo, về độc lập dân tộc và quyền tự do tôn giáo Từ những hiện thực cách mạng Người quyết định đi sang phương Tây

Trang 15

để tìm hiểu nền văn minh Pháp… Nhờ có ý muốn ra nước ngoài để tìm hiểu nước Pháp về giúp dân, giúp nước nhà, cứu lấy giống nòi …chính vì thế mà chưa đầy 20 tuổi người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đánh giá được lập trường yêu nước của những người đương thời, sau 30 năm bôn ba trên thế giới Người đã đi qua nhiều nước Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Mỹ Latinh, tìm hiểu về cuộc sống của người dân các nước , Người đã có cái nhìn toàn diện về người dân lao động: Nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn và chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù Chính điều đó đã hình thành ở con người Hồ Chí Minh một tư tưởng đoàn kết nhân dân lao động trong nước cũng như quốc tế với một mong muốn tột cũng là đất nước được độc lập, nhân dân được tự do khỏi xiềng xích nô lệ

Bên cạnh đó Chủ tich Hồ Chí Minh là người đã kế thừa một cách sáng tạo và linh hoạt quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin

về vấn đề tôn giáo và thực tiễn cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh có hiểu biết sâu sắc về vấn đề tôn giáo cùng với tình hình phức tạp và nhạy cảm của

nó Người cho rằng hoạt động lợi dụng tôn giáo của các giai cấp thống trị để

áp bức nhân dân để bảo vệ lợi ích của chúng là vấn đề mang tính phổ biến trong xã hội có giai cấp ở những thời điểm lịch sử khác nhau Nhận thức rõ vấn đề kẻ địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta Trên cơ sở vạch ra những hành vi lợi dụng tôn giáo của thực dân, đế quốc và các thế lực phản động với nhiều hình thức rất tinh vi khác nhau, người tìm hiểu về các tôn giáo, lý giải những nguyên nhân cơ bản của tình hình đó Đồng thời đề ra đường lối chính sách và phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với tất cả các tôn giáo trong đó có đạo Tin lành một tôn giáo vô cùng non trẻ ở Việt Nam

Trang 16

Việt Nam là dân tộc đa tôn giáo, tín ngưỡng Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Các tôn giáo luôn đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo” Sự thật là như vậy, song vẫn còn những ý kiến trái chiều, phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Xâu chuỗi mọi vấn đề, có thể thấy rằng, trong lịch sử của dân tộc ta, việc lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ xâm lược hoặc gây mất ổn định đất nước là việc làm không còn lạ lẫm gì Núp dưới chiêu bài “tự do tôn giáo”, các thế lực thù địch cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam về công tác tôn giáo; tìm mọi cách gây hiềm khích, chia rẽ giữa các nhóm, hệ phái tôn giáo ở trong nước; gây mâu thuẫn giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và không có tín ngưỡng, tôn giáo, giữa đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an Ngoài ra, họ còn ra sức tài trợ hoạt động truyền đạo trái pháp luật nhằm gây ra các “điểm nóng”

về chính trị - xã hội, tạo cớ để các thế lực phản động bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc

Vì vậy nghiên cứu về tôn giáo cũng như vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề tôn giáo là một việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm và đưa ra những phương hướng giải quyết đúng đắn, khoa học và kịp thời Thông qua việc nghiên cứu cũng giúp ta có được những nhận định chính xác, khoa học, để có cái nhìn đúng đắn trong bối cảnh các tôn giáo ở Việt Nam đang phát triển rất đa dạng

và phức tạp, từ đó hạn chế những mặt không tích cực sao cho phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam

Tất cả những gì Hồ Chí Minh viết và nói và ứng xử với tôn giáo, chung quy lại là nhằm giác ngộ đại đa số đồng bào các tôn giáo và đoàn kết toàn dân

Trang 17

thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy có thể nói đoàn kết giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau , giữa đồng bào có đạo và những người không theo tôn giáo là một truyền thống quí báu của dân tộc ta Tư tưởng đoàn kết lương giáo, mối quan hệ của Hồ Chí Minh với các chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo là thể hiện sự tôn trọng con người và vấn đề tôn giáo để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc Việc thực hiện đúng đắn và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng có ý nghĩa không chỉ cho hôm nay mà cho cả tương lai, không những có ý nghĩa trong nước mà còn có ý nghĩa trong nước mà còn có ý nghĩa quốc tế Bởi những tư tưởng đó của Người chứa đựng sự ước mong về một nền hòa bình, khoan dung và đầy tính nhân văn cao cả- những giá trị lớn mà nhân loại đang vươn tới

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tư tưởng này được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm văn hóa Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, các tín ngưỡng, tôn giáo có lịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu hướng hòa đồng, tồn tại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau

Ở Việt Nam không có xung đột, chiến tranh tôn giáo Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên hệ giá trị truyền thống vô cùng quý báu, trong đó yêu nước là giá trị hàng đầu Trong lịch sử dân tộc đã từng có sự đồng điệu giữa đức tin tôn giáo và lòng yêu nước, Trần Nhân Tông vừa là ông vua yêu nước có công lãnh đạo quân dân ta hai lần đánh thắng quân Nguyên, vừa là nhà thiền học tiêu biểu của thiền phái Trúc Lâm Sự đồng điệu ấy đã góp phần to lớn tạo nên sức

Trang 18

mạnh đại đoàn kết dân tộc trong suốt cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước

Kế thừa truyền thống ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, lòng yêu nước và đức tin tôn giáo không có gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ với nhau Một người dù theo tôn giáo nào thì trước hết người đó phải là công dân, có nghĩa vụ với dân tộc, đất nước

Như vậy, đặc điểm văn hóa dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước

nói riêng là cơ sở thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo

Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo là nhằm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Chính sách tôn giáo theo tư tưởng của Người, thể hiện tính nhất quán, lâu dài, thực sự tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo; thái độ mềm dẻo, khéo léo trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo Trong "Tám điều mệnh lệnh" của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi rõ: Chính phủ, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào

Nói chung tư tưởng của Hồ Chí Minh về Tôn giáo thể hiện ở những điểm sau

* Tư tưởng đoàn kết lương giáo

Là tư tưởng mang tính toàn diện nhất thể hiện cả trong kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Người từng nói ” phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống ấm no, xây dựng tổ quốc” Phải tập hợp tất cả các quần chúng trong các hình thức mặt trận như

Mặt trận phản đế Đông Dương, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt…với các tổ chức hội đoàn như Công giáo cứu quốc, Phật giáo cứu quốc, Cao Đài cứu quốc…Đồng bào và chiến sỹ cả nước phải quan tâm và chăm sóc cho

cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo Đồng thời những người có tín ngưỡng phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết, phải

Trang 19

tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tự do tín ngưỡng của nhân dân; khắc phục mọi mặc cảm, định kiếm và chống âm mưu chia rẽ lương- giáo của bọn phản động Đồng thời phỉa biết phân biệt như cầu tín ngưỡng chân chính của đồng bào có đạo với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các phần tử phản động Mặt khác để thực hiện hòa bình và đoàn kết tôn giáo phải chú ý kế thừ giá trị nhân bản của tôn giáo, trân trọng những người thành lập các tôn giáo lớn, tranh thủ giáo sỹ, quan tâm đến giáo dân;độ lượng vị tha với những người lỗi lầm; đấu tranh cương quyết với bọn phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng

Tư tưởng của người về đoàn kết lương giáo luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống di sản lý luận mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

Theo Người đoàn kết tôn giáo được thể hiện trên một số nội dung sau: Đoàn kết tôn giáo được xây dựng trên cơ sở kết hợp đúng đắn các lợi ích cơ bản của công dân trong xã hội làm mẫu số chung

Có thái độ ứng xử mềm dẻo, tế nhị với các chức sắc tôn giáo, quan tâm cuộc sống đời thường của các tín đồ

Hồ Chí Minh trên cơ sở nhận thức thực tiễn đời sống các tôn giáo Việt Nam và các yêu cầu cách mạng đã xây dựng tình cảm đoàn kết giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; chấp nhận tất cả mọi người không cùng tín ngưỡng tôn giáo Đó là nét độc đáo và thiên tài của Hồ Chi Minh Nó thể hiện lòng nhân ái, bao dung, hòa hợp trong nhân cách của Người Nhờ đó mà đã tránh được tình trạng các tôn giáo đấu tranh với nhau để tranh giành ảnh hưởng gây mất ổn định xã hội và gây khó khăn cho cách mạng, tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia vào mặt trận đoàn kết chung, chiến đấu giải phóng

tổ quốc và xây dựng đời sống ấm no cho nhân dân mà vẫn đảm bảo được đức tin cho những người theo các tôn giáo Nhờ vậy, với mục tiêu chính nghĩa

Trang 20

đúng đắn và phương pháp mềm dẻo linh hoạt, Hồ Chí Minh đã đoàn kết được những người có các tôn giáo khác nhau tạo thành sức mạnh đại đoàn kết tôn giáo cũng là góp phần làm nên đại đoàn kết dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và thông qua đó thì các tôn giáo cũng có điều kiện hiểu và xích lại gần nhau hơn, tạo thành khối đại đoàn kết thống nhất, làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại cách mạng của kẻ thù Với Hồ Chí Minh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đại đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng và những người không có tín ngưỡng, giữa những người có tín ngưỡng khác nhau, tất cả đều vì mục tiêu độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển hoàn thiện của mỗi cá nhân con người Việt Nam và

vì sự phát triển của dân tộc

Người quan niệm “Tổ quốc độc lập Tôn giáo mới được tự do” Người luôn kêu gọi “Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông, Tổ quốc mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do” Người cũng đã viết: ”Nay đồng baò ta đoàn kết, hi sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc ” Từ quan điểm đó mà ngay khi Chính phủ mới được thành lập đã có rất nhiều người đứng đầu các tôn giáo tham gia Quốc hội

Ngày 3/ 11/ 1946 Hồ Chí Minh được Quốc hội ủy nhiệm đứng ra lập Chính phủ mới theo nguyên tắc: Đoàn kết tập hợp nhân tài không phân biệt đảng phái Đặc biệt Chỉ thị 5/10/1947 chủ chương đoàn kết hơn nữa với tất cả các

cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau Linh mục Lê Văn Yên được mời làm Ủy viên kháng chiến Bắc Ninh Linh mục Phạm Bá Trực được cử làm Phó trưởng ban thường trực cũng tự nguyện tham gia gánh vác việc làm

cố vấn Chính phủ và đã ”hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì dân vì nước”[11,430]

Trang 21

Để thực hiện đoàn kết tôn giáo, trong đó trọng tâm là đoàn kết Lương - Giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những giải pháp có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn là: Xây dựng hệ thống chính trị trong vùng có đồng bào tôn giáo, làm tốt công tác vận động với các chức sắc và tín đồ tôn giáo, tích cực đấu tranh chống bọn đế quốc, phản động lợi dụng tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng lãnh đạo và chỉ đạo việc xây dựng và phát huy vai trò của tổ chức Đảng các cấp, các hệ thống chính quyền, của mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác ở các địa phương, nhất là vùng có đông đồng bào theo đạo Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ ở các vùng đồng bào công giáo Người khẳng định: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" và "công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém" Người chủ trương phát triển cán bộ tại chỗ là chính, để họ trở thành cán bộ "bán chuyên nghiệp"

đi vận động tôn giáo Người thường căn dặn cán bộ phải thật bền bỉ thì mới

có thể giúp đồng bào tôn giáo phân biệt rõ bạn, thù

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác vận động đối với các chức sắc tôn giáo và đồng bào tôn giáo Người luôn biểu lộ sự tôn trọng, quan tâm đối với các chức sắc tôn giáo và tìm cách tốt nhất để tranh thủ họ; song cũng có thái độ xử sự dứt khoát, kiên quyết trừng trị những kẻ mượn tiếng đạo, làm nhục Chúa, làm hại dân Đối với kẻ lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào chống lại Tổ quốc, Người chỉ rõ: "Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn"

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến đời sống của đồng bào tôn giáo, chăm sóc cả "phần xác" và "phần hồn".Theo Người, "phần xác có no ấm thì phần hồn mới thong dong", từ đó Người chỉ đạo Chính phủ cần có chính sách cụ thể để cải thiện cuộc sống cho đồng bào, tích cực tăng gia sản xuất,

Trang 22

nâng cao đời sống Người nói: "Phải ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho xã viên Đồng thời phải đảm bảo tín ngưỡng tự do Nhưng hoạt động tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của Nhà nước" Đối với "phần hồn" của đồng bào tôn giáo, Người không chỉ đánh giá cao giá trị của văn hóa tôn giáo,

mà còn trực tiếp quan tâm tới sinh hoạt tôn giáo Người đã nhiều lần đến các chùa chiền, nhà thờ với tấm lòng thành kính dự các lễ nghi tôn giáo như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh

Như vậy, thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam Tín đồ tôn giáo ở Việt Nam thực hiện tư tưởng của Người về chính sách tôn giáo, đã và đang sống theo phương châm: "Sống phúc âm trong lòng dân tộc", "tốt đời đẹp đạo", "đạo pháp dân tộc và chủ nghĩa xã hội"

* Tôn trọng tự do đức tin ( cao hơn là niềm tin) nhiều người gọi đó là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo

Tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu không thể thiếu được đối với nhân dân, là cái thiêng liêng của mỗi người không ai được xâm phạm hay làm tổn hại đến điều đó, đồng thời cũng là mục tiêu phấn đấu của cách mạng Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tôn trọng quyền tự

do tín ngưỡng tức là tôn trọng nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một

bộ phận nhân dân, tôn trọng yêu cầu về tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội

Mỗi một tôn giáo là một hệ tư tưởng, Hồ Chí Minh đã hiểu vấn đề tự

do tín ngưỡng phải được giải quyết một cách rất thỏa đáng Người không gò

ép hay bắt buộc người khác phải theo tư tưởng này hay theo tư tưởng khác, ai

Trang 23

cũng có quyền tự do nghiên cứu một chủ nghĩa nào mà mình mong muốn Trong lần trả lời phỏng vấn các nhà báo ngày 12/7/1946 ở Roaya Mông xô, Người đã nói: “ Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cưu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Mác” Cho nên cũng có thể nói, quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của con người đó cũng chính là quyền con người được tự do về tư tưởng

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận tại Điều 18 Tuyên ngôn nhân quyền toàn thế giới năm 1948 và được phát triển đầy đủ hơn trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc Điều 18, khoản 3 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị nói về quyền tự do tôn giáo đã xác định: “ Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”

Như vậy, theo quan điểm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế, mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có giới hạn Sự giới hạn đó

là cần thiết nếu việc thực hiện quyền này xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự

xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền và tự do cơ bản của người khác Nói cách khác, ở tất cả các nước, các loại hình tổ chức tôn giáo đều được tự do hoạt động nhưng phải trong giới hạn của Hiến pháp và pháp luật Mọi hành vi hoạt động tôn giáo gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức và các quyền của người khác… đều bị cấm và nghiêm trị theo pháp luật Vì vậy, những kẻ lợi dụng tôn giáo để trục lợi cá nhân, thực hiện những hành động chống chính quyền, gây mất ổn định trật tự xã hội thì phải

bị xử lý thỏa đáng

Trang 24

Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, nhân dân có quyền tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, song không vì thế

mà bài xích, đó kỵ, ghen ghét, đối đầu nhau, gây mất đoàn kết, làm cho kẻ thù

dễ lợi dụng chia rẽ Người chỉ rõ: ”Trong một nước văn minh có tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận nhưng không được vu khống kẻ khác” [44,73] Đó là một quan điểm cách mạng và khoa học Nếu tự do theo kiểu vô chính phủ chắc chắn sẽ dẫn đến kết cục là không được tự do Quyền theo hay không theo một tôn giáo nào không có nghĩa là quyền áp đặt thiên kiến, niềm tin của mình đối với người khác Bởi vậy, quan điểm của Người là thừa nhận quyền

tự do lựa chọn tôn giáo để theo của đồng bào cũng như sự bình đẳng giữa các tôn giáo Tuy nhiên sự tự do tín ngưỡng, tự do lựa chọn tôn giáo của nhân dân không được cản trở đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội đến sự phát triển của đất nước Người nói: ” Hoạt động tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của Nhà nước” [45,606]

Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ quan điểm về việc chống vi phạm quyền tự do tín ngưỡng dưới mọi hình thức Đối với cán bộ của Đảng và Nhà nước, Người luôn nhắc nhở phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, phong tục tập quán của nhân dân Ngay sau khi Nhà nước kiểu mới ra đời, Hồ Chí Minh đã ban hành mệnh lệnh “chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào” [41,565]

Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946, ở chương II, mục B đã ghi rõ; “mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng” chính cương của Mặt trận Liên Việt ở điều 7, điểm 1 ghi “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự

do thờ cúng cho mọi người” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lại quan điểm đó trong thư gửi cụ Giám mục Lê Hữu Từ ngày 1/2/1947: “ Trong Hiến

Trang 25

pháp ta định rõ: Tín ngưỡng tự do Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo sẽ bị phạt Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống lại đạo

vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả các đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ phản đối tôn giáo” [40,38]

Người kịch liệt phê phán chủ nghĩa giáo hội bị lợi dụng bởi mục đích thực dân , nhưng luôn tôn trong tự do tín ngưỡng của nhân Người kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan, bài trừ những hủ tục làm cản trở sự vận động và phát triển của xã hội Việt Nam

Sự tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân trong các bài viết và nói của Người về tôn giáo là: Mỗi công dân có quyền theo hoặc không theo bất

kỳ một tôn giáo nào Người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng đều bình đẳng như nhau trước pháp luật: Mỗi tín đồ tôn giáo cả trên cương vị tổ chức

và cá nhân vừa làm tròn bổn phận của tin đồ, vừa làm tròn nghĩa vụ của công dân Mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật mọi công dân đều có quyền thay đổi hoặc không thay đổi tôn giáo của minh mà không cần một điều kiện

xã hôi nào kèm theo

Từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay đều nhất quán:” Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công dân”[17,150]

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, đối với người có tín ngưỡng , đức tin tôn giáo và long yêu nước không mâu thuẫn nhau mà mỗi người vừa là người dân yêu nước vừa là một tín đồ chân chính Cùng với những hoạt động đặng thổi vào long yêu nước kính Chúa, Hồ Chí Minh đã chủ động giúp đỡ

Trang 26

các tôn giáo lập ra các tổ chức yêu nước của mình Ngày 15/3/1946, Người ký quyết định thành lập Việt Nam Phật giáo hội Ngày 6/3/1946, Liên đoàn Công giáo Việt Nam ra đời…Trong khi tuyên truyền lời nói của Người bao giờ cũng giản dị, dễ hiểu Từ sâu thẳm đáy long Người bao giờ cũng tôn trọng nhắc đến nguồn gốc xuất thân từ lao động, đến gương hy sinh cứu nhân loại,

“cứu khổ cứu nạn” Qua đó đồng bào nhanh chóng hiểu rõ tư tưởng của Người Đa số các tín đồ đã nghe theo lời dạy của Người, họ đã hiểu được một cách tự nhiên giữa đức tin tôn giáo với lòng yêu nước và sự kết hợp hài hòa giữa hai mặt ấy trong tâm linh mỗi tín đồ Hành động tham gia kháng chiến cứu nước và kiến quốc của đồng bào các tôn giáo trong cả nước trong các cuộc kháng chiến chính là bắt nguồn từ yếu tố hết sức quan trọng này

Đối với Hồ Chí Minh, vấn đề tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đối với đồng bào có đạo, không phải là vấn đề mang tính chất tình thế mà là vấn đề

có ý nghĩa chiến lược lâu dài Điều này được nhà sử học Xanh-tơ-ni, người không cùng quan điểm với Hồ Chí Minh, nói; “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi có các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với tôn giáo nào bất kỳ”[55,60]

Mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng phải thực sự đoàn kết cùng nhau phấn đấu vì Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh tiến lên CNXH

* Tôn trọng và khai thác truyền thống tôn giáo Việt Nam

Ở Việt Nam, tôn giáo tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh đất nước phải trải qua những chặng đường dài, phải chiến đấu chống lại các thế lực đế quốc xâm lược cực kỳ hung bạo Do đó, tôn giáo không thể tách rời chính trị, càng không thể đứng ngoài chính trị Tín đồ các tôn giáo là một bộ phận trong quần chúng nhân dân, đã cùng với cộng đồng dân tộc đấu tranh để dựng nước

Trang 27

và giữ nước Những kẻ thù xâm lược đã cấu kết chặt chẽ với bè lũ tay sai trong nước, dùng mọi thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phục vụ cho mục đích chính trị của chúng

Khi xâm lược Việt Nam, các thế lực thù địch, đế quốc đều tìm mọi cách , mọi thủ đoạn để lợi dụng tôn giáo, hòng biến các tôn giáo Việt Nam thành lực lượng đối lập với cách mạng Đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, đạo Công giáo và Tin lành ít nhiều ở mức độ khác nhau đều có một bộ phận bị lôi kéo, mua chuộc

Nhận thức một cách sâu sắc về việc tôn trọng và khai thác truyền thống các tôn giáo Việt Nam nhất là trong cách mạng giải phóng dân tộc vì vậy Người càng chú tâm hơn nữa trong việc chú ý xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong các tổ chức, hình thức yêu nước thích hợp như việc Người đã chủ trương tập hợp tất cả quần chúng nhân dân không phân biệt dân tộc, đẳng cấp, tôn giáo…trong các hình thức mặt trận như ; Mặt trận phản đế Đông Dương, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt…và các tổ chức hội đoàn như công giáo cứu quốc, Phật giáo cứu quốc…

Người luôn nhấn mạnh và đề cao các giá trị tinh hoa của các tôn giáo Người viết: “Chúa Giê su dạy: Đạo đức là bác ái Phật Thích Ca dạy: Đạo đức

là từ bi Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[41,23] Tư tưởng nhân đạo của Giê su, tư tưởng từ bi hỷ xả, bình đẳng của Phật Thích Ca, tư tưởng “hòa mục xã hội” của Khổng Tử đã gặp gỡ với mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hôi mà chúng ta đang xây dựng

Tầm nhìn của Hồ Chí Minh đối với các tôn giáo chính là tầm nhìn của đỉnh cao văn hóa nhân loại, tầm nhìn “của tương lai”, vượt qua những giới hạn của lịch sử, của những thiên kiến của tôn giáo, giai cấp và dân tộc để thấy được giá trị đạo đức tích cực của các tôn giáo, khai thác nó phục vụ cho sự

Trang 28

nghiệp cách mạng Tầm nhìn đó dựa trên chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với hệ tư tưởng tiến bộ của thời đại là chủ nghĩa Mác

Điều cần nhấn mạnh ở đây là Hồ Chí Minh khai thác các giá trị văn hóa, đạo đức của cá tôn giaó trên một tầm nhìn mới và phương pháp mới nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chế

độ xã hội mới Người đã đưa vào các giá trị văn hóa, đạo đức của các tôn giáo những nội dung mới có ý nghĩa tiến bộ phục vụ cho sự phát triển của thời đại mới, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh thường chích dẫn nguyên văn những lời nói của các vị thánh hiền rút trong kinh Phật, kinh Thánh hay kinh của Khổng Tử Người chuyển ý của các vị cho thích hợp với thời đại, với dân chúng, mà tinh thần cơ bản không hề thay đổi Năm 1964, Nhười lấy tinh thần kinh thánh để giáo dục tinh thần đại đoàn kết:” Kinh thánh có câu ý dân là ý Chúa, con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục hăng hái khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước lợi dân, lương giáo đoàn kết, cả nước một lòng ” Người còn viết: Trong Công giáo có câu: ”Tam vị nhất thể”, nhà Phật có câu “Vạn chúng nhất tâm” nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh”

Trong lịch sử cận hiện đại của dân tộc, thời kỳ cuối thế kỷ XIX , vấn đề tôn giáo cũng đã được nhiều sỹ phu yêu nước đề cập đến Tiêu biểu trong đó

là Phan Bội Châu Khác với các phong trào yêu nước thời kỳ Văn Thân, Cần Vương trước kia, Phan Bội Châu cũng đã đặt vấn đề tôn giáo trong vấn đề dân tộc Ông cho rằng: ”Đồng bào Công giáo đều anh em ta cả” Vì vậy, giáo cũng như lương, ai cũng có lòng yêu nước Ngay từ thời đó, ông đã nhận thức

Trang 29

được ”yêu nước và kính Chúa” gắn liền với nhau Phan bội Châu đã kêu gọi lương giáo đoàn kết và tin tưởng ở khối đoàn kết đó

“Bởi vì ta lại với ta

Lẽ đâu lương giáo toan là hại nhau

Suy một bụng đồng bào tương ái

Người cùng người ai dại gì đâu

Đã là đồng chủng đồng cừu

Yêu nhau thì quyết cứu nhau phen này” [64, 57-58]

Tuy nhiên, do hạn chế tầm nhìn của thời đại và nhãn quan chính trị, tư tưởng đoàn kết của Phan Bội Châu không tránh khỏi những điều bất cập Ông không đặt ra vấn đề phải phân biệt rõ ràng giữa người dân Công giáo yêu nước chân chính với kẻ đội lốt thiên chúa giáo can tâm làm tay sai cho thực dân Pháp

Như vậy, nhìn nhận tôn giáo như một lĩnh vực văn hóa Người đã chỉ ra

và khai thác các giá trị nhân bản trong các tôn giáo nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trên cơ sở tin cậy lẫn nhau về mục đích, từ

* Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, đức tin và lòng yêu nước, giải quyết vấn đề tôn giáo theo hướng nhà nước thế tục (coi thực tại tôn giáo như thực tại xã hội) nhưng kiên quyết chống lại việc địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng

Trang 30

Bên cạnh việc chăm lo đời sống mọi mặt của đồng bào các tôn giáo, phải đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng Do đặc điểm của tôn giáo ở Việt Nam, trước đây khi xâm lược nước ta, các thế lực đế quốc đều tìm cách lợi dụng tôn giáo

để phục vụ cho mục đích chính trị của chúng Ngày nay, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta Vì vậy trong khi tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Đảng ta chủ trương phải cảnh giác đấu tranh với những hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ gắn

bó hữu cơ mật thiết với nhau Giải quyết đúng đắn và đầy đủ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của quần chúng là làm cho đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào chế độ và sự nghiệp đổi mới đất nước, hiểu rõ âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn tạo của các thế lực xấu, từ đó nêu cao cảnh giác để họ "tự giác đấu tranh chống lại chúng, bảo vệ quyền tự

do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh Tổ quốc" Ngược lại, khi làm tốt công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo sẽ tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, không bị địch lợi dụng để quần chúng yên tâm sinh hoạt tôn giáo

Bên cạnh việc chăm lo đời sống mọi mặt của đồng bào các tôn giáo, phải đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng Do đặc điểm của tôn giáo ở Việt Nam, trước đây khi xâm lược nước ta, các thế lực đế quốc đều tìm cách lợi dụng tôn giáo

để phục vụ cho mục đích chính trị của chúng Ngày nay, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta Vì vậy trong khi tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Đảng ta chủ trương phải cảnh giác đấu tranh với những hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ gắn

Trang 31

bó hữu cơ mật thiết với nhau Giải quyết đúng đắn và đầy đủ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của quần chúng là làm cho đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào chế độ và sự nghiệp đổi mới đất nước, hiểu rõ âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn tạo của các thế lực xấu, từ đó nêu cao cảnh giác để họ "tự giác đấu tranh chống lại chúng, bảo vệ quyền tự

do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh Tổ quốc" Ngược lại, khi làm tốt công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo sẽ tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, không bị địch lợi dụng để quần chúng yên tâm sinh hoạt tôn giáo

* Nhà nước phải coi chính sách về tôn giáo như một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước (một chính sách với những nét đặc thù của nó)

Trong vấn đề về thực hiện chính sách tôn giáo, có thể nói chính Hồ Chí Minh

là người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương, chính sách về tôn giáo Người kêu gọi đoàn kết lương giáo không chỉ nhằm xóa đi nhiều thành kiến vốn có trong quá khứ mà còn nhằm chống lạ chính sách chia rẽ lương giáo nguy hiểm của bọn thực dân, phong kiến; nhằm tăng cường lực lượng đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, không chỉ kháng chiến mà cả kiến quốc, không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ mà cả trong cách mạng

xã hội chủ nghĩa

Về nguyên tắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi các tổ chức tôn giáo phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, theo quy định tại Điều 14 (chương IV) Sắc lệnh về tôn giáo số 234 do Người ký: "Các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ theo pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, như mọi tổ chức khác của nhân dân" Trên cơ sở nguyên tắc ấy, các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các tôn giáo, quan hệ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa tôn giáo với chính quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xử lý thành công đến mức

Trang 32

hoàn hảo Người phân định rạch ròi thái độ, cách thức ứng xử theo các mức

độ khác nhau, như đối với chủ nghĩa thực dân và các thế lực tôn giáo phản động cấu kết với nhau, đó là đấu tranh chống kẻ địch; còn đối với đồng bào tôn giáo làm sai chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước là đấu tranh trong nội bộ nhân dân Một điển hình về xử lý những xung đột, mâu thuẫn, rắc rối xảy ra sau Cách mạng Tháng Tám của Người là thái độ đối với bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng một số sai sót của chính quyền Cách mạng ở một vài nơi nhằm kích động một bộ phận trong đồng bào chưa giác ngộ ở các vùng công giáo bùi Chu, Phát Diệm Vụ việc liên quan đến tôn giáo phức tạp đến mức khiêu khích giết cố đạo, thủ tiêu cán bộ Việt Minh, lôi kéo tín đồ hành lễ liên miên, bỏ cả sản xuất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi tình hình một cách thường xuyên và chỉ đạo giải quyết rất kịp thời Phương pháp của Người là kiên trì, nhẫn nại, chân tình Nếu đã hết sức kiên trì mà không đạt kết quả thì Người rất kiên quyết, rất nghiêm khắc: "Trong Hiến pháp nước

ta đã định rõ quyền tự do tín ngưỡng, kẻ nào vi phạm Hiến pháp và khiêu khích bà con Công giáo sẽ bị xử lý"1 Như vậy phương pháp giải quyết vấn

đề tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là để giải tỏa hiểu lầm, tăng cường đoàn kết nhân dân Muốn vậy phải tỉnh táo phân biệt rõ bạn, thù để có cách ứng xử phù hợp

Những tư tưởng cơ bản đó đã định hướng cho việc qui định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước CNXH Việt Nam từ năm 1945 đến nay Nó được thể hiện ở Điều 10 trong Hiến pháp 1946; Điều 26 và điều 42 trong Hiến pháp 1959; Điều 57, 68, 76, 77 và 78 trong Hiến pháp 1980; Điều 54,70,76,77 và 79 trong hiến pháp 1992; Nghị định 69 của HĐBT kí ngày 21/3/1991 qui định về các hoạt động về tôn giáo và Nghị định 26/1999/NĐ-

CP của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo kí ngày 19/4/1999; Quyết định

số 83/2001/QĐ-TTg ngày 30/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành

Trang 33

lập Nhà xuất bản tôn giáo và gần đây là Nghị quyết Hội nghi lần thứ bảy ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác Tôn giáo ngày 12 tháng 3 năm

Như vậy sự vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về các chính sách tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cũng đã thu được nhiều kết quả tốt Cơ sở chính trị của Đảng trong các tổ chức quần chúng tôn giáo được coi trọng Vai trò của đảng viên, cán bộ, cựu chiến binh và những người có uy tín được phát huy nhằm phục vụ cho công tác tôn giáo Công tác bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước và đoàn thể chính trị- xã hội về công tác tôn giáo trong tình hình mới được quan tâm Đảng và Nhà nước đã khuyến khích phong trào yêu nước của đồng bào các tôn giáo, phát huy những nhân tố tích cực khác, đảm bảo cho tôn giáo đồng hành và gắn bó với sự nghiệp chung của dân tộc

* Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc với đạo Tin lành trên thế giới và

việc truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam

Trang 34

Hồ Chí Minh có quan hệ mật thiết với nhiều tôn giáo ở nước ta như Phật giáo, Công giáo, Cao Đài và Hòa Hảo Thậm chí với các tôn giáo này, Người còn trực tiếp chỉ đạo Chính phủ và chính quyền các cấp giải quyết hàng loạt vấn đề nức thiết trong cách mạng và Kháng chiến đặc biệt giải quyết mối quan hệ Nhà nước và Giáo hội để lại biết bao kinh nghiệm quí báu cho cách mạng Việt Nam

Trong một phát hiện mới đây của các nhà khoa học đã phần nào cho ta biết được mối quan hệ rất sớm của Nguyễn Ái Quốc với đạo Tin lành đó là lá thư của Người trực tiếp giửu Cho Mục sư U.Soulie một trong những yếu nhân

của Hội Truyền giáo Phúc Âm Pariđược phát hiện ở lưu trữ của Hội Truyền

giáo Phúc Âm Tin lành Paris Người mà sau đó đã đến Hà Nội truyền giáo

những năm 1922-1923 Vị Mục sư này cũng gửi cho Người những tài liệu quan trọng nghiên cứu chuẩn bị cho việc thành lập một phái bộ Tin lành Pháp

ở Đông Dương Vào thời điểm đó Mục sư P.Monet cũng gửi cho Người những tài liệu tương tự về việc truyền bá đạo Tin lành ở Xứ Đông Dương Như vậy đủ để thấy, Nguyễn Ai Quốc đã có những liên hệ khá khăng khít với những nhân vật trọng yếu của Tin lành Pháp ở Paris Đây là một phát hiện quan trọng nhằm giúp ta khẳng định những tư tưởng quan trọng của người về tôn giáo nói chung và về đạo Tin lành nói riêng Nội dung bức thư khá phong phú qua đó có thể thấy được nội dung quan trọng bộc lộ tư tưởng, quan điểm của Nguyến Ái Quốc xung quanh vấn đề đạo Tin lành ở Việt Nam, thời điểm truyền giáo còn “chập chững”

Lá thư của Nguyễn Ái Quốc được đánh máy như một tài liệu quen thuộc liên quan đến Người Ở trang nhất, đặc biệt còn có đoạn chủ bút của chính U.Soulier, viết bên lề trang vào năm 1965: “Ôi tư tưởng của Người bạn tôi, một văn nhân người An Nam đúng làm sao! Những người Tin lành Pháp chúng ta còn chưa mở mắt đủ to!”

Trang 35

Như chúng ta đã biết, mặc dù những giáo sỹ Tin lành Pháp và Châu Âu cũng là những người đầu tiên truyền giáo tin lành ở nước ta trong giai đoạn đặt nền (1893-1911), nhưng đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì vai trò

của họ đã trở nên suy yếu trước những người anh em Tin lành Phúc Âm thuộc

Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp của Mĩ và Canada

Thứ nhất bức thư khẳng định rất sớm tư tưởng truyền đạo vào Việt Nam thì không thể tách rời vấn đề dân tộc

Hoạt động tôn giáo, nhất là hoạt động truyền giáo luôn mang tính xã hội và ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội Do đó, nó cũng phải tuân thủ và chịu sự quản lý của nhà nước thế tục Vì vậy, bất cứ một quốc gia nào dưới những hình thức khác nhau đều có các chính sách hay pháp luật để quản lý các hoạt động tôn giáo, nhất là hoạt động truyền giáo nhằm giữ vững

ổn định chính trị, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của mình với Tin lành cũng vậy, đòi hỏi những người truyền đạo phải nghiên cứu vấn đề dân tộc của chúng ta, một dân tộc đa tôn giáo, từ tôn giáo du nhập đến cho đến tôn giáo bản địa

C Mác, Ph.Ăngghen phải trực tiếp đấu tranh vạch rõ thế giới quan sai lầm của tôn giáo và sự lợi dụng tôn giáo của giai cấp thống trị nhằm xác lập ý thức hệ, thế giới quan mới dẫn đường giai cấp vô sản Còn ở Việt Nam, trước nguy cơ mất còn của dân tộc, quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, cuộc đấu tranh về mặt thần học, giáo lý chưa phải là vấn đề đấu tranh giữa tôn giáo và dân tộc, giữa cộng đồng tôn giáo với toàn thể cộng đồng dân tộc để tạo lực lượng cách mạng, đem sức ta giải phóng cho ta Cho nên, ở tư tưởng của Hồ Chí Minh không có sự đấu tranh trực diện với thần học, giáo lý các tôn giáo

mà chủ yếu là cố gắng chỉ ra sự thống nhất giữa mục tiêu của cách mạng với

lý tưởng của các tín ngưỡng tôn giáo, bỏ qua “tiểu dị” tìm ra điểm “đại đồng” giữa tín ngưỡng tôn giáo với sự nghiệp cách mạng

Trang 36

Nguyễn Ái Quốc viết: ”Như mọi thứ thuộc về lý tưởng, tôn giáo không

có và không nên có biên giới và những người truyền giáo phải tự đặt mình lên trên mọi mặt chủ nghĩa dân tộc và mọi lợi ích chính trị Vì vậy theo thiển ý của tôi từ “Đông Dương” ngắn gọn không có tính từ diễn tả tốt hơn ý tưởng của Chúa Cứu thế Tính từ “thuộc Pháp” mà ông đặt sau từ “Đông Dương” mang lại hiệu ứng hoàn toàn trái ngược với những điều mà ông và chúng tôi mong muốn Công việc của Chúa Kito là một công cuộc giải phóng và giải thoát, trong khi đó chủ nghĩa thực dân bất luận thế nào cũng chỉ là công cuộc

nô dịch và áp bức Xứ Đông Dương bị thống trị không thể là xứ Đông Dương đích thực của Kito giáo ”

Nhân định này giúp ta hiểu được tư tưởng nổi trội của Nguyễn Ái Quốc

những năm 1945-1946 với khẩu hiệu Kính Chúa yêu Nước đã có từ năm 1921

Lá thư còn nhắc đến một nhân vật Tin lành nổi tiếng người Pháp ở Hà Nôi những năm cuối chiến tranh thế giới I là Mục sư P.Monet Nguyễn Ái Quốc đã có sự “phê bình” quan điểm truyền giáo phiến diện về chế độ thuộc địa ở Đông Dương của ông này Người viết:” Người ta không thể biến họ (người An Nam- tác giả ) thành những tín đồ Tin lành tốt bằng cách chỉ làm nhẹ bớt một phần đau khổ của họ, cũng như người ta không thể làm cho một người mạnh khỏe bằng cách chỉ chữa một phần bệnh của người đó Ngược lại, người ta còn có thể rủi ro biến người bệnh thành người bại liệt Tôi thiết nghĩ rằng lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất phải đi đôi với nhau vì cái này không thể thực hiện nếu không có cái kia Tại sao chúng ta những người đấu tranh cho sự thật lại không nói lên sự thật”

Logic của sự phê phán dẫn đến một tư tưởng độc đáo khác “ Sứ mệnh giao giảng Phúc Âm, dạy cho con người yêu thương Thiên Chúa và đồng loại của họ; và một sứ mệnh khác, đặt một nhóm người “vào những đẳng cấp” và khuyến khích họ từ chối tổ quốc của mình hay ít ra là làm cho họ yêu một tổ

Trang 37

quốc khác Người An Nam, dù là sinh viên hay nông dân mù chữ họ vẫn cứ là người Việt Nam”

Thứ hai truyền giáo Tin lành ở Việt nam không thể tách rời truyền thống văn hóa, tôn giáo của người Việt

Cũng giống như U.Soulier, quan điểm về đạo Tin lành và truyền giáo của các Mục sư Hội thánh Phúc âm Tin lành Paris không thấy được điều này Nguyễn Ái Quốc bác bỏ điều này một cách nhẹ nhàng khi khẳng định :” Ông cần biết rằng, người An Nam ngay từ khi còn nhỏ đã học chữ “Trung” và chữ

“Tín” như những phẩm hạnh hàng dầu sau lòng hiếu thảo Quan trọng hơn trước ý kiến của P>Monet rằng: ”Những tín hữu Tin lành Pháp cần hiểu rằng nhân dân Việt Nam bị áp bức ”về mặt tinh thần” và họ đau khổ vì sự áp bức đó”, Nguyễn Ái Quốc đá khẳng định “người dân An Nam còn bị áp bức cả về các mặt vật chất, xã hội và chính trị lẫn tinh thần ”

Đặc biệt Nguyễn Ái Quốc đề cập đến vấn đề cơ bản khác, đó là truyền thống Tam giáo ở Việt Nam, đó là “Tam giáo đồng nguyên” (Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo) Ba tôn giáo này không mâu thuẫn, đối chọi mà bổ sung hỗ trợ cho nhau Nho giáo lo tổ chức trật tự xã hội; Đạo giáo chăm lo thể xác con người thư thái, khỏe mạnh; Phật giáo lo cứu khổ và những chiêm nghiệm tâm linh Ba tôn giáo này đều được người Việt tôn trọng vì giáo lý không đi ngược lại đạo đức căn bản của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không trái với lợi ích của cộng đồng, của đất nước cũng như truyền thống hòa đồng của các hệ tư tưởng và ý thức tôn giáo của người Việt Theo Nguyễn Ái Quốc, việc truyền bá Kiti giáo ở Việt Nam, Công giáo hoặc đạo Tin lành nói riêng, không thể bỏ qua sự dung hợp ở một tầng cấp cao của văn hóa và triết

lý Đông- Tây Người đã bộc lộ một quan điểm độc đáo hiếm có của một người mac xit ở đầu thập kỷ XX:” Tôi tin rằng chỉ có một triết lý, một nguyên lý và một tôn giáo cho tất cả mọi người, bởi vì chỉ có một trân lý

Trang 38

Chúng ta chỉ được phép thấy chân lý này từ phía chúng ta đang đứng và chúng ta đặt tên cho nó theo cái chúng ta thấy hay đúng như chúng ta có thể thấy : Khổng Tử hay Phật đối với người phương Đông và Chúa Kito đối với người phương Tây

“Phật giáo+ Khổng Tử+ Kito giáo= Cái thiện”

Qua đó cũng có thể thấy được việc khai thác những điểm tương đồng giữa các hệ ý thức và tôn giáo, một trong những đường nét tư tưởng về tôn giáo độc đáo nhất ở Nguyễn Ái Quốc trong lá thư này

Ngày hôm nay, nói về Hội nhập văn hóa của đạo Tin lành Mục sư Huỳnh Thiên Bửu đã có phân tích về sự “ Đạo Tin lành có nhiều va chạm với một số truyền thống thuộc về dân tộc” cũng phần nào giải đáp cho những tiên lượng của Người rất nhiều năm trước khi đạo Tin lành chuẩn bị được truyền vào Việt Nam Mục sư Huỳnh Thiên Bửu đã phân loại ”những va chạm không thể tránh khỏi (chủ yếu với phong tục tập quán, tín ngưỡng cổ truyền, với các tôn giáo khác ngay cả với Công giáo,hoặc các hệ phái Tin lành khác)” và những “va chạm có thể tránh khỏi” như: bài xích nhạc cụ của người dân tộc; coi thường tập tục như ăn trầu, đầy tháng thôi nôi, sinh nhật; hiếu hỷ; thiếu tôn trọng tín ngưỡng dân gian Đồng thời ông cũng chỉ ra những “đòi hỏi tuân thủ tiêu chuẩn quá khắt khe, theo màu sắc phương Tây của Tin lành”

Từ đó, tác giả cũng đã đưa ra những phương pháp, phương tiện, phương thức truyền giáo cụ thể theo hướng “Hội nhập văn hóa”

Hiện nay đã đến lúc các Hội thánh Tin lành Việt Nam cần đặt vấn đề một cách cấp thiết và toàn diện hơn nữa với đường hướng tất yếu Hội nhập văn hóa bất kể trước mọi khác biệt về thần học và đời sống tôn giáo Thực tế lịch sử tôn giáo ở Việt Nam cho thấy rằng, không một tôn giáo nhập nội nào

có thể có chỗ đứng trong lòng dân tộc mà không có sự “ Việt hóa Đạo” nhất định

Trang 39

Thứ ba, tư tưởng “làm người An Nam tốt không ngăn cản họ là một tín hữu tốt”

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thế giới tự nhiên còn nhiều điều chưa thể đạt đến sự hợp lý, đặc biệt mặt trái của cơ chế thị trường, như tội phạm, sự phân hóa giàu nghèo, những rủi ro, bệnh tật, môi trường sinh thái

bị hủy hoại, vẫn còn là cơ sở khách quan cho tôn giáo tồn tại và phát triển trên những phạm vi nhất định Do đó, tôn giáo vẫn còn tồn tại, khó có thể đoán định được "tuổi thọ” của tôn giáo, song chắc chắn rằng tôn giáo vẫn là một thực thể tồn tại trong chủ nghĩa xã hội4 Nhận thức sâu sắc điều này nên Người đã không ngần ngại nói tên suy nghĩ của mình về tư duy và cốt cách con người Việt Nam cho dù họ theo hay không theo đạo “làm người An Nam tốt không ngăn cản họ là một tín hữu tốt”

Đây là câu cuối của lô gic luân lý những quan điểm, tư tưởng nói trên của Người về đạo Tin lành và việc truyền giáo với người Việt Điều bất ngờ với chúng ta hôm nay, tư tưởng vượt trội và mới lạ này được khẳng định như một khẩu hiệu, như một “tuyên ngôn” rằng, khi người Việt Nam có tiếp nhận đạo Kito thì: “Làm người An Nam tốt không ngăn cản họ làm người tín hữu tốt” Mới đây năm 2010, tại Toàn thánh Vatican, trong dịp Atmila, Giáo hoàng Bendict XVI cũng đã nói với các vị đại diện Hội đồng Giám mục Việt Nam “là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”

Để cho thấy sự cởi mở của mình trong việc nhìn nhận khả năng đạo Tin lành có thể tăng cường di nhập vào xứ Đông Dường, Nguyễn Ái Quốc cũng không ngần ngại khẳng định với Mục sư U Soulier, Nếu như truyền giáo Tin lành đúng với tinh thần giải phóng chính của Chúa Giêsu Kito, thì chắc chắn Tin lành sẽ có chỗ đứng nhất định ở xứ Đông Dương Tất nhiên người cũng

Trang 40

chỉ ra những thách thức về ý thức và tư tưởng, tâm lý của dân tộc mà những khó khăn mà những người truyền giáo Tin lành cần vượt qua

“ Thưa ông Mục sư, tôi biết rất rõ những gì các hội truyền giáo đã làm

ở Đông Dương và những gì các hội truyền giáo Tin lành đã làm ở Triều Tiên nước láng giềng của chúng tôi, nên tôi không thể không hết lòng cầu mong ông sẽ thành công trong việc truyền bá nhanh chóng đạo Tin lành ở nước tôi Nhưng để thay đổi tinh thần của dân tộc, nhất là một dân tộc đã có phong tục, những truyền thống và tính mẫn cán được hình thành qua nhiều nghìn năm lịch sử, trước hết ông phải hiểu thấu não trạng ấy Chính vì thế làm cho phận

sự hàng đầu của ông được dễ dàng và để đáp lại mối thiện cảm của ông đối với tôi, tôi mạn phép kính gửi tới ông bức thư này Tôi hy vọng ông sẽ miễn thứ tính thẳng thắn của tôi và xin ông hãy tin tưởng những tình cảm tốt đẹp của tôi ”

Quả thật bức thư này đúng là một tư liệu lịch sử có lẽ là sớm nhất tư tưởng Nguyễn Ái Quốc về tôn giáo và dân tộc, lý tưởng cao đẹp, sự cứu rỗi loài người của Chúa Kito, theo người chỉ thực sự có ý nghĩ khi nó được gắn kết với lý tưởng” không có gì quí hơn độc lập tự do” Nói cách khác, chỉ có tự

do tôn giáo khi quyền dân chủ tự quyết được đảm bảo

Với cộng đồng Tin lành ở Việt Nam, Thư Nguyễn Ái Quốc gửi Mục sư

U Soulier (1921) không chỉ là một phát hiện tư liệu, ghi dấu son về quan hệ

của Người với đạo Tin lành mà còn bộc lộ 2 luận điểm nổi trội nhất về tôn giáo nói chung, về đạo Tin lành nói riêng;

Thứ nhất, “xứ Đông Dương bị thống trị không thể là một xứ Đông

Dương đích thực của Kito giáo”, một luận điểm có thể là sớm nhất trong tư

tưởng Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc và tôn giáo, về độc lập dân tộc và quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, luôn chiếm vị trí then chốt trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam

Ngày đăng: 23/07/2016, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Hồng Dương (2009), Mối quan hệ tôn giáo và chính trị những vấn đề lý luận và mô thức, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7&8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Năm: 2009
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1987), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương khóa IX, Nxb CTQG, HN, 2003, tr.49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương khóa IX
Nhà XB: Nxb CTQG
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, sđd, tr. 245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
12. Nguyễn Bích Hạnh (2001), Đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Nguyễn Bích Hạnh
Năm: 2001
13. Trần Duy Hiển (2008), Đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, số 783 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Duy Hiển
Năm: 2008
14. Hồ Trọng Hoài (2003), Hồ Chí Minh với sự khoan dung tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Hồ Trọng Hoài
Năm: 2003
15. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2008
16. Đoàn Minh Huấn, Doãn Hùng, Nguyễn Thanh Xuân (2007), Một số chuyên đề về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Minh Huấn, Doãn Hùng, Nguyễn Thanh Xuân
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2007
17. Đỗ Quang Hƣng (2003), Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
18. Đỗ Quang Hƣng (2003), Cách mạng và tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Năm: 2003
19. Đỗ Quang Hƣng (2005), Đoàn kết tôn giáo - Kỷ yếu tọa đàm khoa học, nửa thế kỉ người công giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc - Hà nội ngày 21-22/12/2004, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn kết tôn giáo - Kỷ yếu tọa đàm khoa học, nửa thế kỉ người công giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc - Hà nội ngày 21-22/12/2004
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2005
20. Đỗ Quang Hƣng (2008), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
21. Đỗ Quang Hưng (1999), Vấn đề tôn giáo tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Năm: 1999
22. Đỗ Quang Hƣng chủ biên (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng chủ biên
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2003
23. Đỗ Quang Hƣng (2010), Nghiên cứu tôn giáo: nhân vật và sự kiện, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tôn giáo: nhân vật và sự kiện
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
24. Đỗ Quang Hƣng (2013), Nguyễn Ái Quốc và đạo Tin lành, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 5(81) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ái Quốc và đạo Tin lành
Tác giả: Đỗ Quang Hƣng
Năm: 2013
25. Đỗ Quang Hƣng (1013), Hồ Chí Minh và đạo Tin lành, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 5 (177) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh và đạo Tin lành

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w