LỜI CẢM TẠĐê hoàn thành được cuốn sách này, tập thể tcỉc giả xin chân thành cám ơn sự tài trợ, ủng hộ và đóng góp của các Tổ chức, Dự cm và Cả nhãn trong và ngoài nước đã có những đóng g
CHƯƠNG I: Tổng quan
Artemia là gì?
Artemỉa là tên Latin của một loài giáp xác nhỏ sống trong môi trường nước mặn với biên độ muối rộng, từ vài %0 đến 250 %0, thường xuất hiện ở các ruộng muối Trong tự nhiên, quần thể Artemỉa thường được tìm thấy ở các đầm và hồ nước mặn.
Artemia, được phát hiện vào những năm đầu thập niên 30, đã được xác định là một nguồn thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao, rất phù hợp cho việc ương nuôi các giống loài thủy sản như tôm, cá và nhuyễn thể.
Hình 1: Artemia trưởng thành Hình 2: Nhu cầu sử dụng Artemla
Artemìa đã được du nhập vào Việt Nam từ đầu thập niên 80 dưới dạng trứng bào xác để làm thức ăn cho tôm càng xanh Sau đó, nguồn trứng này đã được sử dụng để nuôi thử nghiệm trong phòng và thả nuôi trên các ruộng muối tại Vĩnh Châu, Bạc Liêu, Cam Ranh, Phan Thiết Hiện nay, Artemìa đã trở thành một đối tượng nuôi phổ biến, kết hợp với nghề làm muối của diêm dân vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu.
Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng Artemỉa là nguồn thức ăn tươi sống lý tưởng cho các loài ấu trùng cá và giáp xác (Seal,
1933 ; Gưos, 1937 ; Rollefsen, 1939 ; Sorgeloos, 1980a ; Lim và ctv.,
Artemia, nhờ khả năng tạo ra trứng nghỉ (cysts), trở thành nguồn thức ăn lý tưởng cho việc ương nuôi ấu trùng tôm cá Trứng nghỉ tồn tại quanh năm với số lượng lớn ở các vùng đầm, hồ nước mặn và ruộng muối trên toàn cầu Sau khi thu hoạch và chế biến, trứng nghỉ có thể được ấp nở trong nước biển, và sau 24 giờ, ấu trùng Artemia mới nở sẽ là thức ăn ngay cho hầu hết ấu trùng tôm cá.
Artemia trưởng thành, hay còn gọi là sinh khối, có giá trị dinh dưỡng cao hơn so với Artemia mới nở từ trứng (Sorgeloos, 1980; Naessens ctv., 1997; Wouters ctv., 1999) Loại sinh khối này thường được sử dụng làm thức ăn phổ biến trong các trại giống, trại ương và nuôi vỗ tôm cá bố mẹ.
Artemia trưởng thành có giá trị dinh dưỡng cao, với 60% lượng đạm và giàu amino acid trên trọng lượng khô Ngoài ra, Artemia còn chứa vitamin, kích dục tố và sắc tố Sử dụng sinh khối Artemia trưởng thành có thể kích thích phát dục cho tôm bố mẹ mà không cần cắt mắt Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nuôi vỗ tôm cá bố mẹ bằng Artemia sinh khối giúp tăng cường sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải thiện chất lượng ấu trùng.
Sinh khối Artemia được sử dụng làm thành phần hoặc chất kích thích trong thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm cá (Léger và ctv., 1986) Việc sử dụng sinh khối đông lạnh Artemia để thay thế cho ấu trùng Artemia mới nở trong sản xuất giống tôm he Marsupenaens japonicus khá phổ biến (Guimares và De Hass, 1985 theo Léger và ctv., 1986) Các nghiên cứu cho thấy chỉ cần khoảng 1,8 kg bột sinh khối để sản xuất một triệu con tôm he giống.
Sản lượng, nhu cầu trứng bào xác Artemia và khả năng đáp ứng trên thế giới
Vào đầu những năm 50, việc thương mại hóa trứng bào xác Artemia chủ yếu chỉ diễn ra tại khu vực ruộng muối San Francisco (California) và hồ nước mặn Great Salt Lake (Utah), Mỹ Tuy nhiên, đến những năm 80, sản lượng trứng bào xác Artemia trên thị trường gia tăng nhờ khai thác từ các thủy vực tự nhiên ở nhiều quốc gia như Argentina, Úc, Canada, Colombia, Pháp và Trung Quốc, cũng như từ các vùng ruộng muối ở Brazil, Thái Lan và Việt Nam Hiện nay, hơn 90% lượng trứng bào xác thu hoạch trên thế giới có nguồn gốc từ Great Salt Lake, trong khi 10% còn lại đến từ các khu vực như Trang Quốc, Siberi, San Francisco, Vĩnh Châu-Bạc Liêu (Việt Nam), Colombia và Đông-Bắc Brazil, cũng như từ Canada (Hồ Chaplin) và Úc (Vịnh Shark).
Vào năm 1997, có khoảng 6.000 trại giống cần tiêu thụ 1.500 tấn trứng bào xác Artemia mỗi năm Khoảng 80-85% tổng lượng trứng này được sử dụng cho các trại sản xuất tôm giống, trong khi phần còn lại phục vụ cho các trại sản xuất giống cá biển tại Châu Âu, khu vực Đông Á và thị trường cá kiểng.
Bảng 1 cho thấy sự biến động trong sản lượng trứng nguyên liệu thu hoạch tại hồ GSL từ năm 1988 đến 1999 Đến năm 1999, hồ GSL đã sản xuất khoảng 1.200 tấn thành phẩm (trọng lượng khô, quy đổi theo tỷ lệ 3 khối lượng trứng nguyên liệu = 1 khối lượng trứng khô) Tuy nhiên, trong hai mùa thu hoạch gần đây, sản lượng trứng thu hoạch đã giảm đáng kể do ảnh hưởng của thời tiết thất thường, đặc biệt là tác động của El Niño và La Niña.
Bảng 1: Lượng trứng bào xác Artemỉa thu hoạch (tấn trứng nguyên liệu) ở Great Salt Lake (GSL) (theo Lavens và Sorgeloos, 2000).
Mùa vụ Khối lượng thu hoạch (Tấn)
Sự thiếu hụt trứng bào xác Artemia trên thị trường toàn cầu và tình trạng khó dự đoán thu hoạch hàng năm đã ảnh hưởng đến sự ổn định cung cấp thức ăn cho các trại giống thủy sản Điều này đã thúc đẩy việc tìm kiếm các khu vực mới có tiềm năng khai thác nguồn thức ăn này (Vanhaecke và ctv., 1987; Triantaphyllidis và ctv., 1998).
Artemia tương đương với GSL, nhưng việc ước lượng lượng trứng sản xuất trong tương lai gặp nhiều khó khăn do thông tin về các khu vực tiềm năng rất hạn chế Điều này dẫn đến khả năng sản xuất trứng bào xác không ổn định tại các địa điểm khai thác, vì vậy việc mở rộng số lượng địa điểm khai thác sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thiếu hụt trứng bào xác Artemia do biến đổi môi trường Ngoài ra, một lượng nhỏ trứng bào xác (1-20 tấn) với tỷ lệ nở cao có thể được cung ứng từ các vùng sản xuất muối truyền thống trên toàn cầu Mặc dù các vùng sản xuất trứng bào xác quy mô nhỏ ở nhiều quốc gia Đông Nam Á và Mỹ Latinh đã rất thành công về mặt kỹ thuật, nhưng chúng vẫn chưa được khẳng định sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn cung trứng bào xác toàn cầu, chỉ chiếm khoảng 2% tổng lượng trứng sản xuất hàng năm.
Việc sản xuất trứng bào xác Artemia ở khu vực ruộng muối Brazil gặp nhiều khó khăn và không ổn định, với sản lượng thu hoạch giảm từ năm 1982 đến nay do hàm lượng dinh dưỡng trong môi trường nuôi thấp Một giả thuyết cho rằng Artemia Brazil đã mất dần cơ chế đẻ trứng do đã thích nghi với điều kiện môi trường ổn định Trong khi đó, ở các nước như Thái Lan, Philippines và Việt Nam, dù có những thành công nhất định, quy trình sản xuất quy mô lớn vẫn gặp nhiều bất cập như thiếu hướng dẫn và kinh nghiệm, cũng như sự đa dạng về địa hình ảnh hưởng đến năng suất Hơn nữa, việc cung ứng dịch vụ cho nghề nuôi còn mang tính tự phát, cùng với tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa được chú trọng, khiến người dân không yên tâm đầu tư vào lĩnh vực này.
1.4 Sự cần thiết của nghề nuôi Ártemia trong việc phát triển nuôi trông thủy sản ở nưóc ta và những đóng gồp của nó vào sự cải thiện kinh tế xã hội của vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Theo kế hoạch của Bộ Thủy sản, đến năm 2010, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam dự kiến sẽ đạt trên 2.000.000 tấn, với giá trị kim ngạch xuất khẩu vượt 2,5 tỷ USD Để đạt được mục tiêu này, diện tích nuôi thủy sản cần mở rộng, trong đó tôm sú tăng lên 260.000 ha, cá biển 40.000 ha, cá lồng bè 40.000 ha và tôm càng xanh đạt 32.000 ha Bên cạnh việc gia tăng diện tích nuôi, nhu cầu con giống cũng cần đạt 35 tỷ con tôm sú giống, trên 500 triệu con giống giáp xác, khoảng 400 triệu con giống cá biển nước lợ và 3,5 tỷ con giống tôm càng xanh, cùng 12 tỷ con giống cá khác.
2004) Đe sản xuất 1 triệu giống PL15 tôm càng xanh thì cần khoảng 15kg trứng bào xác Artemia, tôm sú cần 4-5kg (sổ liệu Khoa Thủy sản, ĐHCT) Trong khi đó để sản xuất giống các loài cá biển thì nhu cầu trứng dao động trong khoảng 200-500g để sản xuất 1.000 con cá giống fhttp://www.bohai-,4/ygffl/ư.com/application.html) Do vậy nhu cầu về thức ăn để sản xuất con giống ở nước ta là rất lớn và đặc biệt là trúng bào xác Artemia có thể lên đến hàng trăm tấn mỗi năm, tỷ lệ thuận với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản Chủ động sản xuất trứng Artemia trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu các trại giống là một vấn đề quan trọng bởi vì: (1) Tiết kiệm một lượng lớn ngoại tệ cho đất nước (hiện tại giá nhập khẩu trứng bào xác Artemỉa dao động 30-150 USD/kg tùy theo chất lượng trứng), (2) Chủ động sản xuất vì không phụ thuộc vào trứng nhập khẩu từ nước ngoài (cung cầu khó dự đoán), (3) Chất lượng trứng sản xuất tại Vĩnh Châu-Bạc Liêu có chất lượng dinh dưỡng tốt hơn, kích thước Artemia-nauplii nhỏ hơn so với các loại trứng nhập khẩu khác Qua kết quả nghiên cứu và ứng dụng nhiều năm của Khoa Thủy sản Đại học cần Thơ trên địa bàn Vĩnh Châu, Bạc Liêu cho thấy hoàn toàn có khả năng tự sản xuất để đáp nhu cầu trong nước kể cả cho xuất khẩu (vào năm 2000, lượng trúng khô thu được trên toàn vùng ven biển này là gần 15 tấn) Mặt khác, hiệu quả kinh tế của nghề sản xuất Artemia rất đáng quan tâm khi mang lại lợi nhuận cao gấp 4-5 lần so với nghề sản xuất muối truyền thống Sau hơn mười năm triển khai ra sản xuất nghề nuôi Artemia đã được nhân rộng ra hơn một ngàn hecta, giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm hộ sản xuất muối khu vực ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu Hàng năm khu vực này có thể sản xuất từ 30-50 tấn trứng bào xác nguyên liệu (Hình 3) Trong tình hình sản xuất và tiêu thụ muối khó khăn thì việc chuyển đổi đất sản xuất muối sang nuôi Artemia thu trứng không những chỉ duy trì được công ăn việc làm cho người làm muối mà còn tăng thu nhập một cách đáng kể Ngoài ra, các mô hình sản xuât kêt hợp Artemia- muối còn giúp duy trì nghề muối truyền thống nhưng lại tăng thu nhập nhờ sản phẩm trúng bào xác Artemia Thêm vào đó, sự hiện diện của Artemici trong qui trình làm muôi được cho là giúp cho quá trình tạo muối ngắn hon, hạt muối trắng hon do chúng đã lọc sạch tảo, vi khuẩn trong nước mặn trước khi nước này được chuyển lên sân kết tinh Chuyển đổi ruộng muối sang nuôi Artemìa không phá vỡ kết cấu công trình sẵn cỏ (như chuyển sang nuôi cá, nuôi tôm và đặc biệt là nuôi tôm công nghiệp vốn cần có mực nước sâu hon hoặc phải tôn cao bò) mà còn giúp điêu tiêt lượng muôi sản xuât (không sản xuât qúa mức và cân đối cung cầu) giúp cho lợi nhuận từ sản xuất muối cũng tăng lên (không có hiện tượng “trúng mùa - mất giá” thường xảy ra trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ỏ nước ta.
Hình 3: Diện tích nuôi (ha), sản lượng (tấn trứng tươi) và năng suâ't (Kg/ha/vụ) trứng bào xác Artemia khu vực Vĩnh Châu - Bạc Liêu từ 1986 - 2004
(Dần liệu: Khoa Thủy sản, Đại học c ầ n Thơ)
1.5 Hiện trạng nghề sản xuất muối ở Đồng bằng sông Cửu Long
Các tỉnh Duyên Hải vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (Bốn Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu) có nghề sản xuất muối truyền thống khoảng hon thế kỷ nay, hoạt động sản xuất muối tập trung chủ yếu trong mùa khô (từ tháng 11-5) và sản phẩm chính là muối thô hay còn gọi là muối nguyên liệu (muối trắng hoặc muối đen tùy theo phưong pháp sản xuất của diêm dân tìmg vùng) Qui trình sản xuất muối truyền thống chủ yếu theo phương thức bốc hơi nước biển để tăng độ mặn theo cách tự nhiên Bắt đầu mùa khô, tiến hành tháo cạn nước để phơi ao (ruộng) và tiến hành sửa chữa, cải tạo công trình (san phang đáy ao, gia cố bờ ao ) Sau khi chuẩn bị xong, nước biển tự nhiên được dẫn vào các đùn chứa theo các con nước triều qua cống Nước từ đùn chứa sẽ được đưa vào các ao, khu vực sân phơi cho bốc hơi (bằng ánh nắng mặt trời) để tăng độ mặn Khu vực bốc hơi thường được phân thành các khu sơ cấp, trung cấp, cao cấp theo độ mặn tăng dần từ 50-60 %0 đến 120-150 %0 và cuối cùng là 220-250 %0 trước khi dẫn vào sân phơi hay còn gọi là sân kết tinh để kết tinh muối Quá trình chuẩn bị nước mặn tùy thuộc điều kiện thời tiết và kỹ thuật làm đất, thông thường kéo dài khoảng 30-45 ngày trước khi kết tinh Nước mặn (nước ót) có độ mặn từ 250-280 %0 sau khi đưa vào sân sẽ kết tinh muối trong thời gian từ 10-25 ngày tùy theo thời tiết (Hình 4).
Hình 4: So' đồ săn xuất muối truyền thống ỏ' Sóc Trăng - Bạc Liêu
Trung bình mỗi ha có thể sản xuất 40-50 tấn muối nguyên liệu, khi thời tiết thuận lợi có thể đạt 65-70 tấn (Huỳnh Phước Lợi, 2005) trong suốt mùa khô (tháng 12-4) Sản phẩm làm ra thường dưới dạng muối thô, chất lượng không ổn định và lẫn nhiều tạp chất Gần đây đế nâng cao chất lượng muối nguyên liệu các Họp tác xã (HTX) làm muối địa phương đã đầu tư xây dựng sân kết tinh muối bằng xi măng (40m X 4m), ket quả muối sản xuất được trắng hơn, xốp hơn, năng suất tăng gần gấp đôi so với muối làm từ sân nền đất truyền thống (Dương Dũng Long và Nhật Hồ, 2004) Hiện tại mỗi năm Trà Vinh sản xuất khoang 10 450 tấn, Bạc Liêu 100.000 tấn, Ben Tre 45.000 tấn Muối sản xuất được tiêu thụ chủ yếu tại chỗ, để gia tăng giá trị bắt đầu từ năm 2005 việc xuất khẩu muối được quan tâm nhiều hơn và sản phẩm xuất bán cũng đa dạng hơn: muối i-ốt, muối xay chất lượng cao, muối tinh, muối tinh sấy i-ốt, muối tinh sấy chất lượng cao, muối tinh chế và muối hạt nguyên liệu (Huy Tấn, 2005).
1.6 Khỏ khăn của nghề sản xuất muối truyền thống
Muối sản xuất ở khu vực ĐBSCL thường có chất lượng không cao do kết cấu của nền đất tự nhiên và nguồn chất hữu cơ sẵn có trong nước biển tự nhiên, dẫn đến nhiễm tạp chất hoặc bùn đáy, khiến muối chỉ được sử dụng cho muối cá, làm mắm, làm thức ăn gia súc Điều này khiến giá tiêu thụ muối ở khu vực này thường thấp, trong khi giá sàn được quy định từ 200 đ/kg trở lên.
Bảng 2: Giá muối* nguyên liệu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
TT Giá bán (đ/kg) tại các vùng sản xuất muối
Bạc Liêu Bến Tre Sóc Trăng Trà Vinh
- Hữu Phúc, 2004 Giả muối đang tăng Bảo cần Thơ ngày 2/10/2004
- Hữu Phúc, 2005 Bạc Liêu: Muối đầu vụ vẫn giá thấp Báo cần Thơ ngày 23/2/2005
- Dương Dũng Long, Nhật Hồ, 2004 về đâu hạt muối đồng bằng Báo cần Thơ ngày 16/4/2004
- Nguyên Bả, 2004 Trà Vinh: Mỗi năm mất trên 50 ha diện tích đất làm muối Báo Cần Thơ ngày 31/5/2004
- Cao Dương, 2004 Đất muối Ben tre chuyển mình Báo cần Thơ ngày 14/12/2004
Dù nhu cầu muối trắng đang tăng cao, nhưng người dân Bạc Liêu vẫn sản xuất muối đen là chính (>65%) do chi phí đầu tư kỹ thuật và lao động để sản xuất muối trắng cao hơn, trong khi giá cả tiêu thụ giữa hai loại muối không chênh lệch đáng kể.
2005) Cũng theo tác giả này do sản lượng cao nhưng khả năng tiêu thụ hạn chế đã làm cho giá muối liên tục giảm từ 550-650 đ/kg vào năm 2001 xuống còn thời giá như ngày hôm nay (Bảng 2) Tình hình này đã làm cuộc sống của người làm muối bấp bênh nên các địa phương như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu đã điều chỉnh quy hoạch sử dụng một phần đất muối sang nuôi trồng thủy sản (Cao Dương, 2004; Dương Dũng Long và Nhật Hồ, 2004; Nguyễn Bá, 2004) và chủ yếu là nuôi tôm sú Tuy nhiên để nuôi tôm sú và đặc biệt là nuôi tôm sú công nghiệp đòi hỏi chi phí đầu tư cao, phải có kỹ thuật và điều kiện môi trường thuận lợi, trong khi điều kiện thời tiết các năm gần đây không thuận lợi, tình hình dịch bệnh bùng phát đã làm cho người dân ngày thêm điêu đứng.
1.7 Lịch sử nghiên cứu và hướng phát triển nghề nuôi Artemia ờ Việt Nam
Sự du nhập của Artemia vào Việt Nam: Khỏi đẩu việc thả nuôi ở Nha Trang, Cam Ranh, Phan Thiết, Vĩnh Châu
Artemia là loại thức ăn tươi sống không thể thiếu được trong khâu sản xuất giống thủy sản nên mặc dù không hiện diện tự nhiên ở Việt Nam,
Artemỉa đã được nhiều đơn vị chuyên môn chú ý nghiên cứu và ứng dụng như: Viện Nghiên cứu Biển Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản, Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III, (Quỳnh và Lâm, 1987; Vũ Dũng và Đào Văn Trí, 1990) Năm 1984, thông qua các chương trình họp tác quốc tế, Khoa Thủy sản Trường Đại học cần Thơ đã nhập nội và nghiên cứu đối tượng Artemia San Francisco Bay (SFB, Mỹ) từ giữa những năm 80 để phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và
CHƯƠNG II: Sinh học của Artemici
VỊ trí phân loại và đặc điểm phân b ố
Artemia thuộc nhóm giáp xác có hệ thống phân loại như sau:
Tên gọi Artemia salina Linnaeus 1758 không còn giá trị về mặt phân loại vì các thí nghiệm lai chéo đã chỉ ra sự khác biệt giữa các quần thể
Anemia và sự ghi nhận các loài anh em theo các tên gọi khác nhau
Giữa các dòng Anemia lưỡng tính hoặc dị hợp từ, quần thể bao gồm cả con đực và con cái, có tất cả sáu loài anh em được mô tả chi tiết.
: Lymington (Anh quốc, bây giờ đã tuyệt giống)
: Châu âu : Châu Mỹ (Bắc, Trung và Nam Mỹ) : Achentina
Anemia monica : Mono Lake, CA-USA
Người ta tìm thấy nhiều quần thể Artemia trinh sản (quần thể chỉ có con cái và không cỏ sự thụ tinh trong hoạt động sinh sản) ở châu Âu và châu Á Các quần thể Artemia trinh sản có sự sai biệt lớn về di truyền nên khi gọi chung là Artemia trinh sản đã gây nên nhiều sự nhầm lẫn, do đó nếu chưa được xác định quần thể Artemia một cách chính xác các nhà khoa học đề nghị chỉ nên gọi chung ỉầArtemia.
Phân hố của Artemia trên thế giới
Hình 6: Bản đồ phân b ố Artemia trên th ế giới
Sự phân bố của Anemia được chia làm hai nhóm:
Những loài thuộc về Cựu thế giới (Oíd World) là những loài bản địa đã tồn tại từ rất lâu trong các hồ, vịnh tự nhiên.
Những loài thuộc về Tân thế giới (New World) là những loài mới xuất hiện ở những vùng trước đây không có sự hiện diện của Anemia Sự có mặt của chúng do người, chim hoặc là gió tạo ra mà tiêu biêu là loài Anemia franciscana (đại diện cho loài Anemia ở Tân thế giới) đã được sử dụng rộng rãi đế thá nuôi ở nhiều ruộng muối trên khắp các lục địa.
Đặc điểm môi trường sống
Mặc dù Anemia có thế sinh sống tốt ở nước biển tự nhiên (độ muối
35 %o) nhưng chúng không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác qua đường biển vì với tập tính bơi lội chậm chạp, thậm chí một số loài hoặc trong giai đoạn phát triển cúa chúng (do ảnh hưởng của môi trường) có màu sắc sặc sỡ nên dễ làm mồi cho kẻ thù Sự tồn tại của
Anemia trong môi trường tự nhiên phụ thuộc vào khả năng thích nghi về sinh lý với độ mặn cao để tránh địch hại như cá, tôm và cạnh tranh với các sinh vật ăn lọc khác Cơ chế thích nghi về sinh lý của chúng với độ mặn cao bao gồm một số cơ chế quan trọng giúp chúng tồn tại và phát triển trong môi trường nước mặn.
• Hệ thống điều hòa thẩm thấu rất tốt.
• Khả năng tổng hợp các sắc tố hô hấp cao nhằm thích ứng với tình trạng oxy thấp ở nơi có độ mặn cao.
• Khả năng sản xuất trứng bào xác khi điều kiện môi trường trở nên bất lợi.
Vì thế Artemia chỉ có thể tìm thấy ở những nơi mà vật dữ không thể xuất hiện (cao hơn 70%o) (Hình 7) Ở độ mặn bão hòa (250%o hoặc cao hơn)
Artemia chêt đông loạt do môi trường vượt ngưỡng chịu đựng (trở nên gây độc) và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn.
Hình 7: Lược đồ sự phát triển của quần thể Artemia trên ruộng muôi
Các dòng Artemia khác nhau có khả năng thích nghi rộng với sự biến đổi môi trường, đặc biệt là nhiệt độ (từ 6-35°C), độ muối (độ mặn của nước) và thành phần ion của môi trường sống Ở các thủy vực nước mặn, nơi muối NaCl là thành phần chủ yếu, tạo nên các sinh cảnh đa dạng cho Artemia phát triển.
Artemia ven biến và các sinh cảnh nước mặn khác nằm sâu trong đất liền, chẳng hạn hồ Great Salt Lake (GSL) ở Utah, Mỹ Các sinh cảnh
Artemia khác không có nguồn gốc từ biển nằm sâu trong lục địa có thành phần ion khác rất nhiều so với nước biển: Vực nước sulphate (Chaplin lake, Saskatchewan, Canada), vực nước carbonate (hồ Mono Lake, California, Mỹ), và các vực nước giàu lân (rất nhiều hồ ở Nebraska, Mỹ).
Artemia được nuôi rộng rãi ở Việt Nam thuộc dòng Artemia franciscana, mặc dù có nguồn gốc từ Mỹ (San Francisco Bay, USA) nhưng sau thời gian thích nghi dòng này gần như đã trở thành dòng bản địa của Việt Nam và chúng có nhiêu đặc diêm khác xa so với tô tiên chúng đặc biệt là khả năng chịu nóng Hiện tại chúng có thể phát triển tốt trong điều kiện:
- Oxy hòa tan: không thấp hon 2 mg/1
- PII từ trung tính đến kiềm (7.0-9.0)
Bủng 3: Tóm tắt các yếu tố môi trường trong các hệ thống sản xuất trứng bào xác Artemia ở Vĩnh Châu và Bạc Liêu năm 1986, 1987 và 1988.
Màu nước tốt 5- 7 ngày tốt 3-4 ngày
Không tốt 7-9 ngày tốt 3-4 ngày Độ sâu (cm) 11-19 14-22 23-28 24-40 13-15
Nhiệt độ 7 giờ (°C) 20-27,5 24-28 24-29 25,5-29 24,5-27 Nhiệt độ trung bình 7 giờ (°C)
0,8 Nhiệt độ trung bình 7 giờ (°C)
Nhiệt độ trung bình 14 giò' (°C)
Oxy hòa tan trung bình lúc 7 giờ
Oxy hòa tan trung bình lúc 17 giờ
Giao động Oxy hòa tan giữa 7 giờ và 17 giò' (ppm)
Mật độ Artemia trưỏng thành
Lượng trứng thu hoạch (kg trứng tươi)
Năng suất (kg trúng khô/ ha/tháng)
Các thông số môi trường dao động theo điều kiện tự nhiên (khí hậu, nhiệt độ, lượng mưa ) của từng nơi, cách quản lý ao (cấp nước, màu nước, chế độ bón phân, loại phân bón, thức ăn bổ sung) hoặc theo thời vụ (thời gian nuôi, chu kỳ nuôi trong năm ).
Chu kỳ sống của Artemia
Ngoài tự nhiên, vào thời điểm trong năm khi điều kiện sống không còn thích hợp, Artemia đẻ trứng bào xác (trứng nghỉ) và trứng sẽ nổi trên mặt nước (Hỉnh 7), sau đó được sóng gió thổi dạt vào bờ Các trúng nghỉ này ngưng hoạt động trao đổi chất và ngưng phát triển khi ở tình trạng được giữ khô Nếu cho vào nước biển hoặc khi diều kiện tự nhiên thuận lợi (nhiệt độ ấm áp, mưa nhiều độ mặn giảm ), trứng bào xác có hình cầu lõm sẽ hút nước, phồng to Lúc này, bên trong trứng, sự trao đổi chất bắt đầu Sau khoảng 20 giờ, màng nở bên ngoài nứt ra (breaking) và phôi xuất hiện (Hình 8, 9).
Hình 8: Trứng bào xác Artemia tập trung ở một gốc hồ GSL (Mỹ)
* NHƯNG CÒN NẰM TRONG MÀNG NỞ ẤU TRÙNG MỚI NỞ (CÒN NOÃN HOÀNG)
CON CÁI MANG TRỨNG BÀO XÁC
Hình 9a: Vòng đời của Artemia (theo Sorgeloos và ctv., 1980)
Phôi được màng nở bao quanh Trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trímg (giai đoạn dù = umbrella) sự phát triển của ấu trùng được tiếp tục và tiếp tục một thời gian ngắn sau đó màng nở bị phá vỡ (giai đoạn nở = hatching) ấu thể Artemia được phóng thích ra ngoài. Ẩu trùng mới nở (instar I, có chiều dài 400-500 /xm) có màu vàng cam, có một mắt nauplii (ấu thể) màu đỏ ở phần đầu và ba đôi phụ bộ (anten I có chức năng cảm giác, anten II có chức năng bơi lội và lọc thức ăn và bộ phận hàm dưới để nhận thức ăn) Mặt bụng ấu trùng được bao phủ bằng mảnh môi trên lớn (để nhận thức ăn: chuyển các hạt từ tơ lọc thức ăn vào miệng) Ãu trùng giai đoạn I không tiêu hóa được thức ăn, vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh Lúc này, chúng sống dựa vào noãn hoàng.
Sau khoảng 8 giờ từ lúc nở, ấu trùng lột xác trở thành ấu trùng giai đoạn II (instar II) Lúc này, chúng có thể lọc và tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ (tế bào tảo, vi khuẩn, chất vấn hữu cơ) có kích thước từ 1 đến 50 /xm (1/1000 mm) nhờ vào đôi anten II vì lúc này bộ máy tiêu hóa đã bắt đầu hoạt động Ãu trùng tăng trưởng và trải qua 15 lần lột xác trước khi đạt giai đoạn trưởng thành Các đôi phụ bộ xuất hiện ở vùng ngực và dần dần biến thành chân ngực Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt.
Nauplii 100-300 con mỗi 4-5 ngày trong vài tháng Trứng bào xác khô ấu trùng
Nauplius đẻ con điều kiện thuận lợi ' ế ầ - 0.4 mm điều kiện không thuận lợi
Có thể dự trữ được trong nhiều năm đẻ trứng trứng Sào xác 100-300 trứng mỗi 4-5 ngày
Hình 9b: Chu trình sông của Artemia trên ruộng muôi
Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chuyên hóa chức năng của các cơ quan trong cơ thể bắt đầu: Anten m ất chức năng vận chuyển và trải qua sự biệt hóa vê giới tính, ơ con đực anten của chúng phát triển thành càng bám, trong khi đó anten của con cái bị thoái hóa thành phần phụ cảm giác (râu cảm giác) Các chân ngực bây giờ được biệt hóa thành ba bộ phận chức năng: Các đôt chân chính, các nhánh chân trong (vận chuyến và lọc thức ăn) và nhánh chân ngoài dạng màng (mang).
Artemia trưởng thành (dài khoảng 10-12 mm) có cơ thể kéo dài với hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, râu cảm giác và 11 đôi chân ngực.
Con đực có đôi gai giao cấu ở phần sau của vùng ngực (vị trí sau đôi chân ngực thứ 11) (Hình 10) Con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thử 11 (Hình 11).
(con đực với 1: càng bám; 2: râu cảm giác; 3: mắt kép)
1 uôi thọ trung bình của Artemia trong các ao nuôi trên ruộng muối khoảng 40-60 ngày tùy thuộc điêu kiện môi trường nuôi (nhiệt độ, độ mặn, thức ă n ) Tuy nhiên, quần thế Artemia trong ruộng muối vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả trong mùa m ưa khi dộ mặn xuong thap (