Một biểu hiện cho sự hỗn loạn này vẫn thường được đem ra bàn luận đó là sự khác nhau giữa các mô hình giá linh hoạt theo trường phái kinh tế học tân cổ điển và phân tích về chu kỳ kinh d
Trang 1Đây là nội dung được trích từ Tập National Bureau of Economic Research
Tiêu đề: NBER Kinh tế vĩ mô thường niên năm 1997, số 12
Tác giả / biên tập: Ben S Bernanke và Julio Rotemberg
Nhà xuất bản: MIT Press
ISBN: 0-262-02435-7
URL: http://www.nber.org/books/bern97-1
Ngày xuất bản: tháng 1 năm 1997
Tiêu đề chương: Lý thuyết tân cổ điển hiện đại và vai trò của chính sách tiền tệ Tác giả chương: Marvin Goodfriend, Robert King
URL: http://www.nber.org/chapters/c11040
Trang chương trong cuốn sách: (p 231-296) Marvin Goodfriend và Robert G King
Trang 2FEDERAL RESERVE BANK OF RICHMOND VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VIRGINIA; VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIRGINIA, NBER, VÀ LIÊN BANG
RESERVE BANK OF RICHMOND
The new neoclassical synthesis and the role of monetary policy
Các lý thuyết tổng hợp theo trường phái tân cổ điển hiện đại
và vai trò của chính sách tiền tệ
1 Giới thiệu
Lâu nay kinh tế vĩ mô vẫn được nhìn nhận là một lĩnh vực tri thức nằm trong tình trạng khá bất ổn với những bất đồng dai dẳng và chính yếu của các nhà nghiên cứu luôn tranh cãi về phương pháp luận và bản chất của môn học này Một biểu hiện cho
sự hỗn loạn này vẫn thường được đem ra bàn luận đó là sự khác nhau giữa các mô hình giá linh hoạt theo trường phái kinh tế học tân cổ điển và phân tích về chu kỳ kinh doanh thực tế với nhận định rằng chính sách tiền tệ là không hề cần thiết cho các sự kiện thực tế và các mô hình giá cứng nhắc theo trường phái kinh tế học của New Keynes với nhận định về vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ trong việc thay đổi các sự kiện thực tiễn Đối với các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia tư vấn,
sự tranh luận này trở thành rào cản để đón nhận luồng gió mới về sự phát triển của kinh tế học vĩ mô
Tuy nhiên thực tế là trong mười năm qua chúng ta vẫn phải tuân theo một nhận định
đó là kinh tế học vĩ mô đang hướng tới trường phái tổng hợp Tân cổ điển hiện đại
Trong những năm 1960, học thuyết ban đầu liên quan đến việc tuân theo ba nguyên tắc
mà đôi khi là mâu thuẫn với nhau đó là: mong muốn đưa ra sự tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô một cách thiết thực, một niềm tin về sự cứng nhắc của giá cả trong ngắn hạn đã trở thành gốc rễ của những biến động kinh tế, và cam kết xây dựng mô hình hành vi của kinh tế học vĩ mô bằng cách sử dụng cùng một hướng tiếp cận tối ưu hóa như trong kinh tế học vi mô
Bài viết này được kế thừa từ các bài thuyết trình tại các Ngân hàng Anh và các hội thảo về "Chính sách tiền tệ, giá ổn định, và cơ cấu hàng hóa và thị trường lao động"
do Ngân hàng của Ý, Centro Paolo Baffi, và IGIER tài trợ Các tác giả đã tiếp nhận những ý kiến hữu ích từ B Bernanke, O Blanchard, C Goodhart, M Dotsey, B Hetzel, B Mc-Callum, E McGrattan, E Nelson, J Rotemberg, K Tây, và A-Wolman Các ý kiến của các tác giả này khá độc lập và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Cục Dự tru Liên Bang Mỹ
Trang 3Lý thuyết tổng hợp tân cổ điển hiện đại kế thừa tinh thần của quan điểm cũ trong đó kết hợp giữa quan điểm của Keynes và quan điểm cổ điển Về mặt phương pháp luận,
lý thuyết tổng hợp mới này liên quan đến việc áp dụng có hệ thống phương pháp tối ưu hóa và các kỳ vọng hợp lý cùng thời điểm mà Robert Lucas đã nhấn mạnh Trong lý thuyết tổng hợp mới, các quan điểm này được áp dụng để đưa ra các quyết định về sản lượng và giá là trọng tâm trong các mô hình của Keynes, kể cả mô hình cũ và mới, cũng như các quyết định về tiêu dùng, đầu tư và cung ứng các nguồn lực vốn là trọng tâm của các mô hình cổ điển và RBC Thêm vào đó, lý thuyết tổng hợp mới này còn bao gồm những quan điểm của các nhà tiền tệ học như Milton Friedman và Karl Brunner về lý thuyết và cách thực hiện chính sách tiền tệ trong thực tế
Vì vậy, đã có những nền tảng đột phá trong kinh tế học vi mô dành cho việc nghiên cứu kinh tế học vĩ mô Các quan điểm phương pháp luận chung này được đưa vào các
mô hình trong phạm vi từ các mô hình nghiên cứu học thuật nhỏ, linh hoạt đến mô hình chính sách mới về kỳ vọng hợp lý của cục Dự trữ Liên bang Lý thuyết tổng hợp tân cổ điển hiện đại (gọi tắt là NNS) đưa ra một loạt các kết luận chính về vai trò của chính sách tiền tệ Đầu tiên, các mô hình của NNS nhận định rằng tác động của chính sách tiền tệ có thể có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế trong thực tế kéo dài trong nhiều năm do sự điều chỉnh từ từ của giá cả riêng và mặt bằng giá chung Thứ hai, các mô hình này vẫn nhận định về một sự đánh đổi nhỏ trong dài hạn giữa lạm phát và các hành vi thực tế ngay cả trong trường hợp điều chỉnh gía cố định.Thứ ba,
mô hình này cũng đưa ra các lợi ích của việc khắc phục lạm phát như tăng hiệu quả giao dịch và giảm thiểu sự biến dạng của giá tương đối Thứ tư, các mô hình này cũng hàm ý rằng tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu về ảnh hưởng của chính sách tiền tệ Bốn ý tưởng này hoàn toàn phù hợp với các báo cáo được công bố của các ngân hàng trung ương tại rất nhiều quốc gia
Ngoài các quan điểm chung, mô hình NNS còn cho phép phân tích về các quy tắc thay thế trong chính sách tiền tệ bằng việc thiết lập các biến mong đợi hợp lý Với ưu điểm này, mô hình này có thể đưa ra dự báo hay nói đúng hơn là xác nhận các đặc quyền của Ngân hàng trung ương Độ tin cậy của chính sách tiền tệ yêu cầu một quy tắc đơn giản và xuyên suốt Nhưng đó là quy tắc nào? Chúng ta sử dụng hướng tiếp cận của NNS để phát triển một loạt các nguyên lý và hướng dẫn thực tế cho chính sách tiền tệ
trung lập nhằm duy trì mức sản lượng tiềm năng trong trường hợp gía ổn định Lý
thuyết tổng hợp mới nhận định rằng chính sách tiền tệ liên quan đến việc ổn định phần tiền tăng thêm bình quân giữa giá với chi phí biên Trong đó, việc này ngụ ý một chế
độ chính sách tiền tệ với các mục tiêu lạm phát biến động tương đổi nhỏ qua thời gian Dù rằng việc ổn định giá cả từ lâu đã được xem là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ nhưng một loạt các câu hỏi lớn vẫn nảy sinh về việc hiện thực hóa điều đó Chúng ta phải đối diện với rất nhiều các vấn đề thực tế bao gồm phản ứng về các cú sốc giá cả hàng hóa dịch vụ, độ trễ kéo dài và biến động giữa chính sách tiền tệ và mức giá, sự đánh đổi chính sách tiềm ẩn giữa biến động về gía và sản lượng và việc áp dụng lãi suất ngắn hạn như một công cụ của chính sách
Việc tổ chức bài viết này của chúng tôi là như sau Trong phần 2, chúng tôi mô tả hướng tiếp cận chung của lý thuyết tổng hợp tân cổ điển ban đầu như Paul Samuelson
Trang 4đã làm rõ Trong phần 3, chúng tôi tổng kết lại lý do tại sao lý thuyết cổ điển ban đầu chưa bao giờ được các nhà tiền tệ học chấp nhận một cách đầy đủ thậm chí là trong giai đoạn phát triển cao trào của nó vào những năm 60, và sau đó là đối diện với thách thức của cuộc cách mạng mong đợi hợp lý Chúng tôi sẽ quay lại với công trình nghiên cứu gần đây nhất trong kinh tế học vĩ mô về các mô hình RBC trong phần 4 và mô hình kinh tế học của New Keynes ở phần thứ 5
NNS sẽ được giới thiệu và mô tả ở phần 6 Chúng tôi phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ trong lý thuyết tổng hợp mới với hai hướng tiếp cận bổ sung Trước tiên, chúng ta sử dụng phương pháp chuẩn mực của Keynes về tác động của chính sách tiền
tệ đối với tổng cầu thực tế Thứ hai, chúng tôi sử dụng mô hình của RBC để theo dõi các biến được lựa chọn bình quân từ một loạt các biến số tác động đến tổng cung; các biến được đánh dấu này là giống nhau dưới tác động của các cú sốc về thuế trong mô hình RBC Chúng tôi sử dụng các quan điểm từ các phần trước để đưa ra các nguyên tắc cho chính sách tiền tệ ở phần 7 và hướng dẫn thực hiện chính sách tiền tệ ở phần 8 Phần 9 là tóm tắt và kết luận
2 Lý thuyết tổng hợp tân cổ điển
Như Paul Samuelson đã phổ biến, học thuyết tổng hợp tân cổ điển được quảng bá là động lực của nghiên cứu theo quan điểm của Keynes về việc xác định thu nhập quốc gia – chu kỳ kinh doanh xuất hiện từ những thay đổi từ phía tổng cầu do tính cứng nhắc của giá và lương- và các nguyên lý tân cổ điển chỉ đường cho việc phân tích kinh
tế học vi mô Trong bàn luận của chúng tôi về tổng hợp tân cổ điển, chúng tôi xem xét
3 vấn đề chính đó là: bản chất của cơ chế chuyển đổi sang tiền tệ, mối quan hệ tương
hỗ giữa lạm phát với các sự kiện thực tế và vai trò của chính sách tiền tệ
2.1 Cơ chế chuyển đổi của tiền tệ
Mô hình kinh tế vĩ mô căn bản của học thuyết tân cổ điển là mô hình IS-LM Học thuyết tân cổ điển đã đưa ra một loạt các cải tiến trong những năm 50 và 60 để biến đổi mô hình này phù hợp hơn với sự lựa chọn của cá nhân và kết hợp các yếu tố nổi bật vốn đã được chứng minh là rất cần thiết cho việc xây dựng mô hình kinh tế lượng
về kinh tế vĩ mô theo chuỗi thời gian Mô hình lý thuyết giải thích cầu về tiền xuất hiện từ lựa chọn biên của cá nhân, dẫn đến việc giải thích vi mô về các biến lãi suất và quy mô trong ngành tiền tệ Học thuyết này đã kích thích sự thay đổi trong lý thuyết tiêu dùng và đầu tư dựa trên sự lựa chọn của cá nhân theo thời gian Nghiên cứu kinh
tế lượng về cầu tiền và đầu tư đã làm nảy sinh các thông số kỹ thuật điều chỉnh từng phần nổi bật
Các nhân tố mới này đã được đưa vào các mô hình kinh tế vĩ mô với quy mô lớn Thảo luận của chúng tôi tập trung vào mô hình MPS của Cục dự trữ Liên bang, mô hình này được xây dựng vì theo như De Leeuw và Gramlich (1968, trang 11) đã nói là “không
có mô hình hiện tại nào nghiên cứu về việc định lượng chính sách tiền tệ và tác động của chính sách đối với nền kinh tế” Mô hình MPS ban đầu bao gồm các nhân tố cốt lõi của mô hình IS-LM đó là: khối tài chính, khối đầu tư và khối tiêu thụ hàng tồn kho
Trang 5Cơ cấu về khả năng sản xuất và bản chất của quan điểm giá-lương được xem là rất quan trọng nhưng chỉ xếp thứ hai trong giai đoạn xây dựng mô hình trước đây So với các mô hình hiện tại khác, mô hình MPS đề cập đến những tác động lớn hơn của chính sách tiền tệ vì mô hình này kết hợp việc phân tích tác động quan trọng của lãi suất trong dài hạn đối với hoạt động đầu tư và độ trễ ước lượng của nó đối với cầu tiền đã được điều chỉnh nhanh hơn so với những mô hình trước đây
Với dạng phát triển đầy đủ của nó, vào khoảng năm 1972, mô hình MPS đã hợp nhất rất nhiều các đặc tính cấu trúc có giá trị Đó là nó đã được xây dựng để sở hữulâu dài như mô hình tăng trưởng đồng thuận của Robert Solow bao gồm thông số của hàm sản xuất hàm ý với một yếu tố lao động không đổi sẽ đóng góp vào thu nhập quốc gia thông qua việc gia tăng năng suất lao động Tuy nhiên như nghiên cứu của Ando giải thích (năm 1974) thì mô hình MPS đã xây dựng hàm sản xuất trong ngắn hạn dựa vào việc liên kết sản lượng đầu ra với yếu tố đầu vào lao động theo hình thức một được một từ kết quả của việc thay đổi biến số vốn (tư bản) hữu dụng Từ Bảng 1 cho thấy động cơ thực tế của tính chất này đó là trải qua các chu kỳ kinh tế, tổng số giờ làm việc và sản lượng có cùng biên độ tương tự nhau với biến công suất được đo lường theo chu kỳ Trong đa số các phần, các biến số chu kỳ về tổng số giờ này xuất hiện nhiều hơn ở biến số lượng lao động so với số giờ làm việc bình quân một lao động
2.2 Lạm phát và các sự kiện thực tế
Trong năm đầu của tổng hợp tân cổ điển, các mô hình kinh tế lượng vĩ mô được xây dựng và những phân tích về chính sách trong thực tế được phác họa với giả thiết giá và tiền lương danh nghĩa là hoàn toàn độc lập với hoạt động thực tiễn và các yếu tố của
nó
Bảng 1 GIỜ, VIỆC LÀM, VÀ SỬ DỤNG
Trong thực tế, vào những năm 1950, đã có sự biến động tương đối nhỏ của lạm phát Đến giữa thập niên 60, giả thiết này đã không còn đúng nữa – lạm phát đã trở thành mối quan tâm chính trong các chính sách kinh tế và dễ dàng nhận thấy lạm phát có liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế
Đường cong Philips vì thế mà trở thành một phần quan trọng trong việc phân tích chính sách và các mô hình kinh tế vĩ mô Các mô hình kinh tế vĩ mô với các yếu tố giá
và lương đã chỉ ra sự đánh đổi khá lớn giữa tỷ lệ lạm phát và mức độ hành vi thực tế
Mô hình MPS nhấn mạnh rằng mức giá được quyết định bởi giá tăng thêm sau khi vượt qua chi phí biên và mức lương danh nghĩa trở thành yếu tố quyết định trong chi phí Thêm vào đó, mô hình MPS còn tạo ra lợi nhuận dựa vào việc mở rộng độ hữu dụng và các mức giá cho phép được điều chỉnh dần theo chi phí biên (Ando, 1974, trang 544,552) Mô hình MPS với đường cong Philips cũng chú trọng đến tỷ lệ lạm phat do lương dựa vào tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ biến động của mức giá danh nghĩa Với 3 giả thiết này, trong nghiên cứu của De Menil và Enzler (năm 1972), thì mô hình MPS đã chỉ ra kết quả của việc giảm tỷ lệ lạm phát dài hạn từ 5% xuống 0% thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng từ 3,5% lên 7%
Trang 6Tính chất đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp đã trở thành trọng tâm trong chính sách kinh tế vĩ mô cũng như trong việc xây dựng các mô hình kinh tế vĩ mô Các nhà tư vấn chính sách rất lo ngại về mối liên hệ giá-lương và mối liên hệ này sẽ dẫn đến lạm phát ì như trong trường hợp suy thoái năm 1957-58 (Okun, 1969, trang 96; Okun, 1970, trang 8) Và cùng từ những năm tiếp theo, lạm phát và thất nghiệp luôn đạt mức chuẩn trong thập niên 50 và 60 Hàm tương quan Philips về mối liên hệ giữa lạm phát và thất nghiệp cũng thường xuyên được nhắc đến trong suốt những năm 60 Tuy nhiên các nhà tư vấn kinh tế theo trường phái truyền thống lại khá bi quan về viễn cảnh duy trì lạm phát
2.3 Vai trò của chính sách tiền tệ
Những người kế thừa trường phái tân cổ điển đã nhận ra yêu cầu cần phải có sự kiểm soát tổng cầu trong thực tế Với mức giá là không đổi trong ngắn hạn, chính sách tiền
tệ sẽ có hiệu quả khá mạnh theo lý thuyết Nhưng trên thực tế các nhà tư vấn chính sách lại xem chính sách tiền tệ đóng vai trò khá yếu trong việc hỗ trợ cho chính sách tài khóa Thêm vào đó, các nhà kinh tế học cũng xem tác động của lãi suất thị trường lên các thành phần nhạy cảm với lãi suất của tổng cầu là không quan trọng bằng tác động của các nhân tố tín dụng trực tiếp (theo Okin, 1969, trang 85-92) Họ cho rằng chính sách tiền tệ chỉ có hiệu quả ban đầu thông qua ảnh hưởng của nó đối với sự hiện diện của tín dụng trung gian tài chính, cùng với tác động cũng quan trọng không kém
đi kèm đối với các mức lãi suất thị trường và lãi suất tiền gửi Và theo đó, đã có một
sự miễn cưỡng áp đặt chính sách ổn định hóa phải là chính sách tiền tệ vì các loại biến dạng của nó
Mặc dù miễn cưỡng phải áp dụng chính sách tiền tệ, các nhà thực hành lý thuyết tân cổ điển vẫn nhận ra chính sách tiền có thể kiềm chế lạm phát Theo như quan điểm của Okun đã trình bày: “biện pháp căn bản để kiểm soát lạm phát là phải triệt tiêu hay bù đắp nguyên nhân gây ra lạm phát bằng cách đưa ra chính sách tài khóa hay tiền tệ có hiệu quả cắt giảm tổng cầu để tốc độ lưu thông tiền tệ không còn vượt quá giá trị của hàng hóa” James Tobin cũng đã phát biểu về việc thắt chặt tiền tệ năm 1966 để ngăn chặn lạm phát phi mã rằng”trách nhiệm hạn chế tiền tệ là phụ thuộc vào động thái quyết liệt của Fed”
Vì thế, chính sách tiền tệ trong lý thuyết tổng hợp tân cổ điển được xem là một công
cụ hữu hiệu nhưng sẽ có hạn chế đi kèm khi kiểm soát lạm phát hoặc khi thực hiện chính sách điều tiết Trong khi chính sách tiền tệ có thể hạn chế lạm phát về mặt lý thuyết thì vẫn có quan điểm thực tế cho thấy lạm phát vẫn có thể được khống chế bởi các nhân tố và động cơ về tâm lý vì thế chính sách tiền tệ chỉ có thể có tác dụng từ từ
Vì chính sách tiền tệ gây ra nhiều méo mó đối với các thành phần kinh tế nên chính sách tài khóa vẫn là chính sách phù hợp hơn để kiểm soát chu kỳ kinh tế
3 Trường phái trọng tiền và các mong đợi hợp lý
Nổi lên từ thập niên 60, trường phái trọng tiền trở thành mối đe dọa cho học thuyết tân
cổ điển Một phần là vì những người theo trường phái này tự cho mình là những người
kế thừa của lý thuyết số lượng tiền tệ trước Keynes như Irving Fisher và một số người
Trang 7khác Phần khác là do những nhà tiền tệ học này đặt ra khá nhiều nghi vấn về học thuyết tổng hợp ví dụ như tính hiệu quả của chính sách tài khóa và tính ổn định của đường cong Philips Trong thập niên 70 và 80, nhiều quan điểm về tiền tệ đã được thống nhất trong thuyết tổng hợp mở rộng và vì một lý do rất tốt đó là chủ nghĩa trọng tiền đã trở thành bộ nguyên tắc cho việc tư vấn chính sách thực tế, người ta đã công nhận nó trong học thuyết tân cổ điển và trường phái này cũng đã được xác định là nguồn gốc của chu kỳ kinh tế với giả thiết giá cố định trong ngắn hạn Tuy nhiên, cùng lúc đó nhận xét của Lucas về chính sách kinh tế lượng vĩ mô và việc đưa phần giới thiệu về hậu quả của các biến mong đợi phù hợp trong kinh tế vĩ mô đã đặt ra nhiều nghi vấn hơn cho thuyết tổng hợp tân cổ điển
Lý thuyết số lượng –trọng tâm của trường phái trọng tiền- đã phân tích về thị trường tiền tệ theo quan điểm cân bằng giữa cung tiền danh nghĩa và cầu tiền thực tế Quan điểm này bao hàm về cơ chế chuyển đổi tiền tệ, về mối quan hệ giữa lạm phát và các
sự kiện thực tế và về vai trò của chính sách tiền tệ
3.1 Cơ chể chuyển đổi tiền tệ
Phương trình tiền tệ cơ bản là phương trình số lượng như chúng tôi đã giới thiệu với lưu ý sẽ là phương trình mà chúng tôi sẽ sử dụng trong suốt nghiên cứu của mình Theo lý thuyết số lượng, thu nhập danh nghĩa (Yt) là kết quả của khối tiền (Mt) và tốc
độ lưu thông tiền tệ (vt):
log Yt = log Mt + log vt (3.1)
Các nhà tiền tệ học xây dựng lý thuyết số lượng từ việc xem tiền tệ là nhân tố độc lập
Họ cũng xây dựng một mô hình kinh tế lượng dựa trên nền tảng khung phân tích của mình Mô hình St.Louis của Anderson và Jordan (năm 1968) là phương trình số lượng đơn giản dựa trên độ trễ được phân bổ với một biến số thay đổi để điều chỉnh kịp thời với sự thay đổi của cung tiền và cầu tiền
Quan điểm của cơ chế chuyển đổi tiền tệ là khá nổi bật trong thuyết tổng hợp tân cổ điển với nội dung chính là xem xét các kênh chuyển đổi chủ yếu là thông qua sự sẵn
có của tín dụng và từ đó là thông qua tác động của lãi suất dài hạn đối với đầu tư Các nhà tiền tệ học đều xem hai kênh này là thứ yếu Họ tập trung vào việc phân tích tiền
tệ hơn là các kênh tín dụng
Theo Irving Fisher, các nhà tiền tệ học nhận thấy rằng lãi suất danh nghĩa là một thành phần thực sự và là một yếu tố được xét đến trong lạm phát kỳ vọng Giống như các thành phần khác, lãi suất danh nghĩa trong phương trình kỳ vọng được xem là có độ trễ khá lâu và hay thay đổi Tuy vậy trong thực tế các nhà tiền tệ học lại xem sự thay đổi của các mức lãi suất trong dài hạn là phản ánh về bảo hiểm lạm phát và như vậy thì các mức lãi suất này chỉ có vai trò khá khiêm tốn trong việc đưa chính sách tiền tệ áp dụng trong thực tế
3.2 Lạm phát và hoạt động thực tế
Trang 8Các nhà tiền tệ học cũng phân biệt rất rõ quan điểm của họ về quan hệ giữa lạm phát
và hoạt động thực tế Đa số các nhà tiền tệ học nhận thức được rằng họ không có một
cơ sở lý thuyết đáng tin cậy nào để dự đoán về sự phân chia trong ngắn hạn của mức tăng trưởng thu nhập danh nghĩa giữa mức giá (Pt) và sản lượng thực tế (yt) – họ
không có phương trình giá trong ngắn hạn Theo nhiều cách khác nhau, họ giải thích
về tính không trung lập của tiền tệ trong ngắn hạn là kết quả của việc cố định giá Nhưng họ lại thấy rằng tác động của chính sách tiền tệ trong thực tế đối với nền kinh
tế lại khá lâu và có thể thay đổi Vì vậy họ có xu hướng bổ sung thêm tính chất hay thay đổi ở mỗi mức độ khác nhau đối với các chính sách được thực hiện bởi lẽ sự kỳ vọng sẽ quyết định mức giá và lương thay đổi thế nào cho phù hợp với việc bơm tiền Những xem xét này càng được làm rõ hơn trong lý thuyết của Friedman (năm 1968), người đã mô tả về sự điều chỉnh không đầy đủ của các yếu tố kỳ vọng có thể dẫn đến việc giá và lương thay đổi khá chậm so với sự thay đổi của tiền Và cùng lúc đó, Friedman cũng cho rằng lạm phát chấp nhận được sẽ không có ảnh hưởng đến nền kinh tế trong dài hạn, nghĩa là trong trường hợp những kỳ vọng là đúng với thực tế, vì sản lượng đầu ra sẽ được quyết định bởi các yếu tố thực tế Những nhận định của Friedman đã được minh chứng theo thời gian Theo bảng số 2, tỷ lệ lạm phát tăng khá nhanh trong những năm 1970 dù chỉ là với sự thay đổi khá nhỏ của các sự kiện thực tế
3.3 Vai trò của chính sách tiền tệ
Các nhà tiền tệ học cũng đã nhìn thấy vai trò khác nhau của chính sách tiền tệ Nghi ngờ về tính hiệu quả của chính sách trong thực tế, họ tìm cách đưa ra các quy tắc cố định đơn giản dành cho chính sách Theo giải thích của Friedman và Schwartz (năm 1963) về cuộc đại suy thoái tưởng tượng, họ tin rằng việc kiểm soát tiền tệ sẽ tránh được các cú sốc về tiền đối với nền kinh tế, bằng cách đưa ra nguyên tắc lượng tiền sẽ tăng với tốc độ không đổi theo tốc độ tăng của năng suất lao động (Friedman 1960) Sau khi tranh luận về lạm phát chấp nhận được sẽ ít có ảnh hưởng đến hoạt động thực
tế, Friedman (năm 1969) đã mô tả về cơ chế tiền tệ dài hạn sẽ dẫn đến giảm phát chấp nhận được nếu đưa lãi suất danh nghĩa về mức 0 và nền kinh tế được cung ứng một lượng tiền hợp lý
Trong thực tế, có sự khác biệt khá quan trọng về vai trò của chính sách tiền tệ trong chu kỳ kinh tế Trong khi các nhà tư vấn chính sách của thuyết tổng hợp tân cổ điển tìm cách duy trì lãi suất của FED không đổi khi chính sách tài khóa thay đổi thì các nhà tiền tệ học lại cho rằng lãi suất không đổi sẽ gây ra sự dao động trong các hoạt động kinh tế từ việc thay đổi lượng tiền theo chu kỳ
3.4 Các kỳ vọng hợp lý
Trở lại trường phái trọng tiền, việc đưa các kỳ vọng hợp lý vào lý thuyết kinh tế vĩ mô trong những năm đầu của thập niên 70 thoạt nhìn là không nhất quán với thuyết tổng hợp tân cổ điển Điều này càng được khẳng định khi John Muth đã xúc tiến giả thiết về yếu tố kỳ vọng hợp lý khi cho rằng các kỳ vọng của cá nhân là hợp lý vì đây là sự mở
Trang 9rộng tự nhiên của nguyên lý tân cổ điển về một nền kinh tế là nơi cư trú của các yếu tố tối đa hóa và hợp lý
Trong các mô hình cổ điển mới trước đây ví dụ như mô hình của Sargent và Wallace (năm 1975) cùng với quan điểm của Friedman về sự thay đổi có nhận thức của tiền tệ
sẽ dẫn đến sự thay đổi về giá, và nhận thức nhầm về sự thay đổi của tiền sẽ gây ra những ảnh hưởng thực tế Cùng với các kỳ vọng hợp lý, cơ chế trung hòa mạnh mẽ này dẫn đến tình huống tranh cãi về vai trò của chính sách tiền tệ Trước tiên, như phân tích của các nhà tiền tệ học, ngân hàng trung ương sẽ tránh việc gây ra các cú sốc
về tiền Thứ hai, một loạt các nguyên tắc về tiền sẽ gây ra những xáo trộn như nhau cho nền kinh tế vì tác động thực tế của các thay đổi nhận thức về tiền sẽ trung hòa với
sự thay đổi của giá
3.5 Sự tin cậy
Mặc dù kết quả về tính không hiệu quả trong chính sách là dễ thay đổi, nội hàm của những nghiên cứu xa hơn vẫn chuyển tải khá nhiều phương pháp kinh tế vĩ mô hiện đại nhất bao gồm khung lý thuyết về giá cố định mà chúng tôi sẽ bàn luận ở bên dưới
Lý do của việc đưa ra các kỳ vọng hợp lý đã cho thấy rằng tác động của các cú sốc cho trước không thể được tính toán mà không có sự hiểu biết nào về tính dai dẳng của nó hoặc rộng hơn là cho những gì mà nó được mong đợi và chuẩn bị từ trước Quan điểm này, được Lucas phổ biến mạnh mẽ vào năm 1976, đã làm thay đổi hoàn toàn việc phân tích chính sách hàm ý rằng một người không thể đoán trước tác động của chính sách khi mà không tính đến bản chất của cơ chế chính sách khi nó diễn ra
Sargent (năm 1986) đã cột chặt những ý kiến này một cách khá rõ với bản chất của quá trình lạm phát khi nói rằng:”lạm phát dường như chỉ có cái đà của chính nó Thực
tế là chính sách của chính phủ trong dài hạn về thực hiện mức thâm hụt cao và tạo tiền với tốc độ lớn mới tham gia vào đà phát triển của tỷ lệ lạm phát” Nhìn lại một loạt các giai đoạn lịch sử ở các quốc gia cố gắng giảm tỷ lệ lạm phát đang ở mức cao, ông cho rằng chi phí của việc hạn chế lạm phát – với sản lượng cho trước - sẽ nhỏ hơn nhiều nếu cam kết của chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát là đáng tin cậy hơn nhiều so với việc không cam kết Tuy nhiên mô hình kinh tế vĩ mô cổ điển mới lại cho rằng độ đáng tin cậy là không có tầm quan trọng gì lớn Trong mô hình đó, ý định tương lai của ngân hàng trung ương là rất quan trọng đối với sự tăng lên của giá bởi vì
ý định này ảnh hưởng đến lạm phát kỳ vọng nhưng những ý định này lại chẳng có liên quan gì nhiều với các hoạt động thực tế cũng như các sự nhận thức chính xác về chúng Hệ quả là, trong khi các ngân hàng trung ương xem tín dụng là quan trọng thì
họ lại vẫn miễn cưỡng áp dụng mô hình kinh tế vĩ mô mới để phân tích về các vấn đề của chính sách tiền tệ
4 Chu kỳ kinh tế thực tế
Mặc dù các kỳ vọng hợp lý được đưa vào lý thuyết kinh tế vĩ mô để nghiên cứu về mối liên hệ giữa biến danh nghĩa và thực tế thì những ứng dụng của chúng vẫn nằm ngoài khuôn khổ của chương trình nghiên cứu về chu kỳ kinh tế thực tế Tính trung hòa tiền
Trang 10tệ được xây dựng trong mô hình RBC đã ngăn ngừa việc áp dụng chúng trong các phân tích chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện Nhưng chúng tôi vẫn xem tính logic của mô hình RBC là phần trung tâm của Thuyết tổng hợp tân cổ điển Một lý do
là vì chương trình RBC đã xây dựng các mô hình mà ở đó các chính sách thay thế có thể được so sánh trên nền tảng của các công cụ đo lường độ hữu dụng hoặc chi phí hơn
là căn cứ về các mục tiêu được quảng bá Một lý do khác là khung lý thuyết của RBC cho phép việc phân tích về chính sách và các cú sốc khác trong bối cảnh của một hệ thống cụ thể với các nhân tố ngẫu nhiên nổi bật nhằm đưa ra lý do phải có các kỳ vọng hợp lý Chương trình RBC đã thống nhất và xác định rõ các thành phần có liên quan vốn là trọng tâm của kinh tế vĩ mô như hành vi tiêu dùng, đầu tư và cung ứng lao động
và trong quá trình đó nó cũng làm rõ những nhân tố quyết định đến lãi suất thực tế Cuối cùng, các mô hình RBC đưa ra những điểm sáng về bản chất của tính không trung hòa có lặp lại trong các mô hình NNS đồng thời mô tả các kết quả đầu ra khi thực hiện chính sách tiền tệ trung hòa
4.1 Các nhân tố quan trọng của mô hình RBC
Hướng tiếp cận của RBC sử dụng các mô hình cân bằng tổng quát thực tế để nghiên cứu về các hiện tượng kinh tế vĩ mô Một thành phần quan trọng của mô hình này đó là
áp dụng phương pháp tối ưu hóa liên thời gian đối với tiêu dùng và cung lao động Một cách tiếp cận khác đó là cũng sử dụng phân tích liên thời gian tương tự đối với đầu tư và cầu lao động, xuất phát từ quyết định tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
Kế hoạch của hộ gia đình và doanh nghiệp sẽ được cân bằng với nhau và tại điểm cân bằng đó sẽ xác định số lượng hàng hóa và giá cả
4.2 Các cú sốc về năng suất lao động
Nội dung của RBC tập trung vào việc nghiên cứu hành vi của nhà kinh tế học vĩ mô về tính chu kỳ của hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Với sự hỗ trợ của Prescott (năm 1986) và Plosser (năm 1989), thì mô hình RBC căn bản được xem là có khả năng tạo
ra chu kỳ kinh tế giống nhau cho nền kinh tế Mỹ và các nền kinh tế khác khi các nền kinh tế này được vận hành theo hướng của Solow Với mục đích làm rõ những tàn dư này và để bàn luận về các vấn đề khác ở bên dưới, chúng tôi xác định hàm sản xuất là
không đổi theo quy mô lao động (n) và vốn (k) và hàm này chỉ thay đổi theo thời gian khi có các cú sốc về hiệu quả sử dụng (a):
y t = a t F(n t ,k t ) (4.1)
Trong mô hình RBC, những thay đổi về hiệu quả sử dụng có 2 ảnh hưởng đối với sản lượng đầu ra Một là chúng làm sản lượng tăng hay giảm hơn như trong phương trình đạo hàm nổi tiếng của Solow
dy t /y t = (s n dn t /n t + s k dk t /k t ) + da t /a t (4.2)
trong đó sk và sn là sự chia sẻ về nhân tố lao động và vốn Tuy nhiên, các cú sốc về hiệu quả sử dụng cũng có ảnh hưởng khác lên hành vi kinh tế vĩ mô vì chúng tác động đến kế hoạch sản phẩm biên (cầu về yếu tố sản xuất) Các hệ số biên tế này tác động qua lại đối với động cơ ổn định trong tâm trí hộ gia đình nhằm điều tiết với phản ứng
Trang 11của nền kinh tế Và như thế sẽ có một sự tăng tạm thời trong năng suất hiện tại, ví dụ như làm cho hộ gia đình cảm thấy mong muốn làm việc hơn (giảm thiểu thời gian nhàn rỗi) và đầu tư nhiều hơn (để trì hoãn tiêu dùng trong hiện tại) Trong mô hình RBC, các cơ chế này cũng giải thích điều đó ví dụ như tính lặp lại của yếu tố lao động đầu vào và phản ứng với cường độ lớn trong đầu tư Hướng tiếp cận của RBC buộc 1 nhà nghiên cứu phải giải thích được phản ứng của nền kinh tế vĩ mô thông qua hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập của hộ gia đình
Một câu hỏi lớn về hướng tiếp cận theo RBC đã trở thành công cụ đo lường các cú sốc
về năng suất lao động cụ thể là câu hỏi liệu rằng phương pháp của Solow có đo lường sai lệch các yếu tố đầu vào hay không Các nghiên cứu trả lời cho câu hỏi này với nội dung tập trung vào việc tối ưu hóa nhân tố vốn bao gồm nghiên cứu gần đây của Burnside, Eichenbaum và Rebelo (năm 1995) đã đề cập đến việc cắt giảm các biến dư trong mô hình Solow vì vậy các thành viên đi theo học thuyết RBC có thể lo lắng rằng
có khá ít hạn chế còn sót lại khi sử dụng các cú sốc về hiệu quả sản xuất
4.3 Hợp lý hóa độ co dãn cao của cung
Bằng việc chú trọng đến mặt cung, các nhà nghiên cứu theo RBC đã làm nảy sinh khá nhiều nghi vấn, một trong số các nghi vấn căn bản nhất đó là liệu biến số cung lao động ở mức cao được giả định trong mô hình RBC đã được kiểm chứng hay chưa? Các mô hình RBC trước đây đã giả thiết rằng tổng cung về lao động sẽ chỉ thay đổi khi mỗi lao động (thành viên đại diện) thay đổi số giờ làm việc của họ Giả thiết này là không nhất quán với minh chứng trong kinh tế vi mô về cung lao động
Tuy nhiên trải qua một giai đoạn của chu kỳ kinh tế đã có sự thay đổi lớn trong nỗ lực làm việc Như Bảng 1 đã minh họa và so sánh giữa mục (a) và (c) thì phần lớn sự thay đổi này xuất phát từ việc thay đổi số lượng lao động hơn là số giờ làm việc của một lao động Những bổ sung quan trọng của mô hình RBC căn bản đã được xây dựng thêm như động lực để thúc đẩy lực lượng lao động, làm cho năng suất lao động tăng cao và cung lao động co dãn nhiều trong khi vẫn duy trì độ co dãn vi mô nhỏ Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy sự tối ưu hóa về yếu tố vốn, với việc cung ứng các dịch vụ vốn cực kỳ nhạy cảm với những thay đổi về giá để tăng độ hữư dụng của vốn theo chu kỳ Tóm lại, mô hình RBC hiện đại đã mô tả về một nền kinh tế vĩ mô cực kỳ nhạy cảm với những cú sốc thực tế Hall (1991) cũng đã chỉ ra nhiều hướng tiếp cận liên quan đến chu kỳ kinh tế đòi hỏi một nền kinh tế có sự thay thế có giống như những gì mà các nhà nghiên cứu RBC đề cập đến
4.4 Tiền tệ trong các mô hình RBC
Trong chương trình nghiên cứu trước đây của RBC, thị trường tiền tệ đã được thêm vào để khám phá mối quan hệ có tính chu kỳ giữa tiền tệ và sản lượng đầu ra mà mối quan hệ này thường nảy sinh nếu các cú sốc về năng suất lao động trở thành nhân tố tác động chính (King và Plosser, 1984) Trong giai đoạn nghiên cứu sau này, người ta
Trang 12cũng đã tìm ra ảnh hưởng của thuế lạm phát (Cooley và Hansen, 1989) Từ nghiên cứu này và các công trình khác trong suốt 1 thập niên vừa qua, các nhà kinh tế vĩ mô đã công bố một số kết luận mà họ đã tìm ra Trước tiên, là các biến nội sinh trong cung tiền nảy sinh khi có các động thái liên kết giữa các ngân hàng tư nhân với cơ quan tiền
tệ ít nhất cũng giải thích phần nào về mối liên hệ chu kỳ giữa tiền tệ và sản lượng đầu
ra Thứ hai, trong khi các dạng mô hình RBC được thực hiện trong thị trường tiền tệ có thể giải thích về mặt nguyên lý mối liên hệ giữa tiền tệ và sản lượng đầu ra thì những
mô hình này lại không giải thích rõ về biến chu kỳ trong thực tế và các mức lãi suất danh nghĩa (Sims, 1992), cụ thể là các mô hình này cho rằng có thể là chu kỳ chứ không phải là các cú sốc về năng suất lao động làm xuất hiện biến tham số về tiền Thứ ba, các kết quả dự báo của các biến chu kỳ đối với lạm phát kỳ vọng sẽ có số lượng khá nhỏ trong mô hình giá linh hoạt nếu cầu tiền được xác định thông qua tiền mặt trả trước hoặc thông qua kỹ thuật giao dịch hiện tại Điều này có nghĩa là vì mục tiêu nghiên cứu chu kỳ kinh tế, một mô hình RBC với cơ chế tiền tệ hiện tại sẽ hiệu quả hơn nhiều so với một mô hình RBC với hàm cầu tiền được bổ sung thêm sau khi
có phân tích về điểm cân bằng tổng quát trên thực tế
4.6 Chính sách tài khóa và những cú sốc tài khóa trong lý thuyết RBC
Chủ đề quan trọng khác của phân tích RBC đó là nghiên cứu về chính sách tài khóa và
sự thay đổi tài khóa ảnh hưởng đến điểm cân bằng tổng quát Trong mô hình RBC, những thay đổi về thuế suất có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực tế Cụ thể là các biến số về thu nhập khả dụng hoặc thuế doanh thu đều ảnh hưởng đến các nhân tố sau thuế như là lao động và vốn, kể cả những yếu tố từ hàng hóa cho đến thời gian đều ảnh hưởng đến số giờ công lao động và đầu tư mà một cá nhân lựa chọn Ví dụ như mức lương thực tế sau thuế sẽ là
Trang 13(4.3)
Trong đó là thuế suất ở thời điểm t và wt là mức tiền lương thực tế tại thời điểm t Theo đó, từ mức lao động biên, thuế hoạt động tương tự một cú sốc về năng suất lao động Do vậy, những thay đổi trong thuế thu nhập đã có ảnh hưởng rõ ràng trong mô hình RBC
Các nghiên cứu của RBC về các cú sốc tài khóa tại Mỹ, như nghiên cứu của McGrattan (1994), đã đi đến một kết luận khá chắc chắn Những thay đổi trong thuế suất có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của nền kinh tế nhưng vì sự thay đổi trong số liệu về vốn và mức thuế thu nhập của Mỹ trong các chu kỳ kinh tế là khá nhỏ nên những cú sốc về thuế này không có tác động gì lớn đến sự thay đổi của chu kỳ kinh tế Tuy vậy, chúng tôi vẫn nhận thấy ở bên dưới là những thay đổi tăng thêm này là do thuế nằm ở dưới hình thức bay hơi theo chu kỳ tiềm ẩn
5 Kinh tế học của New Keynes
Phương pháp luận trong kinh tế vĩ mô của New Keynes được đưa ra để giải quyết mâu thuẫn của các nhà tiền tệ học và để trả lời cho câu hỏi căn bản trong nhận xét của Lucas và để thay thế cho mô hình giá linh hoạt trong phân tích của RBC Bài viết của chúng tôi về chương trình nghiên cứu mở rộng này được chia làm 3 phần Trước tiên chúng tôi sẽ tóm tắt các nghiên cứu của Gordon (1982) và Taylor (1980) Sau đó chúng tôi sẽ bàn luận về những vấn đề cơ bản trong kinh tế vi mô của New Keynes trong đó điểm sáng nhất trong luận điểm của ông là vấn đề cạnh tranh độc quyền và điều chỉnh giá không đổi Cuối cùng, chúng tôi tập trung vào việc điều chỉnh mức giá tối ưu trong bối cảnh năng động
5.1 Các mô hình New Keynes thế hệ đầu tiên
Trong các mô hình New Keynes thế hệ đầu tiên, Gordon (1982) và Taylor (1980) đã hiện đại hóa đặc điểm của khối giá-lương kết hợp với quan điểm về tiền tệ và mong đợi hợp lý
5.1.1 Phương trình giá của Gordon
Về mặt kinh nghiệm, Gordon (1982) đã ước lượng sự thay đổi về giá bằng việc sử dụng yếu tố ngoại sinh gần với tiền của cầu tiền danh nghĩa Để tránh xem xét riêng tiền lương danh nghĩa vì ông cho rằng đặc điểm của tiền lương danh nghĩa cũng tương
tự như đặc điểm của giá, Gordon đã ước lượng phương trình giá của mình như sau:
Trang 14Gordon giải thích hệ số λ(L) cho biết mức giá điều chỉnh như thế nào theo mức thu
nhập danh nghĩa trong dài hạn và mức “tỷ lệ tự nhiên” của hoạt động thực tế Có 3 phát hiện trong khảo sát của Gordon: một là có một giá trị khá nhỏ của G trong phương trình giá Bằng việc ước lượng một phần tư các phương trình giá trong số liệu của gần một thế kỷ và rất nhiều các mẫu khác nhau, Gordon đã tìm thấy các hệ số độ dốc trong phạm vi của G là 0.10, hệ số này cho thấy sản lượng đầu ra có ảnh hưởng khá nhỏ đối với giá và được tính bằng G/(1+G) = 0.09 Thứ hai là độ trễ được ước lượng là khá quan trọng đối với phương trình giá: độ trễ trung bình giữa giữa giá và sản lượng đầu ra có thể là hơn 1 năm Gordon giải thích điều này như một minh chứng
về việc điều chỉnh dần của giá đối với những thay đổi trong chi phí danh nghĩa
Tuy nhiên, Gordon cũng tìm thấy những thay đổi đáng kể trong các tính toán của mình khi chia số liệu của 90 năm thành 3 hoặc nhiều hơn 3 giai đoạn nhỏ Trong mẫu ban đầu từ năm 1892 đến năm 1929 đã có sự thay đổi quan trọng trong tác động của thu nhập danh nghĩa trong suốt thời kỳ chiến tranh 1915-1922 Cụ thể là hệ số ước lượng
về thu nhập danh nghĩa đã tăng về cơ bản, với sự khác biệt về mức tăng của thu nhập danh nghĩa kỳ vọng là G = 0.47 và mức tăng của thu nhập danh nghĩa ngoài kỳ vọng
là G = 0.25 Các yếu tố của các cú sốc về cung – như là năng lượng và giá hàng hóa dịch vụ- đã tăng đáng kể trong mẫu giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ 2 Cuối cùng là tổng các hệ số về lạm phát, , đã tăng về cơ bản từ 0.4 trong suốt giai đoạn từ 1892-1929 đến hơn 1 trong giai đoạn từ 1954-1980
5.1.2 Phương pháp thiết lập lương theo kỳ vọng hợp lý của Taylor
Mô hình khó nhất trong số các mô hình kinh tế vĩ mô về kỳ vọng hợp lý của New Keynes thế hệ đầu tiên là mô hình của Taylor (1980) Theo thuật ngữ hiện đại, quan điểm của Taylor đó là doanh nghiệp và lao động của mình thiết lập một mức tiền lương cố định trong suốt thời gian của hợp đồng thời kỳ J Những mặc cả về lương được giả định là không đáng kể trong suốt thời gian 1/J của các hợp đồng được ký cho mỗi giai đoạn Phương trình toán học đơn giản nhất của mô hình thiết lập lương của
Taylor như sau Mức lương danh nghĩa được thiết lập ở thời kỳ t, log W *
t, phụ thuộc vào mức giá bình quân được kỳ vọng trong hợp đồng,
trên việc thắt chặt thị trường lao động bình quân [đó là
trong đó e t là sự thắt chặt của thị trường lao động ở thời kỳ t và h kiểm soát lương
theo sự thắt chặt này và trên cú sốc về lương (v t ):
(5.2)
Trang 15Taylor (1980) đã đưa ra mô hình kinh tế vĩ mô rất đơn giản nhằm tập trung vào kết quả của hành vi thiết lập lương Trước tiên, Taylor nhấn mạnh rằng mức giá là mức lương trung bình giản đơn, do nhà độc quyền xác lập dựa trên chi phí biên không đổi với một mức lợi nhuận được lựa chọn cố định
log Pt = (5.3)
Thứ hai, cũng giống như Gordon (1982), Taylor đã đưa ra giả định về tiền tệ là chi phí danh nghĩa có thể được quyết định bởi một phương trình số lượng Thứ ba là Taylor
giả thiết rằng sự thắt chặt của thị trường lao động có liên quan đến sản lượng đầu ra: e t
= g 1 log y t Thứ tư, Taylor giả định quy tắc về khối tiền thay đổi trong chính sách tiền
tệ, nghĩa là
log M t = g 2 log P t* (5.4)
Cùng với các mô hình kỳ vọng hợp lý của thuyết tân cổ điển trước đây, mô hình kỳ vọng hợp lý của Taylor đòi hỏi phải có sự chú trọng về hành vi của người thực thi chính sách tiền tệ Thay vì để cho cơ quan tiền tệ trở thành nguồn gốc thúc đẩy chu kỳ kinh tế, ông xem điều này là sự điều chỉnh khối tiền tệ theo giá với hệ số phản ứng g2
5.1.3 Chu kỳ kinh tế và hàm ý chính sách trong mô hình của Taylor
Có 4 hàm ý trong mô hình của Taylor Đầu tiên là, Taylor tạo ra một mẫu dưới dạng cái bướu về các đặc tính của sản lượng đầu ra theo chu kỳ (thất nghiệp) nhằm phản ứng với các cú sốc về lương vt trong đó Taylor cho rằng đó là phương pháp của sự thành công bởi vì một số nhà nghiên cứu kinh nghiệm đã ước tính các mô hình chuỗi thời gian có chứa kết quả này Thứ hai, Taylor chỉ ra rằng quy định về chính sách có ảnh hưởng đến sự thay đổi của các hoạt động thực tế Thứ ba, Taylor nhấn mạnh về việc có sự đánh đổi chính sách tiền tệ mới giữa biến số sản lượng và biến số lạm phát trong mô hình của mình, thậm chí là khi đang tồn tại giả định là không có sự đánh đổi trong dài hạn giữa tỷ lệ lạm phát và mức sản lượng Nếu những thay đổi về tốc độ của tiền là nhỏ thì ngân hàng trung ương có thể xóa bỏ biến số thực tế bằng cách thiết lập
sự thay đổi về giá (g2 tiến gần đến 1), nhưng điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn hơn trong mức giá Thứ tư, ông chỉ ra rằng các biến số kỳ vọng hợp lý thực sự rất có ý nghĩa – do phản ứng của nền kinh tế với các cú sốc và do việc đưa ra các quy định trong chính sách tiền tệ- bằng cách so sánh những kết quả của ông với những người nghiên cứu về kỳ vọng ngoại suy
Quan trọng là các mô hình kỳ vọng hợp lý về giá và lương cố định như của Taylor cũng giải thích cho những phát hiện của Gordon, ít nhất là về mặt quy mô Độ trễ của lương và giá danh nghĩa là những biến số quốc gia quan trọng trong các mô hình này,
nó phản ánh sự điều chỉnh dần dần đối với các cú sốc danh nghĩa và thực tế Hơn nữa tác động của các nhân tố ngoại sinh trong thu nhập danh nghĩa phụ thuộc phần lớn vào
Trang 16việc những nhân tố này được kỳ vọng trong bao lâu vì phương trình (5.2) chỉ ra rằng
kỳ vọng về giá có vai trò quan trọng trong việc thiết lập tiền lương
Khi kết hợp các kết quả nghiên cứu của mình vào các mô hình kinh tế lượng vĩ mô lớn hơn về việc điều chỉnh giá từ từ, mô hình lý thuyết của Taylor đã có ảnh hưởng rộng lớn Nhưng cùng thời điểm đó không có sự dễ dàng nào trong các mô hình tiền lương của Taylor Cụ thể là ở Mỹ chỉ có một tỷ lệ khá nhỏ lực lượng lao động tuân theo các hợp đồng đa thời hạn Thêm vào đó, các nền tảng lý thuyết của kinh tế vi mô về quá trình thiết lập lương lại không có đầy đủ
5.2 Các mô hình New Keynes thế hệ thứ hai
Trong bước tiếp theo của nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế học New Keynes đã thay đổi vị trí cố định danh nghĩa từ lương sang giá cả Trong nghiên cứu mới này, các doanh nghiệp định giá được xây dựng như các nhà cạnh tranh độc quyền Mô hình cạnh tranh hoàn hảo được dùng để giải thích tác động của sản lượng thực tế đối với tiền tệ khi giá tuân theo chi phí điều chỉnh để tạo nên các cơ chế khuếch đại khác nhau
và để làm rõ phí tổn xã hội tiềm ẩn trong chu kỳ kinh tế
5.2.1 Các mô hình cạnh tranh độc quyền
Trong suốt thập niên 80, hàm ý cạnh tranh độc quyền đã được khai thác trong rất nhiều các lĩnh vực bao gồm tăng trưởng kinh tế, thương mại quốc tế và tài chính và kinh tế
vĩ mô Trong mỗi lĩnh vực, lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo đã giữ lời hứa sẽ tìm hiểu về các vấn đề đang nảy sinh từ khung lý thuyết cạnh tranh Trong kinh tế vĩ mô,
lý thuyết cạnh tranh độc quyền là rất quan trọng để phân tích về cách xác định giá của doanh nghiệp Trong bối cảnh cạnh tranh tiêu chuẩn, các doanh nghiệp xem giá thị trường là cho trước và điều chỉnh số lượng để đáp lại sự biến động của giá và chi phí Ngược lại, trong Blanchard và Kitoyaki (1987) và Rotemberg (1987), các doanh nghiệp là những nhà cạnh tranh độc quyền và xác định giá để tối đa hóa lợi nhuận Các
nghiên cứu này xem tiêu dùng là tổng của một loạt các loại hàng hóa khác nhau, c t =
độ co dãn hoàn toàn của cầu
ct(z) = (5.5)
Sẽ thay đổi theo mức giá chung và tổng cầu tiêu dùng Đầu tư và mức chi tiêu của chính phủ có thể được xét tương tự với tổng các loại sản phẩm như trong phương trình (5.5) đã thay ct là hệ số đo lường tổng cầu Dạng ngầm của chỉ số giá (hoàn hảo) cùng với tổng chi phí là
P t = (5.6)
Theo đó, với một mức chi phí biên danh nghĩa là Ψ t , một doanh nghiệp sẽ xác định giá
tại mức lợi nhuận không đổi vượt qua chi phí biên, P t (z) = [ϵ/(ϵ-1)]Ψ t chính là lợi nhuận được tính từ công thức thông thường Vì vậy, cạnh tranh độc quyền đã chỉ rõ làm sao một doanh nghiệp xác định mức giá của mình và mức giá này là cao hơn so