TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN TRƯƠNG THỊ THUỲ TRANG “NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TƯỚI TIẾT KIỆM NƯỚC VÀ BÓN PHÂN QUA NƯỚC CHO CÂY CÀ PHÊ VỐI KINH DOANH TẠI ĐĂK LĂK” LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
VŨ QUANG
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM TRICHODERMA ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU BỆNH
TRÊN CÂY CAO SU GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
TẠI ĐĂK LĂK”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
ĐĂK LĂK, NĂM 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
VŨ QUANG
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM TRICHODERMA ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU BỆNH
TRÊN CÂY CAO SU GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
TẠI ĐĂK LĂK”
Chuyên ngành kỹ thuật: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Hội ñồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Anh Dũng TS Nguyễn Văn Nam
ĐĂK LĂK, NĂM 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
TRƯƠNG THỊ THUỲ TRANG
“NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TƯỚI TIẾT KIỆM NƯỚC
VÀ BÓN PHÂN QUA NƯỚC CHO CÂY CÀ PHÊ VỐI
KINH DOANH TẠI ĐĂK LĂK”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
ĐĂK LĂK, NĂM 2011
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
TRƯƠNG THỊ THUỲ TRANG
“NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TƯỚI TIẾT KIỆM NƯỚC
VÀ BÓN PHÂN QUA NƯỚC CHO CÂY CÀ PHÊ VỐI
KINH DOANH TẠI ĐĂK LĂK”
Chuyên ngành kỹ thuật: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Hội ñồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học
TS Trần Văn Thuỷ TS Lê Ngọc Báu
ĐĂK LĂK, NĂM 2011
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cà phê là một mặt hàng thương mại quan trọng ở trên thị trường quốc
tế, mặt hàng cà phê chỉ ñứng sau sản phẩm dầu mỏ Theo báo cáo mới nhất của ICO, sản lượng cà phê xuất khẩu toàn thế giới dao ñộng lên xuống trong phạm vi khá rộng, ñã tăng từ 116,2 triệu bao năm 2007 lên 134,16 triệu bao năm 2008 (tăng 15,4%)
Ở Việt Nam cà phê là một trong những cây trồng chủ lực với kim ngạch xuất khẩu từ 1,8 - 2 tỷ USD Việc phát triển cây cà phê ñã giải quyết việc làm và tạo thu nhập cao cho nông dân trồng cà phê Hiện nay cà phê là nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn, chỉ ñứng sau lúa gạo và có tốc ñộ phát triển nhanh Từ chỗ sản lượng và giá trị xuất khẩu không ñáng kể trước năm 1975, sau hơn 30 năm phát triển Việt Nam là nước xuất khẩu ñứng thứ 2 thế giới và ñứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu cà phê vối
Trên 90% diện tích cà phê Việt Nam tập trung ở Tây Nguyên, trong ñó Đăk Lăk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất cả nước Đến năm 2010, Đăk Lăk có 190.765 ha cà phê, với năng suất bình quân trên 22 tạ nhân/ha (gấp 3 lần năng suất bình quân thế giới) Mặc dù có năng suất cao nhất thế giới nhưng ngành cà phê Đăk Lăk ñang ñối ñầu với thách thức to lớn là sự mất cân bằng về nước tưới cho cây cà phê trong mùa khô Toàn tỉnh Đăk Lăk có 642 công trình tưới với công suất thiết kế 91.324 ha và thực tế tưới ñược 72.555 ha, trong ñó tưới cho cà phê 46.163 ha ñạt khoảng 25% diện tích cà phê và trên 75% diện tích còn lại phải sử dụng các nguồn nước khác Tiết kiệm nước tưới cho cây cà phê là mối quan tâm hàng ñầu trong chiến lược phát triển bền vững ngành cà phê Đăk Lăk
Do bị chi phối bởi vị trí ñịa lý và ảnh hưởng của gió mùa, khí hậu ở Đăk Lăk có mùa khô kéo dài từ tháng 11 ñến tháng 4 năm sau, lượng mưa trong thời kỳ này chiếm từ 12 - 16% tổng lượng mưa cả năm Cà phê là cây lâu năm nhưng có bộ rễ ăn tương ñối nông (trên 80% bộ rễ phân bố ở tấng ñất từ 0 - 30
Trang 6cm) và khả năng chịu hạn kém Vì vậy cây cà phê ở Đăk Lăk cần phải tưới bổ sung trong mùa khô Mùa khô kéo dài và rõ rệt, khi ñược tưới nước là ñiều kiện
lý tưởng ñể cây cà phê có thể hình thành năng suất cao do mùa khô có tác dụng thúc ñẩy quá trình phân hóa mầm hoa, là tiền ñề ñể có năng suất cao Tưới nước trở thành một biện pháp kỹ thuật có tính quyết ñịnh ñến năng suất cà phê ở khu vực này và nông dân có xu hướng sử dụng một lượng nước tưới cao, vượt quá mức yêu cầu của cây cà phê Trong sản xuất cà phê ở Đăk Lăk, các kỹ thuật tưới thường ñược sử dụng là kỹ thuật tưới phun mưa,
kỹ thuật tưới gốc Riêng kỹ thuật tưới nhỏ giọt ñược ñánh giá cao về khả năng tiết kiệm nước nhưng lại không phù hợp với yêu cầu trong giai ñoạn nở hoa nên ảnh hưởng ñến năng suất cà phê và cho ñến nay kỹ thuật này chưa ñược
sử dụng trong sản xuất cà phê ở Đăk Lăk
Trên cơ sở cải tiến và khắc phục những nhược ñiểm của các kỹ thuật tưới hiện nay Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước có nhiều ưu ñiểm là nước tưới ñược kiểm soát và phân phối trực tiếp ñến từng cây nên hầu như không có tổn thất và bảo ñảm chất lượng tưới cao, lượng nước tưới ñược ñiều chỉnh dễ dàng và bảo ñảm ñáp ứng yêu cầu nước ñể giúp cây cà phê nở hoa tập trung Ngoài ra, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước cho phép cung cấp chất dinh dưỡng ñến trực tiếp vào vùng hoạt ñộng của bộ rễ thông qua nước ñược dẫn trong hệ thống ñường ống lắp ñặt sẵn có tác dụng hạn chế tổn thất do bay hơi, rửa trôi, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, tiết kiệm chi phí ñầu vào trong sản xuất cà phê ở Đăk Lăk
Từ những lý do trên việc thực hiện ñề tài “Nghiên cứu kỹ thuật tưới
tiết kiệm nước và bón phân qua nước cho cây cà phê vối kinh doanh tại Đăk Lăk” là hết sức cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu của ñề tài
- Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu kỹ thuật tưới tiết kiệm nước kết hợp bón phân qua nước
Trang 7cho cây cà phê nhằm tiết kiệm nước tưới, giảm chi phí ñầu vào, hạn chế quá trình xói mòn, rửa trôi, cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trực tiếp vào vùng rễ và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón
- Mục tiêu cụ thể
Xác ñịnh một số thông số kỹ thuật làm cơ sở xây dựng chế ñộ tưới phù hợp cho cây cà phê ở Đăk Lăk nhằm tiết kiệm lượng nước tưới, lượng phân bón, nâng cao hiệu hiệu quả sử dụng phân bón và giảm công lao ñộng trong sản xuất cà phê
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
- Hiện nay tại Tây Nguyên chưa có công trình nghiên cứu tưới tiết kiệm nước và bón phân qua nước cho cây cà phê, do ñó ñề tài sẽ ñóng góp cơ sở lý luận cho việc tưới nước
- Áp dụng một kỹ thuật tiên tiến (tiết kiệm nước, bón phân qua nước) nhưng lại sử dụng công cụ và thiết bị do Việt Nam sản xuất, giá thành rẻ nên phù hợp với ñiều kiện kinh tế của nông dân và có thể áp dụng rộng rãi trong sản xuất cà phê ở Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng
4 Giới hạn của ñề tài
Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước là kỹ thuật tưới mới, ñược cải tiến trên cơ
sở của kỹ thuật tưới nhỏ giọt ñã ñược nghiên cứu và áp dụng thành công cho nhiều loại cây trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau
Trong khuôn khổ của ñề tài, chúng tôi thăm dò ảnh hưởng của lượng nước tưới và lượng phân bón bằng 70, 80% của sản sản xuất ñến tình hình ra hoa, ñậu quả và năng suất cà phê giai ñoạn kinh doanh
Vì lý do khách quan, trong vụ tưới năm 2010, các thí nghiệm tưới ñược
bố trí sau khi vườn cây ñã tưới 2 lần bằng kỹ thuật tưới gốc
Trang 8CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
1.1.1 Khí hậu
* Nhiệt ñộ Tỉnh Đăk Lăk có ñộ cao bình quân 400 m so với mặt nước biển với tổng nhiệt ñộ 8.000 - 8.5000C và nhiệt ñộ bình quân là 23,3 - 23,50C Tháng 12 và tháng 1 là các tháng có nhiệt ñộ thấp nhất trong năm (20 - 210C), các tháng 4 và
5 có nhiệt ñộ cao nhất (24 - 260C) Nhìn chung nhiệt ñộ trong năm nằm trong phạm vi nhiệt ñộ thích hợp cho cây cà phê vối từ 22 - 260C Biên ñộ giao ñộng nhiệt ngày và ñêm khá lớn, từ 10 - 150C vào các tháng mùa mưa và trên 150C vào các tháng mùa khô, ñây là yếu tố thuận lợi cho quá trình tích luỹ chất khô và các hương thơm cần thiết trong sản phẩm cà phê Các tháng 1 và 2 có nhiệt ñộ thấp là ñiều kiện quan trọng ñể thúc ñẩy quá trình phân hoá mầm hoa
Nhiệt ñộ ở Đăk Lăk chẳng những thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây cà phê vối mà còn thuận lợi cho việc hình thành sản phẩm có chất lượng cao
* Chế ñộ mưa Khí hậu nhiệt ñới gió mùa tạo nên 2 mùa tương phản nhau rõ rệt ñó là mùa mưa và mùa khô Mùa khô thường bắt ñầu vào tháng 11 và kéo dài ñến hết tháng 4 năm sau Gió mùa Đông Bắc ñổ bộ vào ñất liền khi gặp dãy Trường Sơn gây mưa ở các tỉnh ven biển miền Trung, sau ñó trở thành khô hanh ở Đăk Lăk tạo thành mùa khô với những ñặc trưng như ít mây, nhiều nắng, gió mạnh, bốc hơi nhiều và tình trạng khô hạn kéo dài Lượng mưa ở các tháng mùa khô chỉ chiếm từ 10 - 12% tổng lượng mưa của cả năm vì vậy mùa khô là một trở ngại trong sản xuất nông nghiệp, ñặc biệt là cây ngắn ngày
và một số cây lâu năm có bộ rễ ăn nông, ñòi hỏi phải tưới nước
Đối với cây cà phê thì thời gian khô hạn 4 - 5 tháng trong năm vừa là ñiều kiện hạn chế sinh trưởng, vừa là ñiều kiện thuận lợi ñể ñạt ñược năng
Trang 9suất cao nếu được tưới nước đầy đủ Khơ hạn sẽ tạo điều kiện để cây cà phê
ra hoa tập trung, tưới nước đầy đủ giúp cà phê đậu quả thuận lợi nhờ vậy đạt được năng suất cao
* Ẩm độ khơng khí Nhìn chung ẩm độ khơng khí vùng Đăk Lăk hồn tồn phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây cà phê vối Ẩm độ bình quân cả năm trên 82% và khơng cĩ tháng nào dưới 72% Các tháng mùa khơ ẩm độ tương đối thấp (72 - 80%) cĩ tác dụng thúc đẩy quá trình bốc thốt hơi nước và làm tăng thêm tính khốc liệt của mùa khơ nhưng trong điều kiện cĩ tưới thì đây lại là điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hố mầm hoa và thụ phấn của cây cà phê vối
* Giĩ Cây cà phê vối cĩ nguồn gốc nguyên thuỷ từ vùng rừng nhiệt đới nên thích hợp với mơi trường nĩng ẩm và im giĩ, yêu cầu giĩ nhẹ cĩ vận tốc dưới 2 m/s Vận tốc giĩ bình quân cả năm ở Đăk Lăk (khoảng 2,3 m/s) tương đối phù hợp với yêu cầu của cây Tuy nhiên, trong những tháng đầu mùa khơ thường cĩ giĩ mạnh với vận tốc trên 3 m/s, gây ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất của cà phê nếu khơng cĩ biện pháp trồng cây đai rừng, cây chắn giĩ
1.1.2 Đất đai Tính đến năm 2007 cĩ 180.000 ha cà phê được trồng trên đất đỏ bazan Đất bazan được coi là loại đất lý tưởng để trồng cà phê, với đặc tính vật lý thích hợp như cấu tượng đồn lạp bền vững, độ tơi xốp cao, thốt nước nhanh Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy cây cà phê trồng trên đất đỏ bazan khơng những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà cịn làm tăng thêm độ phì và bảo vệ được đất khơng xĩi mịn
Tĩm lại, điều kiện tự nhiên ở Đăk Lăk rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây cà phê ngoại trừ yếu tố hạn chế đĩ là mùa khơ kéo dài và trở ngại này cĩ thể khắc phục bằng biện pháp tưới nước bổ sung trong mùa khơ
Trang 101.2 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới và ở Việt Nam 1.2.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10 triệu ha và sản lượng hàng năm biến ñộng trên dưới 7 triệu tấn
Thị trường cà phê trên thế giới biến ñộng rất lớn về giá cả do ảnh hưởng bởi nguồn cung và tình trạng ñầu cơ Năm 1994 do những ñợt sương muối và sau ñó là hạn hán diễn ra ở Brazil ñã làm cho sản lượng cà phê của nước này giảm xuống gần 50% và khiến giá cà phê tăng vọt, giá cà phê xuất khẩu tại Việt Nam tăng từ 909 USD/tấn năm 1993 lên ñên 1.969 USD/tấn năm 1994 [12]
Sản lượng cà phê quốc tế không ngừng tăng lên từ mức 90 triệu bao trong năm 1980 lên 110 triệu bao vào cuối năm 1990 và những năm ñầu thế
kỷ Sản lượng cà phê gia tăng chủ yếu từ 2 khu vực sản xuất cà phê lớn của thế giới, ñó là châu Mỹ và châu Á Đặc biệt là trong những năm qua diện tích
và sản lượng cà phê của Brazin tăng mạnh
Tổng sản lượng cà phê của các nước sản xuất cà phê chủ yếu theo báo cáo ban ñầu của ICO ñã tăng từ 116,2 triệu bao năm 2007 lên 134,16 triệu bao năm 2008, tăng 15,44% Trong ñó sản lượng cà phê Arabica tăng từ 71,10 triệu bao năm 2007 lên 84,90 triệu bao năm 2008, tăng 19,08% Cà phê Robusta tăng từ 44,9 triệu bao năm 2007 lên 49,2 triệu bao năm 2008, tăng 9,66% Lượng cà phê tiêu thụ trên thế giới không ngừng tăng cao Lượng tiêu dùng qua các năm từ 2003 ñến năm 2007 từ 112,9 triệu bao lên 118,47;118,39;121,4 rồi 125,08 triệu bao Tỷ lệ tăng trưởng bình quân mỗi năm từ năm 2000 là trên 2,5% [12]
Theo thống kê của ICO trong những niên vụ gần ñây lượng cung cà phê
từ 3 nước sản xuất cà phê hàng ñầu thế giới là Brazin, Việt Nam và Colombia
ñã chiếm trên 60% tổng lượng cung cà phê trên thị trường quốc tế Vụ cà phê
2009/2010 tổng lượng xuất khẩu của Brazil là 39.470 ngàn bao, Indonesia
Trang 11lượng xuất khẩu tháng 3 năm 2010 giảm 35% so với mức 205.383 bao cùng
kỳ vụ trước, tháng 4 xuất khẩu ñạt 203.116 bao 60 kg, giảm 28% so với cùng
kỳ năm trước [5]
Bảng 1: Sản lượng cà phê arabica và robusta trên thế giới
Đơn vị: ngàn bao (60kg/bao)
Tổng sản lượng cà phê
ở một số nước chủ yếu 129.138 119.396 128.183 123.564 Trong ñó:
Cà phê arabica
- Khối lượng: 80.674 73.016 78.721 73.324
- %: 62,47 61,15 61,41 59,34
Cà phê robusta
- Khối lượng: 48.465 46.380 49.462 50.241
- %: 37,53 38,85 38,59 40,66
Nguồn: ICO
1.2.2 Tình hình sản xuất cà phê ở Việt Nam
Cây cà phê ñầu tiên ñược ñưa vào Việt Nam năm 1857 Người Pháp ñã mang cây cà phê Arabica từ ñảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau
ñó mở rộng sang các vùng khác Khi ñó, hầu hết cà phê ñược xuất khẩu sang
Pháp dưới thương hiệu "Arabica du Tonkin" [4]
Đầu thế kỷ 20, cây cà phê ñược trồng ở một số ñồn ñiền người Pháp tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha Năm 1930, Việt Nam có khoảng 7.000 ha cà phê Trong thời kỳ những năm 1960 - 1970, cây cà phê ñược phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (năm 1964 - 1966) ñã ñạt tới hơn 20.000 ha Sau khi ñất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích cà phê
Trang 12Việt Nam chỉ còn khoảng 19.000 ha [4]
Nhờ vốn từ các Hiệp ñịnh hợp tác liên Chính phủ với các nước Liên Xô (cũ), CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, cây cà phê bắt ñầu ñược chú trọng ñầu tư, ñặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên Năm 1980, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6000 tấn cà phê với diện tích khoảng 23 nghìn ha Bản kế hoạch ban ñầu ñược xây dựng năm 1980 ñặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn
Hiện nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê ñứng thứ hai thế giới Đặc biệt trong 15 năm qua (1995 - 2009), diện tích cà phê biến ñộng mạnh theo diễn biến của giá cà phê trên thị trường
Giai ñoạn 1995 - 1999 giá cà phê ở mức cao trên 1200 USD/tấn, ñặc biệt năm 2005 ñạt ñỉnh cao bình quân 2640 USD/tấn ñã kích thích người dân
mở rộng diện tích rất nhanh từ 186 ngàn ha năm 1995 lên gần 400 ngàn ha năm 1999 (tăng 2,1 lần) Riêng năm 1997 ñạt 24,1 tạ/ha, sản lượng bình quân ñạt 387 ngàn tấn/năm Sản lượng xuất khẩu bình quân ñạt 406 ngàn tấn và giá trị xuất khẩu ñạt bình quân là 432 triệu USD/năm
Giai ñoạn 2000 - 2005 giá cà phê giảm và ở mức thấp dưới 1000 USD/tấn, thậm chí các năm 2001, 2002 chỉ ñạt bình quân dưới 500 USD/tấn, diện tích cà phê giảm dần từ 562 ngàn ha năm 2000 xuống 488 ngàn ha năm
2006, giảm 73 ngàn ha, bình quân giảm 12 ngàn ha/năm Người sản xuất hạn chế ñầu tư thâm canh nên năng suất giảm mạnh bình quân chỉ ñạt 16,7 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha, sản lượng bình quân ñạt 784 ngàn tấn, tăng 400 ngàn tấn gấp 2 lần so bình quân giai ñoạn 1995 - 1999 Sản lượng xuất khẩu bình quân ñạt
814 ngàn tấn, giá trị xuất khẩu ñạt bình quân 485 triệu USD/năm tăng 12% so với giai ñoạn trước
Giai ñoạn 2006 - 2009, mặc dù Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo giữ ổn ñịnh diện tích nhưng do giá cà phê tăng trở lại và ñạt mức trên 2000 USD/tấn vào năm 2008 người dân vẫn tiếp tục mở