Bởi vì các em thường không nắm được cốt truyện, chủ đề tư tưởng nghệthuật, tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật, lời văn nghệ thuật… của cácvăn bản tự sự học trong chương trình.. Nhậ
Trang 1LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG VỢ NHẶT - KIM LÂN VÀ VỢ
CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đọc – Hiểu văn bản văn học là khâu rất quan trọng trong quá trình Dạy Học Văn ở trường Trung học phổ thông Đặc biệt, về phía giáo viên Ngữ văntôi luôn trăn trở làm sao giúp học sinh của mình tiếp cận văn bản một cách hiệuquả nhất Qua thực tế chấm bài kiểm tra, bài thi môn của học sinh, tôi nhậnthấy: bài làm của các em về văn bản tự sự (trong phần nghị luận văn học)thường chỉ kể lan man, dài dòng, không đi vào trọng tâm nên không đạt điểmcao Bởi vì các em thường không nắm được cốt truyện, chủ đề tư tưởng nghệthuật, tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật, lời văn nghệ thuật… của cácvăn bản tự sự học trong chương trình Vì thế tôi chọn đề tài :
-“LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG VỢ NHẶT - KIM LÂN VÀ VỢ
CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI”.
Khi thực hiện đề tài này, tôi hiểu đã có bao công trình nghiên cứu, bao bài
viết hay về văn bản tự sự Do đó thật khó để cá nhân tôi có thể tìm được những
ý tưởng sâu sắc, độc đáo Nhận thức rõ thực tế đó nên trong phạm vi đề tài, tôichỉ đi sâu tìm hiểu các văn bản tự sự với mục đích:
- Đánh giá sự đóng góp riêng về lời văn nghệ thuật của nhà văn Kim Lân và
Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại
- Dấu ấn phong cách riêng của nhà văn Kim Lân và Tô Hoài
1 THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.
Trang 2- Gợi ý hướng dẫn giảng dạy của từng bài trong sách giáo viên.
- Kinh nghiệm giảng dạy của bản thân giáo viên
- Học sinh phát huy được tính chủ động và sáng tạo trong việc tìm hiểu,khám phá tác phẩm văn học
- Đọc – hiểu văn bản tự sự đòi hỏi học sinh phải trải qua nhiều công đoạn :tóm tắt cốt truyện, cảm nhận cái hay, độc đáo của nhan đề tác phẩm, tình huốngtruyện, lời văn nghệ thuật, phân tích nhân vật, giá trị nội dung, giá trị nghệthuật….cần thái độ chăm chỉ, chịu khó, tốn nhiều thời gian …
2 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Chương trình Ngữ văn 12 cơ bản, học kì 2, phần văn bản tự sự (kể cả đọc thêm)chiếm 15 tiết, 7 tuần Chính vì thế trong đề tài này, tôi chỉ đề cập đến nội dung
các văn bản tự sự : Vợ nhặt - Kim Lân; Vợ chồng A phủ - Tô Hoài.
Việc Đọc – Hiểu văn bản tự sự là một khâu quan trọng trong giờ học Ngữvăn Chính vì thế người giáo viên dạy Văn luôn tìm cách giúp học sinh củamình tiếp cận văn bản tự sự sao cho hiệu quả nhất Giáo viên phải hướng dẫnhọc sinh: định hướng giọng đọc, tóm tắt văn bản, nhan đề tác phẩm, tình huốngtruyện, hình tượng nghệ thuật, lời văn nghệ thuật … Tuy nhiên, việc tìm hiểulời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi tự sự ở trường THPT còn sơ lược
Vì vậy, tôi chọn đề tài này với mong muốn có thể vận dụng vào công việc giảngdạy, nâng cao chất lượng học tập, kết quả kiểm tra, bài thi ở học sinh
II.TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận:
Trang 3Để học sinh hiểu sâu, có cơ sở lí luận chặt chẽ và vận dụng được vào bài kiểmtra, bài thi, khi dạy văn bản tự sự, người giáo viên phải:
- Giúp học sinh nắm các khái niệm thể loại:
Truyện ngắn: là thể loại tự sự mang những đặc điểm như truyện nhưng có quy
mô nhỏ Truyện ngắn được xem như một “lát cắt”, một “mảnh nhỏ” của cuộcsống, cuộc đời nhân vật
Thể loại truyện ngắn hiện đại là kiểu tư duy nghệ thuật mới, một cách nhìncuộc đời, cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại với đặc điểmloại hình riêng biệt Truyện ngắn hiện đại phát triển theo nhiều hướng khácnhau, tùy cách sử dụng các yếu tố cốt truyện, nhân vật, trần thuật và kết cấu
truyện của nhà văn… Tác giả Phùng Hoài Ngọc với bài giảng đại cương “Thi pháp học hiện đại” (Trường Đại Học An Giang, 2006) có đề cập vấn đề thi
pháp hiện đại chung chung, chưa xem xét đến các truyện ngắn trong chương
trình 12 THPT Thái Phan Vàng Anh với bài viết “Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại” đăng trên Tạp chí Sông Hương số 237, 11-
2008 chỉ bàn đến các vấn đề có tầm khái quát, nhưng chưa chỉ ra một hướngtiếp cận cụ thể nào trước một văn bản tự sự được học trong chương trình phổthông
Mặt khác, truyện ngắn lấy phương thức trần thuật (là một phương diện cơ bảncủa nghệ thuật tự sự - một phương thức biểu đạt thông dụng mà văn học lựachọn) để hiểu biết và phản ánh đời sống Nghệ thuật trần thuật giúp cho ngườinghiên cứu đi sâu khám phá những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của mỗinhà văn, trên cơ sở đó, người đọc tiếp nhận và giải mã cấu trúc bên trong tácphẩm, đồng thời có thể đánh giá những sáng tạo, những đóng góp của nhà vănđối với sự phát triển truyện ngắn nói riêng và quá trình hiện đại hoá văn xuôiViệt Nam nói chung
Với văn học hiện đại, khi ý thức tạo dựng nhiều góc nhìn thì điểm nhìn trầnthuật thực sự trở thành một phạm trù quan trọng của thi pháp học hiện đại Tìmhiểu điểm nhìn là tìm hiểu một kiểu quan hệ, một phương thức tiếp cận của nhàvăn với hiện thực…
Trang 42 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Người giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được một số vấn đề liên quan đếnlời văn nghệ thuật trong các văn bản tự sự cụ thể:
Lời văn trong tác phẩm văn học nghệ thuật là một hiện tượng nghệ thuật.Văn học, một loại hình độc lập, phát triển song song với các loại hình nghệthuật khác nhưng lấy ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt Ngôn ngữ là yếu tố đầutiên của văn học Và ngôn ngữ văn học lại có những đặc trưng riêng: tính chínhxác, trong sáng; tính hàm xúc; tính mơ hồ, đa nghĩa; tính tạo hình, biểu cảm.Lời văn nghệ thuật của tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có chức năng xâydựng hình tượng nên luôn luôn mang tính thẩm mĩ cao Lời văn nghệ thuậtđược xây dựng từ tất cả những khả năng và phương diện ngôn ngữ toàn dântrên mọi bình diện từ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các phương thức tu từ … đếncác hình thức ngôn từ vốn có trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc: từ cổ, từ địaphương, tiếng lóng và các vốn từ đã trở thành di sản nghệ thuật dân tộc
Truyện ngắn, một thể loại tự sự trong văn học bao giờ cũng phản ánh cuộcsống qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào
đó, qua đó ta hiểu được sự nhận thức đánh giá của nhà văn đối với cuộc sống
Do đó tác phẩm bao giờ cũng có hình tượng người trần thuật với vai trò kể lại,
tả lại những diễn biến, sự việc và khắc hoạ nhân vật trong câu chuyện Lời kểluôn xuất phát từ những điểm nhìn nhất định, gắn với vấn đề vai kể, giọng kể…Trong văn xuôi tự sự điểm nhìn có khi được di chuyển, vai kể, giọng kể cũngkhông thuần nhất Xét về chức năng xây dựng hình tượng, có thể phân loại lờingười kể thành lời kể/ lời trần thuật, lời miêu tả, lời trữ tình( lời bình luận trựctiếp)
Mỗi văn bản tự sự ( Vợ nhặt – Kim Lân; Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) sẽ đượcxem xét, phân tích lời văn nghệ thuật, cụ thể là ở các mặt sau:
- Kết cấu văn bản
- Nghệ thuật trần thuật
- Điểm nhìn nghệ thuật
- Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 52.1 Lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Vợ nhặt – Kim Lân:
2.1.1 Kết cấu văn bản:
*Trong văn học, khái niệm kết cấu bao hàm không chỉ sự liên kết bênngoài (mối liên hệ kết nối giữa các phần, các chương đoạn) mà cả sự liênkết bên trong (cấu trúc nội dung cụ thể) của tác phẩm Đó là "phương tiện
cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật", có "chức năng đa dạng bộc lộ tốt chủ đề tư tưởng của tác phẩm; triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện,
tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả tạo nên tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mĩ" (Từ điển thuật Ngữ văn học, nhà
xuất bản Giáo dục, 1992) Như vậy, kết cấu là một yếu tố của hình thứctham gia thể hiện chủ đề nội dung và tư tưởng tác phẩm, đóng vai trò quantrọng trong việc biến tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật
Nhữ Bá Sĩ rất quan tâm tới kết cấu ngay từ những năm cuối thế kỉ XVIII đầu
thế kỉ XIX Ông từng nhận xét: “Loại văn chương tột bậc của thiên hạ đúng là không ở trong cái giới hạn đóng, mở, kết cấu, nhưng mà không đóng, mở, kết cấu thì cũng không thành văn chương” Sách Lí luận văn học (tập 2 : Tác phẩm
và thể loại văn học) cho rằng : “Kết cấu, cấu trúc vô luận là tổ chức vật thể, quan hệ hay quy tắc, phương pháp, mô hình đều là yếu tố tạo thành văn bản, là thực tế không thể bỏ qua trong quá trình sáng tác và đọc hiểu văn bản.”
Truyện Vợ nhặt – Kim Lân cũng có một kết cấu rất riêng.
Truyện Vợ nhặt diễn ra trong không gian nghệ thuật nhỏ bé là ngôi chợ, xóm
nhỏ ngụ cư và căn nhà của gia đình Tràng Đây là không gian một làng quênhưng không có ruộng đồng cò bay thẳng cánh mà chỉ là xóm ngự cư trongnhững ngày cận kề bên cái đói, cái chết Sự chết chóc hiện lên với con đườngkhẳng khiu cùng những bóng người dật dờ đi lại, kèm theo âm thanh của tiếngquạ kêu từng đàn thê thiết Nhưng không gian ấy phát triển ấm áp dần theo tâm
lí nhân vật với ý nghĩa biểu tượng.Và truyện dẫn đến không gian ngôi nhà, tổ
ấm Căn nhà lúc đầu được miêu tả rúm ró, lổn nhổn cỏ dại nhưng đến sáng hôm
sau quang quẻ hơn, tạo thành bước ngoặt tâm lí ở Tràng: “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng” Ngoài ra, không gian bối
Trang 6cảnh xã hội trong truyện là xã hội nghèo đói, loạn lạc Việt Nam những nămtrước Cách mạng tháng Tám, cụ thể là năm 1945.
Thời gian nghệ thuật cũng ngắn ngủi Chỉ là buổi chiều Tràng đưa người vợ
về, buổi tối trong căn nhà và buổi sáng hôm sau Ở đây, Kim Lân đã sử dụng
yếu tố hồi tưởng: nhân vật nhớ lại đã “nhặt vợ” như thế nào Đó là thời gian quá
khứ gần, vừa mới xảy ra, cách thời gian hiện tại trong gang tấc nên sự việc vẫncòn mới nguyên Mạch truyện cũng dẫn đến tương lai được mở ra với câu nói
của bà cụ Tứ: “ Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem”.
Trên trục không gian và thời gian ấy, truyện Vợ nhặt có kết cấu bốn phần:
Phần 1: Tràng xuất hiện trong bóng chiều, đi làm về qua xóm nhỏ Khi cái đóichưa tràn về, Tràng thường được bọn trẻ đón mừng, nhưng dạo này chúng ngồi
ủ rủ còn Tràng thì mệt mỏi lê bước Nhưng một buổi chiều Tràng về với mộtngười đàn bà nữa Xóm ngụ cư bỗng xôn xao, người ta bàn tán, người đàn bàngượng nghịu còn Tràng thì không giấu niềm vui, niềm sung sướng
Phần 2: Tràng nhớ lại hai lần gặp gỡ, vài câu bông đùa, bốn bát bánh đúc màmình có vợ
Phần 3: Bà cụ Tứ xuất hiện Tâm trạng và tình thương của bà đối với vợchồng mới
Phần 4: Sáng hôm sau, bữa cơm ngày đói trong tiếng trống thúc thuế VợTràng nói đến đòan người đi cướp kho thóc của Nhật và Tràng nghĩ về chuyệnđó
Đầu truyện là ánh sáng lúc chạng vạng mặt người Tràng một mình đi về.Cuối truyện là ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xói vào hai con mắt Tràng,lửng lơ như từ giấc mơ đi ra, chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân, lònglâng lâng nghĩ về hạnh phúc gia đình
Đầu truyện là nạn đói, kết thúc truyện là đoàn người đi cướp kho thóc củaNhật, phía trước có lá cờ đỏ bay phấp phới Truyện có một kết cấu chặt chẽ,phù hợp với qui luật phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam lúc bấy giờ
2.1.2 Nghệ thuật trần thuật:
Trang 7Ngòi bút kể chuyện của Kim Lân đã dựng lại được không khí bao trùm bởicái đói, cái chết năm Ất Dậu qua khung cảnh xóm ngụ cư đầy tử khí Và khôngkhí truyện lại sáng lên một buổi chiều Tràng về với một người đàn bà Đây là
sự sáng tạo trong bút pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của Kim Lân Nhưngthành công ở truyện là nghệ thuật dẫn truyện: khéo léo, linh họat Truyện đượcdẫn dắt theo bước chân của Tràng và người đàn bà về đến nhà
Không khí truyện tươi sáng qua đoạn kể cuộc đối thọai giữa đôi vợ chồng mới
bỗng chùng xuống với khuôn mặt “bần thần” của người vợ và nỗi lo sợ vu vơ
của Tràng khi về đến nhà Và nỗi lo sợ ấy dồn vào câu nghĩ: “Sao hôm nay bàlão về muộn thế không biết!” Sự xuất hiện của bà cụ Tứ trong truyện thật tựnhiên và hợp lí
Nhà văn Kim Lân lại quay về hồi tưởng để thuật lại hai lần gặp gỡ của Tràng
với người “vợ nhặt” Cách kể đó góp phần tăng sự hấp dẫn, thuyết phục đến
người đọc
Bà cụ Tứ chỉ xuất hiện gần cuối truyện Việc đặt nhân vật vào đúng lúc này có
ý nghĩa trong kết cấu câu chuyện và tăng giá trị cho tác phẩm Tác giả đã thuậtmột cách đằm thắm tâm trạng của người mẹ nghèo khổ nhưng rất mực thươngcon, thương dâu Tâm trạng bà cụ Tứ được diễn tả từ ngạc nhiên, buồn vui lẫnlộn, xen lẫn lo lắng, đến xót thương Nếu giọng văn nhanh, gấp rút theo bướcchân sầm sập của cô gái, cái liều lĩnh của Tràng ở đoạn đầu thì ở đoạn này thậtchậm rãi, kéo dài theo tâm trạng của bà cụ Tứ Ngôi nhà của gia đình Tràng giờ
đã có ánh sáng của đèn dầu do bàn tay anh tự thắp
Những dòng văn tả cảnh sân vườn sáng hôm sau, với giọng điệu chân thành,giản dị ấm áp vô cùng Tác giả cho Tràng thức dậy muộn trong trạng thái bồngbềnh giữa thực và mơ Đôi mắt Tràng đã nhận ra sự thay đổi khác thường trênsân vườn Với những chi tiết thực, sống động, Kim Lân đã miêu tả: áo quầnrách được phơi hong, ang khô cong đã đầy nước, đống rác đã hốt sạch và haingười đàn bà đang giẫy cỏ, quét sân Ánh nắng sớm mùa hè, khiến Tràng nheomắt nhưng lại giúp Tràng nhận rõ hơn không gian hạnh phúc của mình Câuchuyện dừng lại trong sự suy tư của Tràng với những lời độc thoại nội tâm của
Trang 8nhân vật đã giúp nhà văn bộc lộ chiều sâu quan niệm của Kim Lân về hạnhphúc của những người lao động nghèo.
2.1.3 Điểm nhìn nghệ thuật:
Trong tác phẩm văn xuôi tự sự, nội dung trần thuật phải được thể hiện từ điểmnhìn, bằng quan điểm trần thuật nào đó Vì vậy khi dạy Đọc – Hiểu văn bản tự
sự người giáo viên phải giúp học sinh xác định điểm nhìn trần thuật nghĩa là chỉ
rõ vị trí người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật, tường thuật câu chuyện trongtác phẩm
Truyện Vợ nhặt được khơi gợi từ nạn đói năm 1945 và chủ yếu là từ những con người trong nạn đói Kim Lân từng nói :“Nội dung truyện dài này (truyện Xóm ngụ cư – tiền thân truyện vợ nhặt) nói về thân phận của những con người
bị khinh rẻ, với cuộc sống nghèo đói, bệnh tật kéo dài cho đến ngày khởi nghĩa.
Ý nghĩa truyện: trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, mà hi vọng Có những người sắp chết đói, vẫn cứ kể chuyện về làng mình, về đất đai, bản quản của mình Thân xác họ đã lả đi, mà vẫn cứ lởn vởn, cứ đau đáu nghĩ tới ngày trở về làng…”
Từ cảm hứng ấy và tấm lòng nhân hậu sâu sắc Kim Lân đã tái hiện được cốttruyện, xây dựng được các nhân vật điển hình với những tâm trạng phong phú,phức tạp Đọc truyện của ông ta nhận thấy dường như không có sự cách biệtgiữa Kim Lân và người nông dân, nên ông mới có thể miêu tả người nông dântrong những năm nghèo đói mới chân thật đến như vậy Ngay cả khi xây dựngnhững tình tiết có vẻ buồn cười thì bên trong đó lại là những nỗi buồn và niềmthương cảm sâu sắc Những trang viết về những con người “dưới đáy” ấy đãkhiến ta xót thương và buồn cho họ vì họ không thể sống trong điều kiện tốthơn trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ Ở đây, tác giả không
hề muốn nhấn mạnh những nét thấp kém của con người bộc lộ qua nhân hình vànhân cách Ngược lại, nhà văn đã đặt các nhân vật vào một khoảng sống mờ tối,lay lắt của cái đói, cái chết để tìm ra một cơ hội để biểu hiện niềm khao khátđược sống, được thương yêu và hy vọng mãnh liệt của họ Kết thúc truyện có
Trang 9câu chuyện về phá kho thóc Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ phấp phới trong ócTràng đã mang lại niềm tin, niềm hi vọng cho người đọc Nhà văn muốn thôngqua nhận thức của nhân vật Tràng để chỉ rõ : con đường duy nhất thoát nghèođói là đấu tranh cách mạng Qua truyện, Kim Lân đã gửi gắm tiếng nói chung
của những người nông dân “rũ bùn đứng dậy sáng loà”, chiến đấu vì đất nước,
để thoát khỏi số phận tối tăm trước mắt Hình dáng người nông dân nổi bậttrước lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ lý tưởng cách mạng, lá cờ của niềm tin chiếnthắng Đây chính là quan điểm tiến bộ của nhà văn Kim Lân giác ngộ, đi theo
cách mạng Kết thúc truyện “Vợ nhặt”cũng là nét chung chứng minh đặc điểm
thi pháp văn học cách mạng
2.1.4 Ngôn ngữ nghệ thuật:
M Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ yếu tố thứ nhất của văn học” Ngôn
ngữ của nhân vật văn học thành công thường được cá thể hóa cao độ, nghĩa làmang đậm dấu ấn của một cá nhân Nhà văn có tài là người biết sống với nhiều
nhân vật, nắm bắt được nhiều kiểu ngôn ngữ Trong bài viết “Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc của truyện Kim Lân” tác giả Bảo Nguyên đã cho
rằng “Kim Lân lựa chọn những từ ngữ còn mang hơi thở của cuộc sống hằng ngày, để diễn đạt chúng với cuộc sống miền quê với những con người giản dị
mà đáng yêu”.
Trong truyện Vợ nhặt, Kim Lân đã sử dụng ngôn ngữ nông thôn mộc cách tự
nhiên Trong nghệ thuật tả cảnh, tả người, miêu tả tâm lí nhân vật hay xây dựngđối thọai, nhà văn tỏ ra có vốn từ ngữ dân quê Con đường qua xóm chợ được
tác giả miêu tả với hai từ “khẳng khiu”, hết sức tượng hình, và sự tối tăm, của xóm chợ được miêu tả “Hai bên dãy phố, úp súp tối om”, thật độc đáo, rất đắt.
Khi miêu tả nơi ở nghèo khó, tạm bợ của mẹ con Tràng, Kim Lân chỉ cần miêu
tả “cái nhà vắng teo”, “đứng rúm ró” trên vườn cỏ “lổn nhổn” Còn miêu tả
về ngọai hình khác thường của Tràng, tác giả lại dùng : “gà gà”, “nhấp nhỉnh”, Hoặc trong truyện tác giả còn dùng “dật dờ đi lại”, “gào lên từng hồi thê thiết”, “khoặm mặt lại”, “tầm phơ tầm phào”, “ngồi vêu ra ở đấy”, “con mắt trũng hoáy” tất cả được sử dụng rất chính xác.
Trang 10Ngoài ra, những tâm trạng kín đáo nhất cũng phải hiện lên qua những cử chỉhành động một cách tinh tế: tiếng gắt vô duyên vô cớ, một tiếng khẽ ho bìnhthường, những bước chân bước vội ra sân, thái độ điềm nhiên và miếng cámvào trong miệng… Với vốn liếng ngôn ngữ giàu có và đặc sắc, mang đậm tínhchất nông thôn, cái lối viết văn tưởng như dễ dàng mà không thể phỏng theo,giản dị mà hào hoa.
Truyện Vợ nhặt càng đặc sắc hơn là ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật.
Chúng ta đọc đoạn văn sau:
Một lần hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu chơi cho đỡ nhọc Hắn hò rằng:
Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!
Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:
- Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắngmấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy! Thị cong cớn:
- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy? Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười:
- Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!
Thị vùng đứng dậy, lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng.
- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ – Thị liếc mắt cười tít.
Qua đoạn văn trên, nhà văn Kim Lân giúp ta hiểu sự gần gũi, mộc mạc, sự chântình, dí dỏm của những người lao động nghèo, trẻ trung Cuộc đối thoại diễn ra
tự nhiên, thoải mái : nhiều câu nói trống không( không có chủ ngữ, không có từ
xưng hô) hoặc dùng từ xưng hô kiểu thân mật của khẩu ngữ( đằng ấy, nhà tôi),
nhiều câu đùa nghịch thân mật, dùng cả hình thức hò trong dân gian Lúc đầuquan hệ giữa họ là xa lạ, không quen biết, nhưng sau đó thân mật hơn và cóphần suồng sã Họ cười đùa, nói chuyện làm ăn, về công việc và miếng cơmmanh áo Nhân vật Tràng được tác giả giới thiệu là một chàng trai hiền lành,
chân chất; thị và các bạn gái thì lanh lợi, vui vẻ Riêng thị thì tốt bụng, rất bạo
Trang 11dạn Như vậy, qua ngôn ngữ đối thoại, tác giả đã làm nổi bật tính cách, giọngđiệu riêng của từng người Nhấn mạnh sự quê mùa, cục mịch, thô kệch của
Tràng; sự chao chát, chỏng lỏn của người “vợ nhặt” - kẻ đang gặp cảnh đói
kém, lang thang, Kim Lân đã cho họ gặp gỡ và về cùng một nhà với những câu
như: “ Chả hôm ấy thì hôm nay vậy Này hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã”,
“Có ăn thì ăn thật, chả ăn giầu”,“Rích bố cu, hở”, “Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”, “Làm đếch gì có vợ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” Đó là ngôn ngữ giao tiếp đời thường, của tình
duyên của những người lao động nghèo trong xã hội cũ
Khi Tràng đưa người phụ nữ về nhà, tác giả cho hai nhân vật nói những câu
cộc lốc, những câu tỉnh lược, những câu đặc biệt như: “Gì hả”, “Không”, Còn chán”, “Khiếp”, “Nhà có ai không?”, “ Có một mình tôi mấy u”, “Đằng này à”, “Ừ”, “Sắp đến chưa?”, “Sắp” Những lời nói đó đã bộc lộ sự mới mẻ, sự
xa lạ, sự ngượng ngùng của đôi vợ chồng mới Thậm chí, nhà văn còn lột tả sự
thiếu hụt lời ăn tiếng nói ở anh chàng Tràng: “Hắn định nói với thị vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào Hắn cứ lúng ta lúng túng ” hay cách trả lời lúng túng, không rõ nghĩa của Tràng “Có một mình tôi mấy u” Khi đọc truyện
Vợ nhặt, người đọc không thể quên những đoạn đối thọai đặc sắc:
“ Câu chuyện xem chừng đã thân thân Hắn đi sát gần bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay khoe:
- Dầu tối thắp đây này.
- Sang nhỉ.
- Khá thôi Hai hào đấy, đắt quá, có mà thôi chả cần.
- Hoang nó vừa vừa chứ.
Trang 12Truyện Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn trong tập truyện Tây Bắc Truyện có
hai phần, viết về hai giai đoạn của cuộc đời Mị và A Phủ: Giai đoạn ở HồngNgài, trong nhà thống lí Pa Tra; Giai đoạn ở Phiềng Sa, hai vợ chồng gặp gỡcách mạng rồi trở thành du kích
Đoạn trích trong sách giáo khoa Vợ chồng A Phủ thuộc giai đoạn đầu: ở
Hồng Ngài Truyện kể không theo trật tự thời gian Mở đầu là hình ảnh “Ai ở
xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Lúc nào, cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi…Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pa Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra” Nhà văn đã có
cách giới thiệu nhân vật Mị đặc sắc, đầy ấn tượng, gợi ra số phận đau khổ éo lecủa Mị Từ đó, mạch truyện đưa chúng ta quay về quá khứ, về kỉ niệm gia đình,tình yêu êm đềm của Mị; rồi tác giả kể đến chuỗi ngày sống cảnh ngục tù vàtâm trạng vô cảm của Mị khi bị bắt làm dâu gạt nợ ở nhà thống lí Pa Tra Kếtiếp là sức sống của Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông trên núi cao Kết
thúc truyện là Mị “người đàn bà chê chồng” này đã chạy theo A Phủ.
Không gian nghệ thuật trong truyện là không gian thiên nhiên rộng lớn củavùng đất Tây Bắc đẹp và nên thơ Và không gian ấy cũng chứa đựng tâm trạngcủa nhân vật Mị Bên cạnh đó còn có không gian hẹp là nhà thống lí Pá Tra,cùng gian buồng của Mị Ngôi nhà ấy đã hủy hoại biết bao đời con người laođộng lương thiện, dập tắt bao sự sống, khát vọng tự do, tình yêu, tuổi trẻ Cănbuồng Mị ở, thực chất là một địa ngục giam hãm tuổi xuân, sức sống, tình yêu,
hạnh phúc của người con gái tài hoa, xinh đẹp và nết na vùng cao ấy “Ở buồng
Mị nằm kín mít, có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông
ta cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay lá nắng”.
Thời gian nghệ thuật trong truyện rất đa dạng: có thời gian hiện tại, quá khứ,tương lai Thời gian quá khứ được gợi chủ yếu qua hồi ức của Mị Đó là khi Mị
ở nhà với bố, được sống tự do bên cạnh những người yêu thương nên đượcmiêu tả đều đều, chậm rãi Thời gian hiện tại là thời gian Mị bị giam hãm của