Đối với người giáo viên phải vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy và học như thế nào để học sinh tiếp thu tri thức đó là một vấn đề đòi hỏi tính năng động và sáng tạo của người giáo viê
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị : Trường THCS & THPT BÀU HÀM
Mã số :………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC TÍCH CỰC
TRONG MÔN VẬT LÍ 7
MAI THỊ KIM CHI
Lĩnh vực nghiên cứu : Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn : Lí Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác : ……….
Có đính kèm :
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học :2009-2010
Trang 2VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC TÍCH CỰC
TRONG MÔN VẬT LÝ 7
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phát huy tính tích cực của học sinh đã là một trong các phương hướng cải cách của ngành giáo dục nhằm đào tạo những con người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Việc đổi mới phương pháp dạy và đã đi đúng hướng với sự phát triển của xã hội Cho đến nay, phương pháp dạy và học tích cực đã được áp dụng ở các trường học Tuy nhiên, để vận dụng phương pháp dạy và học này đạt hiệu quả tối ưu thì vẫn còn nhiều khó khăn như: điều kiện cơ sở vật chất, khả năng nhận thức của học sinh và sự chuẩn bị của giáo viên
Môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, nó có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường THCS Nó có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ qua lại với các môn học khác Người giáo viên phải là người tổ chức ra những tình huống học tập có tác dụng kích thích óc tò mò và tư duy của học sinh Hình thành và phát triển
ở các em những kỹ năng giải quyết vấn đề, xúc tiến tự học để lĩnh hội tri thức thông qua thí nghiệm và tư duy
Đối với người giáo viên phải vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy và học như thế nào để học sinh tiếp thu tri thức đó là một vấn đề đòi hỏi tính năng động và sáng tạo của người giáo viên trong khâu chuẩn bị và tổ chức lớp , đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng thực hành và tư duy nhiều hơn nữa để có thể tiếp thu được tri thức mới
II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
1 Thuận lợi:
Trong quá trình thực hiện tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
+ Nhà trường tạo điều kiện tham dự các lớp thay sách, các chuyên đề của trường
và ngành tổ chức
+ Bản thân đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc dạy học
+ Đồ dùng dạy học cấp về tương đối đầy đủ
+ Được sự hổ trợ của các đồng nghiệp, và đa số học sinh yêu thích môn học
2 Khó khăn:
+ Nhà trường chưa có phòng bộ môn nên việc dạy học còn gặp nhiều khó khăn + Đa số là học sinh dân tộc nên vốn tiếng Việt còn hạn chế
+ Một số đồ dùng dạy học chất lượng chưa cao
3 Số liệu thống kê:
Trước khi áp dụng phương pháp này, số liệu học sinh như sau:
Tổng số học sinh của khối 7 : 390 hs, trong đó trên trung bình là: 240 hs đạt 62% ; dưới trung bình là 150 hs đạt 38 %
III NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lí luận:
Trong luật giáo dục đã ghi rõ phương pháp giáo dục phổ thông là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú trong khi học môn Vật Lí.Vậy thế nào là tích cực? Tích cực trong học tập là gì? Thế nào là phương pháp tích cực?
Trang 3Tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cấn thiết cho sự phát triển tồn tại của xã hội, sáng tạo
ra nền văn hoá ở mỗi thời đại
Phương pháp tích cực là phương pháp giáo dục – dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
a Nội dung:
“Vận dụng phương pháp dạy và học tích cực trong môn vật lí 7” nhằm giúp cho giáo viên dạy Vật lí lớp 7 nói riêng và giáo viên dạy môn Vật lí THCS nói chung có sự đầu tư tốt hơn cho vai trò chủ đạo của mình trong quá trình dẫn dắt học sinh chủ động, độc lập, sáng tạo, tích cực lĩnh hội tri thức thông qua thực hành thí nghiệm theo hướng nâng cao tính tích cực của học sinh trong việc nhận thức hiện thực xung quanh
Môn Vật Lí chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống các môn học, nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh, tạo cho các em sự tìm tòi, say mê học tập, lao động
Để giúp học sinh học tốt, người giáo viên phải đóng vai trò chủ đạo, phải lập ra những kế hoạch, những biện pháp lâu dài, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, gây hứng thú cho các em khi học tập
Tuy nhiên để dạy môn học này đạt hiệu quả cao đòi hỏi người giáo viên phải lập sẵn kế hoạch cho bài dạy, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ dạy học trong từng tiết học, hệ thống câu hỏi, những kiến thức có liên quan đến bài học…
b Biện pháp thực hiện
1/ Hướng thực hiện dạy và học tích cực :
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống mà giáo viên tìm cách phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, làm cho học sinh suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn
Về mặt hoạt động nhận thức thì các phương pháp thực hành là “tích cực “ hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “ tích cực “ hơn các phương pháp dùng lời Người giáo viên trước hết phải xác định mục tiêu là học, hướng dẫn các hoạt động của học sinh, huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm sống của học sinh để xây dựng bài Đối với học sinh thì phải tự hoạt động nghiên cứu vấn đề rồi tự đưa ra kết luận
2/ Những phương pháp và biện pháp tích cực cần thực hiện
a/ Vấn đáp xây dựng kiến thức :
Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội đựơc nội dung bài học Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp và giữa trò với trò Giáo viên là người tổ chức sự tìm tòi của học sinh còn học sinh là người tự phát hiện kiến thức mới, như vậy học sinh mới có được niềm vui của sự khám phá
Trang 4Không phải nội dung nào giáo viên cũng sử dụng phương pháp vấn đáp tìm tòi
mà căn cứ vào hoạt động nhận thức để sử dụng phương pháp vấn đáp cho phù hợp Ví
dụ khi cần đặt mối liên hệ với kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc củng cố kiến thức vừa học, giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Có những đề tài nào đó muốn làm sáng tỏ, giáo viên nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để cho học sinh
dễ hiểu, dễ nhớ
Phương pháp này không thể thiếu đối với tất cả các bài học
Ví dụ 1 : Bài 3 : Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng
Sau khi h c sinh ti n hành thí nghi m 1 và thí nghi m 2 đ gi i thích các hi n t ng Nh t ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ể giải thích các hiện tượng Nhật ải thích các hiện tượng Nhật ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ượng Nhật ật
th c, Nguy t th c, giáo viên đ t ra h th ng câu h i: ực, Nguyệt thực, giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi: ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ực, Nguyệt thực, giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi: ặt ra hệ thống câu hỏi: ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ống câu hỏi: ỏi:
? Hãy trình bày sự chuyển động của
Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất?
GV thông báo: Khi Mặt Trời, Mặt
Trăng, Trái Đất nằm trên một đường
thẳng
? Hãy vẽ tia sáng để nhận thấy hiện
tượng Nhật thực?
? Hãy tìm vị trí để Mặt Trăng trở
thành màn chắn?
? Hiện tượng Nhật thực hoặc Nguyệt
thực có thể xảy ra trong thời gian
dài không? Vì sao?
Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời
Không Vì Trái Đất và Mặt Trăng luôn chuyển động
Ví dụ 2 : Bài 14: Phản xạ âm – Tiếng vang
Sau khi giáo viên h ng d n h c sinh hi u đ c th nào là âm ph n x và ti ng vang, giáo viên có ư ể giải thích các hiện tượng Nhật ượng Nhật ải thích các hiện tượng Nhật ạ và tiếng vang, giáo viên có
th đ t thêm h th ng câu h i nh m kh c sâu và m r ng ki n th c cho h c sinh: ể giải thích các hiện tượng Nhật ặt ra hệ thống câu hỏi: ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ống câu hỏi: ỏi: ằm khắc sâu và mở rộng kiến thức cho học sinh: ắc sâu và mở rộng kiến thức cho học sinh: ở rộng kiến thức cho học sinh: ộng kiến thức cho học sinh: ức cho học sinh:
? Hãy phân biệt âm phản xạ và tiếng
vang?
HS thảo luận và trả lời C3 , giáo viên hỏi
thêm:
? Tại sao khi nói chuyện rất to trong
phòng lớn thì nghe được tiếng vang
Nhưng nói to như vậy trong phòng nhỏ lại
không nghe được tiếng vang?
Giống nhau: đều là âm phản xạ Khác nhau: Tiếng vang là âm phản xạ nghe từ khoảng cách âm phát ra ít nhất khoảng 1/15 giây
Trong phòng lớn âm dội lại từ tường đến tai ta có thể đến sau âm phát ra nên tai ta nghe thấy tiếng vang Trong phòng nhỏ
âm dội lại từ tường đến tai gần như cùng một lúc với âm phát ra nên không nghe
Trang 5Từ C7 , giáo viên phân tích trên H.14.4
? Nếu âm phát ra gặp đàn cá thì có phản
xạ lại không ?
? Vậy ngoài việc sử dụng phản xạ âm để
xác định độ sâu của biển, tàu đi biển còn
sử dụng tiếng vang với mục đích gì ?
được tiếng vang
Âm phát ra gặp đàn cá thì phản xạ trở lại
Để biết được các vật dưới nước và biết được chỗ nào có cá để thả lưới
Ví dụ 3 :Bài 19: Dòng điện _ Nguồn điện
T H.19.1, h c sinh th o lu n và đi n đ y đ nh n xét đ hình thành khái ni m dòng đi n, ngu n đi n ải thích các hiện tượng Nhật ật ầy đủ nhận xét để hình thành khái niệm dòng điện, nguồn điện ủ nhận xét để hình thành khái niệm dòng điện, nguồn điện ật ể giải thích các hiện tượng Nhật ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật ồn điện ệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng Nhật Giáo viên c n đ t thêm nh ng câu h i: ầy đủ nhận xét để hình thành khái niệm dòng điện, nguồn điện ặt ra hệ thống câu hỏi: ững câu hỏi: ỏi:
? Hãy nêu dấu hiệu nhận biết có dòng
điện chạy qua các thiết bị điện?
? Hãy nêu ví dụ về các nguồn điện trong
thực tế ?
? Nêu cách kiểm tra để đảm bảo mạch
điện kín?
Để củng cố bài học GV đặt câu hỏi chỉ
yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức vừa
học :
? Dòng điện là gì ?
? Làm thế nào để có dòng điện chạy qua
trong bóng đèn?
Đèn bút thử điện sáng, quạt điện quay Pin, acquy, máy phát điện, ổ điện
Xem dây tóc bóng đèn có đứt không, bề mặt tiếp xúc của đui đèn với đế, dây điện
có đứt ngầm không, nguồn điện có nạp điện hay chưa
Là dòng các điện tích dịch chuyển có hướng
Nối hai đầu dây của bóng đèn với hai cực của nguồn điện
b/ Đặt và giải quyết vấn đề:
- Đặt vấn đề là tạo tình huống có vấn đề; phát hiện nhận dạng những vấn đề nảy sinh ; phát biểu vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề là đề xuất cách giải quyết, lập kế hoạch giải quyết, thực hiện
kế hoạch giải quyết
- Kết luận là thảo luận kết quả đánh giá ; khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra; phát biểu kết luận ; đề xuất vấn đề mới
- Trong dạy - học đặt và giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức:
Mức 1 : Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải
quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm vịêc của học sinh
Mức 2 : Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Học
sinh thực hiện với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3 : Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện vấn
đề và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh, lựa chọn vấn đề giải quyết Sau đó
tự giải quyết, tự đánh giá có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Trang 6Đối với trường của chúng tôi là vùng sâu vùng xa, và hầu hết học sinh là con em dân tộc nên chỉ có thể áp dụng mức 1 và 2 riêng mức 3 và 4 có thể áp dụng cho những học sinh khá giỏi
Để bắt đầu một bài học mới hoặc một vấn đề mới nhất định phải có đặt vấn đề để tạo tình huống có vấn đề nhằm thu hút sự chú ý của học sinh
Ví dụ 1 :Bài 5 : Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng.
Gv có thể đặt vấn đề như SGK : Tại sao bóng của cái tháp lại lộn ngược xuống nước ?
Để giải quyết vấn đề trên, GV hướng dẫn học sinh nghiên cứu tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng Có 3 tính chất sau :
+ Ảnh ảo
+ Ảnh lớn bằng vật
+ Khoảng cách từ một điểm của vật đến gương phẳng bằng khoảng cách từ ảnh của điểm đó đến gương
Dựa vào tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng học sinh vẽ được ảnh của một vật đặt trước gương phẳng
GV có thể gợi ý “Xem mặt nước như một gương phẳng”
Từ những kiến thức trên học sinh sẽ tự giải quyết vấn đề được nêu ra ở đầu bài Chân tháp gần mặt nước nên ảnh của nó gần mặt nước, đỉnh tháp xa mặt nước nên ảnh của nó ở xa mặt nước Do đó nhìn thấy bóng của cái tháp lộn ngược xuống nước
Ví dụ 2 : Bài 11 : Độ cao của âm
Giáo viên có thể đặt vấn đề như SGK hoặc có thể đặt vấn đề : đàn bầu chỉ có một dây, vậy mà người nghệ sĩ gãy đàn khi thì thánh thót lúc thì trầm lắng Nguyên nhân nào làm cho âm trầm âm bổng khác nhau ?
Giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu được tần số, mối quan hệ giữa độ cao của âm
và tần số:
+ Âm phát ra càng cao khi tần số dao động càng lớn
+Âm phát ra càng thấp khi tần số dao động càng nhỏ
Từ những kiến thức vừa tiếp thu, học sinh sẽ tự mình giải quyết vấn đề được đưa ra: Người nghệ sĩ làm thay đổi tần số dao động của dây đàn, tần số dao động càng lớn
âm phát ra càng cao ( bổng), tần số dao động càng nhỏ âm phát ra càng thấp ( trầm)
Ví dụ 3 : Bài 17 : Nhiễm điện do cọ xát
Đây là bài học đầu tiên của chương điện học, giáo viên có thể đặt vấn đề cho cả lớp thảo luận trao đổi:
? Ngoài các hiện tượng được mô tả trong các ảnh đầu chương 3 (SGK) các em còn biết các hiện tượng điện nào khác ?
Sau đó giáo viên giới thiệu mục tiêu chính của chương và đặt vấn đề cho bài học: Các em đã từng thấy hiện tượng gì, nghe thấy gì khi cởi áo khoác ngoài bằng len, dạ hay sợi tổng hợp vào những ngày thời tiết khô ráo, đặt biệt là khi hanh khô ?
Học sinh trả lời, giáo viên đặt tiếp câu hỏi:
Tại sao lại có hiện tượng đó?
Tập trung sự chú ý của học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức bài học và giải quyết vấn đề đặt ra:
Trang 7Vào những ngày thời tiết khô ráo, khi cởi áo khoác ngoài bằng len, dạ hay sợi tổng hợp ta thường nghe thấy những tiếng lách tách nhỏ vì ở bề mặt ngoài của các sợi len,dạ hay sợi tổng hợp có mang các hạt điện tích do bị cọ xát, các hạt điện tích này phóng điện nên xuất hiện các tia chớp nhỏ lúc này không khí bị giản nở đột ngột nên gây ra những tiếng nổ lách tách nhỏ
c/ Khai thác hết hoạt động của các thành viên trong nhóm:
Lớp học được chia thành 6 nhóm , mỗi nhóm có 7_8 học sinh Nhóm tự bầu lấy nhóm trưởng Trong nhóm phân công mỗi người một phần việc:
Nhóm truởng là những em năng nổ, nhiệt tình học lực khá có nhiệm vụ nhận và kiểm tra đồ dùng dạy học, sau mỗi tiết học hướng dẫn các thành viên còn lại trong nhóm rửa dụng cụ (nếu cần ) và cất dụng cụ vào vị trí Ngoài ra nhóm trưởng cón có nhiệm vụ hướng dẫn các thành viên khác trong nhóm thảo luận trên giấy bút
Các thành viên khác, mỗi người đều phải làm việc tích cực, không ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác trong lớp
Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp
Ví dụ: Khi tiến hành thí nghiệm thì trong nhóm phân công cụ thể:
+ 2 bạn bố trí và tiến hành thí nghiệm
+1 bạn thư ký để ghi lại kết quả Các bạn còn lại cùng quan sát thí nghiệm, thảo luận và trao đổi đưa ra ý kiến chung nhất
+Đại diện nhóm lên trình bày kết quả
d/ Tạo không khí sôi nổi trong lớp học:
Bầu không khí lớp học là yếu tố rất quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức của học sinh và tâm lí dạy học của giáo viên Do đó, người giáo viên cần phải có tính sáng tạo trong khâu tổ chức sao cho lớp học sôi nổi, sinh động, nhịp nhàng giữa thầy và trò, học sinh thu thập và xử lí thông tin trong không khí vui nhộn Cụ thể : một số bài tập định lượng hoặc một số thí nghiệm giáo viên có thể tổ chức dưới dạng trò chơi
Ví dụ 1 : Thí nghiệm 2 : Sự truyền âm trong chất rắn (Bài 13 : Môi trường truyền
âm), giáo viên nên tổ chức cho các em tiến hành thí nghiệm bằng cách chơi trò chơi “Ai
thính tai nhất”
+ Trò chơi được tiến hành theo bàn: Bạn ngồi giữa vừa có nhiệm vụ gõ vừa làm trọng tài Các bạn còn lại ngồi ra hai phía đầu bàn và quay lưng về phía bạn gõ
+ Cách chơi: Bạn giữa gõ vào bàn một số lần sao cho các bạn kia không nghe thấy tiếng gõ là đạt, bằng cách hỏi thăm các bạn kia xem mình đã gõ chưa, nếu các bạn trả lời chưa là được Sau đó yêu cầu các bạn áp tai xuống bàn và đếm số lần gõ, bạn nào trả lời đúng được xem là thính tai nhất
Ví dụ 2: Câu C6 (Bài 10: Nguồn Âm) có thể cho hs tiến hành trò chơi ai sẽ làm
cho lá chuối phát ra âm to nhất
Hoặc câu C3 và C7 (Bài 14 : Phản xạ âm _ Tiếng vang), thay vì yêu cầu các
nhóm thảo luận thì giáo viên nên tổ chức cho các em chơi “Ai thông minh hơn”, các
nhóm thảo luận và đưa ra kết quả trong không khí thi đua với các nhóm khác
Sau mỗi trò chơi, nhóm nào trả lời đúng nhất và nhanh nhất được xem là thắng, giáo viên nên yêu cầu lớp thưởng một tràng pháo tay để khích lệ tinh thần cho các em
Trang 8e/ Liên hệ thực tế đồng thời giáo dục học sinh:
Ngoài các kiến thức truyến thụ đầy đủ theo yêu cầu nội dung SGK, giáo viên nên liên hệ thực tế nhiều, có thể mở rộng thêm cho các em, tạo thêm cho các em niềm say
mê yêu thích môn học Qua đó giáo viên giáo dục các em trở thành người đầy đủ tài -đức theo yêu cầu của xã hội
Ví dụ 1: Bài 3: Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng
Qua nội dung bài học, học sinh giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực
Từ đó giáo viên giáo dục học sinh những câu chuyện về " Gấu ăn mặt trăng", " gõ mõ đuổi gấu ăn mặt trăng" chỉ là tưởng tượng do Mặt Trăng chuyển động xung quanh Trái Đất
Ví dụ 2: Bài 15 : Chống ô nhiễm tiếng ồn
Phần 1: Học sinh nhận biết được tiếng ồn ô nhiễm, giáo viên cần giáo dục học sinh vào những giờ cao điểm như trưa hoặc khuya không nên làm ồn để ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự nghỉ ngơi của các nhà bên cạnh bằng cách vặn nhỏ đài và không nên nói chuyện cười đùa lớn
Phần 2: Biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn: Giáo viên cần liên hệ thực tế và giáo dục học sinh phải biết trồng và bảo vệ cây xanh để làm sạch môi trường và làm giảm ô nhiễm tiếng ồn, đồng thời vận động mọi người cùng tham gia trồng và bảo vệ cây xanh
Để phương pháp dạy và học tích cực đạt hiệu quả, người giáo viên cần phải phối hợp linh hoạt các phương pháp trong quá trình giảng dạy
f/ Hướng dẫn về nhà:
Sau mỗi bài học giáo viên cần phải yêu cầu học sinh về nhà làm bài tập trong sách bài tập để học sinh rèn luyện thêm và củng cố kiến thức, cần hướng dẫn học sinh đọc trước bài học trong sách giáo khoa để có thể tìm hiểu trước những vấn đề mà bài học đưa ra, học sinh có thể hiểu trước một bước dù là chưa chính xác Dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở trên lớp học sinh có thể hiểu sâu vấn đề hơn và khắc sâu kiến thức hơn
Đồng thời giáo viên nên chuẩn bị một bài tâp nâng cao cho học sinh khá giỏi về nhà khám phá
V í d ụ 1 : Bài 1: Nhận biết ánh sáng _ nguồn sáng và vật sáng
Khi nhìn lên bảng học trong lớp, đôi lúc em thấy bảng bị chói và không đọc được chữ Em hãy tìm hiểu nguyên nhân từ đó đưa ra các phương pháp khắc phục
Sau khi nhìn thấy tia chớp thì 5 giây sau mới nghe tiếng sấm Nơi xảy ra sấm sét cách nơi đứng bao xa Xem ánh sang truyền đi tức thời
Ví dụ 3: Bài 24: Cường độ dòng điện
Tại sao dưới kim đo của ampe kế, người ta đặt thêm một gương phẳng?
Trả lời:
Ví dụ 1: Đó là do bề mặt của bảng đã được sơn nhẵn bóng nên ánh sáng khi chiếu đến bảng, hầu như hoàn toàn phản chiếu lại khiến mắt nhìn lên bảng bị chói Để hạn chế hiện tượng này, người ta dùng sơn hấp thụ ánh sáng, tức là nếu có ánh sáng chiếu vào mặt bảng sẽ hấp thụ ánh sáng nhiều và phản xạ lại rất ít
Ví dụ 2: Nơi xảy ra sét cách nơi đứng : 5 s x 340 m/s = 1700 m = 1,7 km
Trang 9Ví dụ 3: Để đọc giá trị chính xác, mắt phải luôn luôn vuông góc mặt đồng hồ Vì vậy ta phải đặt mắt sao cho kim và ảnh của kim ( qua gương phẳng ) trùng nhau
Giáo viên có thể kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh thông qua kiểm tra bài cũ, khi kiểm tra bài cũ giáo viên có thể hỏi thêm: bài học tiếp theo của chúng ta là gì? Gồm
có mấy phần? Nghiên cứu vấn đề gì? …
Để phương pháp dạy và học tích cực đạt hiệu quả, người giáo viên cần phải phối hợp linh hoạt các phương pháp trong quá trình giảng dạy.
Giáo án minh hoạ Bài 13: MÔI TRƯỜNG TRUYÊN ÂM
I/ MỤC TIÊU:
_ Hiểu được một số môi trường truyền âm và không truyền được âm
_ Nêu được một số ví dụ về sự truyển âm trong các chất rắn, lỏng và khí
_ Trung thực, tỉ mỉ, cẩn thận trong khi làm thí nghiệm
II/ CHUẨN BỊ:
+ Đồ dùng cho mỗi nhóm học sinh:
2 trống
Dùi
Giá đỡ
Nguồn âm
Cốc nước
+ Giáo viên: Tranh vẽ H.13.4
III/ TI N TRÌNH D Y H C: ẾN TRÌNH DẠY HỌC: ẠY HỌC: ỌC:
HĐ1: Kiểm tra bài cũ_Tổ chức
tình huống học tập
1/ Độ to của âm phụ thuộc vào
biên độ dao động như thế nào?
Đơn vị đo độ to của âm? Kí
hiệu?
2/ GV có thể đặt vấn đề như
sách giáo khoa, hoặc có thể đặt
vấn đề: Hàng ngày chúng ta
nghe được những âm thanh như:
tiếng cười đùa của các bạn,
tiếng giảng bài của thầy cô,
tiếng tàu hoả chạy … Vậy
những âm đó truyền đến tai ta
như thế nào và nhờ môi trường
nào ?
HĐ2 : Môi trường truyền âm
GV đặt vấn đề: Môi trường nào
có thể truyền được âm?
GV hướng dẫn học sinh bố trí
TN 1: Sự truyền âm trong chất
HS trả lời, HS khác lắng nghe nhận xét
Bài 13: Môi trường
truyền âm I/ Môi trường truyền âm:
1/ Thí nghiệm:
2/ Kết luận:
- Chất rắn, lỏng, khí là
những môi trường có thể
Trang 10Gv yêu cầu nhóm khác nhận xét
và công nhận kết quả
GV có thể đặt thêm hệ thống
câu hỏi:
? Nếu đặt trống 2 xa hơn nữa thì
quả cầu treo gần trống 2 như thế
nào?
? Điều đó chứng tỏ gì?
? Hãy nêu ví dụ chứng tỏ độ to
của âm càng giảm trong khi lan
truyền ?
TN 2: Sự truyền âm trong chất
rắn
GV thay thí nghiệm bằng trò
chơi: “Ai thính tai nhất”
Gv yêu cầu cả lớp thưởng cho
các bạn thính tai nhất một tràng
pháo tay và trả lời câu hỏi:
? Hãy nêu ví dụ âm có thể
truyền được trong chất rắn?
TN 3: Sự truyền âm trong chất
lỏng
GV hướng dẫn HS tiến hành TN
theo nhóm, thảo luận trả lời C4
GV đặt câu hỏi thêm:
? Hãy nêu ví dụ chứng tỏ âm
truyền được trong chất lỏng?
? Từ 3 TN trên cho biết những
chất nào có thể truyền được âm?
TN 4: Âm có thể truyền được
trong chân không hay không?
Nếu không tiến hành được thí
nghiệm, GV yêu cầu HS đọc nội
dung TN và trả lời các câu hỏi:
Lúc đầu cho dòng điện chạy qua
có nghe tiếng chuông kêu
không?
Hút dần không khí trong bình
thì tiếng chông nghe như thế
HS làm TN theo mhóm,
cử đại diện nhóm trả lời C1, C2
Quả cầu treo gần trống 2
có biên độ dao động càng nhỏ
Độ to của âm càng giảm khi ở xa nguồn âm
Những lớp học ở gần trống trường thì sẽ nghe tiếng trống to hơn những lớp học ở xa trống
Các nhóm tham gia trò chơi, cử ra người thính tai nhất nhóm, thảo luận và trả lời C3
Khi áp tai xuống đất thì nghe được tiếng bước chân của người đi
HS tiến hành TN theo nhóm thảo luận và trả lời C4
Khi lặn xuống nước nghe được tiếng sùng sục của bong bóng nước
Chất rắn, chất lỏng, chất khí là những môi trường truyền được âm
Nghe được tiếng chuông kêu
truyền được âm
- Độ to của âm càng giảm khi ở xa nguồn âm
- Chân không không thể
truyền âm.