Chương I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về bảo về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 1.1.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về người khuyết tật Hiểu một các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
1 TS TRƯƠNG ANH TUẤN
2 PGS.TS NGUYỄN KIM XUÂN
Hà Nội - 2016
Trang 3Danh hiệu viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng, sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh trong luận án
1.1 Quan điểm Đảng và Nhà nước về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
1.1.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về người khuyết tật 5 1.1.2 Quan điểm Đảng và Nhà nước về trẻ em khuyết tật 6 1.1.3Thông điệp của Hiệp hội người mù Thế giới 7
1.3.1 Đặc điểm thị giác của trẻ em khiếm thị 12 1.3.2 Đặc điểm thính giác của trẻ em khiếm thị 13 1.3.3 Đặc điểm xúc giác (cảm giác sờ) của trẻ em khiếm thị 14 1.3.4 Cảm giác vận động của trẻ em khiếm thị 15 1.3.5 Cảm giác rung của trẻ em khiếm thị 16 1.3.6 Đặc điểm vị giác- khứu giác của trẻ em khiếm thị 16 1.3.7 Cảm giác thăng bằng của trẻ em khiếm thị 16 1.3.8 Đặc điểm tri giác của trẻ em khiếm thị 17
Trang 41.5 Nhu cầu người khiếm thị - trẻ em khiếm thị 21
1.5.3 Nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao tiếp 23
1.5.5 Nhu cầu về lao động, thăng tiến, phát triển 25
Chương2-ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 53
Trang 53.1 Nghiên cứu thực trạng thể lực, năng lực định hướng và tập
luyện thể dục thể thao của trẻ em khiếm thị 73
3.1.1 Thực trạng số lượng người khuyết tật và khiếm thị ở Việt
3.1.2 Thực trạng trẻ em lứa tuổi 6-9 tuổi tập trung tại một số trung
tâm, trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số tỉnh thành Miền Bắc 75 3.1.3 Thực trạng điều kiện sống, học tập và làm việc của TEKT
3.1.4 Nghiên cứu, lựa chọn hệ thống test đánh giá thể lực và năng
lực định hướng cho trẻ khiếm thị (6-9 tuổi) 91 3.1.5 Đánh giá thực trạng thể lực và năng lực định hướng của trẻ
3.1.6 So sánh thực trạng thể chất của trẻ em khiếm thị 6-9 tuổi 98
3.2 Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập TDTT nâng cao thể lực và
3.2.1 Nội dung và các yếu tố quan trọng NCTL và NLĐH cho
3.2.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các dạng bài tập nhằm NCTL
Trang 63.2.3 Nghiên cứu xác định yêu cầu trong việc lựa chọn các bài tập
3.2.4 Biên soạn các tổ hợp bài tập phát triển NLĐH 105
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập TDTT nâng cao
3.3.2 Phân bổ thời gian và đối tƣợng TN 108
Trang 73.2 Nguyên nhân gây mù ở Việt nam (n=13896) 74 3.3
Thống kê số tuổi HSKT 6-9 tuổi tại một số trung tâm, trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số tỉnh thành Miền
3.8 Kết quả điều tra hiện trạng, nhu cầu tập luyện TDTT
3.9 Kết quả khảo sát về cách thức xác định phương hướng
của TEKT (n=46)
Sau trang
85 3.10
Kết quả điều tra, phỏng vấn GV, chuyên gia về hiện trạng, nhu cầu điều kiện sống, học tập và làm việc TEKT (n=29)
Sau trang
87 3.11 Kết quả phỏng vấn cán bộ phụ trách đời sống về hiện
trạng, nhu cầu điều kiện sống của TEKT (n=13)
Sau trang
89 3.12 Kết quả phỏng vấn gia đình, người thân của TEKT
3.13 Kết quả phỏng vấn GV, chuyên gia lựa chọn test đánh
giá thể lực và năng lực định hướng của TEKT(n=29)
Sau trang
93 3.14 Thống kê các test đã lựa chọn đánh giá thể lực và
năng lực định hướng của TEKT(n=29)
Sau trang
93 3.15 Xác định độ tin cậy của các test Sau trang
94 3.16 theo các chỉ số Quetelet và BMI Thực trạng đánh giá chỉ số HT của trẻ KT (6-9 tuổi) 94
3.17
Thực trạng đánh giá chỉ số về CN của trẻ KT (6-9 tuổi) Theo các chỉ số HW ( Heart Work) công năng tim
3.18 Thực trạng thể chất của TE nam KT lứa tuổi 6 (n=20) Sau trang
Trang 897 3.21 Thực trạng thể chất của TE nữ KT lứa tuổi 7 (n=12) Sau trang
97 3.22 Thực trạng thể chất của TE nam KT lứa tuổi 8 (n=20) Sau trang
97 3.23 Thực trạng thể chất của TE nữ KT lứa tuổi 8 (n=16) Sau trang
97 3.24 Thực trạng thể chất của TE nam KT lứa tuổi 9 (n=20) Sau trang
97 3.25 Thực trạng thể chất của TE nữ KT lứa tuổi 9 (n=22) Sau trang
97 3.26
Tổng hợp so sánh các chỉ số về HT của nam TEKT
6-9 tuổi với thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6-6-9 tuổi (thời điểm năm 2001)
Sau trang
99
3.27
Tổng hợp so sánh các chỉ số về HT của nữ TEKT 6-9 tuổi(n=24) với thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6-
9 tuổi (thời điểm năm 2001)
Sau trang
100
3.29
Tổng hợp so sánh các chỉ số về HT của nữ TEKT 6-9 tuổi với học HS nữ sáng mắt trường Nguyễn Đình Chiểu (6-9 tuổi) (∑n= 80)
Sau trang
100
3.31
Tổng hợp so sánh các chỉ số về TCTL của nữ TEKT 6-9 tuổi với thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6-9 tuổi (thời điểm năm 2001)
Sau trang
101
3.33
Tổng hợp so sánh các chỉ số về TCTL của nữ TEKT 6-9 tuổi với HS nữ sáng mắt trường Nguyễn Đình Chiểu (6-9 tuổi) (∑n= 80)
Trang 9Đào tạo.) 3.35 Nội dung và các yếu tố quan trọng NCTL và NLĐH
cho TEKT (n=29)
Sau trang
103 3.36 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các dạng bài tập nhằm
NCTL và NLĐH cho TEKT (n = 29) 104 3.37 Tổ hợp các bài tập TDTT NCTL và NLĐH Sau trang
106 3.38 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập TDTT nhằm
NCTL và NLĐH cho TEKT (n=29)
Sau trang
106 3.39 Phân bổ thời gian thực hiện bài tập trong một buổi
Sau trang
109 3.42 So sánh sự phát triển CN của hai nhóm nam TN và
nam ĐC trước TN
Sau trang
109 3.43 So sánh sự phát triển CN của hai nhóm nữ TN và nữ
ĐC trước TN
Sau trang
109 3.44 So sánh sự phát triển thể lực của hai nhóm nam TN và
nam ĐC trước TN
Sau trang
109 3.45 So sánh sự phát triển thể lực của hai nhóm nữ TN và
nữ ĐC trước TN
Sau trang
109 3.46 So sánh cảm giác VĐ của 2 nhóm TN và ĐC trước
TN
Sau trang
109 3.47 So sánh định hướng VĐ của hai nhóm nữ TN và nữ
Sau trang
109 3.52 So sánh sự phát triển thể lực của hai nhóm nam TN và
nam ĐC sau 5 tháng, 10 tháng TN, so sánh đối tượng
Sau trang
109
Trang 10Sau trang
112
3.57 Phỏng vấn TEKT sau thời gian TN (n=30) Sau trang
112 3.58 Kết quả kiểm nghiệm trong thực tiễn Sau trang
113
Biểu
đồ
1.2 Sơ đồ bậc thang nhu cầu của A.Maslow 21 1.3 Vai trò thị giác, tưởng tượng, tư duy, cảm giác đối với
100 3.12 Tố chất thể lực trẻ em nữ khiếm thị Sau trang
100
Trang 11đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101 3.15 So sánh Test nằm ngửa gập bụng của nam TEKT với
tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101 3.16 So sánh Test nằm ngửa gập bụng của nữ TEKT với
tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101 3.17 So sánh Test bật xa tại chỗ của nam TEKT với tiêu
chuẩn đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101 3.18 Biểu đồ 3.18 : So sánh Test bật xa tại chỗ của nữ
TEKT với tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101 3.19 So sánh Test chạy tùy sức 5 phút của nam TEKT với
tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101 3.20 So sánh Test chạy tùy sức 5 phút của nữ TEKT với
tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh
Sau trang
101
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Dưới chế độ, con người là vốn quý báu nhất.Việc bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước Việt Nam Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã dạy: “Muốn có lợi ích mười năm thì phải trồng cây, muốn có lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GDĐT)
Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Trong đó GDTC, giáo dục sức khỏe là một trong những mặt giáo dục quan trọng nhằm mục đích phát triển con người toàn diện Có thể khẳng định rằng mỗi dân tộc, mỗi đất nước chỉ có thể tồn tại và phát triển bền vững trên cơ sở một nguồn nhân lực dồi dào và được phát triển ở trình độ cao Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đặc biệt là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ Dân tộc ta đã giành được những chiến thắng vĩ đại Song chiến tranh đã để lại cho chúng ta những tổn thất nặng nề và lâu dài Không ít trẻ em mang những dị tật do ảnh hưởng của chất độc hóa học, phải mang những khuyết tật do bẩm sinh, do tai nạn và bệnh tật Điều đó ảnh hưởng tới sức khoẻ, đời sống và tương lai sau này của các em Vì thế việc chăm sóc sức khỏe, phục hồi các chức năng và bồi dưỡng năng lực vận động, lao động … cho trẻ em khuyết tật được Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm Những năm qua, Nhà nước đã có những chủ chương và chính sách chăm
lo, giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và thiệt thòi Hiện đã có nhiều trường lớp dành cho trẻ em khuyết tật như: khiếm thính, khiếm thị…Những trường lớp này không chỉ nhằm mục đích trang bị
Trang 13cho các em học vấn cơ bản, giáo dục nhân cách mà quan trọng hơn là chuẩn
bị cho các em những điều kiện cần thiết để bước vào cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng
Tuy đã được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo điều kiện, nhưng số trường học dành cho trẻ em khiếm thị (TEKT) vẫn còn nhiều mặt hạn chế cả về số lượng và chất lượng Hiện nay có ba trường đặc biệt dành cho TEKT ở Hà nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra chỉ có một số trường phục hồi chức năng Từ khi được thành lập đến nay, nhiều trường đã có thành tích trong hoạt động giảng dạy và học tập Tuy nhiên do điều kiện còn nhiều khó khăn nên sự quan tâm đến việc phục hồi và cải thiện năng lực vận động cho TEKT chưa được quan tâm Khảo sát chương trình giáo dục thể chất (GDTC) cho TEKT, tôi nhận thấy các bài tập thể chất (BTTC) được sử dụng trong giờ học còn đơn điệu, thiếu thời gian để các em rèn luyện sức khỏe, kỹ năng sống, phương pháp giảng dạy còn nhiều hạn chế
Từ thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu các bài tập, các biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho TEKT là một đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc
Tháng 3 năm 2007, Liên hợp quốc đã có Nghị quyết về Công ước quốc
tế Quyền của người khuyết tật Mục đích của Công ước này là thúc đẩy, bảo
hộ và đảm bảo người khuyết tật được hưởng thụ một cách đầy đủ, bình đẳng quyền con người và các quyền tự do cơ bản, nâng cao sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của người khuyết tật Từ ngày 01 tháng 07 năm 2007, Luật Thể dục, thể thao nước ta bắt đầu có hiệu lực Về TDTT người khuyết tật, Luật quy định: “Nhà nước tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia hoạt động thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, hòa nhập cộng đồng; đảm bảo cơ sở vật chất và chế độ, chính sách cho vận động viên thể thao khuyết tật tập luyện
và thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế.” (Điểm 1, điều 14)
Trang 14Trong những năm gần đây, ở nước ta có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về GDTC, phát triển tố chất thể lực (TCTL) cho học sinh, sinh viên như tác giả Lê Văn Lẫm, Trần Đồng Lâm (1980 - 1982) đã nghiên cứu
sự phát triển thể chất của học sinh trường học từ trung học cơ sở đến phổ thông trung học Tác giả Nguyễn Kim Minh (1986) nghiên cứu điều tra thể chất người Việt Nam từ độ tuổi 5 – 8 tuổi Tác giả Lê Anh Thơ (1995) nghiên cứu trò chơi dân gian và lời hát đồng giao cho đối tượng mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi và một số công trình khác Tôi đặc biệt quan tâm đến công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Anh Thơ, Lê Văn Lẫm và Trần Đồng Lâm
Cho đến nay, qua tìm hiểu các tài liệu tôi thấy hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu trên đối tượng TEKT Đây là một khoảng trống, tạo cơ hội cho tôi tìm hiểu đối tượng này
Cũng như những người khuyết tật khác, người khiếm thị (KT) luôn mong muốn được hoà nhập với cộng đồng và xã hội Song khó khăn lớn nhất đối với người KT là năng lực xác định vị trí của bản thân, của đối tượng xung quanh mình như dụng cụ lao động, vị trí lao động, hướng chuyển động… Vì năng lực này là tiền đề để họ có thể lao động dễ dàng và hiệu quả
Để người KT có thể sẵn sàng với cuộc sống và lao động trong tương lai thì việc chuẩn bị về thể lực và năng lực vận động cần bắt đầu ngay từ trong trường học Trong đó nội dung giáo dục thể lực, năng lực vận động nói chung và năng lực định hướng (NLĐH) trong không gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trên cơ sở đó phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bài tập thể dục thể thao nhằm nâng
cao thể lực và năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị (6-9 tuổi) ”
MỤCĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thể lực, năng lực định hướng và hiện trạng tập luyện thể dục thể thao của trẻ em khiếm thị, đề tài tiến hành nghiên cứu một
Trang 15số bài tập thể dục thể thao phù hợp nhằm nâng cao thể lực và năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài cần giải quyết các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng thể lực, năng lực định hướng và hiện
trạng tập luyện thể dục thể thao của trẻ em khiếm thị
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập thể dục thể thao nâng
cao thể lực và năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập thể dục thể thao
nâng cao thể lực và năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị
GIẢ THIẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Các bài tập thể dục thể thao do đề tài nghiên cứu là phù hợp với thực trạng điều kiện sống, học tập và có tác dụng nâng cao thể lực và năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị thì cần có được các yếu tố sau:
Phải tạo được hứng thú của trẻ em khiếm thị
Phải có tác dụng nâng cao thể lực của trẻ em khiếm thị
Có tác dụng nâng cao năng lực xác định phương hướng vận động của trẻ
em khiếm thị
Trang 16Chương I:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về bảo về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
1.1.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về người khuyết tật
Hiểu một cách chung nhất, người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, trong lao động và trong các mối quan hệ xã hội Chăm lo, giúp đỡ người khuyết tật là mối quan tâm của bất cứ quốc gia nào trên thế giới, bởi họ là một bộ phận của cộng đồng xã hội.Tháng 3 năm
2007 Liên hợp quốc đã có Nghị quyết về Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật Mục đích của Công ước này là thúc đẩy, bảo hộ và đảm bảo người khuyết tật được hưởng thụ một cách đầy đủ và bình đẳng quyền con người và các quyền tự do cơ bản và nâng cao sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của người khuyết tật
Trong các quyền được công nhận và được bảo vệ như những người bình thường, Điều 30 của Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật khẳng định người khuyết tật có quyền được tham gia trong lĩnh vực văn hóa, giải trí, TDTT Điểm 5 của Điều này quy định: “Nhằm hỗ trợ người khuyết tật tham gia vào các hoạt động thể thao, giải trí, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm:
Khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia một cách đầy đủ nhất của người khuyết tật trong các hoạt động thể thao hòa nhập ở tất cả các cấp
Đảm bảo rằng người khuyết tật có cơ hội tổ chức, phát triển và tham gia vào các hoạt động giải trí và thể thao cụ thể dành cho người khuyết tật và để đạt được mục tiêu này khuyến khích việc cung cấp các hướng dẫn, đào tạo và nguồn lực phù hợp, trên cơ sở bình đẳng như những người khác
Trang 17Những doanh nghiệp thu nhận người khuyết tật vào học nghề, tập nghề được xét giảm thuế, được vay vốn với lãi suất thấp và được hưởng các ưu đãi khác
1.1.2 Quan điểm Đảng và Nhà nước về trẻ em khuyết tật
Trẻ em: Trẻ em luôn là mối quan tâm chung của nhân loại và cộng đồng Trẻ em là tương lai của một đất nước, một dân tộc
Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội Người Việt Nam vốn có truyền thống yêu thương gắn bó với con cháu, con cháu không chỉ là nguồn hạnh phúc mà còn là niềm mong ước, là nơi gửi gắm những ước mơ, niềm tin và sự hãnh diện Vì vậy, ngay từ thời xa xưa, các Nhà nước phong kiến đã đề ra những quy định bằng pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân cũng
tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sau khi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và
đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác này trong từng thời kỳ, hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách, chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục và đào tạo được một lớp người giàu lòng yêu nước, có sức khỏe, có văn hóa, hết lòng hết sức phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (sẵn
Trang 181.1.3 Thông điệp của Hiệp hội người mù Thế giới
Nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày Quốc tế Người khuyết tật (3/12/1982 – 2/12/2007) Hiệp hội Người khiếm thị Thế giới đã có thông điệp gửi tới các tổ chức thành viên toàn văn như sau:
“Đối với hơn 160 triệu người khiếm thị và kém mắt trên toàn thế giới, ngày Quốc tế Người khuyết tật là cơ hội để kỷ niệm những thành công của chúng ta và nâng cao nhận thức về những khó khăn,thách thức mà rất nhiều người khiếm thị trên thế giới đang phải đối mặt
Trong khi khoa học ngày càng tiến bộ, việc chăm sóc sức khoẻ và thái
độ của xã hội ngày càng mở ra những hướng đi mới cho giáo dục, việc làm và hội nhập xã hội thì những người khiếm thị, kém mắt vẫn chưa thực sự tham gia vào những tiến bộ đó Thực tế là ở những nước công nghiệp phát triển 75% người khiếm thị vẫn chưa có việc làm phù hợp và ở các nước đang phát triển thì chưa đến 10% trẻ em khiếm thị được đến trường Điều này cho thấy việc giải quyết nhu cầu về việc làm thậm chí còn khó khăn hơn việc mang lại quyền bình đẳng và hoà nhập giữa phụ nữ và nam giới khiếm thị.” [68, tr.2,3]
Trang 19William Rowland, Chủ tịch Hiệp hội Người mù Thế giới (WBU) “Là chủ tịch của WBU, cơ quan ngôn luận quốc tế của người khiếm thị và kém mắt trên toàn thế giới, tôi đề nghị các chính phủ, các tổ chức nhà nước và tư nhân cùng toàn thể xã hội tiếp tục cố gắng hơn nữa để giúp đỡ người khiếm thị và kém mắt có thể bình đẳng tham gia và hưởng lợi từ các chương trình của các bạn Những người khiếm thị và kém mắt rất sẵn sàng mong muốn có được vị trí bình đẳng ở trường học, nơi làm việc, ở nhà và trong cộng đồng Nếu được tiếp cận với các công cụ cần thiết, được cung cấp thông tin và được rèn luyện kỹ năng thì người khiếm thị sẽ tham gia vào xã hội một cách đầy đủ
và bình đẳng
Năm 2008, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế
về quyền của người khuyết tật, một công ước quan trọng đã nêu ra nhận được những khó khăn, thách thức đối với người khuyết tật và những giải pháp cần thiết để người khuyết tật vượt qua những thách thức đó Hiệp hội Người mù Thế giới là một tổ chức tích cực trong việc phát triển công ước mới này và cũng ghóp phần thúc đẩy phê chuẩn công ước từ các nước thành viên LHQ Thông qua các tổ chức thành viên của tôi tại 177 quốc gia, tôi vẫn luôn tận tâm và sẵn sàng hợp tác với các chính phủ và tất cả các ban, ngành của xã hội
để đảm bảo những ước mơ và khát vọng của người khiếm thị và kém mắt sẽ được thực hiện!” [68, tr.2,3]
Trang 20thước, hình dáng, vị trí, chiều sâu, và màu sắc của sự vật bên ngoài, các nhà khoa học đã hết sức thán phục những đặc tính diệu kỳ của thị giác con người Hiện nay nhiều nhàkhoa học đang tìm cách sử dụng những hiểu biết về thị giác để phát minh mắt nhân tạo thay thế cặp mắt tự nhiên Nhưng ngay cả những máy móc tinh vi nhất cũng chưa thể thay thế khả năng thu nhận, tổng hợp và phân tích của cặp mắt tự nhiên [21,tr.13]
1.2.2 Khái niệm khuyết tật, khiếm thị
Biểu đồ 1.1: Các nguyên nhân, yếu tố
1.2.2.1 Khái niệm khuyết tật:
Người khuyết tật: là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành) khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết
Nguyên nhân/ Các yếu tố
* Kinh tế khó khăn
Xã hội
* Yêu cầu chăm sóc
* Giảm khả nẵng lao động
* Đóng góp xã hội
* Cần pháp lý để cho người khuyết tật tiếp cận
Trang 21kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài ít hơn 12 tháng thì không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999)
Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982) Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống
Các dạng khuyết tật:
- Khuyết tật vận động
- Khuyết tật trí tuệ
- Khuyết tật cơ quan cảm giác [73, tr.3]
1.2.2.2 Khái niệm khiếm thị
Khái niệm trẻ em khiếm thị: là trẻ em không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình bằng mắt do bị mù lòa hoặc nhìn kém, nhìn thấy không rõ ràng vì có tật về mắt, như hỏng mắt, tật thị giác [91, tr.34]
Trẻ khiếm thị là trẻ em dưới 16 tuổi có khuyết tật thị giác, khi đã có phương tiện trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt Khó khăn về nhìn có thể ở nhiều mức độ nhẹ, vừa và nặng Nếu một người chỉ nhìn được rất ít hoặc không nhìn thấy gì, chúng ta gọi đó là người khiếm thị Tuy nhiên ở nhiều mức độ khác nhau:
Trang 22* Trẻ khiếm thị được chia thành 2 loại:
Khiếm thị hoàn toàn, thị lực ViS = 0, thị trường bằng 0 Mắt không còn khả năng phân biệt ánh sáng và bóng tối
Khiếm thị thực tế, thị lực còn lại từ 0,005 đến 0,04 ViS, thị trường còn khoảng từ 10 độ đến 15 độ Mắt còn khả năng phân biệt được ánh sáng và bóng tối nhưng không rõ
Loại trẻ này phải học chữ nổi(chữ Braille)
* Trẻ nhìn kém có các mức độ:
Nhìn quá kém: thị lực còn lại từ 0,04 đến 0,05 ViS Trẻ rất khó khăn trong học tập, nếu thiếu phương tiện hỗ trợ mắt, các em phải học chữ nổi Nhìn kém: Thị lực còn từ 0,05 đến 0,08 ViS Trẻ cần được giúp đỡ thường xuyên trong sinh hoạt và học tập
Nhìn kém không đáng kể: Thị lực còn từ 0,09 đến 0,3 ViS Những trẻ này có khả năng tự phục vụ, lao động, định hướng di chuyển trong không gian và học cùng với trẻ sáng mắt, ít cần sự giúp đỡ thường xuyên của mọi người.[91, tr.34]
1.2.2.3 Số lượng người khiếm thị và trẻ em khiếm thị tại Việt Nam
Theo điều tra của Viện Mắt Trung ương năm 2002, tại 8 tỉnh đại diện cho
8 vùng sinh thái ở Việt Nam, tỷ lệ người khiếm thị trên 50 tuổi là 4,7%, tỷ lệ khiếm thị chung cho toàn bộ dân số là 0,67% [74,tr.5.8]
Có 20 nghìn trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 3,7% [63,Tr 6-8] Thông thường 50% trẻ em khiếm thị do thiếu vitamin A, thời điểm năm 1993 có 80 ngàn trẻ
Trang 23em lâm vào tình trạng [24, tr.33] Ngoài nguyên nhân trên trẻ em bị khiếm thị
do sẹo giác mạc, tai nạn, bẩm sinh, di truyền
1.3 Đặc điểm sinh lý trẻ em khiếm thị
1.3.1 Đặc điểm thị giác của trẻ em khiếm thị:
“ Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn” “Giàu hai con mắt khó đôi bàn tay” Điều
đó cho ta thấy vai trò đặc biệt quan trọng của thị giác Việc đi lại đối với người khiếm thị, việc quan sát một sự vật hiện tượng trở lên rất khó khăn
Người khiếm thị khó khăn tiếp cận và hòa nhập trong một môi trường mới
Cảm giác thị giác về thế giới quan tác động mạnh tới tâm lý con người
Do bị thiếu đi đôi mắt nên người khiếm thị trong đó có trẻ em khiếm thị không thể quan sát được không gian xung quanh Lúc này, các em sử dụng các giác quan khác để bù đắp lại sự thiếu hụt đó như sử dụng thính giác, sử dụng xúc giác [47, tr.38]
Để tạo kiều kiện thuận lợi cho các em có thể tưởng tượng được thế giới khách quan, thì cộng đồng đặc biệt là những người thường xuyên tiếp xúc với các em như thầy, cô giáo, cha mẹ, bạn bè của các em cần thường xuyên mô tả ngắn gọn hình ảnh các sự vật, hiện tượng xung quanh các em khiếm thị
1.3.2 Đặc điểm thính giác của trẻ em khiếm thị
Cảm giác là các thông tin đơn lẻ phản ánh từng tính chất của sự vật và hiện tượng được cơ quan cảm giác thu nhận (giác quan); Thính giác là cơ quan cảm giác âm thanh
Đôi khi chúng ta phải ngạc nhiên trước việc nhiều người mù có khả năng nhận biết âm thanh rất tuyệt vời Nghiên cứu mới đây của Alexander Stevens, một chuyên gia của Đại học tổng hợp Sức khỏe và Khoa học Oregon đã lý
giải được nguyên nhân những người sớm bị mù thì thính giác phát triển hơn so với những người bình thường khác Nguyên nhân nằm ở phần chẩm não Bình thường, chẩm não có chức năng rất quan trọng là cảnh báo mỗi khi con người chịu tác động của một tín hiệu hình ảnh nào đó Nhờ có sự cảnh
Trang 24mục đích khác, trở thành “chuông báo động” đối với các tín hiệu âm thanh
Trong nghiên cứu của mình, Stevens đã áp dụng phương pháp chụp cắt lớp não của những người mù mỗi khi có âm thanh tác động, kết quả từ máy scan cho thấy phần chẩm của họ hoạt động rất tích cực đã tạo cho người mù có khả năng nghe vượt trội hơn.[2, tr.1]
Khi thị giác bị khiếm khuyết thì thính giác của trẻ em khiếm thị thông thường rất phát triển Thính giác và ngôn ngữ là hai thành phần quan trọng nhất giúp cho người khiếm thị giao tiếp với cuộc sống Các em khiếm thị có khả năng cảm thụ âm thanh tinh tế Họ có năng lực nghe tốt và có thể nhờ âm thanh mà đoán được sự kiện đang diễn ra bên ngoài Đặc biệt hơn, trẻ em khiếm thị có thể đoán biết được tâm trạng, tính cách người đối diện thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ
Theo quy luật bù trừ của cảm giác: Khi một cảm giác nào đó bị mất đi, thì
độ nhạy của cảm giác khác sẽ tăng lên bù cho cảm giác đã mất Khả năng của con người thật đặc biệt khi có một cảm giác nào đó mất đi hoặc kém đi thì tính nhạy cảm của các cảm giác khác được tăng cường Nhờ đó mà con người vẫn
có thể trả lời được những tác động khác nhau của ngoại giới Người mù có thể nghe tiếng bước chân đi của người khác để phân biệt, nhận ra từng người Ở những người khuyết tật, mất một hay hai giác quan nào đó thì giác quan khác
sẽ phát triển mạnh mẽ hơn để bù trừ Tuy thiếu đi thị giác nhưng được bù trừ bằng thính giác do tập trung nghe, nên khả năng cảm nhận âm thanh của người khiếm thị tốt hơn và ổn định hơn so với người bình thường [24, tr.33]
Các trẻ em khiếm thị chơi các loại nhạc cụ tốt, các em có thể học và chơi nhiều loại nhạc cụ khác nhau Khoa học và thực tiễn đã chứng minh được rằng: Muốn có độ nhạy của thính giác cần phải được rèn luyện thường xuyên
Âm nhạc là một công cụ rèn luyện thính giác rất tốt cho trẻ khiếm thị
Trang 25Căn cứ quy luật bù trừ sinh học trong hoạt động của người khiếm thị là một yếu tố quan trọng làm cơ sở phương pháp luận cho việc lựa chọn các bài tập thể thao có thiên hướng sử dụng âm thanh, xúc giác, cảm giác vân động và
cơ qua tiền đình để phát triển thể lực và năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị
1.3.3 Đặc điểm xúc giác (cảm giác sờ) của trẻ em khiếm thị
Cảm giác xúc giác là tổng hợp của nhiều loại cảm giác gồm: cảm giác áp lực, cảm giác nhiệt, cảm giác đau, cảm giác sờ
Có hai loại cảm giác xúc giác: cảm giác xúc giác tuyệt đối và cảm giác xúc giác phân biệt:
- Ngưỡng cảm giác tuyệt đối là khả năng nhận rõ một điểm của vật tác động vào bề mặt của da
- Ngưỡng cảm giác phân biệt: là khả năng nhận biết 2 điểm gần nhau đang kích thích trên da
Khoảng cách tối thiểu giữa các chấm nổi trong ô ký hiệu Braille chỉ bằng 2.5mm (ngưỡng xúc giác phân biệt ở đầu ngón tay trỏ của người bình thường
là 2.2 mm và ở trẻ em khiếm thị là 1.2mm) Nhờ vậy, tay của người khiếm thị
sờ đọc chữ Braille không gặp khó khăn về nguyên tắc Đó cũng chính là cơ sở khoa học của hệ thống kỹ hiệu Braille
Ngoài ra, cảm giác xúc giác còn giúp cho trẻ em khiếm thị ước lượng được vị trí, kích thướng cũng như tính chất của vật thể Các em khiếm thị có thể cảm nhận được hình dáng của người thân thông qua việc tiếp xúc
Đôi tay của trẻ mù thay thế cho đôi mắt của chúng Nếu chúng ta giữ chặt đôi tay của trẻ, điều đó có nghĩa là chúng ta không cho trẻ "nhìn" thế giới xung quanh Vì thế muốn cho trẻ khiếm thị xem một cái gì hãy hướng dẫn cho trẻ làm thế nào thực hiện công việc nào đó, điều quan trọng là hãy mời gọi trẻ
và cẩn thận cho trẻ cùng làm những gì mà bạn đang làm
Việc rèn luyện hoạt động sờ cho trẻ em khiếm thị sẽ giúp cho các em bù vào phần thiếu hụt về hình ảnh của thị giác, tăng thêm các biểu tượng khái niệm, giàu hình tượng cụ thể [24, tr.34]
Trang 261.3.4 Cảm giác vận động của trẻ em khiếm thị
Cảm giác cơ khớp vận động là những thông tinvận động được cơ quan cảm thụ vận động thu nhận trong quá trình vận động của cơ thể
Theo P.A Ruddich: Bất kỳ một động tác nào của toàn bộ các bộ phận cơ thể đều kèm theo cảm giác vận động cơ Nhờ cảm giác vận động cơ mà con người nhận được thông tin: về tư thế cơ thể trong không gian, sự sắp xếp tương ứng với nhau của tất cả các bộ phận cơ thể, về động tác của toàn than hay các bộ phận của nó, về co, giãn và thả lỏng cơ.[70, tr.157]
Theo Nguyễn Văn Hường, Cao Tiến Chấn: Cảm giác khớp cơ vận động
là cảm giác nhận biết các tín hiệu bên ngoài từ các cơ quan vận động của cơ thể Nhờ cảm giác này, trong di chuyển, nhiều người điều chỉnh bước đi được chính xác, nhận biết được tín hiệu vận động của bộ máy phát âm, nhận biết được dấu hiệu không gian, khoảng cách, phương hướng tốc độ và độ dài của thời gian, tính chat cơ học của vật thể, trọng lượng
Đối với trẻ em khiếm thị, đây là cảm giác rất quan trọng Nó giúp các em ước lượng khoảng cách di chuyển, xác định hướng chuyển động của cơ thể,
đồ vật, dùngsức một cách hợp lý…[47, tr.52-54]
1.3.5 Cảm giác rung của trẻ em khiếm thị
Cảm giác rung: là cảm giác phản ánh sự giao động môi trường không khí Loại cảm giác này ở người thường ít có ý nghĩa thiết thực trừ một số ít người làm nghề lái máy bay, lái xe gắn máy nhờ nó có thể biết được tình trạng hoặt động của máy móc, động cơ Với người khiếm thị nhờ có cảm giác rung mà họ có thể dự đoán được vật cản, độ lớn, khoảng trống sắp đi tới[47, tr.55]
1.3.6 Đặc điểm vị giác- khứu giác của trẻ em khiếm thị
Cảm giác mùi vị phản ánh tính chất hóa học của vật chất
Thông qua mùi vị, trẻ em khiếm thị dễ dàng xác định được đối tượng, địa điểm như nhà ăn, nhà vệ sinh Ngoài ra các emcòn có thể cảm nhận được người quen thông qua mùi của cơ thể, mùi mồ hôi Ngoài ra, cảm giác về mùi
Trang 27vị còn giúp ích rất nhiều đối với người khiếm thị trong cuộc sống Ví dụ: Đi chợ, thông qua việc ngửi thức ăn hay nếm thức ăn mà có thể biết được đồ ăn
là ngon hay không ngon, còn sử dụng được hay không [47, tr.55]
Việc hướng dẫn trẻ em khiếm thị làm quen với mùi vị giúp các em tích lũy vàhoàn thiện kỹ năng sống
1.3.7 Cảm giác thăng bằng của trẻ em khiếm thị
Là cảm giác phản ánh sự cảm nhận cơ thể trong không gian
Cơ quan cảm giác thăng bằng là bộ phận tiền đình nằm ở tai trong Đây
là cảm giác không thể thiếu được đối với mỗi người Nó giúp cho cơ thể có thể chuyển động trong không gian Đặc biệt đối với trẻ emkhiếm thị, cảm giác thăng bằng được hình thành và phát triển từ rất sớm Nó giúp cho các em có thể định hướng được vị trí, tư thế của cơ thể trong không gian sống Cảm giác thăng bằng của trẻ em khiếm thị tốt hơn so với người bình thường nếu như người bình thường bị bịt mắt [47, tr.52-56]
1.3.8 Đặc điểm tri giác của trẻ em khiếm thị
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh trọn vẹn thuộc tính của sự vật
và hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của ta
Không phải chỉ có một cơ quan mà có cả hệ cơ quan cảm giác tham gia vào quá trình tri giác Tùy theo đối tượng và nhiệm vụ, tri giác xác định giác quan nào giữ vai trò chính Nếu nghe giảng văn thì thính giác giữ vai trò chính, nếu xem tranh thì thị giác giữ vai trò chính
Hình ảnh xuất hiện trên vỏ não do tri giác sờ đem lại tuy bị hạn chế hơn
so với tri giác nhìn nhưng cũng giúp cho trẻ khiếm thị nhận biết hình ảnh một cách trung thực
Giữa mắt và tay có thể phản ánh những dấu hiệu giống nhau (hình dạng,
độ lớn, phương hướng, khoảng cách, thực thể, chuyển động hay đứng yên) và những dấu hiệu khác nhau
Nhận biết màu sắc ánh sáng, bóng tối thì mắt mới phản ánh đầy đủ trọn vẹn Nhận biết về áp lực, trọng lượng, nhiệt độ thì tay phản ánh tốt hơn
Trang 28Hiệu quả tri giác sờ chỉ được phát huy khi trẻ bị mù hoàn toàn Đó là điều lý giải vì sao người sáng mắt khi bị bịt mắt để sờ đọc và viết chữ nổi không hiểu quả như người mù [73, tr.16]
1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ em khiếm thị
Khi ở cùng với gia đình, trẻ em khiếm thị thường nhận được nhiều sự che chở của cha mẹ Đi đâu cũng có người đi theo để bảo ban, dẫn dắt Chính
vì vậy mà khi ở nhà, các em khiếm thị dễ dẫn tới tính ỷ lại, luôn mong chờ sự giúp đỡ của người khác Khi bắt đầu đến tuổi đi học, các em phải ở nội trú tại trường Điều đó giúp các em tự lập hơn, tuy lúc đầu còn bỡ ngỡ
Sự phát triển trí tụê và hoạt động học tập: Khi đến trường, hoạt động của trẻ căng thẳng hơn, các em phải làm việc theo một kế hoạch nhất định, đúng với yêu cầu của giáo viên và nhà trường Đối với các em, các nhiệm vụ được đặt ra rất cụ thể, đòi hỏi phải có sự cố gắng của cả thầy và trò mới có thể hoàn thành được Toàn bộ khối lượng kiến thức thuộc nội dung chương trình học tập của các
em làbắt buộc, các em phải học chữ nổi, học cách phát âm ,v.v do đó, các em phải có tính kỉ luật cao và cần phải có ý thức vươn lên trong cuộc sống
Trí tuệ của các em ngày một phát triển trong sự tác động qua lại giữa nội dung kiến thức đã thu nhận được với các hình thức lao động trí óc ngày càng phức tạp hơn và năng lực hoạt động trí tuệ độc lập, sáng tạo Từ đó hình thành
xu hướng học tập, thái độ trách nhiệm với công việc động cơ học tập [85, tr.198]
- Sự chú ý là tiền đề để trẻ em khiếm thị tiếp thu,nắm vững kiến thức và
kỹ năng vận động Ở lứa tuổi này, chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn so với chú ý chủ định do ý chí chưa phát triển
- Trí nhớ của trẻ em lứa tuổi này được phát triển phong phú và hoàn thiện trong quá trình nắm vững bài học Đối với trẻ em khiếm thị, giáo viên cần sử dụng lời nói sinh động và dễ hiểu để giúp các em nhanh chóng hoàn thành bài tập Tuy nhiên, cần phân tích thật kỹ từng động tác lẻ sau đó mới hoàn chỉnh tổ hợp các động tác cho các em
Trang 29Tình cảm của các em trẻ em khiếm thị phát triển do sống cùng với nhau trong cùng một nơi, cùng có cảnh ngộ thiệt thòi giống nhau Do đó các em dễ hòa đồng, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau
Do tổn thương cơ quan thị giác, các phản ánh tâm lý của trẻ khiếm thị đã thay đổi và trở nên phiến diện (do mất hoặc hạn chế những cảm tưởng về thị giác) Nhưng không chỉ riêng khuyết tật, mà chính hoàn cảnh xã hội mà trẻ khiếm thị sống có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành ở trẻ những nét rõ rệt trong các mối quan hệ với người khác Chính vì những người xung quanh
có thái độ với trẻ khác với trẻ bình thường, nên những nét đặc thù trong tính cách của trẻ được hình thành và củng cố Trẻ khiếm thị nhận thấy mối quan tâm không như nhau đối với mình và anh chị em, những người bạn bình thường : một mặt, trẻ khiếm thị cảm thấy người ta yêu thương, thương hại, mặt khác, lại cảm thấy mình là gánh nặng với người thân
Vì khiếm khuyết của mình khiến trẻ em khiếm thị gặp trở ngại lớn trong tiếp cận thông tin, lĩnh hội tri thức, kỹ năng vận động Do đó, mối quan hệ xã hội của chúng chủ yếu thu hẹp trong phạm vi gia đình và những bạn bè cùng hoàn cảnh Vì thế, sự phát triển các kỹ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị đã chậm, càng trở nên chậm hơn do vô tình chúng bị cô lập ra khỏi một xã hội bình thường với những con người bình thường
Ở trẻ khiếm thị, do ảnh hưởng của khuyết tật, tất cả các quá trình tâm lý đều có khiếm khuyết, trong đó ảnh hưởng nhiều nhất là hoạt động tư duy Bởi
tư duy của con người liên hệ chặt chẽ với quan sát Hình ảnh, hiện vật, sự vật
là cái vỏ bọc vật chất đặc biệt của tư tưởng Trẻ khiếm thị tiếp nhận sự vật, sự kiện muộn hơn so với trẻ bình thường, chính vì thế trong hoạt động tư duy người ta thấy nhiều nét đặc thù Những nét đặc thù này cũng quy định một số đặc điểm trong học tập của trẻ khiếm thị, phân biệt với những trẻ khác
Trẻ khiếm thị chậm phát triển những thao tác tư duy hơn so với những trẻ khác - bao gồm các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá
và khái quát hoá Trẻ khiếm thị gặp khó khăn trong việc nhận thấy cái chung, cái giống nhau trong các sự vật cần so sánh Đối với thao tác trừu tượng hoá
Trang 30những dấu hiệu chung, những khó khăn mà trẻ khiếm thị gặp phải được giải thích bằng sự không hoàn thiện trong hoạt động phân tích của nó Trong quá trình hoạt động phân tích, trẻ khiếm thị thường chú ý đến những dấu hiệu và thuộc tính không quan trọng Sự không hình thành hình ảnh, hoặc hình thành, hình thành quá muộn, sự nghèo nàn về hình ảnh xung quanh ảnh hưởng xấu đến sự phát triển khái quát hoá Điều này có thể giải thích bằng sự không hoàn thiện của các thao tác, động tác tổng hợp ở trẻ khiếm thính
Những khiếm khuyết nói trên trong các thao tác tư duy làm chậm công việc học tập của trẻ khiếm thị - đặc biệt là khi trẻ bị đặt vào một tình huống có vấn đề trong học đường Do sự chậm trễ này, trẻ khiếm thị thường ít khi được
đi học đúng với tuổi của mình (các em thường học muộn hơn so với trẻ bình thường) Do đó, không có gì lạ nếu như trong học tập, trẻ khiếm thị (6 -9 tuổi) chỉ có khả năng tư duy và nhận thức vấn đề của một trẻ ít tuổi hơn
Mặt khác, trẻ khiếm thị thường được giáo dục trong môi trường đặc biệt Do đó mối quan hệ liên nhân cách trong học đường của các em cũng hết sức đặc thù
Như đã biết, một con người tích cực nhận thức và cải tạo hiện thực xung quanh thì được gọi là nhân cách Khi ta nói đến con người như là một nhân cách, chúng ta giả định rằng ở con người có một hệ thống nào đó những quan điểm, những niềm tin, những lý tưởng, rằng người ấy giữ một lập trường nhất định đối với người khác và chính mình Nhân cách của con người, từ khi còn
là đứa trẻ, hình thành dần dần trong quá trình giao tiếp, quan sát với người lớn, trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội của loài người
Sự hình thành nhân cách trẻ khiếm thị có những đặc điểm của nó Thứ nhất, trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp với người xung quanh, điều đó làm chậm đi quá trình thu nhận thông tin Thứ hai, sự phá huỷ cơ quan thị giác làm nghèo đi kinh nghiệm của đứa trẻ, làm chúng mất khả năng tiếp thu một mặt rất quan trọng của hoạt động cuộc sống; mặt này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển tình cảm, cảm xúc.Thứ ba, khuyết tật khiến trẻ khiếm thị hạn chế trong chính khả năng của mình với tốc độ chậm
Trang 31Trong cấu trúc nhân cách của trẻ khiếm thị, có thể tồn tại đồng thời hai mặt: Một mặt, trẻ lạc quan, yêu đời, rất có ý chí, rất cố gắng, tin tưởng vào tương lại và có kế hoạch cụ thể cho tương lai của mình Mặt khác, chúng lại cũng rất tự ti, mặc cảm, sợ bị thương hại, dễ tự ái… Những đặc điểm này tồn tại song song, do trẻ hiểu về khuyết tật của mình, song đồng thời trẻ được giáo dục, nuôi dạy trong một môi trường với những người giống như mình,
nên tự có ý thức hình thành cho mình ý chí, bản lĩnh nhất định [22, tr.25-26] 1.5 Nhu cầu người khiếm thị - trẻ em khiếm thị
Biểu đồ 1.2 : Sơ đồ bậc thang nhu cầu của A.Maslow [23, tr.27]
Hòa nhập
Cộng đồng
Nhu cầu lao động, học tập, thăng tiến
Tôn trọng, bình đẳng, lắng nghe, không bị coi thường, dán nhãn, tôn trọng tự do cá nhân Nhu cầu về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, được giao tiếp, hòa nhập, có vị trí trong gia đình, lớp học, nơi làm việc
Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình phục hồi chức năng Môi trường sống an toàn không gây khó khăn và thương tật khi vận động
Nhu cầu sinh lý, ăn uống, không khí, nhà
ở, đường đi, đồ đạc,… bố trí thuận tiện
cho sinh hoạt hàng ngày
Trang 321.5.1 Nhu cầu sinh lý
Đây là nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại như ăn uống, không khí, nhà ở, đường đi, đồ đạc,…Nhu cầu về tình dục, kết hôn, sinh con Người khiếm thị luôn mong muốn có một cuộc sống khỏe, sống có ích Việc
có một gia đình hạnh phúc với những đứa con khỏe mạnh tưởng chừng như rất dễ dàng đối với người bình thường nhưng lại là một thử thách đối với người khiếm thị Họ nghĩ rằng: “Lo cho mình còn không nổi bây giờ biết chăm lo cho con làm sao?” Do vậy rất nhiều người khiếm thị không lập gia đình không phải vì họ không muốn Họ thường cảm thấy tủi thân, sống khép
mình với xã hội [22, tr.27]
Vậy để đáp ứng được với những mong ước của người khiếm thị về mặt sinh
lý, cộng đồng cần phải chung tay quan tâm giúp đỡ họ, tạo cho họ sự bình đẳng
cả về vật chất lẫn tinh thần Giúp cho họ có niềm tin vào cuộc sống Tư vấn, đưa
ra các giải pháp, hỗ trợ người khuyết tật để cho họ thấy họ vẫn còn rất có ích cho đời Họ có quyền có một cuộc sống hạnh phúc cùng cộng đồng
1.5.2 Nhu cầu về an toàn
Đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an toàn, bình yên, ổn định, được sống trong sự bình ổn về kinh tế, về pháp luật, về trật tự xã hội, không bị đe dọa…, Khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn mà nhu cầu an toàn chưa được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành động của con người Con người muốn có một thế giới bình yên, mọi sự mất
ổn định đều làm con người ta lo lắng sợ hãi…Tuy Nhà nước đã có rất nhiều
cố gắng như hỗ trợ kinh phí cho người khuyết tật di chuyển như đi xe buýt miễn phí nhưng việc đi lại vẫn còn nhiều khó khăn, vì hiện nay chưa có nhiều phương tiện giao thông dành riêng cho người khiếm thị, cụ thể các phương tiện giao thông chưa thuận lợi cho người khiếm thị sử dụng Ở nhiều tòa nhà cao tầng, bệnh viện không thiết kế cầu thang dành cho người khuyết tật Việc mất an toàn đối với người khuyết tật trong đó có người khiếm thị sẽ khiến cho
Trang 33họ không tự tin khi thực hiện công việc Do đó, việc tạo một môi trường an toàn sẽ thúc đẩy và cải thiện hoạt động sống của người khuyết tât theo chiều
hướng tích cực [22, tr.28]
1.5.3 Nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao tiếp
Đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của mình qua tương tác với những người khác, và
họ cũng học được qua người khác, hiểu và biết các sống chung cùng người khác, biết hòa nhập với mọi người, với cộng đồng, xã hội
Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác
Mối quan hệ giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình thức giao tiếp khác nhau:
Giao tiếp giữa cá nhân và các nhân
Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm
Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng
Giao tiếp vừa mang tính chất xã hội vừa mang tính chất các nhân:
Tính chất xã hội thể hiện ở chỗ nó được nảy sinh hình thành trong xã hội và sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Tính cá nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi nhu cầu, phong cách ký năng
giao tiếp ở mỗi người [22, tr.28]
Các nhà nghiên cứu về khiếm thị đã chỉ ra rằng, khiếm thị, lòa đã gây ra những hạn chế nghiêm trọng đối với sự phát triển chức năng nhận thức, đó là: Phạm vi và số lượng tiếp xúc, nhận biết
Khả năng đi lại
Khả năng tương tác với môi trường xung quanh
Những hạn chế này ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội, tình cảm, trí tuệ và đặc biệt là khả năng giao tiếp, đó là do họ không đủ thông tin, vì trên thực tế có
Trang 34trên 80% thông tin từ thế giới bên ngoài đi vào tâm hồn con người thông qua kênh thị giác Khả năng đi lại trong môi trường xung quanh có thể ảnh hưởng đến khía cạnh tâm lý cá nhân, khía cạnh xã hội, khía cạnh tình cảm…Người ta nói: “mất khả năng đi lại tự do và an toàn là sự tước đoạt lớn lao nhất khi bị khiếm thị”
1.5.4 Nhu cầu được tôn trọng
Đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng, tự tin vào khả năng, nhu cầu
về vụ thế, uy tín, tôn trọng phẩm giá , không bị coi thường, định kiến hoặc chối bỏ Tôn trọng mọi người là một nét văn hoá rất đặc trưng của con người Việt Nam, và đây lại là yếu tố quan trọng về sự bình đẳng và đoàn kết sống còn trong quần thể xã hội Mọi người trong xã hội đều có quyền được sống và làm việc trong sự tôn trọng và hiểu biết và chia sẽ lẫn nhau Tôn trọng mọi người
Tôn trọng ở đây không có nghĩa là thương hại Người khiếm thị luôn mong muốn được làm việc, được lao động phù hợp với năng lực bản thân Họ không muốn là gánh nặng cho xã hội, muốn được hưởng thành quả từ chính sức lao động của mình Việc thương hại sẽ là cho họ bị tổn thương Do đó cần quan tâm đến việc đào tạo nghề, hướng nghiệp, tạo công ăn việc làm Đó chính là điều mà người khiếm thị mong muốn có, chính là thể hiện sự tôn trọng của cộng đồng đối với họ
Trang 351.5.5 Nhu cầu về lao động, thăng tiến, phát triển
Đây là nhu cầu giúp con người phấn đấu, vươn lên, hoàn thiện bản thân, tìm kiếm sự hoàn hảo
Theo quan điểm của Việt Nam, tại Điều 1, Nghị định số 116/2004/NĐ-CP
“Lao động là người tàn tật theo quy định tại Nghị định này là người lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc
cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ Y tế”
Đây là khái niệm tương đối toàn diện về lao động tàn tật, khắc phục những bất cập trong khái niệm lao động tàn tật nêu ở Nghị định số 81/CP, bởi ngoài việc nêu hậu quả của tàn tật là suy giảm khả năng lao động 21%, có giám định y khoa, khái niệm còn nêu rõ thế nào là tàn tật: bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau Khái niệm này sẽ rất thuận lợi cho các mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho từng lao động tàn tật, hoặc người sử dụng lao động tàn tật Điều này mang lại ý nghĩa to lớn, giúp cho việc hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đối với lao động tàn tật được hiệu quả
Lao động đối với người khiếm thị có ý nghĩa quan trọng Nó thể hiện về mặt kinh tế, xã hội và pháp lý:
Ý nghĩa kinh tế: Pháp luật lao động tàn tật góp phần xây dựng đất nước, giải phóng sức lao động bởi lẽ pháp luật về lao động của người khiếm thị đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho lao động tàn tật, vượt qua mặc cảm, khó khăn của bản thân để lao động sản xuất, giúp họ tự lập, ổn định cuộc sống Pháp luật về lao động tàn tật đã tạo cơ hội cho người khiếm thị phát huy tiềm năng, trí lực và cả sức lao động của họ cho sự phát triển xã hội Lao động là người khiếm thị là một lực lượng lao động không nhỏ, đồng thời cũng
là một lực lượng tiêu dùng những sản phẩm công nghệ Khi người lao động
Trang 36có cơ hội giáo dục, học nghề, việc làm sẽ giảm đi rất nhiều khoản trợ cấp xã hội và bảo hiểm y tế Rõ ràng, lao động là người khiếm thị đã góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân, công việc mà họ đang làm đã giúp giảm bớt chi phí dành cho phúc lợi tàn tật và có thể giảm nghèo [22, tr.30-31]
Quyền làm việc là tiền đề tạo cơ hội cho lao động là người khiếm thị có việc làm, có cơ hội tiến thân, tự lập trong cuộc sống, không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với lao động tàn tật trong điều kiện nền kinh tế có nhiều chuyển biến
1.5.6 Nhu cầu hòa nhập cộng đồng
Nhu cầu hòa nhập cộng đồng là nhu cầu lớn nhất đối với người khuyết tật Hòa nhập cộng đồng là một quá trình tạo điều kiện và cơ hội cho người khuyết tật bình thường hóa các mối quan hệ để họ có thể tham gia,hòa nhập vào cộng đồng nơi họ cư trú với tư cách một công dân, một thành viên của gia đình, cộng đồng, xã hội
Hòa nhập cộng đồng thực chất là một quá trình giáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện để người khuyết tật thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ của một công dân (như học tập, giao tiếp, việc làm, kết hôn…) Hòa nhập cộng đồng được hiểu ở hai phương diện:
Một là: Hòa nhập cộng đồng được tiến hành từ quá trình tác động bởi
phía bên ngoài đối với người khuyết tật, để người khuyết tật phát huy tốt các khả năng còn lại, đồng thời xã hội hỗ trợ để người khuyết tật có thể tự chủ, độc lập, tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống cộng đồng trong phạm vi có thể
Hai là: Hòa nhập cộng đồng phải được triển khai từ chính bản thân
người khuyết tật, tăng cường nội lực, khắc phục những khó khăn, trở ngại tâm
lý từ phía bản thân Đây là quá trình thể hiện tính tích cực, chủ động, thể hiện năng lực, ý chí của người khuyết tật, giúp họ có thể đương đầu với những khó khăn gặp phải, nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề, quá trình tự thân vận động để mong muốn tiến bộ, phát triển
Trang 37hệ thống thích ứng về năng lượng,thì năng lực phối hợp vận động lại phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điều khiển hành động vận động, liên quan chủ yếu đến quá trình thu nhận và sử lý các thông tin vận động [85, tr.358] Năng lực phối hợp vận động là một tập hợp các tiền đề cho việc học và hoàn thiện một cách nhanh chóng các kỹ năng kỹ, xảo kỹ thuật thể thao Năng lực phối hợp được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển và điều chỉnh hoạt động vận động (quá trình thu nhận và sử lý các thông tin tâm-sinh học-vận động) [39,tr.137]
Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm
lý và các năng lực khác như năng lực dùng sức động và tĩnh, sức mạnh, sức nhanh, sức bền [85, tr.358]
Năng lực vận động của trẻ em khiếm thị thể hiện ở việc nhanh chóng xác định phương hướng của chuyển động Để từ đó thực hiện một cách có hiệu quả các hành động vận động nói chung và NLĐH trong không gian nói riêng Phát triển tốt các năng lực này sẽ giúp cho người khiếm thị thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, hợp lý các hoạt động vận động trong đời sống, lao động và sản xuất
D.Harre(1996) năng lực phối hợp vận động là tổ hợp của các năng lực phối hợp dưới đây:
Năng lực liên kết: Là khả năng phối hợp các động tác của các phần cơ thể,
các động tác riêng lẻ và các hoạt động với nhau trong mối quan hệ với động tác
Trang 38toàn thân hướng theo một mục đích hành động nhất định Khả năng liên kết có quan hệ với các thông số động tác về thời gian, không gian và động lực
Năng lực định hướng: Là khả năng xác định thay đổi vị trí và động tác
của cơ thể trong không gian và thời gian Có liên quan đến một môi trường hoạt động qui định hoặc một đối tượng di động
Năng lực phân biệt: là khả năng đạt được một tính chính xác và tinh tế
cao (hoà hợp một cách tinh tế) của từng động tác của các phần cơ thể và từng giai đoạn động tác của toàn bộ sự thực hiện động tác Khả năng phân biệt dựa trên cơ sở phân biệt chính xác và có ý thức các thông số lực, thời gian và không gian của quá trình động tác tồn tại trong tưởng tượng
Năng lực thăng bằng: là khả năng giữ toàn bộ cơ thể ở trạng thái thăng
bằng (thằng bằng tĩnh) hoặc duy trì hay khôi phục vị trí này trong và sau khi vận động (thăng bằng động)
Năng lực phản ứng: Là khả năng mở đầu và thực hiện nhanh chóng các
hành vi vận động xảy ra trong thời gian ngắn và hợp lý theo một tín hiệu
Năng lực thay đổi hoạt động: Là khả năng làm cho chương trình hành động
thích hợp với những tình huống mới và khả năng tiếp tục hành động theo một cách khác trong quá trình thực hiện động tác trên cơ sở thay đổi tình huống nhận thức và thấy trước được Những thay đổi tình huống có tính chất bắt buộc nhằm chuyển động tác có thể xảy ra và có thể xuất hiện một cách bất ngờ hoặc hoàn toàn bất ngờ
Năng lực nhịp điệu: Là năng lực nhận biết được sự luân chuyển các đặc
tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác [38,tr.358-363]
Trang 39trí, động tác trong không gian và hành động nhằm thay đổi vị trí của cơ thể được hiểu là một thể thống nhất, là khả năng điều khiển vận động hướng vào không gian và thời gian
Bên cạnh sự lường trước từng mục tiêu hành động thì sự phán đoán trước chương trình hành động là cơ sở cơ bản của NLĐH [38,tr.363]
Phát triển năng lực vận động cho trẻ em khiếm thị cần quan tâm phát triển toàn diện các năng lực phối hợp vận động nói trên, đặc biệt là NLĐH vận động, vì đối với người khiếm thị việc xác định phương hướng là tiền đề vận động quan trọng nhất Nói một cách hình ảnh đó là chìa khóa để mở cánh cửa vận động của trẻ em khiếm thị
Theo đó, để dạy học vận động cho trẻ em khiếm thị cần chú trọng khơi thác, phát huy và phát triển tiềm năng của các giác quan, đặc biệt là các cơ quan cảm giác: thính giác, cảm giác vận động, xúc giác…
1.6.3 Phương pháp phát triển năng lực định hướng và di chuyển cho trẻ em khiếm thị
Định hướng và di chuyển là năng lực sử dụng các giác quan còn lại để xác định vị trí của mình ở một không gian nhất định Tìm hiểu và quyết định hướng đi, từ vị trí cố định hiện tại đến vị trí mong muốn khác một cách an toàn, chính xác và thoải mái
Năng lực định hướng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với trẻ emkhiếm thị Việc xác định phương hướng đối với người khiếm thị rất khó khăn Do vậy, việc nâng cao NLĐH trong không gian cho người khiếm thị là một nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng, giúp cho trẻ em khiếm thị dễ dàng hơn trong việc di chuyển Trên cơ sở đó, các em có thể lao động để nuôi sống mình, gia đình và tham gia hoạt động xã hội Bởi vậy, việc nâng cao NLĐH cho người khiếm thị phải được coi như một nhiệm vụ trọng tâm và cần phải thực hiện một cách có chủ đích, thường xuyên và lâu dài
Trang 40Dạy học vận động để phát triển NLĐH và di chuyển cho trẻ em khiếm thị
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm giúp các em trong các hoạt động sống, sinh hoạt hằng ngày như xác định vị trí một đồ vật, các khái niệm không gian cơ bản như định hướng trái, phải, sau, trước để mang giầy dép, mắc quần áo, phân biệt vật chất cứng, mềm, kim lọai, gỗ…vv Sau đó là di chuyển đến và cầm nắm chúng Xa hơn là giúp các em di chuyển độc lập, an toàn và có hiệu quả trong môi trường sống: nơi quen thuộc như nhà cửa và các hoạt động xã hội cần phải học tập, làm quen: các phương tiện giao thông, trường học, bệnh viện, cửa hiệu, nơi luyện tập, nơi lao động…
Giáo dục định hướng vận động cho trẻ em cần phải trở thành nhiệm
vụ quan trọng của giáo dục thể chất trong trường học, trong gia đình và trong cộng để giúp trẻ em khiếm thị điều kiện thuận lợi trong đời sống, trong học tập, lao động và hòa nhập xã hội
1.6.4 Xây dựng biểu tượng vận động:
Xây dựng biểu tượng vận động là mục tiêu quan trọng nhất trong dạy học vận động cho trẻ em khiếm thị
1.6.4.1 Đặc điểm biểu tượng
Trong tiếng Việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác, biểu tượng (BT) là một
từ đa nghĩa và Khoa học Tâm lý không phải là lĩnh vực duy nhất sở hữu nó Khái niệm này đã và đang được nhắc đến thường xuyên trong Triết học, Văn học, Xã hội học, Tâm lý, Thể thao cũng như nhiều lĩnh vực khác như Nghệ thuật, Sân khấu, Luật học, Toán học Được xây dựng dựa trên tư tưởng gốc từ trong Triết học và Xã hội học, biểu tượng thực sự trở thành một khái niệm quan trọng trong Tâm lý học xã hội nhờ vào nghiên cứu của Moscovici (1961); Nghiên cứu này đã mở ra cánh cửa cho những cuộc tranh luận mới về vấn đề biểu tượng, cụ thể là biểu tượng xã hội và biểu tượng vận động
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về biểu tượng và đưa ra nhiều khái niệm :