Thế nhưng trong chương trình Ngữ văn THCS chưa dành thời gian cho giảng dạy lí luận, học sinh chưa nắm bắt được những kiến thức cơ sở của ngành để làm nền tảng khi tiếp nhận tác phẩm, đặ
Trang 1“GẮN LIỀN CHỨC NĂNG VĂN HỌC KHI GIẢNG DẠY
TÁC PHẨM VĂN HỌC”
Thạc sỹ: Võ Thị Thanh Tâm
Trường THCS số 2 Hưng Trạch
Lý luận văn học là một phân môn quan trọng trong chương trình Ngữ văn Đây được coi là môn cơ sở của ngành, cung cấp những tiền đề, kiến thức cơ bản để thâm nhập, thấu hiểu một tác phẩm văn học Trong thực tế việc dạy và học Lý luận văn học ở các Trường Đại học, Cao đẳng chuyên ngành được quan tâm, chú trọng
và ngày càng nâng cao về chất lượng chuyên môn Ở các trường Trung học phổ thông lý luận văn học đã được đưa vào giảng dạy và bước đầu cung cấp cho học sinh những nền tảng cơ bản Thế nhưng trong chương trình Ngữ văn THCS chưa dành thời gian cho giảng dạy lí luận, học sinh chưa nắm bắt được những kiến thức
cơ sở của ngành để làm nền tảng khi tiếp nhận tác phẩm, đặc biệt là vấn đề “chức năng văn học” – nó gắn chặt với việc giải mã ý nghĩa của tác phẩm và áp dụng vào
thực tế cuộc sống Chính vì vậy “gắn liền chức năng văn học khi giảng dạy tác phẩm văn học” là một vấn đề cần được quan tâm và thực hiện nghiêm túc để cung
cấp cho học sinh các tri thức lí luận, làm cơ sở lý giải các vấn đề của tác phẩm một cách toàn diện
Theo từ điển thuật ngữ văn học: “chức năng của văn học là vai trò, tác dụng của văn học đối với đời sống xã hội, giá trị xã hội của văn học đối với đời sống tinh thần của con người…chức năng văn học được nhấn mạnh là chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ, chức năng giao tiếp, bởi vì văn học là tiếng lòng của con người hướng tới các giá trị chân, thiện, mĩ” [2,
tr.98]
1.Hiện nay song song với phương pháp dạy học truyền thống, phương pháp
dạy học tích cực – phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh được áp dụng, phát huy hiệu quả Khi giảng dạy tác phẩm văn học, người giáo viên nên có nghệ thuật lồng việc dạy chức năng nhận thức của văn học qua sự phát huy tính tích cực của học sinh Chức năng nhận thức là tác phẩm cung cấp cho người đọc những hiểu biết phong phú về lịch sử, địa lý, về văn hoá, xã hội, phong tục tập quán…và quan trọng hơn là giúp họ khám phá những vấn đề xã hội, những bí ẩn trong đời sống tình cảm và tâm hồn của con người Người giáo viên nên khéo léo hướng dẫn học sinh nhận ra các tri thức trên nhiều lĩnh vực mà văn bản cung cấp kết hợp đồng
Trang 2thời với việc giảng dạy tích hợp dọc với các lĩnh vực khác tạo nên sự toàn diện trong lĩnh hội tác phẩm văn học
Khi dạy văn bản “Chiếc lá cuối cùng” của OHenry - Ngữ văn 8, chức năng
nhận thức thể hiện ở chỗ văn bản đã mang đến cho người đọc những cái nhìn mới
về con người và đất nước Mỹ Đó là đất nước có những căn hộ cho thuê ẩm thấp bên các khu phố sầm uất Không chỉ ở tác phẩm này mới nhắc đến điều này mà trong rất nhiều tác phẩm khác của OHenry sự tương phản giữa tầng lớp những người nghèo khổ với sự hiện đại của nước Mỹ được thể hiện rõ Nước Mỹ, đằng sau cái Mỹ lệ hào hoa còn có những con người, cảnh tượng đối lập đến đáng thương với nó Nhận thức được chức năng nhận thức của văn học cũng có nghĩa là học sinh đã hiểu giá trị hiện thực của văn bản ấy
Trong văn bản “Ông Đồ”, Vũ Đình Liên đã phản ánh lại một nét đẹp văn
hoá truyền thống của dân tộc ta - viết câu đối chữ ngày tết Điều khiến chúng ta ngậm ngùi đó là khi biết được nét đẹp ấy đang dần dần mất đi Theo thời gian, hình ảnh “Ông đồ” đã vắng bóng
Bước sang giai đoạn những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, chúng ta nhận thức được sự khốc liệt của chiến tranh, sự khó khăn của hiện thực
cuộc sống thời chiến qua các tác phẩm văn học “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, “Những ngôi sao xa xôi”
của Lê Minh Khuê đã vẻ lại bức tranh chân thực về một giai đoạn đầy gian khổ khó khăn ấy Đó là hiện thực của những cơn sốt rét rừng, của cái đói, cái rét, cái thiếu thốn tình cảm gia đình Nhưng đó cũng là hiện thực của tinh thần lạc quan cách mạng và tình cảm yêu thương đoàn kết sẻ chia đã là sức mạnh để nhân dân ta vượt qua những kẻ thù lớn của lịch sử
Chức năng nhận thức của văn học xét đến cùng là giá trị hiện thực của văn học Đi sâu hơn nữa người giáo viên nên khéo léo lồng ghép tri thức lý luận vào văn học Bởi vì bản chất của văn học là phản ánh hiện thực khách quan thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn Một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm đứng trên hiện thực và phản ánh hiện thực, không xa rời cuộc sống Đây chính là cái cốt lõi làm tiền đề để học sinh tìm hiểu giá trị hiện thực trong mỗi tác phẩm
2 Sự phản ánh văn học bao giờ cũng có một khuynh hướng, gắn liền với
một chỗ đứng, một cách nhìn, một thái độ với hiện thực mô ta Do đó, văn học có
tác dụng giáo dục, cải tạo quan điểm, tư tưởng, đạo đức rất lớn “Nhưng văn học giáo dục con người không phải như một nhà thuyết giáo mà như là người bạn đồng hành, đối thoại tâm tình với bạn đọc, một tấm gương để người đọc tự soi
Trang 3mình, nên đã chuyển quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tự thuyết phục một cách tự giác” [2, tr.98] Tiếp nhận văn học nghệ thuật gắn liền với nhu
cầu muốn vươn đến cái đẹp, cái lí tưởng và cái hoàn mỹ Cho nên khi giảng dạy các tác phẩm văn học người giáo viên phải hướng dẫn học sinh tự tìm ra cái đẹp của tác phẩm để học sinh tự soi chiếu mình vào nó, làm sao để chuyển được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục của học sinh Đây cũng chính là tư tưởng
mà tác giả muốn gửi gắm tới bạn đọc bên cạnh một bức tranh hiện thực
Tiếp nhận “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi cần phải làm rõ vẻ đẹp của lòng
yêu nước Tình cảm ấy như Hồ Chủ Tịch đã nói đó là thứ vũ khí mạnh mẽ để nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước Từ sức mạnh của tình cảm ấy học sinh tự soi chiếu mình và có khát vọng vươn tới cái đẹp, có ý thức trách nhiệm với đất nước
Đến với những tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, thông qua hình tượng của các nhân vật chính
giáo viên hưỡng dẫn học sinh tìm hiểu, cảm nhận được cái đẹp trong nhân vật để học sinh tự soi chiếu mình vào đó Bổn phận làm con, tấm lòng hiếu thảo được đặt
lên hàng đầu Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” và Thuý Kiều trong “Truyện Kiều” đã làm tròn điều đó Trước sự hy sinh của Thuý Kiều
khi từ bỏ khát vọng chính đáng của con người đó là khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc, khát vọng được sống cho bản thân mình để bán mình làm tròn chữ
“hiếu” với cha mẹ đã làm cho người đọc cảm động và tự soi chiếu vào bản thân mình
Khi dạy “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng, “Chị Dậu” của Ngô Tất Tố,
“Lão Hạc” của Nam Cao, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tự cảm nhận được
vẻ đẹp trong tâm hồn nhân vật chính Đó là tình yêu thương, niềm tin dành cho mẹ; yêu thương gia đình, nghị lực sống mạnh mẽ; tình yêu thương con tha thiết và luôn giữ vững nhân cách cao đẹp trong mọi hoàn cảnh
Mỗi tác phẩm là một lý tưởng đẹp, một bài học quý báu, một khát khao để chúng ta vươn tới tự hoàn thiện mình Đó cũng chính là cái mong muốn mà người sáng tác khi cầm bút luôn trăn trở, băn khoăn làm sao để chuyển tải tới người đọc
Chức năng thẩm mĩ, giáo dục cũng chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm
mà cả người dạy và người học cần vươn tới Điều quan trọng là làm thế nào để giáo viên giúp học sinh đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên dạy Ngữ văn như Lep-Tôn-xTôi đã nói : “Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là làm thế nào để
Trang 4biết được quả đất tròn?” Chân lí là quý báu! Nhưng cách tìm ra chân lí còn quý hơn nhiều Giáo viên cần định hướng, phát huy tính tích cực của học sinh để học sinh tự cảm nhận được tính thẩm mỹ trong bài học và tự soi chiếu tìm được bài học cho mình để vươn tới vái lý tưởng, hoàn thiện Gắn liền chức năng văn học khi dạy tác phẩm văn học là tiền đề, cơ sở để học sinh tự tiếp nhận trong mỗi tác phẩm, là con đường để người học cắt nghĩa, lý giải ý nghĩa của tác phẩm, tư tưởng của nhà văn và tự soi chiếu với chính mình
3 “Văn học cũng là một phương tiện để giao tiếp Nhà văn đặt bút sáng tác
là để đáp ứng đòi hỏi bên trong bản thân mình về giãi bày, chia sẻ, trao đổi, đối thoại với người khác văn học là chiếc cầu nối người đọc với người đọc, một phương tiện liên kết xã hội” [2, tr.99] Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, thời
của công nghệ Cuộc sống ngày càng đáp ứng đủ nhu cầu của con người nhưng cũng là lúc đẩy con người vào sự cô đơn ghê gớm Mỗi con người là mộc ốc đảo giữa biển khơi Họ hoài nghi về sự tồn tại của chính mình Hoặc là cuộn mình trong vỏ bọc của chính mình, hoặc là tìm sự chia sẻ, đồng cảm Văn học giúp con người giao tiếp, tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn qua các nhân vật Tiếp nhận mỗi tác phẩm, học sinh biết đến một con người mới, một hoàn cảnh mới, tìm được
sự gắn kết trong tâm hồn Người đọc xúc động khi cảm thấy cùng cảnh ngộ với em
bé bán diêm trong “Cô bé bán diêm” của An-đec-xen, xúc động về tình cảm bà cháu khi đọc “Bếp lửa” của Bằng Việt, vơi đi nỗi buồn hơn khi thấy sự thiếu thốn tình cảm của Bé Hồng trong “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng
Mỗi tác phẩm là một cuộc giao tiếp Người đọc sẽ thấy mình không còn lẻ loi, giảm bớt đi sự cô đơn vốn là bản thể và luôn in sâu trong mỗi con người
4 Gắn liền chức năng của văn học khi dạy tác phẩm văn học cũng có nghĩa
là giáo dục kỹ năng sống một cách toàn diện, hướng học sinh tới cái hoàn thiện Thiết nghĩ đây là một vấn đề rất quan trọng, là đích đến của việc giảng dạy môn ngữ văn Thế nhưng trên thực tế chứng ta chưa chú trọng việc này Theo tôi cái quan trọng là không chỉ giúp học sinh cảm nhận, chia sẻ đồng cảm phát hiện được cái hay cái đẹp trong tác phẩm mà quan trọng nhất là từ những cái đẹp đó phải làm sao để nó là của học sinh Từ đó học sinh có cách sống, kỹ năng sống đúng với những cái đẹp mà học sinh đã biết
Người giáo viên dạy ngữ văn cần xác định rõ điều đó, cần khéo léo lồng ghép các tri thức lý luận nói chung cũng như chức năng văn học nói riêng khi dạy tác phẩm làm tiền đề, cơ sở để học sinh hiểu được bản chất của văn học, tiếp nhận
Trang 5được cái hay, vươn tới cái đẹp, cái lý tưởng và hoàn thiện Từ đó có những kỹ năng sống đẹp như những gì đã học
TÀI LIỆU THAM KHAO
1 Trần Đình Chung (2004), Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy Ngữ văn Trung học Cơ sở, NXB Giáo dục
2 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục
3 Nhiều tác giả (2000), Thiết kế giảng dạy văn chương ở nhà trường THPT- NXB
Giáo dục Hà Nội
4 Trần Đình Sử (1998), Những công trình Lý luận và phê bình văn học,NXB văn học
5 Bộ GD-ĐT (2004), Bộ sách giáo khoa và giáo viên ngữ văn THCS, NXB Giáo
dục
6 Nguyễn Đình Sử, Phương Lựu, Xuân Nam (2000), Lý luận văn học tập 2- NXB
Giáo dục