Nội dung nghiên cứu Điều tra sơ bộ, thu gom và xử lí nguyên liệu; Dùng phương pháp chưng ninh để chiết tách axit; Tổng hợp muối képNa /Zn hydroxycitrat; Xác định một số chỉ số hóa l
Trang 1-
NGUYỄN THỊ KIM THI
TỔNG HỢP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CỦA MUỐI KÉP NATRI – KẼM HYDROXYCITRAT
TỪ DỊCH CHIẾT HCA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƢ PHẠM
Đà Nẵng – 2016
Trang 2-
NGUYỄN THỊ KIM THI
TỔNG HỢP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CỦA MUỐI KÉP NATRI – KẼM HYDROXYCITRAT
TỪ DỊCH CHIẾT HCA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƯ PHẠM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN GS.TS ĐÀO HÙNG CƯỜNG
Đà Nẵng - 2016
Trang 3NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Kim Thi
1 Tên đề tài: “Tổng hợp và xác định cấu trúc của muối kép Natri - Kẽm
hydroxycitrat từ dịch chiết HCA”
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị
Nguyên liệu: vỏ quả bứa
Hóa chất: cồn 960, cồn 600, nước cất, NaOH 0,1N, phenolphthalein, ZnO
Dụng cụ và thiết bị:
- Cốc thủy tinh 250ml, 500ml, 1000ml, 2000ml;
- Phễu lọc, bếp điện, bếp cách thủy, tủ sấy, cân phân tích;
- Đũa thủy tinh, buret, pipet, bình tam giác, ống đong;
- Máy đo HPLC, máy đo IR
- Máy đo AAS
3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra sơ bộ, thu gom và xử lí nguyên liệu;
Dùng phương pháp chưng ninh để chiết tách axit;
Tổng hợp muối képNa /Zn hydroxycitrat;
Xác định một số chỉ số hóa lý: độ ẩm, hàm lượng tro;
Xác định cấu trúc của muối bằng phổ IR, HPLC
Kiểm tra độ hút ẩm của muối kép
4 Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Đào Hùng Cường
5 Ngày giao đề tài: 24/07/2015
Trang 4PGS.TS Lê Tự Hải GS.TS Đào Hùng Cường
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày … tháng 05 năm
Trang 5Em xin chân thành cảm ơn giảng viên GS.TS Đào Hùng Cường và NCS Lê Xuân Văn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các giảng viên giảng dạy và công tác tại phòng thí nghiệm khoa hóa, trường đại học Sư phạm đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong thời gian nghiên cứu đề tài này
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đã luôn động viên và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này một cách thành công tốt đẹp
Đà Nẵng, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Thi
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Nội dung nghiên cứu 3
6 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1 CÂY BỨA 5
1.1.1 Bộ Chè 5
1.1.1.1 Họ Chè (Theaceae) 5
1.1.1.2 Họ Măng cụt (Clusiaceae) 6
1.1.2 Bứa 6
1.1.2.1 Bứa mọi 8
1.1.2.2 Bứa mủ vàng [1], [7] 8
1.1.2.3 Bứa nhà 9
1.1.2.4 Tai chua 10
1.1.2.5 Garcinia cambogia 11
1.1.2.6 Garcinia indica 12
1.1.2.7 Garcinia atroViridis 13
1.2 AXIT HYDROXYCITRIC (HCA) 14
1.2.1 Nguồn gốc (-)-HCA 14
1.2.2 Sự khám phá (-)-HCA 14
1.2.3 Chiết tách HCA 16
1.2.4 Hoá học lập thể của HCA 16
1.2.5 Tính chất của (-)-HCA và lacton 17
1.2.6 Định lượng (-)-HCA 18
Trang 7(-)-HCA 21
CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 NGUYÊN LIỆU 23
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.2.1 Phương pháp chưng ninh 23
2.2.2 Phương pháp chuẩn độ axit – bazơ 24
2.2.3 Phương pháp trọng lượng 24
2.2.3.1 Xác định độ ẩm của nguyên liệu 24
2.2.3.2 Xác định hàm lượng tro 25
2.2.3.3 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS 25
2.2.4 Các phương pháp phân tích cấu trúc 26
2.2.4.1 Phương pháp sắc kí lỏng cao áp HPLC 26
2.2.4.2 Phương pháp phổ hồng ngoại IR 27
2.2.4.3 Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 30
3.1.1 Sơ đồ nghiên cứu 30
3.1.2 Xác định một số tính chất vật lý 31
3.1.2.1 Độ ẩm 31
3.1.2.2 Hàm lượng tro 31
3.1.3 Thực nghiệm tổng hợp muối kép Na/Zn hydroxycitrat 32
3.2 XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CỦA SẢN PHẨM MUỐI 33
3.2.1 Kiểm tra sản phẩm muối bằng phổ hồng ngoại IR 33
3.2.2 Kiểm tra sản phẩm muối bằng phổ HPLC 34
3.2.3 Xác định hàm lượng ion Zn2+ và Na+ trong sản phẩm muối kép băng phương pháp AAS 35
Trang 82.Kiến nghị 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 9Số hiệu Tên bảng Trang
1.1 So sánh tính chất vật lý của HCA, lacton từ Garcinia và
3.1 Kết quả xác định độ ẩm trong 10 gam vỏ quả bứa khô 31 3.2 Kết quả xác định hàm lƣợng tro trong vỏ quả bứa khô 32 3.3 So sánh kết quả phổ IR của muối kép Zn/Na HCA 34
3.4 Kết quả diện tích pic trên phổ HPLC của sản phẩm muối
3.5 Kết quả xác định hàm lƣợng ion Zn2+ và Na+ trong sản
Trang 10Số hiệu Tên bảng Trang
1.10 Công thức thông thường muối cặp kim loại nhóm IA và IIA 20 1.11 Công thức thông thường muối cặp kim loại nhóm IA và IIB 20 1.12 Công thức thông thường muối cặp kim loại nhóm II 21
3.4 Phổ IR của muối kép Zn/Na hydroxycitrat tinh chế 33
3.7 Cấu trúc dự đoán của muối kép Zn/Na hydroxycitrat 36 3.8 Phổ 13C-NMR của muối Zn/Na hydroxycitrat tinh chế 37 3.9 Phổ 1H-NMR của muối Zn/Na hydroxycitrat tinh chế 37
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Béo phì đang gia tăng nhanh chóng ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp và mọi quốc gia, tạo nên gánh nặng to lớn đối với sự tiến bộ của toàn nhân loại với gần 30% số dân toàn cầu bị thừa cân, béo phì.Đây là kết quả báo cáo của Viện Thống kê và Đánh giá Sức khỏe thuộc Đại học Washington ở Seattle công bố ngày 28/5 vừa qua Dựa trên số liệu thống kê của 188 nước từ năm 1980 đến 2013, nghiên cứu "Gánh nặng bệnh tật toàn cầu" cho biết số người béo phì đã tăng từ 857 triệu người lên 2,1
tỷ người trong vòng 33 năm
Trước năm 1995, tình trạng thừa cân và béo phì ở Việt Nam có thể nói là rất thấp, nhưng nhiều năm trở lại đây Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, đời sống nhân dân được nâng cao, tình hình này đã thay đổi, các cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy số lượng người bị thừa cân đang ngày càng gia tăng
Béo phì và thừa cân có thể tạo ra nhiều hệ lụy cho con người như thể trạng mệt mỏi, bất lực, tử vong sớm do ung thư, bệnh tim mạch, tiểu đường và đột quỵ.Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, căn bệnh này đã gián tiếp gây ra 3,4 triệu ca tử vong mỗi năm Đây không chỉ là tấn bi kịch của người bệnh mà còn ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước, và là khoản chi phí khổng lồ của ngành y tế
Do vậy ở khắp nơi trên thế giới, có nhiều biện pháp được đề xuất nhằm hạn chế các hậu quả do bệnh béo phì gây ra Một trong những biện pháp được sử dụng nhiều nhất là dùng những thực phẩm giảm cân có nguồn gốc từ thiên nhiên Garcinia Cambogia được sử dụng phổ biến Ở một số nước hay sử dụng quả Bứa, thì quả này cho cảm giác no, bớt thèm ăn Do đó, từ xa xưa, quá Bứa đã được sử dụng như là một thảo dược để giảm sự thèm ăn và tăng cường năng lượng
Thành phần chính trong quả Bứa là acid hydroxycitric (HCA) Nghiên cứu chỉ
ra rằng HCA giúp làm giảm cân mà không có ảnh hưởng gì tới hệ thần kinh Vào những thập niên 70, nghiên cứu về HCA trên cho thấy rằng HCA làm cho chuột ăn
ít hơn Các nghiên cứu khác trên động vật cũng chỉ ra rằng chiết xuất Garcinia
Trang 12Cambogia ức chế enzym ATP-citrate lyase, làm giảm sự chuyển hóa carbohydrate thành mỡ Bên cạnh đó, nó cũng làm giảm cảm giác thèm ăn Chiết xuất Garcinia Cambogia làm tăng nồng độ serotonin, hormon kiểm soát thèm ăn, giấc ngủ và trạng thái tinh thần Tăng nồng độ Seretonin sẽ giúp bạn tránh được thói quen thèm
ăn Giảm nồng độ Seretonin sẽ dẫn tới stress, nguyên nhân làm bạn ăn nhiều hơn HCA làm cho cơ thể cảm thấy no, tràn đầy năng lượng, làm cho bạn ăn ít hơn trước Thêm vào đó, HCA có xu hướng làm giảm mỡ máu, tránh được các bệnh động mạch vành do ăn nhiều đồ ngọt và chất béo
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm nghiên cứu về HCA, và chưa có một tác dụng phụ nào được ghi nhận HCA có công thức hóa học tương tự như citrate tự nhiên, được biết đến là rất an toàn
Ở dạng tự do có hoạt tính sinh học nhưng không bền dễ chuyển hóa thành dạng lacton, bền nhưng kém hoạt động và không thể hiện hoạt tính sinh học nên việc tổng hợp muối đi từ HCA đã được nghiên cứu nhằm làm tăng sự ổn định và hoạt tính sinh học của HCA Theo kết quả nghiên cứu trên thế giới thì những muối HCA dựa trên các kim loại kiềm, kiềm thổ có tác dụng giảm cân Ngoài ra Kẽm là nguyên tố vi lượng cần thiết cho sức khỏe con người Kẽm là một khoáng chất cần thiết được tìm thấy trong hầu hết tế bào Nó cần thiết cho việc chữa lành vết thương, những giác quan như khứu giác và vị giác, sự tổng hợp AND và nó hỗ trợ cho sự lớn lên và phát triển bình thường trong suốt thời kì thai nghén, thời thơ ấu và thời thanh niên Đặc biệt với nam giới, hàm lượng kẽm có ảnh hưởng lớn đến duy trì sức khỏe tuyến tiền liệt, sự phát dục, khả năng tình dục của nam giới Do những tác dụng to lớn của kẽm đối với cơ thể người, việc bổ sung kẽm trong chế độ ăn uống
Trang 13về các hợp chất hóa học có trong cây bứa Đây là những vấn đề rất đáng được quan tâm nghiên cứu nhằm góp phần quy hoạch, khai thác, chế biến và ứng dụng các sản phẩm của cây bứa một cách có hiệu quả, khoa học hơn
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “TỔNG HỢP VÀ XÁC ĐỊNH
CẤU TRÚC CỦA MUỐI KÉP NATRI- KẼM HYDROXYCITRAT TỪ VỎ QUẢ BỨA TAI CHUA – GARCINIA COWA”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng quy trình tổng hợp muối kép Natri-Magie hydroxycitrat
- Đóng góp thêm những thông tin, tư liệu khoa học về cây bứa, tạo cơ sở khoa
học ban đầu cho các nghiên cứu sâu về ứng dụng của axit hydroxycitric
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượngnghiên cứu
- Muối kép Na/Zn hydroxycitrat
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Chiết tách axit hydroxycitric từ vỏ quả bứa khô
- Tổng hợp muối kép Na/Zn hydroxycitrat từ axit hydroxycitric chiết tách từ
vỏ quả bứa tai chua khô
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên, tổng quan các tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, thành phần hóa học, ứng dụng của
một số loài thực vật thuộc họ bứa Clusiaceae
- Phương pháp lấy mẫu: Mẫu vỏ quả chọn quả chín Quả được hái ở dạng tươi,
sau đó sấy khô đến độ ẩm thích hợp
- Phương pháp thực nghiệm: Sử dụng chiết chưng ninh để chiết tách HCA; Chuyển hóa HCA thành muối kép Na/Zn hydroxycitrat; Phân tích công cụ để xác định hàm lượng và cấu trúc của muối kép tạo thành
5 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về cây bứa và axit hydroxycitric (HCA)
- Chọn và xử lí nguyên liệu
Trang 14- Chiết tách axit bằng phương pháp chưng ninh
- Xác định hàm lượng axit có trong dịch chiết bằng phương pháp chuẩn độ và phương pháp HPLC
- Tổng hợp muối kép Na/Zn HCA
- Xác định sản phẩm muối kép Na/Zn HCA bằng các phương pháp:
Phương pháp sắc kí lỏng cao áp (HPLC)
Phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử (AAS)
Phương pháp phổ IR
Phương pháp phổ cộng hưởng hạt nhân
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 53 trang, trong đó có 7 bảng và 21 hình Phần mở đầu 04 trang, kết luận và kiến nghị 01 trang, tài liệu tham khảo 01 trang Nội dung của luận văn chia làm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan, 19 trang
Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu, 07 trang
Chương 3: Kết quả và thảo luận, 10 trang
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 CÂY BỨA
1.1.1 Bộ Chè
Là bộ lớn, bao gồm chủ yếu các cây thân gỗ có quan hệ gần gũi với bộ sổ và sớm ra đi ra từ bộ này
Bộ 2 lá mầm thuộc phân lớp sổ Dilleniiae Lá đơn có khi lá kép; hoa thường
cánh phân; nhiều nhị; đài xếp xoắn ốc sát nhau [2]
Bộ chè gồm 19 họ, ở nước ta có 8 họ trong đó có 2 họ quan trọng nhất là họ Chè và họ Măng cụt, phân biệt với nhau chủ yếu như sau:
- Cây không có nhựa mủ, lá mọc cách thường thuộc Họ Chè
- Cây có nhựa mủ màu vàng, lá mọc đối thường thuộc Họ Măng cụt
1.1.1.1 Họ Chè (Theaceae)
Cây gỗ hay cây bụi, lá mọc cách, đơn nguyên và không có lá kèm, trong lá thường có tế bào đã phân nhánh Hoa lưỡng tính, thường mọc đơn độc Đài gồm 5
lá đài không bằng nhau, tồn tại trên quả Tràng gồm 5-9 cánh rời Nhị nhiều Nhụy
do 3-5 lá noãn hợp thành bầu trên, số ô tương ứng với số lá noãn, trong mỗi ô có 2 hay nhiều noãn, đính noãn trụ giữa Quả có một hay nhiều hạt, không có nội nhũ, phôi lớn
Họ chè có 29 giống và khoảng 550 loài, phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới
và cận nhiệt đới của hai bán cầu, đặc biệt ở Đông và Đông Nam Á Ở Việt Nam có
11 giống với trên 100 loài
- Hải đường (Camellia amplexicaulis (Pit.) Coh-Swart.) : Cây bụi Hoa mọc
2-3 cái ở gần ngọn, không có hương thơm Cánh hoa tròn, đỏ, dính nhau ở gốc, nhị nhiều, màu vàng, trồng làm cảnh Hoa nở vào dịp tết, thường được chưng ngày tết
vì hoa đẹp và lâu tàn
- Chè (Camellia sinensis (L.) O.Ktze) : Còn gọi là trà, chè xanh Hoa mọc đơn
độc ở nách lá Gốc có 3-4 lá bắc dễ rụng Đài 5 cánh không đều nhau Tràng có 5-6 cánh, nhị rất nhiều xếp làm 4-5 dãy Ra hoa từ tháng 9, 10 đến tháng 2 năm sau
Trang 16Hiện nay ở nước ta chè là một loại đặc sản được trồng nhiều ở nông trường Chè nổi tiếng của ta là chè Phú Thọ, Hà Giang, Thái nguyên
1.1.1.2 Họ Măng cụt (Clusiaceae)
Họ măng cụt Guttiferae còn gọi họ bứa Clusiaceae thuộc bộ Chè Cây gỗ có
mủ vàng, cành nhỏ mọc thành nhiều tầng Lá đơn mọc đối, không có lá kèm Phiến
lá dày, mép nguyên gân bên nhiều nhỏ không nổi rõ Hoa thường đơn tính hoặc hoa tạp tính tức hoa đực và hoa lưỡng tính cùng gốc, bầu trên Quả thịt hay quả hạch
thường có đài tồn tại ở gốc Như Măng cụt Garcinia mangostana; dọc G multiflora; bứa G oblongifolia; Tai chua G cowa; mù u (hồ đồng) Calophyllum inophyllum [2], [7]
Họ măng cụt gồm 14 giống và hơn 350 loài phân bố trong giới hạn các nước nhiệt đới ẩm Ở Việt Nam có 5 giống, 41 loài [7]
1.1.2 Bứa
Bứa- Garcinia oblongifolia Champ Ex Benth., thuộc họ măng cụt-Clusiaceae
Mô tả: Cây gỗ thường xanh cao 6-7 m (hình 1.1) Cành non thường vuông,
xoè ngang và rủ xuống Lá hình thuẩn, hơi dài, đuôi nhọn, chóp dài, mép nguyên, nhẵn bóng, có nhiều điểm mờ Hoa đực mọc thành cụm 3-5 hoa ở nách lá, 4 lá đài
và 5 cánh hoa, 20 nhị có chỉ nhị ngắn Hoa lưỡng tính có lá đài và cánh hoa như ở hoa đực, màu hơi vàng hoặc trắng; bầu 4 (6-10) ô, hình cầu, vòi ngắn Quả mọng mang đài tồn tại; vỏ quả dày, có khía múi, khi chín màu vàng, phía trong hơi đỏ chứa 6-10 hạt Mùa hoa quả tháng 3-6
Bộ phận dùng: Vỏ
Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang trong rừng thứ sinh của các tỉnh từ Hà
Tuyên, Vĩnh Phú đến Quảng Nam - Đà Nẵng Cũng thường được trồng lấy lá tươi và quả nấu canh chua Thu hái vỏ quanh năm, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi khô
Tính vị, tác dụng: Vỏ có tính săn da và hơi đắng, mát, hơi độc, có tác dụng
tiêu viêm, hạ nhiệt, làm săn da, hàn vết thương
Công dụng: Lá có vị chua thường được dùng thái nhỏ nấu canh chua Hạt có
áo hạt chua, ăn được, dùng nấu canh chua Vỏ thường dùng trị:
Trang 171 Loét dạ dày, loét tá tràng;
2 Viêm dạ dày ruột, kém tiêu hoá;
3 Viêm miệng, bệnh cặn răng;
2 Bỏng: Nhựa bứa pha dầu làm thành cao lỏng, bôi ngày 1-2 lần
Quả, lá và cây bứa đƣợc thể hiện ở hình 1.1
Hình 1.1 Quả, lá và cây bứa
Trang 181.1.2.1 Bứa mọi
Bứa mọi - Garcinia harmandii Pierre, thuộc họ bứa-Clusiaceae
Mô tả: Cây gỗ cao 6-10 m, phân nhánh nhiều từ gốc, có vỏ vàng vàng Lá
thuôn, hình trứng ngược hay hình ngọn giáo ngắn, có góc ở gốc, có mũi nhọn ở đầu, nguyên, dai, dài 4-10 cm, rộng 15-30 mm; cuống ngắn Hoa vàng vàng, hầu như không cuống; hoa đực xếp thành nhóm 3-6, hoa cái đơn độc Quả có đường kính 10-20 mm, màu tía, hơi dẹp giữa các hạt; hạt 2, có phôi to màu lục Ra hoa tháng 2-
3, có quả tháng 3
Bộ phận dùng: Vỏ
Nơi sống và thu hái: Loài đặc hữu và sống phổ biến ở Nam Việt Nam,
Campuchia và Nam Lào Ở nước ta cây mọc hoang trong rừng ở độ cao thấp từ Khánh Hoà tới Đồng Nai, Tây Ninh
Công dụng: Quả có nạc ngon, mùi thơm, vị ngọt, ăn được Vỏ chát được
nhân dân Campuchia dùng ăn với trầu Người ta phối hợp với nhiều vị thuốc khác trị ỉa chảy
Ghi chú: Còn có loài Bứa Lanessan-Garcinia lanessanii Pierre mọc ở rừng
Tây Ninh, có vỏ dùng để nhuộm; ở Campuchia cây này có nhiều công dụng
1.1.2.2 Bứa mủ vàng [1], [7]
Bứa mủ vàng - Garcinia xanthochymus Hook.f.ex J Anderson, thuộc họ Clusiaceae
bứa-Mô tả: Cây gỗ lớn, nhánh non vuông, vàng vàng hay nâu Lá có phiến thuôn,
to, dài đến 30 cm, rộng 6-8 cm, dày bóng; gân phụ nhiều cách nhau khoảng 1 cm; cuống ngắn Hoa ở nách lá già, rộng cỡ 1 cm, cuống 2 cm; hoa đực có 5 lá đài, 5 cánh hoa trắng, cao 8mm; 5 bó nhị mà mỗi bó có 3-5 bao phấn, có nhụy lép; hoa cái
có bao hoa như hoa đực, nhị lép, bầu 5 ô Quả tròn, to 9cm; hạt 1-5 (hình 1.2)
Bộ phận dùng: Lá, thân, nhựa, mủ và quả
Nơi sống và thu hái: Loài này phân bố ở Ấn Độ, Nepan, Trung Quốc và Việt
Nam Ở nước ta, cây mọc ở rừng miền Nam
Trang 19Tính vị, tác dụng: Lá, thân, mủ có vị đắng, chua, tính mát, có tác dụng sát
trùng Quả giải nhiệt, lợi mật, làm dịu và làm nhày
Công dụng: Ở Ấn Độ, quả được dùng như quả loài Garcinia indica Chois làm
thuốc chống bệnh scorbut Ở Trung Quốc, để trị đỉa vào mũi, người ta lấy mủ tươi với liều lượng thích hợp nhỏ vào xoang mũi, đỉa sẽ bò ra
Cây, lá, quả, hoa bứa mủ vàng được thể hiện ở Hình 1.2
Hình 1.2 Cây, lá, quả, hoa bứa mủ vàng 1.1.2.3 Bứa nhà
Bứa nhà - Garcinia cochinchinensis (Lour) Choisy, thuộc họ Măng Clusiaceae
cụt-Mô tả: Cây cao 10-15 m, vỏ ngoài màu đen, phía trong màu vàng Cành non
vuông, về sau tròn Lá thuôn nhọn ở gốc, dài 8-15 cm, rộng 3-4,5 cm Hoa đực 1-5, mọc thành chùm ở nách lá, màu vàng, có nhiều nhị; hoa lưỡng tính không cuống, thường mọc đơn độc; nhị xếp thành 4 bó, mỗi bó 7-12 bao phấn; bầu 6-10 ô, thường
là 8 Quả cao 5cm, đường kính 4cm, hình trứng; vỏ quả nạc, có cơm hơi đỏ bao quanh hạt (hình 1.3) Ra hoa vào tháng 4-5
Bộ phận dùng: Vỏ, lá, quả
Nơi sống và thu hái: Cây mọc chủ yếu ở rừng thưa, thông thường ở bình
nguyên Từ Quảng Trị trở vào cũng thường được trồng Thu hái vỏ, lá quanh năm
Tính vị, tác dụng: Vỏ chát làm săn da Lá và quả giải nhiệt
Trang 20Công dụng: Lá và vỏ quả thường dùng nấu canh chua Quả chín ăn giải khát;
áo hạt có vị chua ngọt Vỏ thường dùng trị dị ứng mẩn ngứa và bệnh ngoài da Lá giã nát đắp trị sâu quảng Búp non nhai ăn chữa động thai
Đơn thuốc: Dị ứng mẩn ngứa, dùng vỏ bứa 20-30 g, nước 500 ml, sắc còn
150 ml, chia 2-3 lần uống trong ngày
Ghi chú: Còn loài bứa rừng hay bứa núi - Garcinia oliveri Pierre, mọc khá
phổ biến ở miền Nam nước ta, có đọt non và lá dùng nấu canh chua Quả có thịt và
vỏ quả trong chua, dùng ăn được
Cây, quả bứa nhà được thể hiện ở Hình 1.3
Hình 1.3 Cây, quả bứa nhà 1.1.2.4 Tai chua
Tên khoa học là Garcinia pedunculata Roxb (G cowa Roxb) Cây nhỏ mọc
thẳng, thân thường có nhiều u lồi Cành nhiều và mảnh, thường nằm ngang, đầu hơi
rủ xuống Lá hình trứng ngược, đầu lá tù, đuôi lá hình nêm, dài 7-17 cm, rộng 2,5-6
cm, gân lá rõ ở cả hai mặt, đường gân phụ nối liền với nhau ở mép, cuống lá mảnh dài gần 2 cm Cụm hoa đực có 3-8 hoa xếp hình tán, hoa có cuống dài 1 cm, đài 4, tràng 4 cánh dày, nhị xếp thành một khối, chỉ nhị ngắn Hoa lưỡng tính đơn lẻ hay
tụ thành 2-3 mọc ở nách lá, gần không cuống, nhị hợp thành 4 bó, mỗi bó 1-8 thuỳ
h nh nêm Quả mập h nh cầu dẹt, trên có những múi nổi rơ (h nh 1.4) Mọc hoang tại
Trang 21nhiều khu rừng miền Bắc nước ta, nhiều nhất ở Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hoà Bình, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn Một
số vùng người ta trồng ven đường làng để lấy quả ăn và dùng trong công nghệ Mùa hoa vào các tháng 3-4, mùa quả vào tháng 7-8 Thường hái về bỏ hạt thái thành từng miếng mỏng phơi hay sấy khô, có màu đen nâu nhạt, hơi mềm
Trong nhân dân tai chua chủ yếu được dùng để nấu canh có vị chua Một số nơi nhân dân sắc uống chữa sốt, khát nước Ngày uống 6-10 gam Trước khi chưa
có axit citric tổng hợp người ta xem tai chua là axit citric thiên nhiên đáng quý Theo lời phát biểu của một giám đốc nhà máy nhuộm Zurich (Đức) thì cao quả tai chua dùng trong in vải vừa giữ cho màu bền, vừa không hại vải cho nên dù cùng một giá trị với axit citric hay với giá trị cao hơn một chút thì việc sử dụng tai chua trong nhuộm in trên vải vẫn tốt hơn Điều này giải thích kinh nghiệm trong nhân dân ta dùng tai chua làm chất cắn màu trong nhuộm vải, lụa, nhuộm cói đan chiếu
và do tính axit nhẹ nên sử dụng trong việc làm bóng các loại vàng bạc
Quả bứa tai chua được thể hiện ở Hình 1.4
Hình 1.4 Quả tai chua 1.1.2.5 Garcinia cambogia
Loại cây có kích thước nhỏ hoặc trung bình với các nhánh mọc tròn đối xứng
như vương niệm, nằm ngang hoặc rủ xuống; lá của nó có màu xanh đậm và bóng, hình elip dạng trứng ngược, dài từ 5-12 cm và rộng từ 2-7 cm; quả hình trứng, đường kính 5 cm, màu vàng hoặc đỏ khi chín với 6-8 rãnh, và mỗi quả có từ 6 đến 8
Trang 22hạt được bao quanh bởi áo hạt mọng nước (hình 1.5) Cây bứa thường tìm thấy tại các cánh rừng thường xanh phía tây Ghats, từ Phía nam của Konkan đến Travancore
Ấn Độ, và trong rừng Shola của Nilgiris với độ cao 1828 m so với mực nước biển
Nó ra hoa vào suốt mùa nắng, và trái chín kéo dài trong mùa mưa Hạt của Garcinia cambogia chứa 31% dầu béo có thể ăn được
Quả của Garcinia cambogia có nhiều axit có thể ăn sống Nước sắc của vỏ quả
có thể chữa bệnh thấp khớp và bệnh đau đường ruột Nó cũng được sử dụng làm
thuốc thú y để rửa các bệnh ở mồm gia xúc Tại Ceylon-Ấn Độ vỏ quả khô của G cambogia được sử dụng với muối trong muối cá Vỏ quả khô rất có giá trị, nó được
sử dụng như là gia vị tạo mùi trong carri để thay thế me hoặc chanh
Cây, lá, hoa, quả Garcinia cambogia được thể hiện ở Hình 1.5
Hình 1.5 Cây, lá, hoa, quả Garcinia cambogia 1.1.2.6 Garcinia indica
Là cây thường xanh mảnh khảnh với các cành rủ xuống; Lá hình trứng hoặc hình thun ngọn giáo, dài từ 6-9 cm và rộng 2,5-4 cm, màu xanh đậm ở mặt trên và màu xanh nhạt ở phía dưới; quả có hình cầu, đường kính từ 2,5-4 cm, có màu tím
Trang 23đậm khi chín và được bao quanh từ 5-8 hạt lớn (hình 1.6) Cây bứa này tìm thấy tại tầng mưa nhiệt đới của Western Ghats, từ phía nam Konkan đến Mysore, Coorg, và Wynaad Ấn Độ Nó ra hoa từ tháng 11 đến tháng 2, quả chín vào tháng 4-5 Rễ chắc chắn Hạt có dầu ăn được, trong thương mại nó được biết đến như là bơ Kokam
Quả Garcinia indica mùi hương dễ chịu và có vị chua ngọt Nó được sử dụng
làm hương vị chua trong nấu carri và nó cũng được dùng làm siro trong mùa nóng Quả của nó cũng có thể chữa giun sán và bệnh trĩ, bệnh lỵ, khối u, vết thương, bệnh đau tim Siro từ nước bứa rất được ưa thích Vỏ quả khô có giá trị, nó được sử dụng như là gia vị tạo mùi trong carri để thay thế me hoặc chanh
Hình 1.6 Cây, quả Garcinia Indica và Kokam 1.1.2.7 Garcinia atroViridis
Cây phong nhã có kích thước trung bình, cao 9-15 m (30-50 ft), tìm thấy ở phía đông bắc quận Assam-Ấn Độ Lá dài 15-23 cm (6-9 inch) và rộng 5-7,6 cm (2-
3 inch), dày như da, nhẵn, mũi nhọn, và phần đuôi thon nhỏ; hoa ra theo từng quý, nhụy đơn và rộng Quả màu vàng cam, gần giống hình cầu (dài 3-4 inch.), vỏ có các đường rãnh sâu và khá mỏng cơm màu trắng đục với các hạt bao quanh (hình 1.7)
Vỏ quả của Garcinia atroViridis cũng chứa nhiều axit và có thể ăn sống,
nhưng vị của nó rất hấp dẫn khi ninh nhừ với đường Tại Malay-Ấn Độ, vỏ quả gần chín được phơi khô, bán làm gia vị để nấu carri thay cho me và sử dụng làm gia vị kho cá Quả này cũng được sử dụng làm thuốc nhuộm với nhôm trong nhuộm tơ lụa Nước sắc từ quả và rễ được sử dụng để chữa bệnh đau tai
Trang 24
Hình 1.7 Hoa, lá, quả và cây Garcinia atroViridis
1.2 AXIT HYDROXYCITRIC (HCA)
Vỏ quả G cambogia sấy khô phổ biến được xem như là “me Malabar” được
sử dụng rộng rải khắp vùng biển phía đông Ấn độ với mục đích nấu nướng và trong thương mại sử dụng như “Colombo curing” để muối cá Axit hữu cơ trong quả bứa
có mục đích kiềm hãm có hiệu quả sự phát triển của vi khuẩn trong môi trường nước mắm do pH thấp Trong quả khô chứa 30% khối lượng là axit được tính như là axit citric Axit hữu cơ này đã được xác định nhầm và xem như là axit me và axit chanh Dung dịch nước chiết quả cho thấy rõ 02 axit thương phẩm bằng phương pháp sắc ký giấy sử dụng các dung môi khác nhau, mà nó rất gần giống axit tactaric
Trang 25và citric, nhưng nó luôn có ý nghĩa khi sự khác biệt nhỏ giá trị của Rf trong các hệ dung môi Phân tích nước trái cây bằng sử dụng cột trao đổi ion biểu diễn bằng Palmer cho thấy vạch rộng hơn vùng axit citric
Lewis và Neelakantan đã chiết axit chủ yếu trong vỏ quả G cambogia và xác
định nó như (-)-HCA là hoá chất chính và được nghiên cứu bằng phương pháp quang phổ Sự xác định và tách axit hydroxycitric bằng giấy Whatman No 1 được
thực hiện bằng cách sử dụng n-butanol/axit axetic/nước (4:1:5) và n-propanol/axit
focmic/nước (4:1:5) Các vạch được xác định bằng phun metavanadate 5% Xà phòng hoá axit bằng cách trộn với lượng kiềm dư và cho đi qua cột nhựa trao đổi
ion, kết quả rửa cho thấy chỉ có vạch (spot) (Rf = 0,34) có giá trị thấp tương ứng với (-)-HCA tự do Trong nồng độ nước rửa cũng còn có vạch cao hơn (Rf = 0,46) đó
chính là lacton Nước chiết từ quả cho thấy có 02 vạch axit nổi trội trong sắc ký với
02 hệ dung môi khác nhau Trong trường hợp chuẩn độ dung dịch chiết này bằng kiềm, sử dụng phenolphthalein làm chất chỉ thị màu, thu được 02 điểm tới hạn khác nhau, trong môi trường lạnh và sau đó đun nóng, điều này cho thấy đó là đặc điểm của lacton Hai vạch sắc ký đã được xem như là axit hydroxycitric và lacton của nó (hình 1.3 và 1.4) Điều này cũng chứng tỏ rằng 02 vạch trong sắc ký cũng là của axit γ-hydroxycitric và lacton của nó và không phải là của axit tactaric và axit citric
H H
Axit (-)-hydroxycitric (I) Axit (+)-hydroxycitric (II)
COOH C H C COOH C
H H
H H
Axit (+)-allo-hydroxycitric (III) Axit (-)-allo-hydroxycitric (IV)
COOH C H C COOH C
H H
OH
Hình 1.8 Cấu trúc đồng phân của axit hydroxycitric