1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa

85 533 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ ĐẠI DƯƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ KIỂM ĐỊNH

XÂY DỰNG KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ ĐẠI DƯƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM QUY

HOẠCH VÀ KIỂM ĐỊNH XÂY DỰNG KHÁNH HÒA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung

tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Nha Trang, ngày 30 tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Đại Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, quý thầy cô đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Phạm Thị Thanh Thủy đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh tế, Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng Khánh Hòa đã cung cấp thông tin và các tài liệu tham khảo giúp tôi thực hiện thành công

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày 30 tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Đại Dương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14

1.1 Định nghĩa, khái niệm trong hoạt động xây dựng 14

1.1.1 Xây dựng, hoạt động xây dựng, công trình xây dựng 14

1.1.2 Quy hoạch xây dựng 15

1.1.3 Kiểm định xây dựng 16

1.2 Hiệu quả hoạt động 16

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả 16

1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 18

1.2.3 Bản chất và ý nghĩa của hiệu quả hoạt động 30

1.2.4 Các quan điểm đánh giá hiệu quả 32

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ KIỂM ĐỊNH XÂY DỰNG KHÁNH HÒA 34

2.1 Trung tâm Quy hoạch và kiểm định xây dựng Khánh Hòa 34

2.1.1 Thông tin chung 34

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng các phòng ban 36

2.2 Hiệu quả hoạt động tại Trung tâm Quy hoạch và kiểm định xây dựng Khánh Hòa39 2.2.1 Chỉ tiêu tài chính 39

2.2.2 Đánh giá hiệu quả phi tài chính – đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận 47

2.3 Thảo luận 50

2.4 Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động của Trung tâm trong thời gian qua 55

2.4.1 Những thành tựu của Trung tâm 55

2.4.2 Những mặt tồn tại cần khắc phục trong thời gian tới 56

Trang 6

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ KIỂM ĐỊNH XÂY DỰNG KHÁNH

HÒA 57

3.1 Tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài sản 57

3.2 Tăng cường nâng cao năng lực về vốn của Trung tâm 59

3.3 Nâng cao năng suất lao động 60

3.4 Kiến nghị 63

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC

Trang 7

: Vốn chủ sở hữu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận đối với Trung tâm Quy hoạch

và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 25 Bảng 2.1: Kinh nghiệm loại hình tư vấn xây dựng của Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 35 Bảng 2.2: Đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 43 Bảng 2.3: Các khoản Doanh thu và Chi phí tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 44 Bảng 2.4: Đánh giá hiệu quả xã hội tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 46 Bảng 2.5: Đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận đối với Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 47 Bảng 2.6: Sự hài lòng với các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm dựa trên kết quả của hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của Trung tâm 49 Bảng 2.7: Mối quan hệ giữa hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh với những khía cạnh quan trọng quyết định sự thành công của Trung tâm 49

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình DEA tối thiểu hoá đầu vào 29 Hình 1.2 Mô hình DEA tối đa hoá đầu ra 30 Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa 36

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng Khánh Hòa” Mục tiêu: (i) Đánh giá hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh doanh cảm nhận của Trung tâm; (ii) Đề xuất một số kiến nghị giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chuyên gia, Phương pháp phân tích thống

kê, tổng hợp, so sánh: … Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Số dư đảm phí tại Trung tâm

Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa năm 2012 tăng hơn so với năm 2011 là 3.400.441.722 đồng, tương đương tăng 159,75% Tuy nhiên, trong năm 2013, Số dư đảm

phí của Trung tâm giảm so với năm 2012 là 1.240.198.923 đồng, tương đương giảm 22,43% Đến năm 2014, Số dư đảm phí của Trung tâm tăng so với năm 2013 là

1.254.672.106 đồng, tương đương tăng 29,25% Số dư đảm phí tại Trung tâm qua các năm đều dương, chứng tỏ Trung tâm có khả năng trang trải các chi phí cố định và tạo ra lợi nhuận cho Trung tâm Trong đó, hai năm 2012 và 2014, số dư đảm phí của Trung tâm là lớn nhất với hơn 5,5 tỷ đồng, đây là điều tốt Trung tâm vẫn có xu hướng phát triển khi tiếp tục hoạt động với nhiều thành quả

Tỷ suất số dư đảm phí tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa năm 2012 giảm so với năm 2011 là 3,56, tương đương giảm 10,40% Trong năm 2013, tỷ suất này của Trung tâm tăng so với năm 2012 là 11,88, tương đương tăng 38,70% Đến năm 2014, tỷ số này của Trung tâm tăng so với năm 2013 là 6,16, tương đương tăng 14,45% Kết quả này cho thấy, trung tâm vẫn sẽ tiếp tục duy trì sản xuất (tỷ lệ số dư đảm phí dương Lý do giải thích có thể là trung tâm đạt được tỷ lệ số dư đảm phí lớn nhờ tính yếu tố giá, thị trường…

Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ hoàn toàn không đồng ý và không đồng ý các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận tại Trung tâm là hơn 40% Điều này là dấu hiệu cảnh báo cho Trung tâm Trung tâm cần quan tâm hơn nữa để cải thiện các chỉ số khả năng sinh lời, góp phần gia tăng hiệu quả kinh doanh cảm nhận của cán bộ nhân viên đối với Trung tâm

Từ khóa: khả năng sinh lời, hiệu quả kinh doanh cảm nhận, trung tâm

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khánh Hòa là một đô thị trọng điểm và là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên Qua đó góp phần tích cực để thúc đẩy cho sự phát triển chung của các tỉnh trong khu vực và cả nước Với nguồn thu ngân sách bình quân hàng năm trên 10.000 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các công trình xây dựng là rất lớn (chiếm 25 - 30% tổng đầu tư phát triển toàn

xã hội) Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có khoảng gần 1.000 doanh nghiệp có tham gia vào lĩnh vực hoạt động xây dựng, do đó công tác quản lý đầu tư xây dựng, quản

lý chất lượng trong lĩnh vực xây dựng cần phải được quan tâm giám sát chặt chẽ liên tục

và thường xuyên (UBND tỉnh Khánh Hòa)

Ngành xây dựng Khánh Hòa đang đứng trước những cơ hội để phát triển, nhưng cùng với đó, những thách thức phát sinh đối với việc quy hoạch, kiểm định xây dựng ngày càng hiện rõ và gia tăng Sự quá tải trong việc cung cấp quy hoạch và kiểm định xây dựng giữa các tổ chức đã đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc lựa chọn tổ chức quy hoạch và kiểm định xây dựng cho công trình

Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng Khánh Hòa – Sở Xây dựng Khánh Hòa - với chức năng khảo sát; Lập dự án; Thiết kế; Thẩm tra thiết kế; Giám sát thi công xây dựng; Quan trắc công trình; Kiểm định, giám định chất lượng công trình; Thí nghiệm chuyên ngành XD với các loại và cấp công trình xây dựng gồm: dân dụng cấp II; Công nghiệp cấp II; Hạ tầng kỹ thuật cấp II; Giao thông cấp II; Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cấp II (Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng Khánh Hòa, 2015) Cùng với

sự phát triển về số lượng, cạnh tranh về chất lượng phục vụ và hiệu quả hoạt động của Trung tâm luôn được Ban giám đốc và lãnh đạo Sở xây dựng Khánh Hòa quan tâm Đánh giá hiệu quả hoạt động là một chứng cứ quan trọng để Trung tâm hoạch định và xây dựng chính sách Để làm được điều này, đầu tiên Trung tâm phải đánh giá được hiệu quả hoạt động của nó vì hiện tại trên địa bàn Khánh Hòa có nhiều tổ chức hoạt động cùng lĩnh vực

Trang 11

đăng ký của trung tâm như: Công ty Cổ phấn Tư vấn kiến trúc và xây dựng Khánh Hòa, Công ty Cổ phấn Tư vấn xây dựng TAL, Công ty Cổ phần xây dựng Liên Danh…

Để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, có rất nhiều phương pháp để đánh giá, trong đó phương pháp truyền thống phổ biến nhất là sử dụng hiệu quả tài chính

Dĩ nhiên, điều này là căn cứ quan trọng đối với các nhà đầu tư khi họ cần tìm hiểu về Trung tâm Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa là cần thiết, góp phần xác định hiệu quả hoạt động của Trung tâm, qua đó, góp phần giúp cho Trung tâm hoạt động một cách hiệu quả, phát triển bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm Quy hoạch và

Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của Trung tâm Quy hoạch và Kiểm

định Xây dựng Khánh Hòa

Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả hoạt động Trung tâm Quy hoạch và Kiểm

định Xây dựng Khánh Hòa thông qua khả năng sinh lời giai đoạn 2012 -2014

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

4.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Trang 12

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa, Cục thống Kê Khánh Hòa, UBND tỉnh Khánh Hòa, …, từ internet

4.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

Các dữ liệu sơ cấp được tác giả thu thập thông qua các phiếu khảo sát về hiệu quả kinh doanh cảm nhận và thông qua phỏng vấn sâu Đối tượng được thu thập dữ liệu là các cán bộ CNV tại Trung tâm, nhà quản trị DN cũng như các chuyên gia khác nhau theo phương pháp phỏng vấn phi cấu trúc Dựa trên các câu hỏi trên phiếu điều tra, tác giả chuẩn bị sẵn một số câu hỏi cần phỏng vấn và liên lạc với người được phỏng vấn Các cuộc phỏng vấn thường kéo dài từ 20 đến 30 phút Kết quả phỏng vấn được ghi lại vào sổ tay và các phiếu khảo sát Do hạn chế về thời gian và điều kiện đi lại nên số buổi phỏng vấn sâu chỉ thực hiện được 11 người Kết quả khảo sát được xử lý, tính theo tỷ lệ để phản ánh và rút ra các kết luận liên quan đến việc tìm ra các tiêu chí của hiệu quả kinh doanh cảm nhận phù hợp với Trung tâm

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chuyên gia: Dựa trên các câu hỏi phỏng vấn sâu, rút ra các kết luận liên quan đến việc tìm ra các tiêu chí của hiệu quả kinh doanh cảm nhận phù hợp với Trung tâm

Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp, so sánh: … Số liệu thu được từ Trung tâm được tác giả tính toán để đánh giá hiệu quả hoạt động tại Trung tâm

5 Tổng quan nghiên cứu liên quan

5.1 Nghiên cứu trong nước

Ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về HQKD Trong số các công trình này, có một số công trình tiêu biểu sau:

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang với luận án tiến sỹ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng ở Việt Nam” (2002) Trong luận án này, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng và đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN

Trang 13

này Mặc dù đạt được những thành công trong đề xuất hoàn thiện chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN xây dựng nhưng khía cạnh nghiên cứu của luận án tập trung vào phân tích tài chính Nội dung của luận án chưa đề cập đến đánh giá hiệu quả cũng như những tác động của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD đối với hoạt động của DN và phương hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN

Luận án tiến sỹ: “Phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương thực hiện tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008 Trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp hoàn thiện các chỉ tiêu và phương pháp phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản ở Miền Trung Tương tự như tác giả Nguyễn Ngọc Quang, trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương chỉ tập trung nghiên cứu

và phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của DN dưới góc độ hiệu quả tài chính trong ngắn hạn mà chưa đánh giá dưới góc độ quản trị chiến lược và thực hiện mục tiêu chiến lược Các đề xuất của tác giả luận án tập trung vào hoàn thiện nội dung và phân tích HQKD để giúp cho DN đánh giá đúng đắn HQKD của mình

Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD trong các DN chế biến gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung Bộ” của tác giả Đỗ Huyền Trang thực hiện tại trường Đại học Kinh

tế quốc dân năm 2012 Trong luận án của mình, tác giả Đỗ Huyền Trang đã nghiên cứu và phân tích thực trạng phân tích HQKD của các DN chế biến gỗ xuất khẩu ở Khu vực Nam Trung Bộ Nội dung luận án của tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện phương pháp và chỉ tiêu phân tích HQKD ngắn hạn, chưa đề cập đến phân tích HQKD dài hạn và hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá HQKD dài hạn

Ngoài các luận án tiến sỹ, một số luận văn thạc sỹ và luận văn cử nhân cũng đề cập đến đề tài phân tích HQKD và các giải pháp nâng cao HQKD của các DN Tiêu biểu như luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Khắc Hán (2005) nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các công ty xăng dầu Việt Nam” Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Bích Thủy (2005) với đề tài: “Phân tích HQKD trong các DN sản xuất than thuộc TCT Than Việt Nam”, v.v Nhìn chung

Trang 14

các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến HQKD tập trung chủ yếu theo 2 nhóm đề tài:

Nhóm thứ nhất là các đề tài phân tích tình trạng tài chính và HQKD của các DN dựa trên phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD từ các báo cáo tài chính của các DN để đánh giá thực trạng HQKD, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao HQKD của các DN được nghiên cứu

Nhóm thứ hai là các đề tài nghiên cứu hoàn thiện phân tích tình trạng tài chính và HQKD của các DN Theo hướng này, các đề tài nghiên cứu đều tập trung đánh giá thực trạng phân tích HQKD của các DN hiện nay trên các khía cạnh: tài liệu sử dụng cho phân tích, phương pháp phân tích và nội dung (các chỉ tiêu) phân tích HQKD Từ thực trạng phân tích HQKD của các DN, các tác giả nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện phương pháp, nội dung phân tích và nâng cao chất lượng của tài liệu sử dụng cho phân tích HQKD Tiêu biểu cho nhóm đề tài này là các công trình nghiên cứu của các tác giả sau: “Phân tích HQKD tại Công ty TNHH Tân Bảo Vũ” của Nguyễn Thị Nhất Linh (Đại học Kinh tế quốc dân, 2008) nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích HQKD của Công ty TNHH Tân Bảo Vũ

Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD tại TCT Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam” của học viên cao học Vương Thị Thu Hiền (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích HQKD của TCT Tài nguyên và Môi trường Việt Nam

“Hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty Viễn Thông Hà Nội” của học viên cao học Nguyễn Thị Phương Trang (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) Trong luận văn của mình, tác giả đã nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD của công ty Viễn thông Hà Nội để đề xuất các giải pháp hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty này Trong số các giải pháp đề xuất, tác giả có đề xuất hoàn thiện các chỉ tiêu phân tích HQKD của Công ty Viễn thông

Hà Nội

“Phân tích HQKD tại công ty TNHH Hoàng Thủy” của Nguyễn Thị Hồng Điệp (Đại học Thương Mại, 2009) nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD của công ty TNHH

Trang 15

Hoàng Thủy, v.v “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD và phương hướng nâng cao HQKD tại Viện máy và công cụ nông nghiệp”

Nguyễn Tấn Bình (2008): Phân tích hoạt động doanh nghiệp, NXB Thống kê Đây

là tài liệu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dựa trên phân tích nhóm các hệ

số tài chính

Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này có các đặc điểm sau:

- Các nghiên cứu đều dựa trên các số liệu tài chính được thu thập từ các báo cáo tài

chính của các DN Các tác giả chưa sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN

- Việc đánh giá HQKD mới chỉ tập trung vào đánh giá HQKD ngắn hạn theo kỳ lập

báo cáo (1 năm), chưa có các đánh giá HQKD dài hạn (HQKD chiến lược)

- Các công trình nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá HQKD của toàn DN, chưa đánh

giá HQKD của từng bộ phận trong DN Hạn chế của việc đánh giá này là chưa chỉ ra được các nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến HQKD của DN để có các giải pháp phù hợp

- Các nghiên cứu mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa có các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD

để giúp cho các nhà quản trị có thể kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN

Từ nghiên cứu các công trình ở trong và ngoài nước nêu trên, tác giả rút ra các kết luận sau:

- Các công trình nghiên cứu trong nước chưa nhận thấy tầm quan trọng của việc sử

dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN và việc đánh giá mới tập trung vào ngắn hạn, chưa có các chỉ tiêu đánh giá dài hạn, gắn với chiến lược

Một hạn chế nữa của các công trình nghiên cứu trong nước là mới chỉ tập trung đánh giá HQKD của toàn DN, chưa đánh giá HQKD của từng bộ phận trong DN Các nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa

có các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giúp cho các nhà quản trị có thể kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN

Trang 16

- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã chỉ ra được những hạn chế của hệ

thống đánh giá truyền thống nếu chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính, đồng thời các công trình này cũng đã đánh giá vai trò ngày càng quan trọng cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính đối với việc thực hiện thành công chiến lược của DN

- Mặc dù chỉ rõ tầm quan trọng của các chỉ tiêu phi tài chính nhưng các công trình

nghiên cứu của nước ngoài không phủ nhận vai trò của các chỉ tiêu tài chính, ngược lại còn khẳng định mối liên hệ chặt chẽ của hai nhóm chỉ tiêu này trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD

5.2 Nghiên cứu ngoài nước

Kết quả hoạt động của doanh nghiệp thường được đánh giá dưới góc độ kết quả hoạt động tài chính và được trình bày trong các tài liệu về phân tích hoạt động kinh doanh hoặc phân tích hoạt động tài chính Hiện nay có một số tài liệu và nghiên cứu có liên quan đến đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp như:

Bài báo “Integrated Performance Measurement Systems: A Development Guide”

của các tác giả Bititci US, Carrie AS, McDevitt LG trên tạp chí International Journal of Operations and Production Management, vol 17 số 6 do Nhà xuất bản MCB University

Press xuất bản tháng 5 - 6 năm 1997 (trang 522 - 535) Trong bài báo này, các tác giả đã

nêu lên vai trò quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá trong quá trình đánh giá HQKD của DN, các mô hình liên kết các chỉ tiêu ở các khía cạnh khác nhau của quá trình kinh doanh và đề xuất các mô hình tham khảo để đánh giá HQKD như các mô hình của châu

Âu (The European Model for Business Excellence - EFQM, 1995); mô hình Business

Classification Model của Puttick và Hill (1993); mô hình Systems Classification Model của Ginzberg và mô hình Performance

C Walsh (2008): Các chỉ số cốt yếu trong quản lý, NXB Tổng hợp TP.HCM Hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá dựa các nhóm hệ số tài chính và khả năng sinh lợi Ngoài ra tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Higgins (2005): Phân tích quản trị tài chính, NXB Thống kê (Nguyễn Tấn

Trang 17

Bình biên dịch) Tài liệu này cũng đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp dựa trên kết quả hoạt động tài chính

R.Simon (2000): Performance Measurement and Control System for Impleming Strategy, Prentice Hall Tác giả đã dựa vào các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp Tài liệu cũng đưa ra hướng dẫn cho các doanh nghiệp xây dựng hệ thống kiểm soát và quản lý nhằm đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Measures Classification Model của Dixon, Nanni and Vollmann (1990) Cuốn sách

“Creating Shareholder Value” của tác giả Alfred Rappaport do Nhà xuất bản Free Press

xuất bản lần thứ 2 năm 1998 cung cấp cho các nhà quản trị và cổ đông các kiến thức cần thiết liên quan đến lập kế hoạch kinh doanh, đánh giá HQKD và chính sách tiền lương trong DN, v.v Vấn đề đánh giá HQKD trong DN được tác giả nhấn mạnh qua việc trả lời ba câu hỏi: (1) Hệ thống đánh giá HQKD như thế nào là phù hợp với DN (What is the most appropriate measure of performance) (2) Giới hạn mục tiêu của các chỉ tiêu đánh giá HQKD là bao nhiêu (What is the most appropriate target level of performance) và (3) làm thế nào để kết nối khen thưởng với các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN (How should rewards be linked to performance)

Bài báo “Linking knowledge management strategy to business performance in

construction organizations” của các tác giả Herbert S.Robinson, Patricia M.Carrillo,

Chimay J.Anumba và Ahmed M.Al- Ghassani từ trường đại học Tổng hợp Loughborough

Vương quốc Anh đăng trong tài liệu hội thảo hàng năm tổ chức lần thứ 17 tại trường đại học Tổng hợp Salford tháng 9 năm 2001 và tạp chí Researchers in Construction Management số 1 năm 2002 (các trang từ 577 đến 586) đã phân tích mối quan hệ giữa quản trị chiến lược với hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các công ty xây dựng ở Anh

Bài báo “Performance implications of strategic performance measurement in

financial services firms” được đăng trên tập san Accounting, Organizations and Society

số 28 năm 2003 (từ trang 715 đến 741) của các tác giả Christopher D Ittner, David F Larcker và Taylor Randall đến từ trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania và trường Đại

Trang 18

học Tổng hợp Utah (Mỹ) đã giới thiệu về hệ thống đánh giá HQKD chiến lược trong các

DN dịch vụ tài chính ở Mỹ

Cuốn sách “Performance measurement and management control: superior

organizational performance” do NXB Elsevier Ltd ấn hành năm 2004 tập hợp một số bài

viết của các tác giả liên quan đến vai trò của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD, ảnh hưởng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD và mô hình xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN

Bài báo "Performance measurement and organzational effectivenes: bridging the

gap" của PGS Jean Francois Henri, khoa Kế toán trường Đại học Tổng hợp Laval,

Québec, Canada đăng trên tạp chí Managerial Finance số 30 năm 2004 đã nghiên cứu về mối quan hệ và khoảng cách giữa các chỉ tiêu đánh giá HQKD và DN hiệu quả Trong bài viết của mình, tác giả đã trình bày các mô hình lý thuyết về DN hiệu quả và các mô hình đánh giá HQKD của DN Tác giả đã chỉ ra những khoảng cách giữa hệ thống đánh giá HQKD với mô hình DN hiệu quả đồng thời đề xuất giải pháp thu hẹp khoảng cách giữa chúng

Bài báo “Performance efficiency evaluation of the Taiwan’s shipping industry: an

application of data envelopment analysis” của các tác giả Wen -Cheng Lin, Chin - Feng

Liu (Prof.), Ching - Wu Chu (Prof.) đăng trên tạp chí Proceedings of the Eastern Asia Society for Transportation Studies, số 5 năm 2005 (các trang 467 - 476) giới thiệu về hệ

thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả gồm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính áp dụng trong ngành công nghiệp vận tải biển của Đài Loan

Cuốn sách “Key Management Ratios: The clearest guide to the critical numbers that

drive your business” (2006) của tác giả Ciaran Walsh viết về các chỉ tiêu quan trọng sử

dụng cho quản trị DN Trong cuốn sách này, tác giả nhấn mạnh đến các chỉ tiêu đánh giá HQKD như: doanh lợi vốn chủ sở hữu, doanh lợi tổng tài chính, doanh lợi vốn đầu tư Tác giả cũng đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá HQKD của DN trên các chỉ tiêu trên

Cuốn sách “Performance measurement and management” của Malcolm Smith do

Nhà xuất bản Sage phát hành năm 2005 nói về vai trò của kế toán quản trị chiến lược và

Trang 19

các phương án đánh giá HQKD của DN tại chương 3 “Performance Measurement and Analysis”

Bài báo “Measurement of corporate performance through balanced scorecard: an

overview” của các tác giả Samir Ghosh và Subrata Mukherjee giảng viên Đại học

Vidyasagar đăng trên tạp chí “Vidyasagar University Journal of Commerce” số 11, tháng

3 năm 2006 phân tích các ưu điểm khi sử dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá HQKD của DN

Bài báo “Performance Measurement: Questions for Tomorrow” của các tác giả

Umit Bititci, Viktor Dörfler, Sai Nudurupati1 (Đại học Tổng hợp Strathclyde, Glasgow, UK), Patrizia Garengo (Đại học Tổng hợp Padova, Italy) đăng trên tạp chí Nghiên cứu SIOM Research Paper Series số 05 tháng 10/2009 của Đại học Glasgow, giới thiệu về xu hướng phát triển hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN trên thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa

Luận án tiến sỹ: "Measuring Performance in Small and Medium Enterprises in the

Information & Communication Technology Industries" của tác giả Donglin Wu bảo vệ tại

trường Quản trị kinh doanh thuộc trường Đại học RMIT tháng 2 năm 2009 Trong luận án của mình, Wu nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến thành công của các DN quy mô vừa và nhỏ trong lĩnh vực tin học viễn thông của Australia để đề xuất hệ thống đánh giá HQKD khung cho các DN này

Luận văn thạc sỹ: "Proposal of a Performance Measurement System for e-commerce

SMEs in Denmark" của Ana Carolina Rossi (2012) nghiên cứu đặc điểm hoạt động và

thực trạng hệ thống đánh giá HQKD của các DN thương mại điện tử quy mô vừa và nhỏ ở Đan Mạch để đề xuất sử dụng hệ thống đánh giá hiệu quả trên cơ ở phân tích các mô hình đánh giá HQKD đang được các DN áp dụng hiện nay

Bài báo "Competitive strategy, performance measurement and organizational

performance: empirical study in Thai listed companies" của hai tác giả Luliya

Teeratansirikool và and Sununta Siengthai từ Viện công nghệ châu Á (AIT) tại hội thảo

“Proceedings of 16th International Business Research Conference” tổ chức tại Dubai

Trang 20

tháng 4 năm 2012 nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiến lược cạnh tranh với các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và HQKD của 561 công ty niêm yết tại Thái Lan

Trong các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu (thước đo) đánh giá HQKD của DN đặc biệt phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Robert Kaplan, giáo sư kế toán của đại học Harvard và Dawid Norton, giám đốc điều hành của Công ty Nolan Norton về hệ thống đánh giá HQKD chiến lược bằng Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard) Điển hình trong các công trình nghiên cứu của các tác giả này là các bài báo và cuốn sách sau:

Cuốn sách "The balanced scorecard: Translating strategy into action" do nhà xuất

bản của Đại học Harvard phát hành năm 1996 Trong cuốn sách này, các tác giả đã trình bày những hạn chế của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính và sự cần thiết phải bổ sung các chỉ tiêu phi tài chính trong hệ thống đánh giá Các tác giả đề xuất xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD theo mô hình bảng điểm cân bằng bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính liên hệ với nhau theo quan hệ nhân quả để diễn giải chiến lược thành các mục tiêu hoạt động cụ thể trên các khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, nhận thức và phát triển Trong cuốn sách này các tác giả cũng đi sâu phân tích và trình bày vai trò quan trọng của mỗi khía cạnh đối với sự thực hiện thành công chiến lược của DN và cách thức xây dựng bảng điểm cân bằng để diễn giải chiến lược kinh doanh của DN

Bài báo "Transforming the balanced scorecard from performance measurement to

strategic management" đăng trên tạp chí Accounting Horizons số 15 năm 2001 (trang 87 -

104)

Bài báo “The Balanced Scorecard: Measures That Drive Performance”, trên tạp

chí Harvard Business Review, số tháng 1, 2 năm 1992 (pp 71 - 79)

Thông qua cuốn sách và các bài báo trên, các tác giả cho rằng: hệ thống đánh giá hiệu quả phụ thuộc quá nhiều vào các chỉ tiêu tài chính có thể dẫn đến sai lầm của các nhà quản trị khi đánh giá HQKD của DN và có thể thúc đẩy các hành vi bất lợi cho DN Chẳng hạn nhà quản trị có thể từ chối cơ hội đầu tư cần thiết cho sự phát triển của DN

Trang 21

nhưng lại làm cho tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư của bộ phận do anh ta quản lý bị giảm

đi Để có được lợi nhuận cao, nhà quản trị có thể tận dụng công suất máy móc thiết bị để sản xuất nhiều sản phẩm nhằm hạ giá thành Tuy nhiên, sản xuất nhiều nhưng không bán được sẽ làm cho hàng tồn kho nhiều lên dẫn đến nhu cầu tăng vốn và làm phát sinh chi phí lưu kho, v.v từ đó có thể làm giảm HQKD của DN

Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện thành công chiến lược của

DN, các tác giả cho rằng trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN cần chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện thành công chiến lược Các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện thành công chiến lược thường bao gồm: chất lượng nhân viên, quy trình kinh doanh nội bộ, sự hài lòng của khách hàng, Từ các phân tích của mình, các tác giả đề xuất sử dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thực hiện thành công chiến lược kinh doanh của DN được liên kết với nhau theo quan hệ nhân quả gọi là "Bảng điểm cân bằng"

Công trình nghiên cứu của các tác giả này đã mở đầu cho các nghiên cứu sau đó về

hệ thống đánh giá HQKD trong các DN cụ thể và mở rộng sang các lĩnh vực khác như trong các tổ chức phi lợi nhuận, các cơ quan công quyền, v.v Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài gần đây đều tập trung vào các nội dung sau:

- Chỉ ra những hạn chế của hệ thống đánh giá truyền thống chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính không còn phù hợp trong điều kiện cạnh tranh cùng với vai trò ngày càng tăng của các tài sản vô hình đối với thành công của DN

- Đánh giá vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong

DN và vai trò ngày càng quan trọng cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính với việc thực hiện thành công chiến lược của DN

- Đưa ra các đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá gắn với mục tiêu chiến lược của

DN bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các chỉ tiêu ngắn hạn gắn với các chỉ tiêu dài hạn và mục tiêu chiến lược, v.v liên hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

Trang 22

- Đánh giá HQKD gắn với mục tiêu thực hiện chiến lược, đánh giá tác động của các nhân tố tới việc thực hiện thành công chiến lược

đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại Trung tâm

+ Là tài liệu tham khảo tốt cho học viên cao học các khóa sau

7 Dự kiến kết cấu của đề tài

Ngoài các phần như: mở đầu, kết luận – kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,… luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương này giới thiệu lĩnh vực quy hoạch và kiểm định xây dựng; hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua khái niệm hiệu quả, phương pháp đánh giá hiệu quả, bản chất và ý nghĩa hiệu quả hoạt động; các quan điểm đánh giá hiệu quả Bên cạnh đó, chương cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trước trong và ngoài nước

Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa Chương này giới thiệu vể Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa; đánh giá hiệu quả hoạt động

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa Nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá kết quả khảo sát, các nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Trung tâm,

để từ đó làm cơ sở cho kiến nghị giải pháp

Trang 23

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Định nghĩa, khái niệm trong hoạt động xây dựng

1.1.1 Xây dựng, hoạt động xây dựng, công trình xây dựng

- Xây dựng

Trong cácdự án đầu tư xây dựng,xây dựnglà việc xây, tạo dựng nêncơ sở hạ tầng Mặc

dù hoạt động này được xem là riêng lẻ, song trong thực tế, đó là sự kết hợp của nhiều nhân

tố Hoạt động xây dựng được quản lí bởi nhà quản lí haychủ đầu tư,nhà thầu xây dựng; giám sát bởikỹ sư tư vấn giám sátcùng vớikỹ sư xây dựngvàkiến trúc sưcủa dự án

Để hoàn thành mộtdự án xây dựng, một kế hoạch hiệu quả là cần thiết Tất cả có liên quan đến việc thiết kế và thi công công trình hạ tầng phải gắn với những tác động gây ra vớimôi trường tự nhiêndo dự án đó gây nên, phải bảo đảmthi công đúng chương trình,ngân sách,an toàn xây dựngtại công trường, tác động đến người dân xung quanhcông trình, tác động do việc chậm trễ của công trình, việc chuẩn bị các tài liệu đấu thầu

- Hoạt động xây dựng

Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình

- Công trình xây dựng

+ Công trình xây dựng: Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người,

vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và dưới mặt đất, phần trên và dưới mặt nước và được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, thuỷ lợi, công trình năng lượng, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác (Điều 3, Luật Xây dựng)

+ Các loại công trình đặc thù

Trang 24

Công trình bí mật nhà nước là công trình xây dựng thuộc các lĩnh vực quốc phòng,

an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác thuộc danh mục bí mật nhà nước, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước

Công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp là công trình phải được xây dựng và hoàn thành kịp thời, để phòng, chống thiên tai và địch họa, ngăn chặn và hạn chế thiệt hại, đáp ứng yêu cầu của lệnh khẩn cấp do người có thẩm quyền ban hành theo pháp luật về tình trạng khẩn cấp, tình huống khẩn cấp và pháp luật khác có liên quan đến yêu cầu khẩn cấp Công trình tạm bao gồm: a) Công trình tạm phục vụ thi công công trình chính là công trình của chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng trên mặt bằng công trường xây dựng, gồm: nhà văn phòng làm việc, nhà ở cho cán bộ công nhân viên tại công trường, kho tàng, nhà sản xuất tại chỗ phục vụ thi công xây dựng, các công trình dẫn dòng thi công, đường thi công, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình dịch vụ khác phục vụ hoạt động của công trường xây dựng; b) Công trình, nhà ở riêng lẻ được xây dựng theo giấy phép xây dựng tạm trong khu vực đã có quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt nhưng chưa thực hiện giải phóng mặt bằng xây dựng (Điều 4-NĐ71/2005/NĐ-CP)

1.1.2 Quy hoạch xây dựng

Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng bao gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh

Quy hoạch xây dựng vùng là việc tổ chức hệ thống điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong địa giới hành chính của một tỉnh hoặc liên tỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ

Quy hoạch chung xây dựng đô thị là việc tổ chức không gian đô thị, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đô thị phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội,

Trang 25

quy hoạch phát triển ngành, bảo đảm quốc phòng, an ninh của từng vùng và của quốc gia trong từng thời kỳ

Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị là việc cụ thể hoá nội dung của quy hoạch chung xây dựng đô thị, là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng công trình, cung cấp thông tin, cấp giấy phép xây dựng công trình, giao đất, cho thuê đất để triển khai các dự án đầu tư xây dựng công trình

Quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn là việc tổ chức không gian, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của điểm dân cư nông thôn (Điều 3, Luật Xây dựng)

1.1.3 Kiểm định xây dựng

Kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng công trình và cấu kiện, vật liệu xây dựng là hoạt động kiểm tra, xác định chất lượng của sản phẩm xây dựng, bộ phận công trình hoặc công trình xây dựng; cấu kiện, vật liệu xây dựng so với yêu cầu của thiết kế và quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, chỉ dẫn kỹ thuật thông qua việc thí nghiệm kết hợp với việc xem xét, đánh giá hiện trạng bằng trực quan

Nội dung bao gồm:

a Tổ chức kiểm định lập đề cương kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng trình tổ chức, cá nhân có yêu cầu kiểm định xem xét chấp thuận

b Tổ chức kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng thực hiện kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng theo đúng đề cương được chấp thuận;

c Tổ chức kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng lập báo cáo đánh giá, kết luận theo nội dung yêu cầu kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng của hợp đồng và gửi cho tổ chức,

cá nhân có yêu cầu kiểm định, kiểm soát bảo đảm chất lượng

1.2 Hiệu quả hoạt động

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả

Hiệu quả (hiệu quả hoạt động) bao gồm nhiều khái niệm tùy theo phạm vi và cách tiếp cận

Trang 26

+ Hiệu quả (Efficiency): là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (như lao động, vốn, máy móc…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào (inputs) đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu

ra đó

+ Hiệu quả kinh tế (Economic efficiency): là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ

sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực…) để đạt được mục tiêu xác định

H = K/C (1.1) Với H: là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế nào đó);

K: là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó;

C: là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó

Và có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh

tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả

đó

Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Vậy hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

+ Hiệu quả tài chính (Finance efficiency): Là chỉ tiêu dùng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Nhưng hiệu quả tài chính này thông thường chỉ là thước đo riêng phần

+ Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (Technical efficiency - TE, hiệu quả kỹ thuật): là khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định (Coelli, T J., D.S.P Rao, C J O’Donnell and G E Battese, 2005)

Trang 27

1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2.2.1 Phương pháp truyền thống

Theo tác giả Võ Thành Hiệu và cộng sự, 1998, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

có thể được đo lương bằng nhiều chỉ số khác nhau Trong đó, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh

và hiệu quả xã hội là chỉ số rất quan trọng cho doanh nghiệp Trong chỉ tiêu kết quả, số dư đảm phí là một chỉ tiêu quan trọng; trong chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, tỷ số số dư đảm phí được sử dụng đại diện cho khả năng sinh lời

a Chỉ tiêu tài chính

a1 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Nhóm chỉ tiêu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

+ Doanh thu: Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu

thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng

Phần doanh thu có thêm nhờ sản xuất thêm được một đơn vị sản phẩm gọi là doanh thu biên Nó có thể diễn đạt bằng tỷ lệ giữa mức thay đổi trong doanh thu với mức thay đổi trong sản lượng Công thức tính doanh thu biên, vì thế có thể viết như sau:

(1) trong đó MR là doanh thu biên, TR là doanh thu, còn Q là sản lượng Do

(2) trong đó P là giá bán sản phẩm Từ (1) và (2) ta có:

Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá sản phẩm do thị trường quy định hoàn toàn, nên không phụ thuộc vào thay đổi sản lượng của hãng Vì thế, dP/dQ bằng 0 Thành ra doanh thu biên sẽ bằng giá bán sản phẩm Lấy ví dụ trong trường hợp về

Trang 28

lúa gạo, giá lúa gạo do thị trường qui định, khi người nông dân bán thêm 01 đơn vị (01kg) thì số tiền (doanh thu) của người nông dân tăng lên đúng bằng với giá của 01kg lúa gạo Doanh thu biên = giá sản phẩm

Doanh thu và thu nhập khác trong doanh nghiệp xây dựng: Theo thông tư 195/2012/TT-BTC, chỉ tiêu này được xác định căn cứ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bao gồm: doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (mã số 10) + doanh thu hoạt động tài chính (mã số 21) + thu nhập khác (mã số 31) Trong các DN xây dựng, chỉ tiêu này bao gồm: toàn bộ giá trị của các hợp đồng thi công các công trình đã hoàn thành bàn giao cho chủ đầu tư và được chủ đầu tư chấp nhận thanh toán Ngoài doanh thu của các công trình, doanh thu của các hoạt động khác như kinh doanh bất động sản, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải hàng hóa, du lịch, cũng được tính vào chỉ tiêu này (Nguyễn Thị Thanh Hải, 2013)

+ Lợi nhuận: Lợi nhuận trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm

nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Lợi nhuận, trong kế toán, là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0 Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán

Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên, cũng tức

là nhỏ hơn giá bán Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0 Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo

Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản lượng

mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.Tức là doanh thu có thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm Trong cạnh cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên bằng giá Ngay cả khi giá thấp hơn chi phí bình

Trang 29

quân tối thiểu, lợi nhuận bị âm Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí biên, doanh nghiệp

lỗ ít nhất

Lợi nhuận trong doanh nghiệp xây dựng: Theo thông tư 195/2012/TT-BTC, lợi nhuận thực hiện bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khi xác định chi phí để tính chỉ tiêu lợi nhuận, các DN đều sử dụng chỉ tiêu giá vốn hàng bán gồm các chi phí cho công trình

đã hoàn thành bàn giao và chi phí cho các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến doanh thu phát sinh trong kỳ theo nguyên tắc phù hợp (Nguyễn Thị Thanh Hải, 2013)

+ Số dư đảm phí: một đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiều đồng doanh thu

+ Số dư đảm phí là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi biến phí:

Trang 30

Số dư đảm phí XXX

Trừ: Định phí XXX

Lợi nhuận thuần XXX

Khi số dư đảm phí bằng định phí, lợi nhuận sẽ bằng 0 => hòa vốn

Mối quan hệ giữa số dư đảm phí và lợi nhuận cung cấp cho các nhà quản trị một công cụ hoạch định mạnh Các nhà quản trị có thể có thể dự đoán lợi nhuận ở những mức hoạt động khác nhau mà không cần phải lập báo cáo kết quả kinh doanh Số dư đảm phí phải vượt qua định phí, nếu không sẽ bị lỗ Khi chưa hòa vốn, mỗi sản phẩm tiêu thụ sẽ giảm lỗ, tương ứng với số dư đảm phí đơn vị

Khi đã hòa vốn cứ bán thêm một sản phẩm, lợi nhuận sẽ tăng tương ứng với số dư đảm phí đơn vị

- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Chỉ tiêu hiệu quả hay còn gọi là khả năng sinh lời là một thước đo quan trọng Khả năng sinh lời (profitability) được định nghĩa là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ Nhìn chung, tùy theo mục tiêu phân tích, khả năng sinh lợi có thể được đại diện bởi nhiều nhóm chỉ số phân tích khác nhau

+ Tỷ suất sinh lời: Tỷ suất sinh lời thể hiện khả năng tạo ra đồng lời nhuận hay

phần trăm lợi nhuận thu được của một doanh nghiệp

Người ta đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên các tỷ suất sinh lời

cơ bản như tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Trang 31

Thứ nhất, tỷ suất sinh lời trên doanh thu hay còn gọi là tỷ suất lựoi nhuận trên doanh thu phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì mang lại bao nhiêu % lợi nhuận Có thể sử dụng tỷ số này để so sánh với các tỷ số của các năm trước hay so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành

Lợi nhuận thuần

ROS = x 100%

Doanh thu thuần

+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên chi phí: Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng chi

phí sản xuất thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần

Lợi nhuận thuần

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên chi phí = x 100% Chi phí

+ Tỷ suất lợi nhuận/tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn bỏ vào

sản xuất thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần

Lợi nhuận thuần

ROA = x 100%

Tổng tài sản

Nếu các tỷ số này lớn hơn 1, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu các tỷ số nhỏ hơn 1, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản, giá trị vốn, giá trị doanh thu của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và

sử dụng tài sản, vốn để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp

Trang 32

Tỷ lệ số dư đảm phí được sử dụng để xác định mức chênh lệch của tổng số dư đảm phí khi doanh thu thay đổi

Chênh lệch doanh thu XXX

Từ kết luận trên ta rút ra hệ quả sau: nếu tăng cùng 1 lượng doanh thu ở tất cả những sản phẩm, những lĩnh vực, những bộ phận, những doanh nghiệp thì những doanh nghiệp nào, những bộ phận nào có tỉ lệ số dư đảm phí lớn thì lợi nhuận tăng lên càng nhiều (Ngô Đình Trực, 2012)

a2 Hiệu quả xã hội

+ Chỉ tiêu giải quyết việc làm

Chỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp tạo được bao nhiêu việc làm gián tiếp (cán bộ quản lý và nhân viên làm viên tại doanh nghiệp) và việc làm trực tiếp (cán bộ kỹ thuật tại

tổ, đội sản xuất, dịch vụ, người làm công cho doanh nghiệp) và việc làm cho lao động thời vụ

+ Chỉ tiêu đóng góp cho ngân sách địa phương

Chỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp thực nghĩa vụ với Nhà nước theo quy định hiện hành từ lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, chỉ tiêu này bao gồm các chính sách thuế, thu nộp ngân sách, tín dụng, bảo hiểm, bảo vệ môi trường, lao động, tiền lương, chế độ tài chính, kế toán, kiểm toán, chế độ báo cáo tài chính và báo cáo khác

+ Tình hình thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích: căn cứ vào việc thực hiện trực

tiếp các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công

Trang 33

cộng theo chính sách của Nhà nước thông qua hình thức đấu thầu hoặc nhận đặt hàng hoặc nhận nhiệm vụ Nhà nước giao

b Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phi tài chính – đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận

Trong điều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm, sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt đòi hỏi các DN phải đánh giá đúng đắn HQKD của mỗi bộ phận trong DN cũng như toàn DN để có các quyết định đúng đắn Thời gian gần đây, quan điểm về đánh giá HQKD trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể Trước đây người ta chỉ chú ý đến HQKD ngắn hạn thì gần đây các DN chú ý nhiều hơn đến đánh giá HQKD dài hạn Về các chỉ tiêu đánh giá HQKD cũng có nhiều thay đổi, nếu như trước đây người ta thường chỉ chú ý sử dụng chỉ tiêu tài chính để đánh giá HQKD là chủ yếu, thì hiện nay các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu tài chính mà đã bao gồm

cả các chỉ tiêu phi tài chính Hạn chế của hệ thống chỉ tiêu tài chính là không gắn với chiến lược, do vậy không giúp cho các DN đánh giá khả năng thực hiện thành công chiến lược Trong môi trường cạnh tranh, chiến lược kinh doanh là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của DN, giúp DN đạt được thành công trên thương trường Để giúp DN thực hiện thành công chiến lược, hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN phải gắn với chiến lược của DN và phải đánh giá được hiệu quả chiến lược Quan điểm này đã nhận được sự đồng tình của nhiều học giả Sau năm 1980, nhiều mô hình đánh giá HQKD được đề xuất Tiêu biểu trong các mô hình này là mô hình ma trận đánh giá HQKD của Keegan, Eiler và Jones từ 1989 (Neely, 2007: 145); mô hình Kim tự tháp SMART của Lynch và Cross (1991); mô hình kết quả và yếu tố quyết định (Result and Determinants Framework) của Fitzgerald và cộng sự (1991), mô hình câu hỏi đánh giá HQKD (Performance Measurement Questionnaire) của Dixon và cộng sự (1990), Mô hình Lăng kính hiệu suất của Neely (2001), v.v Nổi bật hơn cả trong các mô hình trên là mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balance Scorecard) đánh giá HQKD dưới nhiều khía cạnh khác nhau do Kaplan và Norton đề xuất vào đầu những năm 1990 (Bourne, 2008)

Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phi tài chính được thực hiện thông qua đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận

Trang 34

Đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận: Kết quả kinh doanh có thể được mô tả

trong mối quan hệ với các đánh giá khách quan như doanh thu, lợi nhuận, các biện pháp marketing hoặc bằng các đánh giá chủ quan như sự hài lòng của khách hàng Kết quả kinh doanh là những nỗ lực của một doanh nghiệp để bán hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra thị trường Bên cạnh các chỉ tiêu đánh giá khách quan, có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau được sử dụng để đánh giá cảm nhận các kết quả kinh doanh phụ thuộc vào các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá (kinh tế, hành vi, tình huống, chiến lược hoặc đánh giá tổng thể), khung tham chiếu (đối thủ cạnh tranh tuyệt đối hay tương đối ), thời gian định hướng (tĩnh hoặc động) (Carneiro 2006) Bản chất của kết quả kinh doanh cũng thay đổi theo đơn vị phân tích và ra quyết định (doanh nghiệp, một đơn vị kinh doanh chiến lược, một hoặc tất cả các công việc kinh doanh xuất khẩu), các phương thức đánh giá, cấu trúc chỉ

số (một hoặc nhiều tiêu chí) (Carneiro, 2007) Tuy nhiên, một định nghĩa khái niệm của kết quả kinh doanh nên bao gồm ý nghĩa của hai thành phần này: kết quả kinh doanh và hoạt động kinh doanh (Shoham, 1998) Nghiên cứu này xác định kết quả kinh doanh bao gồm đánh giá tổng thể khách quan và chủ quan của một doanh nghiệp về sự thành công

kinh doanh trên thương trường (Carneiro, 2007)

Thang đo hiệu quả kinh doanh cảm nhận của Zou et al (1998) Zou, S., Taylor, C.R and Osland, G.E (1998), “The EXPERF scale: a cross-national generalized export

performance measure,” Journal of International Marketing, Vol 6 No 3, pp 37-58, gồm

3 nhóm tiêu chí lớn: tài chính (đạt lợi nhuận, lớn qui mô, cao tăng trưởng), chiến lược (cạnh tranh toàn cầu, có chiến lược, đạt thị phần lớn), hài lòng (đạt hiệu suất, rất thành công, đạt mong đợi) Dựa vào kết quả thảo luận chuyên gia (phụ lục), tình hình thực tế tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa

Bảng 1.1: Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận đối với Trung tâm

Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa

1 So với mục tiêu đề ra, doanh thu kinh doanh của công ty là rất tốt

2 So với mục tiêu đề ra, lợi nhuận kinh doanh của công ty là rất tốt

Trang 35

3 So với mục tiêu đề ra, thị phần kinh doanh của công ty là rất tốt

4 So với mục tiêu đề ra, chi phí kinh doanh của công ty là rất tốt

5 So với mục tiêu đề ra, khả năng cải thiện cạnh tranh của công ty là rất tốt

6 So với mục tiêu đề ra, nói chung kết quả kinh doanh của công ty là rất tốt

1.2.2.2 Phương pháp hiện đại

Có nhiều phương pháp hiện đại để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong đó, hai phương pháp phân tích chính là phương pháp phân tích đường bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) được khởi xướng bởi Charnes và các cộng sự (1978)

và phương pháp phân tích đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Production Frontier - SPF) được phát triển bởi Battese và Coelli (1995) (Johns, N., Howcroft, B and Drake, L 1997)

- Phương pháp đường biên ngẫu nhiên (SPF)

Mô hình phân tích SPF được tóm gọn như sau:

Hàm SPF cho dữ liệu chéo được mô tả:

(2.1)

Trong đó: Y i là mức sản lượng đầu ra của đơn vị sản xuất thứ i (i=1,2,…n); X i

véc tơ yếu tố đầu vào (1*K, với K là số lượng yếu tố đầu vào) của đơn vị sản xuất thứ i β

là véc tơ (1*K) tham số cần được ước lượng V i là sai số ngẫu nhiên, được giả thiết là độc lập, đồng nhất và có phân phối chuẩn , và độc lập với U i Trong đó, U i là phần biến ngẫu nhiên không âm liên quan đến sự phi hiệu quả trong sản xuất, và được giả thiết là phân phối độc lập, một phía và có dạng Nếu như U i bằng không

thì đơn vị sản xuất thứ i đạt hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào 100% và nằm trên đường biên giới hạn sản xuất Nếu như U i lớn hơn không thì đơn vị sản xuất thứ i đang sử dụng lãng phí các yếu tố đầu vào – còn gọi là phi hiệu quả Theo Battese và Coelli (1995), U i

có thể được viết dưới dạng:

(2.2)

Trang 36

Trong đó Z i là véc tơ (1* p) các nhân tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các

yếu tố đầu vào của đơn vị sản xuất gồm có: các yếu tố vi mô như đặc điểm riêng của đơn

vị sản xuất (quy mô, kinh nghiệm, sự phối hợp các đầu vào ); các yếu tố vĩ mô như thể chế, chính sách, sự hỗ trợ của chính phủ (quy hoạch, vốn vay, tập huấn kinh nghiệm ) δ

là véc tơ (p*1) các tham số cần được ước lượng W i là sai số ngẫu nhiên giống như V i

Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của đơn vị sản xuất kinh doanh thứ i chính là

(2.3)

Như vậy, nếu dạng hàm sản xuất f thích hợp nhất được lựa chọn, Battese và

Coelli (1995) đề nghị các tham số ở mô hình (2.1) và (2.2) được ước lượng đồng thời bằng phương pháp MLE (Maximum Likelihood Estimation) Lúc đó mô hình (2.1) sẽ cho biết mức sản lượng lớn nhất có thể đạt tới với các đầu vào cho trước Chỉ số hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của mỗi đơn vị sản xuất ở (2.3) chính bằng mức sản lượng quan sát (thực tế) chia cho mức sản lượng lớn nhất có thể đạt tới Các tham số được ước lượng

ở mô hình (2.2) sẽ cho biết các nhân tố và mức độ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Phần mềm ước lượng chuyên dụng là FRONTEIR 4.1 (Coelli, 1994)

- Phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA)

Phương pháp phân tích DEA được mô phỏng như sau:

Giả sử có dữ liệu của I doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp sử dụng N đầu vào và M

đầu ra Với doanh nghiệp thứ i, dữ liệu về đầu vào được thể hiện bằng véctơ cột xi và đầu

ra được diễn tả bằng véctơ cột yi Như vậy, số liệu đầu vào và đầu ra của tất cả các doanh

nghiệp được thể hiện bằng ma trận X (N hàng, I cột) và ma trận Y (M hàng, I cột)

Phương pháp sử dụng các “tỷ lệ” được xem là phương pháp trực quan mô tả phân tích bao số liệu (DEA) Với mỗi doanh nghiệp, chúng ta sẽ đo tỷ lệ của tổng số lượng các

sản phẩm đầu ra trên tổng số lượng các đầu vào đã sử dụng (u’yi/v’xi) với u là véc tơ số lượng đầu ra (M hàng 1 cột); v là véc tơ số lượng đầu vào (N hàng 1 cột) Số lượng đầu vào và đầu ra tối ưu của doanh nghiệp thứ i được tìm ra qua việc giải mô hình toán sau: max u,v (u’yi/v’xi)

St: u’yj/v’xj <= 1 j = 1,2,3….I (2.10)

Trang 37

u, v >= 0

Từ bài toán này có thể tìm được các số lượng đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp thứ i cho hệ số hiệu quả của nó (tổng đầu ra/tổng đầu vào) là lớn nhất với điều kiện là hệ

số hiệu quả của nó luôn nhỏ hơn hoặc bằng 1 Một vấn đề khó khăn có thể xảy ra là có rất

nhiều lời giải cho bài toán trên (ví dụ: nếu u* v* là nghiệm thì 2u* 2v* cũng là nghiệm của bài toán) Để tránh trường hợp áp đặt v’xi = 1

Sự thay đổi ký hiệu từ u và v sang , tương ứng, hàm ý rằng đã xét đến một mô hình toán tuyến tính tương tự khác

Bài toán (2.12) được giải N lần, nghĩa là từng lần đối với mỗi doanh nghiệp Như

vậy giá trị nghiệm được xác định cho từng doanh nghiệp Nếu = 1 nghĩa là doanh nghiệp đạt hiệu quả; < 1 nghĩa là doanh nghiệp không đạt hiệu quả Các doanh nghiệp không đạt hiệu quả có thể chiếu lên đường giới hạn hiệu quả, khi đó ta nhận được tổ hợp

tuyến tính (X  , Y ) – là vị trí của doanh nghiệp tham chiếu giả định Đối với các doanh

nghiệp không đạt hiệu quả (θ < 1) có thể thiết lập mục tiêu giảm tỷ lệ các yếu tố đầu vào

một đại lượng là trong khi vẫn giữ các giá trị xuất lượng như trước

0

,0

,0

),(

Y y

i i

Trang 38

Trong sản xuất, thường ta sẽ phải đối diện với bài toán là quy mô sản xuất sẽ có ảnh hưởng tới kết quả sản xuất Để ước lượng cho trường hợp này, bài toán (2.12) sẽ có

(Morey, R.C., Dittman, D.A., 1995)

+ Phương pháp đường bao dữ liệu theo mô hình tối thiểu hóa đầu vào

Để mô tả vấn đề này, lấy ví dụ giả định với 2 đầu vào là x1, x2 và một đầu ra là y Các doanh nghiệp A, B, C và D nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’ là các doanh nghiệp đạt hiệu quả Mức độ phi hiệu quả được phản ánh bằng khoảng cách từ B đến P Tỷ lệ TE= OB/OP thể hiện hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp P, nghĩa là có thể giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp P mà không làm ảnh hưởng đến đầu ra Theo định nghĩa, các mức độ hiệu quả này nằm trong giới hạn từ 0 đến 1

Hình 1.1 Mô hình DEA tối thiểu hoá đầu vào

0

11

,0

,0

),(

Y y

i i

Trang 39

+ Phương pháp đường bao dữ liệu theo mô hình tối đa hóa đầu ra

Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào được coi là khả năng của một ngành trong việc sản xuất tối đa đầu ra trong điều kiện đầu vào cho trước Trong trường hợp của mô hình DEA tối đa hóa đầu ra lấy ví dụ giả định với 2 đầu ra là y1, y2 và một đầu vào là x, các doanh nghiệp A, B, C và D nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’ là các doanh nghiệp đạt hiệu quả Mức độ phi hiệu quả kỹ thuật được phản ánh bằng khoảng cách từ P đến P’ Tỷ lệ TE= OP/OP’ thể hiện hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp P, nghĩa là có thể tối đa hóa đầu ra của doanh nghiệp P mà không làm ảnh hưởng đến đầu vào Theo định nghĩa, các mức độ hiệu quả này nằm trong giới hạn từ 1 đến 

Hình 1.2 Mô hình DEA tối đa hoá đầu ra

(Yeoman, I., và cộng sự, 2007)

1.2.3 Bản chất và ý nghĩa của hiệu quả hoạt động

Khái niệm hiệu quả nói chung của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động

Trang 40

sản xuất kinh doanh Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, … và cũng có thể là các đại lượng chi phí phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, … Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi đó, trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng như thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả, giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả

Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa

Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp

Ngày đăng: 20/07/2016, 17:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình DEA tối thiểu hoá đầu vào - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Hình 1.1. Mô hình DEA tối thiểu hoá đầu vào (Trang 38)
Bảng 2.1: Kinh nghiệm loại hình tư vấn xây dựng của Trung tâm Quy hoạch và - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Bảng 2.1 Kinh nghiệm loại hình tư vấn xây dựng của Trung tâm Quy hoạch và (Trang 44)
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa (Trang 45)
Bảng 2.2: Đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Bảng 2.2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa (Trang 55)
Bảng 2.3: Các khoản Doanh thu và Chi phí tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Bảng 2.3 Các khoản Doanh thu và Chi phí tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa (Trang 56)
Bảng 2.4: Đánh giá hiệu quả xã hội tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Bảng 2.4 Đánh giá hiệu quả xã hội tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa (Trang 58)
Bảng 2.5: Đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận đối với Trung tâm Quy - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Bảng 2.5 Đánh giá hiệu quả kinh doanh cảm nhận đối với Trung tâm Quy (Trang 59)
Bảng 2.6: Sự hài lòng với các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm dựa trên kết quả - Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng khánh hòa
Bảng 2.6 Sự hài lòng với các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm dựa trên kết quả (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w