Trong các nền kinh tế phong kiến, nông nghiệp là ngành sản xuâ't xã hội chủ yếu và là cơ sờ của chế độ phong kiến, do đó, nông thôn phong kiến đóng vai trò chủ đạo so với thành thị trong
Trang 1Nguyên Ngọc Thanh
"T 7 \* C /iiỉ biên ^
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI H Ọ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BỘ MÔN LỊCH SỬ T ư TƯỞNG KỈNH TẾ VÀ LỊCH s ử KINH TẾ
Trang 3T Ậ P T H Ể T Á C G IẢ
ThS Phạm Văn Chiến (Chương 2,10)
TS Phạm Thị Hồng Điệp (Chương 4,11) PGS.T5 Nguyễn An Hà (Chương 6)
TS Trần Đức Hiệp (Chương 3)
TS Trần Thị Nhung (Chương 5)
TS Lê Quốc Phương (Chương 8)
TS Nguyễn Trần Quế (Chương 12,13) PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh (Chương 1,9)
TS Đinh Văn Thông (Chương 7)
Trang 4PHẦN MỞ ĐẨU
TỔNG QUAN VỀ LỊCH s ử KINH TÊ
2.3 Đặc điểm nén kinh tế xà hội chủ nghĩa
PHẨN THỨ NHẤT
LỊCH SỬ KINH TÊ CÁC NƯỚC (NGOÀI VIỆT NAM)
3.3 Kinh tế nước Anh từ sau cách mạng công nghiệp
4.3 Kinh tế Mỹ từ Chiến tranh thẻ' giới thứ nhất đến nay (1914-2010) 106
5.2 Kinh tê' Nhật Bản từ Cách mạng Minh Trị
Trang 55.3 Kinh tê Nhật Bản giữa hai cuộc chiến tranh thê giới 138
7.1 Đặc điểm kinh tế Trung Quốc trước khi thành lập
7.2 Kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
7.3 Kinh tếTrung Quốc thời kỳ cải cách và mở cửa
8.2 Kinh tê các nước Đông Nam Á thời kỳ trước khi giành được độc lập 271 8.3 Thời kỳ từ khi giành được độc lập đến khi thành lập ASEAN (1967) 274 8.4 Thời kỳ thành lập ASEAN đến khủng hoảng tài chính châu Á
PHẨN THỨ HAI
LỊCH SỬ KINH TÊ VIÊT NAM
10.1 Thời kỳ phong kiến phương Bác đô hộ
10.2 Thời kỳ hình thành và phát triển nến kinh tê phong kiến dân tộc
Trang 6Chương 12: KINH TẾ THỜI KỲ NHÀ NƯỚC VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
12 1 Sự hình thành nền kinh tế dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1946) 397
1 2 2 Kinh tế thời kỳ chống Thực dân Pháp ở vùng tự do (1947-1954) 403
13.1 Kinh tế thời kỳ cả nước xây dựng nền kinh tê xả hội chủ nghĩa
Trang 7Lời nói đầu
ịch sử kinh tế hay lịch sử các nền kinh tế nghiên cứu sự phátsinh, phát triển và biến đổi của các nền kinh tế Chúng tôi quan niệm nền kinh tế là tổng thể của các ngành, các bộ phận, các thành phần, các vùng kinh tế Câu trúc của nền kinh tế là các cơ câu kinh
tế, trong đó quan trọng hon cả là cơ cấu ngành kinh tế, cơ câu các thành phẩn kinh tế, cơ câu vùng kinh tế Các cơ câu kinh tế chính là nơi hội tụ của các chính sách kinh tế với phương thức sản xuâ't và những điều kiện tự nhiên, xã hội, chính trị, văn hóa của một quô'c gia hay một khu vực lãnh thổ cụ thể, do vậy lịch sử các nền kinh tế được thê hiện như là lịch sử của sự tích tụ và chuyển dịch các cơ câu
Để phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tê' Việt Nam hiện đại, một mặt, cần phải kế thừa và tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế của các nước trên thế giới hay của toàn nhân loại, đặc biệt từ thời kỳ nảy sinh chủ nghĩa tư bán cho tới nay; mặt khác, cũng cần kế thừa những kinh nghiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế dân tộc của tổ tiên, ông cha chúng ta từ thời cổ xưa cho tới nay Tuy nhiên, với quy mô một cuôn sách, việc trình bày nền kinh tế của tất cả các nước là không thế thực hiện được, vì vậy trong cuôn sách kinh tế, chúng tôi chỉ
giới thiệu một sô' con đường, nhũng bước đi và những mô hình kinh tê' điên hình trong những giai đoạn lịch sử nhất định của một sô' nước có nền kinh tê' phát triển, một sô' nước lân cận có ảnh hưởng lớn đến nến kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như nền kinh tế Việt Nam Qua đó, trong một chừng mực nhất định, cuốn sách phản ánh
sự chuyển dịch các trung tâm kinh tế thê'giới hay sự phát triển của nển kinh tê'thê'giới
Những con đường, những bước đi và những mô hình xây dựng, phát triển nền kinh tê' của các nước và Việt Nam là những kinh nghiệm, những tài sản vô cùng quý giá mà các thê' hệ đi trước đế lại cho ngày nav, râ't đáng được chúng ta tiếp thu một cách trân trọng,kinh tế
Trang 8] 0 I L ờ i ẩầu
khoa học và quan trọng hơn là phải biến những tài sản vô giá đó thành sức mạnh, thành nguồn lực của dân tộc đế xây dựng và phát triến nền kinh tế Việt Nam hiện đại, theo kịp với các nền kinh tê' phát triển trên thế giới
Tham gia biên soạn cuốn sách này gồm có các tác giả sau:
TS Nguyễn Trần Quế: Chương 12,13
Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đổng Nghiệm thu giáo trình của Trường, Phòng Đào tạo, Bộ phận Tạp chí
- Xuâ't bản về chuyên môn, kỹ thuật và tài chính để hoàn thành cuốn sách này Tập thể tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ về mặt chuyên môn của GS.TS Đỗ Thê'Tùng, GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, GS.TS Ngô Thắng Lợi, PGS.TS Nguyễn Hổng Sơn, PGS.TS Lê Cao Đoàn, PGS.TS Phạm Hổng Tung, PGS.TS Ngô Đăng Tri, PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh, PGS.TS Phạm Thị Thanh Bình, PGS.TS Phạm Văn Dũng, TS Đinh Quang Ty và TS Nguyễn Đức Thành Vì thời gian
và tài liệu hạn chế, cuô'n sách không thế tránh khỏi thiếu sót Tập thể tác giả mong nhận được những góp ý xây dựng đối với cuốn sách để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn Góp ý xin gửi về Bộ môn Lịch
sử Tư tưởng Kinh tê' và Lịch sử Kinh tế, Khoa Kinh tê' Chính trị, Trường Đại học Kinh t ế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Xin chân thành cảm ơn
Thay mặt tập thê tác giả
Chủ biên
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh
Trang 9PH ẨN M Ở Đ Ẩ U
TỔNG QUAN
VÉ LỊCH SỬ KINH TÊ
Trang 10chương I
CỦA LICH SỬ KINH TỂ
Ịch sử kinh tế là môn khoa học nghiên cứu sự tiến triển củanền kinh tế theo giác độ lịch sử Nó nghiên cứu sự tiến triển của nên kinh tê một nuớc hoặc một sô’ nuớc trong một giai đoạn lịch sứ cụ thê nhằm khái quát thành những xu huớng, khuynh huớng hay con đuờng phát triển kinh tế
1.1 Đ ôi tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Đối tuợng nghiên cứu của Lịch sử kinh tế là sự tiến triển của nền kinh tế một nuớc hay một số nuóc
Nền kinh tê'của một nuớc theo học thuyết hình thái kinh t ế - xã hội chính là phuơng thức sản xuất, bao gồm quan hệ sản xuất và lực luợng sản xuâ't, và giữa chúng có mối quan hệ biện chúng Phuơng thức sản xuất quyết định kiến trúc thirợng tầng nhung đến luợt nó lại chịu sự tác động trở lại của kiến trúc thuợng tầng nhu đuờng lối chính sách kinh tế, luật pháp của nhà nuớc Do đó, nghiên cứu lịch
sứ kinh tê' là phải nghiên cứu sự phát triển của quan hệ sản xuâ't và lực luợng sàn xuất, nghiên cứu sự tác động của đuờng lối chính sách kinh tế, luật pháp đến nền kinh tế
Trang 1114 I Chương I
Nền kinh tế, xét theo quá trình sản xuât ra của cải vật chât, được chia thcành bôn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Bôn khâu của quá trình sản xuất có môi liên hệ, tác động qua lại lân nhau, và sự thay đổi môi khâu cũng như môì quan hệ giữa chúng quyết định sự thay đổi và phát triển của nền kinh tế
Sự thay đổi, phát triển cúa nền kinh tế cũng được thê hiện qua sự thay đổi cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, cơ câu kinh tế vùng (lãnh thổ) và cơ cấu các khu vực kinh tế (thành phần kinh tê) ; trong đó, cơ câu kinh tế ngành đóng vai trò quan trọng nhât vì nó phản ánh tỷ lệ và mối quan hệ giữa các ngành chủ yếu trong nền kinh
tế, ảnh hưởng đến sự cân đôi, hài hòa và phát triến hiệu quả, bền vững của nền kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế cũng được thể hiện qua các chỉ sô kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, giá cả và lạm phát, việc làm và thất nghiệp, tiết kiệm và đầu tư, xuât nhập khẩu
Do vậy, nghiên cứu sự phát triển của nền kinh tế là phải nghiên cứu
cả bốn khâu của quá trình sản xuât, sự biến đổi, chuyển dịch của các
cơ câu kinh tế và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản của nền kinh tế
Lịch sử kinh tế lây chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sờ phương pháp luận và sử dụng một số’ phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với đôi tượng nghiên cứu như phương pháp lịch sử, logic, thông kê, đôi chiếu, so sánh và áp dụng các lý thuyết kinh tế vào một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trong
dó, phương pháp lịch sứ kết hợp với phương pháp logic là phương pháp cơ bản
Phương pháp lịch sử mô tả sự phát triển của nền kinh tế theo trình tự thời gian, với các bước phát triển quanh co, phức tạp, lột tả toàn bộ sự phát triển thực tế sinh động của nển kinh tế
Phương pháp logic gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, đơn lẻ, v.v để tìm ra những mối liên hệ khách quan, tâ't yếu, bên trong của
sự vật, hiện tượng Do vậy, phải kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic mới có thế nhận thức được một cách khoa học những xu hướng phát triển chung nhất, cũng như những nét đặc thù, cụ thế của nền kinh tế ở các giai đoạn lịch sử khác nhau
Trang 121.2 Vai trò và ý nghĩa môn Lịch sử kinh tê
Lịch sử kinh tế có vai trò quan trọng trong các chương trình đào
tạo của một sô' ngành như kinh tê, quản lý và quản trị kinh doanh
Lịch sử kinh tế cung câp nền kiến thức rộng vê' lịch sử kinh tê' các
nước hay một nhóm nước tiêu biểu cũng như lịch sử kinh tế Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử cụ thể nhằm cung câp cho người đọc các
kiến thức chung, tổng hợp, giúp người đọc hiểu sâu hơn các kiến
thức kinh tế chuyên ngành
Lịch sử kinh tê có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đôi với người đọc
ở các khía cạnh sau:
- Nâng cao trình độ tư duy và năng lực công tác chuyên môn
trong lĩnh vire kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh
Qua Lịch sử kinh tế, người đọc tiếp thu được kiến thức lịch sử
kinh tế của một sô'nước và Việt Nam, nắm được quy luật vận động
cũng nhu' bức tranh toàn cảnh của các nền kinh tế điển hình qua các
thời kỳ lịch sử, trên cơ sở đó nâng cao trình độ tư duy, phương pháp
tiếp cận hệ thông; có thể kiểm nghiệm lại các lý thuyết kinh tế trong
lịch sử các học thuyết kinh tế từ cổ chí kim; đánh giá, phê phán,
hoàn thiện, hoặc xây dựng các chính sách kinh tế mới, áp dụng được
vào hoạt động chuyên môn của mình
- Nâng cao quan điếm lịch sử và quan điếm thực tiên cho
người đọc Khi nghiên cứu Lịch sứ kinh tế, người đọc phải luôn xem
xét sự tiến trien của các nền kinh tế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau
theo quan điếm lịch sử, cụ thế, tức là phải phân tích, đánh giá sự tiến
triển của nền kinh tế theo điều kiện lịch sử cụ thế; tách rời các điều
kiện này sẽ không có sự phân tích khoa học, khách quan, toàn diện
về vân đề nghiên cứu và cũng không vận dụng phù hợp các bài học
kinh nghiệm từ lịch sử Do đó, Lịch sử kinh tế hữu ích cho người đọc
trong việc nâng cao quan điểm lịch sử và thực tiễn
Trang 13Chương 2
ĐẶC ĐIỂM CÁC NẾN KINH TÊ
2.1 Đ ặc điểm nền kinh tê phong kiên
Hầu hết các nước đều trài qua chế độ phong kiến Tuy nhiên, không nhất thiết là nước nào cũng phải tuần tự trải qua tất cả các giai đoạn phát triển của xã hội loài người Có những dân tộc trong những điều kiện nhất định cho phép có thê không qua giai đoạn phát triền này hay giai đoạn phát triển khác mà chuyển sang một giai đoạn phát trien cao hon
Chế độ phong kiến ờ Trung Quốc ra đời từ sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, cách nay hon 2.000 năm, trong giai đoạn cuối cùa thời kỳ Đông Chu (nhà Tần) và tổn tại, phát triển cho đến đầu thế kỷ
XX (năm 1911, Cách mạng Tân Hợi) Ờ châu Âu, chế độ phong kiến
ra đời từ thế ký V, sau khi Đế quốc La Mã sụp đố, tổn tại và phát triển cho các đến thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX (Cách mạng tư sản
Hà Lan thế kỷ XVI, Cách mạng tư sán Anh thế kỷ XVII, Cách mạng
tư sản Pháp thế kỷ XVIII )
Chế độ phong kiến ò Tâv Âu ra đời từ thế kỷ V, VI đến thế ký
IX, X theo hai con đường: Thứ nhất, ra đời từ sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ La Mã Từ chế độ nô lệ chuyến sang chế độ lệ nông (nghĩa là trong nông nghiệp, chủ nô chia ruộng đất của mình thành
Trang 1418 I Chương 2
những mảnh nhỏ giao cho lệ nông sử dụng và phải nộp một phần thu nhập hay nông sản cho chủ nô, phần còn lại lệ nông được hường) và chuyên thành nển sản xuâ't phong kiến Thứ hai, ra đời từ
sự tan rã của các chê độ thị tộc ở các bộ lạc đi chinh phục đế quốc
La Mã
Ở Tây Âu, đặc điểm cơ bàn của chế độ phong kiến là kinh tế lãnh địa với quan hệ đắng cấp điên hình là lãnh chúa và nông nô; tình trạng phân quyển cát cứ kéo dài ơ châu Á, kinh tế lãnh địa và quan hệ lãnh chúa - nông nô không thực sự phát triển, thay vào đó, chê' độ quân chủ tập quyền hình thành khá sớm và tổn tại lâu dài Trong các nền kinh tế phong kiến, nông nghiệp là ngành sản xuâ't xã hội chủ yếu và là cơ sờ của chế độ phong kiến, do đó, nông thôn phong kiến đóng vai trò chủ đạo (so với thành thị) trong sự phát triển kinh tế Chế độ ruộng đâ't có ý nghĩa hàng đầu đôi với việc giải thích sự phát triển kinh tế thời kỳ phong kiến ớ các nước khác nhau
2 1 1.Chê độ ruộng đ ất phong kiến
Có thể khái quát chế độ ruộng đất phong kiến như sau:
Ở châu Âu, khi chế độ phong kiến thay thế chế độ chiếm hữu nô
lệ, hầu hết các quốc gia phong kiến đều có lãnh địa nhỏ hơn so với ngày nay Chẳng hạn trên lãnh thô nước Đức ngày nay, vào thế kỷ XVII có hơn 300 quốc gia, trong đó nước Phô là quốc gia có lãnh địa lớn nhâ't Nhiều quôc gia phong kiến ờ châu Á cũng có tình trạng tương tự Quyền sở hữu tuyệt đôi, tôi cao về ruộng đâ't thuộc về nhà vua hay hoàng đế (đâ't đai dưới gầm trời này không đâu không thuộc về nhà vua, người dân sống trên đất đai đó đều là tôi tớ cúa vua), chi nhà vua mới có quyển quyết định số phận ruộng đâ't trong quan hẹ đoi nội Vcà đoi ngoại
Cùng tham dự vào quyền sớ hữu ruộng đất còn có những người được vua phân, phong ruộng đất - chúa đâ't (lãnh chúa hay chư hầu), tạo thành đẳng câ'p quý tộc phong kiến Nhũng người này có
Trang 15quyển chiếm hữu ruộng đất được phân, phong, có quyền khai thác kinh tế lãnh địa đó nhưng quyền sở hữu ruộng đất của những người này lại có điều kiện, có giới hạn và mang tính tương đôi Lúc đầu, việc trao quyền thừa kê đất đai được phân, phong phải được sự đổng ý của nhà vua, nhưng về sau, ruộng đất này biến thành đất tư, người được phân, phong, thừa kế có thể đem bán.
Các chúa đất không trực tiếp sử dring ruộng đất mà chia thành những phần nhỏ giao cho nông nô canh tác và thu tô Nông nô được giải phóng khỏi chế độ nô lệ, bắt đầu có một sô' quyển tự do nhưng ván chưa được hoàn toàn tự do về thân thể Một sô' quyền tự do hơn
so với nô lệ đã làm cho nông nô chú động, nhiệt tình, hăng say trong
sản xuất, tăng năng suất lao động Nông nô có quyền sờ hữu một số
tu liệu sinh hoạt và của cải cũng như một sô' tư liệu sản xuất nhỏ Họ
có quyển có gia đình riêng, nền kinh tế gia đình nhỏ cũng được xác lập Do vậy, những mảnh đất nhỏ giao cho nông nô canh tác là ưu thế về kinh tế của chúa đất so với chủ nô
Phần đất mà nông nô được chúa đất giao gọi là đất khẩu phần
Họ không có quyển sớ hữu nhưng được quyền sử dụng (khai thác vê' mặt kinh tê) trên mảnh đất đó Họ cũng có quyền thừa kế sử dụng nhưng không được quyền chia nhỏ hon nữa mảnh đất đó Đây
là mảnh đất nhỏ nhất tối thiểu để tổ chức nền kinh tế nông nô và phù hợp với chế độ kinh tế lãnh địa phong kiến
Diện tích đất khẩu phần lớn hay nhỏ tùy thuộc vào tài sản ruộng đất của chúa đất, đổng thời còn tùy thuộc vào phương thức canh tác, truyền thống, phong tục tập quán của từng địa phương, từng quốc gia
Nông nô được giao đất khẩu phẩn, bị trói buộc và phụ thuộc vào
ruộng đất, thêm nữa, họ còn phái chịu một số nghĩa vụ với chúa đất
như đi quân dịch, lao dịch, nộp tô, thuế Tô phong kiến có ba loại: tô lao dịch, tô hiện vật và tô tiền; tùy tùng giai đoạn phát triển nhất định
mà có hình thức tô tương ứng Chẳng hạn, giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, tô lao dịch chiếm vị trí thông trị nhưng về sau nhường chỗ cho tô hiện vật và tô tiền Nhìn chung, các loại tô đó kết hợp vói nhau
Trang 1620 I Chư
nhưng tô hiện vật là hình thức tô đặc trung của chế độ phong kiến vì
nó phù hợp với nền kinh tê hiện vật trong giai đoạn này
Trong quá trình phong kiến hóa, công xã không còn là một hình
thức chiếm hữu ruộng đất nhưng nó vân tổn tại với tư cách là hình
thức bô sung cho việc sử dụng ruộng đât của nông nô dưới dạng hệ thông đất khẩu phần Bên cạnh hệ thống đất khẩu phẩn còn có hệ thông đất "bỏ không", là phần ruộng đất được sử dụng chung, các bãi chăn thả gia súc, đồng có, ao đầm, khu rừng Thực ra các chúa đất phong kiến mờ rộng dần quyền hành ra hệ thông đẩt "bỏ không" này bằng cách đưa ra quy định sừ dụng hay nông nô sử dụng phần đâ't này phải nộp một khoản thuế đặc biệt, rồi dẩn dẩn tuyên bô' quyền sớ hữu tốì cao của mình đôì với loại đất này Việc chiếm đoạt những vùng đất "bó không" này bị giới hạn bởi sự phán kháng của những thành viên trong công xã Ngav cả những vùng có chế độ phong kiến phát triển thì các khu rừng, bãi chăn thá gia súc, ao đầm, gò đông nhiều nơi vân thuộc quyền quản lý độc lập của các công xã Hệ tlìôhg đẩt thuộc công xã nông thôn đó bổ sung cho hệ thông đất khẩu phần trong hoạt động kinh tế của nông nô
Xét trên phương diện kinh tế, bán chât của nền kinh tế phong kiến là quan hệ sàn xuất phong kiến, trong đó được thê’ hiện rõ rệt nhất ớ quan hệ ruộng đất
Việc hình thành các gia đình nông nô (một đơn vị kinh tế độc lập
do việc hình thành hệ thống đất khẩu phần) là ưu thế quan trọng nhất của chế độ nông nô so với chế độ nô lệ, vì nó chuyển việc tái sản xuất sức lao động cũng như sự phát triển kỹ thuật sang kinh tế của nông nô Thông thường, các lãnh chúa chỉ trực tiếp tổ chức sản xuất trên một phần đất nhỏ còn phần lớn ruộng đất được chia cho nông nô canh tác và thư địa tô Mặt khác, là đơn vị kinh tế độc lập, nông nô chủ động hơn trong việc tô chức sản xuất và đời sống, chú
Trang 17Đ ặc điểm các nề kin h I 21
động áp dụng kỹ thuật Hình thức đất khẩu phần cũng làm cho
ruộng đất được sù dụng mang tính manh mún, hướng vào việc sản
xuất tự cấp, tự túc của nông nỏ hay mang tính chất kinh tế tự nhiên
Trên phần đất khẩu phần, nông nô sản xuất để tái sản xuất sức lao
động và nộp tô cho lãnh chúa Sản xuất với mục đích tái sản xuất sức
lao động trên mảnh đât khẩu phần đó làm cho kinh tế của nông nô
mang tính chất kinh tế tự nhiên Nó được biểu hiện trên cơ sở phân
công lao động tự nhiên, sản xuất tự cấp tự túc, khép kín trong đơn vị
kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm
Kinh tê của lãnh chúa dựa trên cơ sở kinh tế nông nô cũng
không nằm ngoài tính chât kinh tê tự nhiên Để tô chức các hoạt
động kinh tế, lãnh chúa luôn sử dring những nguồn lực của kinh tế
nông nô như: nông cụ, súc vật, lao động, kỹ thuật khiến cho kinh
tế của lãnh chúa cũng mang tính chất tự nhiên Lãnh chúa tận dụng
các nông sản đa dạng và phong phú (thu được từ sản xuât riêng và
từ nông nô) cũng như những tài sản rừng núi ao đầm để nuôi
sống gia đình lãnh chúa và đông đảo tôi tớ, đổng thời đáp ứng mọi
loại nhu cầu kinh tế của mình
Tính chât kinh tế tự nhiên của kinh tế lãnh chúa được biểu hiện
ờ việc đa dạng hóa những sản phẩm do nông nô nộp dưới dạng hiện
vật (các tư liệu sinh hoạt) Nó còn biếu hiện ờ việc đa dạng hóa
nghĩa vụ lao dịch mà nông nô phải gánh vác (các hoạt động sản
xuất, vận chuyến, phục dịch, binh dịch )
Lãnh chúa tận dụng mọi hình thúc lao dịch, mọi sản phẩm của
lao dịch và lao động của nông nô đế đảm báo tái sản xuất trên cơ sở
kinh tế tự nhiên
2.1.3.Thành thị phon g kiến
Vào thế kỷ XI, ở Tây Âu, đặc biệt là Bắc Pháp và Đông Bắc Đức,
hàng loạt thành thị mới ra đời, còn được gọi là sự bùng nổ của các
thành thị Các thành thị cũ có nguồn gôc La Mã trước đây tổn tại lay
lắt thì nay cũng hoạt động nhộn nhịp trớ lại
Trang 1822 I Chương 2
Nguyên nhân hình thành các thành thị là do việc tách thú công nghiệp, thương nghiệp ra khỏi nông nghiệp Sự tách rời này thúc đẩy sản xuât hàng hóa phát triển Hơn thế, sản xuât hàng hóa phát triển đến một mức độ nhât định sẽ lại hình thành nên những trung tâm thủ công nghiệp và thương nghiệp, hay chính là nguyên nhân kinh tế cho sự ra đời của các thành thị Các cuộc chiến tranh cũng góp phẩn hình thành các thành thị
Thành thị là sự kết hợp của trung tâm chính trị và trung tâm kinh tế Thành thị có vai trò to lớn trong phát triên kinh tế, mà trước hết là phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp
2.1.4 Thủ công nghiệp phường hội
Buổi đầu ở các thành thị, thợ thủ công chiếm đa số Họ trực tiếp
bán những sản phấm của mình cho người tiêu dùng và mua các nguyên, vật liệu từ nông dân Việc buôn bán của các thương nhân chuyên nghiệp bị giới hạn bời một số ít hàng nhập ngoại và không gắn chặt với lãnh thổ thành thị
Những thợ thủ công liên kết với nhau trong phạm vi một nghề nghiệp và một địa phương (thành thị), dựa trên sức mạnh của phong tục, tập quán, hình thành các phường hội đê’ hạn chế những khuyết tật cùa kinh tế tự nhiên và chống ách nông nô
Mỗi phường hội có điều lệ riêng và bầu ra một bộ phận quán trị,
có quy định đóng góp ban đầu và thường xuyên đê duy trì các hoạt động chung như cưới xin, ma chay, cúng tế, tự vệ
Các chính sách chủ yếu của phường hội là quy chế sản xuât bình quân, sử dụng độc quyển phường hội đối với thủ công nghiệp để nâng giá, hạn chế nhập hàng rẻ Các quy chế của thủ công nghiệp phường hội chứng tó đây là một hình thức sản xuâ't hàng hóa phát triển bên trong nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự nhiên
Phường hội cố gắng sử dụng những biện pháp đặc trưng của kinh tế tự nhiên như tịch thu sản phẩm, biến sản phẩm thành vô dụng, thu phạt bằng hiện vật Các phường hội sử dụng triệt đế thị
Trang 19Đ ặc điểm các nên kin h t ẽ I 23
trường địa phương, hạn chế sự cạnh tranh cứa các phường hội mới
và từ nơi khác đến, hướng tới việc đóng kín trong phạm vi phường hội, quy định khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm, chế độ học nghề, nguyên liệu, kỹ thuật
Các chính sách của phường hội một mặt đóng vai trò kích thích
kỹ thuật phát triển, mặt khác kìm hãm sự phát triển của kỹ thuật Các chính sách hướng đến sự duy trì tái sản xuât giản đơn và ngăn càn tái sản xuất mở rộng
Chế độ phường hội là một tổ chức sản xuất hàng hóa phục vụ chế
độ phong kiến, là con đẻ của nê'n kinh tế phong kiến, bản chât của nó
là báo thủ về kỹ thuật và tái sản xuất giản đơn Chế độ sở hữu của phường hội là một trong những hình thức sở hữu phong kiến Những độc quyền của phường hội là sự đóng kín của đẳng cấp
Sự phát triển của phường hội dẫn đến sự phân hóa giữa những người thọ thủ công về mặt kinh tê và xã hội, đê chuẩn bị một sô' tiền
đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản
2.7.5 Sự p h át triển của thương và h ội chợ
Sự phân tách giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp là cơ sở cho thương mại xuât hiện và phát triển, sự xuất hiện của thành thị còn tạo lãnh địa cho thương mại phát triến hơn nữa Ban đầu, ờ các thành thị, thợ thú công và hình thức trao đổi trực tiếp giữa người sán xuất và người tiêu dùng chiếm ưu thế Các phường hội mua nguyên liệu rồi phân phát cho thành viên, còn nông dân củng thích mua sản phẩm thủ công trực tiếp từ phường hội, thị dân thích mua nông phẩm trực tiếp từ nông dân Thương nhân chuyên nghiệp chủ yếu hoạt động buôn bán giữa các nước và các địa phương xa xôi Công việc buôn bán của họ được thiết lập tạm thời ớ các hội chợ Các hội chợ Champegne là lớn nhất và có ý nghĩa toàn châu Âu vì chúng nằm ở trung tâm của các đường sông và được các bá tước Champegne đảm bảo an toàn tuyệt đôi cho thương nhân
Các thương nhân liên kết với nhau hình thành nên thương đoàn Môi thương đoàn có con đường buôn bán riêng và trên
Trang 20những con đường buôn bán đó, họ thành lập các thương điếm
Môi thương điếm - cơ sỡ buôn bán của các thương đoàn đều có
nhà thờ, kho chứa hàng, nhà trọ cho thương nhân và được canh
phòng nghiêm ngặt
Nển kinh tế phong kiến đã ngự trị hàng nghìn năm ở hầu khắp
các nước trên thế giới với đặc trưng là nền kinh tế lãnh địa, sở hữu
phong kiến về các nguồn lực, nền kinh tế nông nghiệp đóng vai trò
chủ đạo, nền kinh tế mang đậm tính châ't kinh tế tự nhiên, tái sản
xuât phổ biến là tái sàn xuâ't giản đơn, kỹ thuật thủ công truyền
thống Do đó, tốc độ phát triển kinh tế râ't chậm chạp Mặc dù vậy,
kinh tế hàng hóa - cơ sở để phát triển các thành thị - vân âm i phát
triển trong lòng nền kinh tê"phong kiến, là cơ sở hình thành nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa
2.2 Đ ặc điểm nền kỉnh tế tư bản chủ nghĩa
Chê' độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm và chiếm một vị
trí quan trọng trong lịch sử thế giới Đến tận ngày nay, những tàn dư
của chế độ phong kiến vân còn tổn tại ờ nhiều nơi Nhưng sự tan rã
của chê' dộ phong kiên và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản cũng như
nền kinh tê'tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan
Cuô'i thời kỳ nguyên thủy, phân công lao động xã hội đã hình
thành và phát triển, cùng với nó là chê'độ tư hữu v ề tư liệu sản xuất đã
xuâ't hiện, làm náy sinh và phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa
Kinh tê' hàng hóa phát triển làm nảy sinh và phát triển những
trung tâm thương nghiệp và thủ công nghiệp lớn - thành thị ra đời,
đã đáp ứng được sự phát triển đó, đổng thời thúc đẩy kinh tê' hàng
hóa phát triển hơn nữa Cuô'i chê' độ phong kiến, các thành thị ngày
càng đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế của các quốc
gia phong kiến Các thành thị đã hoàn toàn thoát khỏi chê' độ nông
24 I Chương 2
Trang 21nô, các quy luật của sản xuất hàng hóa phát huy tác dụng, chế độ tư hữu nhỏ vê' tư liệu sản xuất đã làm dẫn đến chế độ tư hữu lớn về tư liệu sản xuất Những chủ thầu, chủ công trường thủ công ra đời.
Ngay ở nông thôn cũng xuất hiện những tiển đề cho sự ra đời của chù nghĩa tư bản Kinh tế tụ nhiên là đặc trưng của nền kinh tế phong kiến cũng ngày càng bị kinh tế hàng hóa lân át Quá trình phân hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong nông thôn, người nghèo ngày càng nghèo và không nộp nổi tô, trong khi đó, giai câp tư sản nông thôn dẩn hình thành, các trang trại tư bản chủ nghĩa xuât hiện.Sản xuất hàng hóa nhỏ ngày càng phát triển, các quy luật của kinh
tế hàng hóa ngày càng phô’ biến dẫn tới sự phân hóa ngày càng gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa, một sô’ ít giàu lên còn sô’ khác bị phá sản Sự phần hóa này khiên tư liệu sản xuât được tập trung vào một bên, còn bên kia tập trung lao động Quá trình phân hóa này không chỉ diễn ra ở thành thị mà ờ cả nông thôn, trở thành xu hướng tất yếu Đây là những tiền đề cho sự xác lập nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Như vậy, sán xuất hàng hóa nhỏ ngày càng phát triển trong lòng xã hội phong kiến dẫn đến nền sản xuất phong kiến tan rã
và sản xuất tư bản chú nghĩa ra đời mà không cần một sức mạnh nào khác ngoài các quy luật của sản xuất hàng hóa Đó là nguyên nhân bên trong của sự ra đời nền sản xuất tư bàn chủ nghĩa
Lịch sử hình thành chủ nghĩa tư bàn còn được thúc đẩy nhanh hơn bời quá trình tích lũy ban đầu của tư bản, nghĩa là các nhà nước tư bản dùng bạo lực dể đây nhanh quá trình phân hóa của những người sán xuât hàng hóa Tất nhiên không có quá trình tích lũy ban đẩu thì chủ nghĩa tư bán cũng vẫn ra đời nhưng quá trình đó giúp thúc đẩy nhanh sự ra đời của chủ nghĩa tư bản
Trang 2226 I Chươ
Ngay từ thời cô đại, Địa Trung Hải là con đường huyết mạch của thưomg mại châu Âu Từ các nước ven bờ Địa Trung Hải qua các nước Trung Đông rồi Trung Á sang Ấn Độ và Trung Quốc buôn bán, con đường này vân được gọi là "con đường tơ lụa" Đến thế kỷ XV, con đường này đã bị bế tắc và mất ý nghĩa Việc tìm kiếm một con đường mới sang các nước phương Đông đã trở thành trào lưu không chỉ ở Ý hay Tây Ban Nha, Bổ Đào Nha mà còn ở nhiều nước châu Âu khác Hơn nữa, vào thời gian này, những điểu kiện kinh tế và kỹ thuật như
kỹ thuật đóng tàu lớn, kỹ thuật đi biển đã cho phép các nước châu
Âu có thể tổ chức những đoàn thám hiểm vượt đại dương
Mở đầu việc tìm kiếm con đường biển từ châu Âu đến Ấn Độ là người Ý Đoàn thám hiểm tư nhân của họ vượt qua Địa Trung Hải quanh châu Phi để đến Ấn Độ và đã không trờ về
Ngay từ năm 1415, người Bổ Đào Nha đã chiếm pháo đài Ceuta trên bờ biển châu Phi, và sau đó, năm nào họ cũng có những đoàn thám hiểm Họ đi dọc bờ biển châu Phi và chiếm những vùng đâ't dọc bờ biển này Vào những năm 70 của thế kỷ XV, họ chiếm Guinea, rồi đến năm 1498, đoàn thám hiểm do Vasco da Gama chỉ huy đã vượt qua Mũi Hảo Vọng tiến vào Ân Độ Dương và đã đến được Ân Độ Người Bổ Đào Nha ngẫu nhiên cập bến Brazil do bão biến và tưởng đây là một hòn đảo, các vùng đât mà người Bồ Đào Nha phát hiện ra sau này trờ thành thuộc địa của họ Người Bổ Đào Nha không dừng lại ở Ấn Độ, họ tiếp tục tiến đến vùng Đông Nam châu Á và đến Đông Á
Cùng thời gian người Bổ Đào Nha đi về phía Nam để đến Ấn
Độ, người Tây Ban Nha cũng tổ chức những đoàn thám hiếm vượt Đại Tây Dương nhưng họ đi về phía Tây để đến Ấn Độ
Đoàn thám hiểm do Christopher Columbus chi huy năm 1492 đi
về phía Tây đến Ấn Độ, ngẫu nhiên phát hiện ra châu Mỹ mà ông vẫn tưởng là châu Á Năm 1517, Ferdinand Magellan đã chỉ huy đoàn thám hiểm thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới đầu tiên và hoàn thành vào năm 1522
Trong thế kỷ XVI-XVII, người Nga ven bờ Bắc Băng Dương tiến
về phía Đông Họ phát hiện ra lưu vực sông Obi rồi đổng bằng Tây
Trang 23Đ ặc điểm các nền I 27
Siberia, tiếp đến phát hiện ra bán đảo Kamchatka, họ tiến tiếp về
phía Đông vượt qua eo biển Bering vào Alaska, những vùng đất này
sau nhập vào Nga
Âu Năm 1400, người châu Âu mới biết khoảng 50 triệu km2 diện
tích bề mặt Trái đất, đến năm 1500, họ đã biết đến 110 triệu km2,
năm 1600 là 310 triệu km2 Do vậy, sau những phát kiến địa lý, tư
bản châu Âu đã có được phạm vi vô cùng rộng lớn cho hoạt động
của nó
Thứ hai, hàng hóa của nền thương mại thế giới trở nên phong
phú hơn, nhiều sản phẩm mà trước đây người châu Âu chưa biết
đến có nguồn gôc từ châu Mỹ như cà phê, thuốc lá, ca cao ; từ các
nước thuộc địa ờ châu Á như chè, gạo, đường Việc mở rộng lãnh
thô đã dẫn tới sự phân công lao động thế giới và nền kinh thế thê'
giới thực sự ra đời Các môi quan hệ kinh tế đã được xác lập giữa các
vùng đất khác nhau trên thế giới
Thứ ba, việc inở rộng phạm vi thương mại quôc tế làm cho giá cả
hàng hóa biến động và khiến tính chất của nền thương mại cũng
thay đổi Nền thương mại lúc này phụ thuộc vào tình hình chính trị
của các nước Tcây Âu và các nước thuộc địa, vào hoạt động của các
công tv thương mại, vào tình hình thời tiết trên biên Do đó, giá cả
biến động lớn Quy mô trao đổi hàng hóa lớn là tiền đề xuất hiện
những sờ giao dịch hàng hóa và tài khoản vào thế kỷ XVI Xuất hiện
trung tâm đầu cơ quôc tê về các văn tự nợ, các công trái quốíc gia,
ngoại tệ của các nước khác nhau Các hội chợ mang tính quốc tế
cũng xuất hiện
như Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương Địa Trung
Hải trờ thành con đường mang tính địa phương Việc buôn bán
bằng đường sông và đường biển của châu Âu thời trung cổ trở
thành các con đường buôn bán địa phương và được thay thế bằng
con đường buôn bán trên các đại dương
Trang 2428 I Chương 2
Việc di chuyển con đường buôn bán dân đến việc di chuyển các
trung tâm kinh tếờ châu Âu và thếgiới Các thành thị của Ý mất đi ý
nghĩa trước đây, xuất hiện các trung tâm kinh tế mới ở các thành thị
của Tây Ban Nha, Bổ Đào Nha, Hà Lan
công lao động thế giới và nền kinh tế thế giới đã dân đến "cuộc
cách mạng giá cả" ớ châu Âu Trước đây, ở châu Âu, giá cả củng
có biến động do chiến tranh, dịch bệnh và thiên tai, rổi sau đó lại
bình thường và ổn định, nhưng từ những năm 30 của thế kỷ XVI,
băt đầu có sự tằng giá một cách hệ thông Trước hết là đôi với các
hàng hóa nông nghiệp rồi đến các hàng hóa công nghiệp, ban đầu
xảy ra ở Tây Ban Nha rồi lan sang một loạt nước ở châu Âu Giá
hàng hóa tăng trung bình từ 2-2,5 lẩn Giá hàng hóa nhu yếu
phẩm tăng cao hơn giá hàng hóa xa xỉ Giá hàng hóa nông nghiệp
tăng cao hơn giá hàng hóa công nghiệp Giá cả các mặt hàng đều
đứng ờ mức cao Nguyên nhân là do khôi lượng lớn vàng bạc
được mang về châu Âu làm mâ't giá vàng bạc trong nước hay giá
cả hàng hóa tăng Trữ lượng vàng và bạc ở châu Âu vào năm 1493
tương ứng là 550.000 kg và 7 triệu kg Đến thế kỷ XVI, trữ lượng
tăng lên thành 1.192.000 kg vàng và 21 triệu kg bạc
Cuộc cách mạng giá cả đã góp phần đẩy nhanh sự phá sản của
giai câp quý tộc phong kiến cũng như làm cho đời sông của những
người lao động thêm cùng cực Mặt khác, giai câp tư sản càng thêm
giàu có đã góp phần đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội, hay đẩy
nhanh quá trinh ra đời chủ nghĩa tư bán
chính sách được sinh ra bởi sự phát triển ban đầu của quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa, đổng thời cũng phản ánh lợi ích của giai cấp
quý tộc phong kiến - nển quân chủ đang cần sự bảo hộ cho sự phát
triển công nghiệp và thương mại dân tộc Do vậy, chủ nghĩa trọng
thương là khuynh hướng mới trong các chính sách của chủ nghĩa
chuyên chế của các nhà nước châu Âu
phát kiến về địa lý là việc biến hàng loạt các dân tộc ở châu Á, châu
Trang 25Phi, Mỹ Latinh thành thuộc địa và cướp bóc những nước đó Trước
tiên là các đê quốc Bổ Đào Nha và Tây Ban Nha, họ biến các vùng
đất mới phát hiện thành thuộc địa, thực hiện chính sách thực dân
trong các vùng đất mới đó Việc này cũng đổng thời kích thích các
nước khác có các phát kiến địa lý Tiếp sau người Tây Ban Nha và Bổ
Đào Nha là người Pháp, Hà Lan, Anh Hệ thông thuộc địa mới
nhanh chóng được xác lập
Sau các phát kiến về địa lv, quá trình tích lũy nguyên thủy tư
bản ỏ các thế kỷ XVI-XVIỈ mang quy mô rộng lớn Đó là việc cướp
bóc các nước thuộc địa, chiến tranh thương mại, buôn bán nô lệ đã
đẩy nhanh quá trình ra đời của chủ nghĩa tư bản
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản còn được đẩy nhanh hơn bởi các
cuộc cách mạng phản phong (cách mạng điền địa), cách mạng tư sản
như: Cách mạng Nê-đéc-lan (Hà Lan) thế ký XVI, Cách mạng Anh
thế kỷ XVII (1642-1649), Cách mạng Pháp the kỷ XVIII (1789-1794)
tư bản
khởi đẩu là các cuộc cách mạng ruộng đất dẫn đến sự phát triển
mạnh chú nghĩa tư bản trong nông nghiệp vào các thế ký XVI-XVIII
Các nước này sử dụng rộng rãi tài nguyên của các nước thuộc địa,
hệ thống quốc trái, chủ nghĩa trọng thương và công ty độc quyền
Công trường thủ công phát triển mạnh mẽ Các cuộc cách mạng tư
sản diên ra sớm
Zealand, Nam Phi Chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp phát triển
theo con đường trang trại, kết hợp với chế độ nô lệ đồn điền Chủ
nghĩa tư bản cùng với dân nghèo được du nhập vào đây, sử dụng
rộng rãi nguồn lao động của thế giới cũng như kỳ thuật, vốn của
nước ngoài, cách mạng tư sản nổ ra muộn
quyết định cho con đường này vì cách mạng đã mở đường, tạo điều
kiện thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng
Trang 2630 I Chương 2
Nga, Nhật Bản Ờ các nước này, chủ nghĩa tư bản phát triển trong
nông nghiệp trên co sờ các trang trại quý tộc, bảo tổn những tàn dư
của chế độ nông nô Cách mạng tư sản xảy ra muộn, hoặc chỉ có cải
cách ruộng đất Công trường thủ công cũng phát triển nhưng dựa
trên khả năng kinh tế của chế độ nông nô, chế độ lao động cưỡng bức
này đã xuất hiện những tiền đề tan rã của chế độ phong kiến và sự
ra đời chù nghĩa tư bản Chế độ phong kiến mềm dẻo và vững bền
hơn, do vậy quá trình tan rã của nó cũng lâu dài Sự phụ thuộc của
nông dân vào ruộng đất ờ mức độ trâm trọng Quá trình này đã bị
chủ nghĩa thực dân làm cho méo mó đi Lúc đẩu, chủ nghĩa thực
dân trong chừng mực và vì lợi ích của nó đã thúc đẩy sự phát triển
chủ nghĩa tư bản ở đây, nhưng sau đó nó kết hợp với những tàn
dư phong kiến để nô dịch các nước này, do vậy đã kìm hãm sự
phát triển chủ nghĩa tư bản cũng như những tiến bộ kinh tế, xã hội
ở các nước thuộc địa
(1760-1870)
tư sản
Vào nửa sau thế ký XVIII, chủ nghĩa tư bản đã bước sang một
giai đoạn mới - giai đoạn thắng lợi và bành trướng Mở đầu cho giai
đoạn này là sự xác lập hệ thống công xưởng thay thế cho hệ thống
công trường thủ công ở Anh, tiền đề của Cách mạng công nghiệp
Anh đã được chuẩn bị ngay từ cách mạng ruộng đất, cách mạng
phản phong ở thế ký XVII, sự hình thành hệ thông thuộc địa của
Anh, sự phát triển mạnh mẽ hệ thông công trường thú công, sự phát
triển nhanh chóng của thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương
Cách mạng công nghiệp Anh (1760-1825) đã xác lập một hệ thống
Trang 27công xưởng, với việc sản xuât bằng máy móc cơ khí, kỹ thuật tiên bộ nhất so với đương thời, tạo ra năng suất lao động cao chưa từng thtâV, lcàm cho giá thành sản phâm giảm.
Bên trong Cách mạng công nghiệp Anh là cuộc cách mạng kỹ thuật, mở đầu cho Cách mạng kỹ thuật lẩn thứ nhât trên phạm vi toàn thế giới, cuộc cách mạng này kéo dài cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai
Sự cạnh tranh cúa hàng hóa công nghiệp Anh trên thị trường thế giới là mối đe dọa đối với nển công nghiệp của các nước khác, nhất
là các nước châu Âu - những nước cũng đã có những tiền đề để tiến hành cách mạng công nghiệp; đặt các nước đó vào điều kiện hoặc cũng xây dựng hệ thống công xưởng để mở lối thoát và cứu vãn nền độc lập của mình, hoặc vân giữ nguyên như cũ và bị nền công nghiệp mới thôn tính Sức ép đó đã đẩy nhanh cuộc cách mạng công nghiệp bùng nô’ ở một sô' nước như: Mỷ, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản Những nước chưa có sự chuẩn bị cho một cuộc cách mạng công nghiệp như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ Latinh sẽ bị lệ thuộc về chính trị hay không thể thoát khói ách thực dân
Các cuộc cách mạng phản phong, cách mạng tư sản cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy nhanh sự thắng lợi và bành trướng của hệ thống công xướng Các cuộc cách mạng phản phong
đã thủ tiêu chế độ chiếm hữu ruộng đât phong kiến và chế độ nông
nô như ờ Mỹ năm 1775-1783, Pháp năm 1789-1794 Sau cách mạng phán phong, cách mạng công nghiệp mới được đẩy nhanh
Dựa vào hệ thống công xướng - cái côt vật chât của chủ nghĩa tư bản, với ưu thế năng suâ't lao động cao hơn gâ'p nhiều lần so với kỹ thuật thú công, chú nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ và lan rộng nhanh chóng trên quy mô toàn thế giới Nó thu hút nhiều nước, nhiều châu lục vào guồng máy của nó Nó đã vượt ra ngoài kết câu kinh tế phong kiến và trở thành một hình thái kinh tế - xã hội mới thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội phong kiến Nó kéo dài từ những năm
Trang 2832 I Chươ
60 của thế kỷ XVIII đến năm 1871, chủ nghĩa tư bản bắt đầu quá độ sang chế độ cổ phần với sự thông trị của các tổ chức độc quyền Giai đoạn 1760-1870 là giai đoạn giai câ'p tư sản giữ vai trò tiến bộ, phát triển và ứng dring những thành tựu kỹ thuật, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, hình thành những hình thức sản xuâ't mới
Chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến không phải do mong muôn mà do nền kinh tế của nó ưu việt hơn nền kinh tế phong kiến, thê hiện như sau:
Trước hết, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, chế độ sở hữu tư nhân tư bản giữ vai trò thông trị Chế độ sờ hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và quyển tự do cá nhân được sinh ra trong các cuộc cách mạng phản phong, cách mạng tư sán
Nông nô được giải phóng thành người lao động tự do Họ được
tự do về thân thể, có quyê'n tư hữu về tài sản cũng như những tư liệu sản xuất và họ là lực lượng lao động chủ yếu trong chủ nghĩa
tư bản Được tự do cá nhân nên người lao động có điều kiện lao động sáng tạo hơn
Cách mạng công nghiệp đã tạo ra hệ thống công xưởng Đó là hệ thống nhà máy với các máy móc cơ khí hay kỹ thuật mới và hình thức tô chức lao động mới làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với hệ thống công trường thủ công (với các công cụ lao động thủ công) Suv cho cùng, chính điều này đã tạo cho chủ nghĩa tư bản một
ưu thế tuyệt đối so với nển kinh tê'phong kiến và thay thế nền kinh
tế phong kiến
Nếu nông nghiệp là ưu thế và là ngành sản xuất chủ đạo của nền kinh tế phong kiến thì vai trò này đã được thay bằng công nghiệp trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa So với nông nghiệp, công nghiệp
ít phụ thuộc vào tự nhiên hơn Ưu thế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa so với nền kinh tế phong kiến cũng là ưu thế của công nghiệp
so với nông nghiệp
Lần đầu tiên trong lịch sử, kinh tế hàng hóa trở thành hình thái thông trị Ưu thế của nền kinh tế tư bản so với nền kinh tế phong kiến cũng là những ưu thế của nền kinh tê' hàng hóa so với kinh tế tự
Trang 29nhiên Phân công lao động xã hội là một trong những điều kiện sản
sinh kinh tế hàng hóa, mặt khác kinh tế hàng hóa phát triển sẽ thúc
đây phân công lao động ngày càng sâu sắc hơn với tốc độ nhanh hơn
Khác với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa luôn đòi hỏi việc mở
rộng thị trường, nó vươn tới tất cả các nơi trên thế giới Ưu thế của
kinh tế hàng hóa là các đơn vị sản xuất hàng hóa không sản xuất tất
cả các hàng hóa mà chỉ sản xuất hàng hóa nào nó có lợi thế, do vậy
nó là một nền kinh tế mờ, luôn biến động, có tốc độ phát triển nhanh
hay tái sản xuất với quy mô ngàv càng mở rộng Nó làm cho nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng
Sự phát triển của công nghiệp và kinh tế hàng hóa làm cho các
đô thị đảm nhiệm vai trò đầu tàu phát triển kinh tế của các nước tư
bản chủ nghĩa, các thành thị với tư cách là trung tâm công - thương
nghiệp hay trung tâm tín dụng đã trờ thành yếu tô" chủ chô't trong
phát triển kinh tế so với nông thôn, và đó cũng là ưu thế của nền sản
xuâ't tư bản chủ nghĩa so vói nền sán xuất phong kiến
Các chính sách kinh tế của các quốc gia và các tổ chức kinh tế
trong nển kinh tế phong kiến, thống trị là các chính sách độc quyền
phong kiến Khác với các chính sách đó, trong thời kỳ thắng lợi và
bành trướng của chủ nghĩa tư bản, đa số các quốc gia tư bản áp
dụng chính sách tự do cạnh tranh Nhưng chính sách tự do cạnh
tranh này đã phái nhường chô cho các chính sách độc quyền khi các
nước tư bán bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn chủ nghĩa tư
bản độc quyền
2.2.3 K inh tê tư bản chủ nghĩa thời kỳ độc quyên
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản đã làm cho sở hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa không còn mang ý nghĩa là sự phát triển mới của
sức sản xuất Các hình thức tô chức sán xuất mới ra đời thay thê' các
nhà máy, xí nghiệp tư nhân trước đây giữ vai trò chủ đạo trong sản
xuâ't, đó là sự ra đời của các công ty cô phần Việc cô phần hóa các
Trang 3034 I Chươnọ;2
nhà máy, xí nghiệp được mở rộng và trờ thành một trào lưu trong 30 năm cuối thế kỷ XIX Việc ra đời những công ty cổ phần khởi đầu từ ngành công nghiệp khai khoáng, tiếp đến là công nghiệp hóa châ't rồi công nghiệp dệt và cuối cùng tạo thành những công ty khổng
lổ, thậm chí cà hãng buôn cũng trở thành hội cổ phẩn, các ngân hàng mới cũng được xây dựng trên cơ sở cổ phần, ngay cả việc xuât khẩu
tư bản cũng được thực hiện bằng cách mua chứng khoán
Các công ty cổ phẩn là một hình thức mới của chủ nghĩa tư bản
Nó thoát khỏi sự hạn chế của tư bản thuộc một chủ riêng lẻ Chế độ
sở hữu tư bản được nới rộng, cho phép xây dựng những doanh nghiệp lớn hơn, với quy mô sử dụng tư bản lớn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các phát minh và ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuâ't, tăng năng suât lao động Công ty cô phần đem lại cho sự tích tụ và tập trung tư bản một hình thức mới; nới rộng khuôn khổ nền sản xuất tư bản; khắc phục tính hạn chế của hệ thông công xường Các công ty cổ phần đã tạo khả năng tận dụng đầy đủ hơn ưu thế của nền đại sản xuất, tạo ra bước nhảy vọt mới trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, đã đóng vai trò tiến bộ suô't 30 năm cuối thế kỷ XIX Các công ty cổ phẩn đã đẩy nhanh sự ra đời của các tổ chức độc quyền, nhiều công ty cổ phần trở thành tố chức độc quyền
Các tổ chức độc quyền ra đời trên cơ sở nhũng công ty cổ phẩn lớn đến mức có thê kiểm soát được cả sản xuất, tiêu thụ và giá cả của hàng hóa Lúc đầu, tổ chức độc quyền được hình thành trong phạm
vi một thị trường địa phương, hoặc một lĩnh vực công nghiệp, sau
đó mớ rộng phạm vi ra cả một ngành công nghiệp Không dừng lại ờ lĩnh vực công nghiệp, các tổ chức độc quyển còn hình thành ớ tất cả các lĩnh vực kinh tế từ sản xuất, lưu thông phân phối hàng hóa, đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ngân hàng Từ độc quyền quốc gia phát triển thành độc quyền quôc tế
Từ đầu thế kỷ XX, quan hệ độc quyển thông trị về kinh tế và chính trị thay cho quan hệ cạnh tranh tự do Độc quyển ra đời từ cạnh tranh tự do, thay thế cạnh tranh tự do nhưng không thú tiêu hoàn toàn cạnh tranh tự do mà chỉ chiếm vị trí thống trị, đẩy cạnh tranh tự do xuống và phụ thuộc vào nó
Trang 31Các tổ chức độc quyền tăng cường việc tập trung tư bản và tập trung sản xuất, tạo ra sự hợp tác trực tiếp giữa các doanh nghiệp và làm cho các doanh nghiệp trong độc quyền phụ thuộc vào nhau Nó tạo ra khả năng hợp lý hóa sản xuất và mờ rộng khôi lượng sản xuâ't hơn so với công ty cô phần Xét ở góc độ này, sự xuâ't hiện và phát triển cùa các tô chức độc quyền tiếp tục thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hay xã hội hóa sản xuất ngày càng cao Các thành viên trong một tổ chức độc quyền không chi gồm các công ty tư nhân mà cả các công ty cô’ phẩn, vì vậy quy mô của các tổ chức độc quvền râ't lớn Các hình thức của độc quyền là: Cartel, Syndicate, Trust, Consortium, Conglomerate
Những dấu hiệu cơ bản của giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền là: (1) Tập trung sản xuât và tập trung tư bản, đưa chúng đến một trình độ phát triển cao, đến mức tạo ra các tổ chức độc quyền giữ vai trò chi phôi trong đời sông kinh tế; (2) Sự kết hợp của tư bản ngân hàng với tư bàn công nghiệp và việc hình thành tập đoàn tài phiệt trên cơ sờ của tư bản tài chính; (3) Việc xuât khẩu tư bản khác với xuâ't khẩu hàng hóa, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng; (4) Những liên minh tư bản quốc tế của các nhà tư bản được hình thành nhằm phân chia thế giới; (5) Sự phân chia lãnh thổ trái đất của các cường quốc tư bán chủ nghĩa lớn đã hoàn thành
Trong thời kỳ độc quyển, tư bản tài chính đóng vai trò thống trị, hình thành những tập đoàn tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính Nền kinh tế của một nước tư bàn bị một nhóm đầu sỏ tài chính kiểm soát Tư bản tài chính không những lũng đoạn nền kinh tế mà còn lũng đoạn bộ máy nhà nước, biến bộ máy nhà nước thành công cụ phục vụ cho lợi ích của chủ nghĩa tư bản độc quyền, và hình thành nên các tập đoàn tư bản tài chính thế giới
Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của các nước tư bản trẻ như Đức, Mỹ, Nga, Nhật so với các nước tư bản già cỗi như Anh, Pháp đã xóa bỏ sự độc quyền công nghiệp của các nước này đồng thời cạnh tranh gay gắt với các nước này Nhiều ngành công nghiệp của Đức và Mỹ vượt Anh, hàng hóa công nghiệp của Đức
Trang 3236 I Chương 2
và Mỹ tràn vào thị trường nội địa của Anh, cán cân so sánh lực
lượng kinh tế đã thay đổi Những năm 1880-1890, Mỹ vượt Anh vê'
kinh tế Năm 1900, Đức vươn lên đấy Anh xuông hàng thứ 3 vê'
kinh tế và Đức trở thành nước công nghiệp hùng mạnh nhất châu
Âu Tính đến năm 1913, tỷ trọng công nghiệp của Mỹ trong công
nghiệp thế giới là 38%, Đức chiếm 22%, trong khi đó Anh chỉ chiếm
13% và Pháp 11%
Sự phát triển không đều vê' kinh tế và chính trị dân đến Chiến
tranh thế giới thứ nhất giữa các cường quôc nhằm phân chia lại thị
trường thế giới và những khu vực ánh hưởng
tranh thê giới thứ h ai (1914-1945)
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhât, nền kinh tế của các nước
tham chiến đều bị tổn thất nặng nề, sản lượng công nghiệp giảm
50% so với trước chiến tranh, kinh tế lâm vào suy thoái và khủng
hoảng Các nước Mỹ và Nhật thu lợi từ việc bán vũ khí và lương
thực cho các bên tham chiến
Những năm từ 1921-1929, kinh tế của các nước tư bản khôi
phục và phát triến nhanh Tính đến năm 1929 so với năm 1913,
kinh tế các nước tư bàn đã tăng từ 2-3 lần, nhưng cũng làm tăng các
mâu thuẫn kinh tế xã hội, dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
diện và sâu sắc nhất (1929-1933) Cuộc khủng hoảng nổ ra ở Mỹ rồi
lan sang các nước tư bản khác khiến nền kinh tế các nước tư bản
chủ nghĩa suy thoái nghiêm trọng
Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), với quy mô lớn hơn so
với Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã lôi kéo không những các nước
đế quốc mà cả các nước thuộc địa vào chiến tranh, đã làm thiệt
mạng hơn 56 triệu người và thiệt hại vật chât khoảng 4.000 tỷ đôla
Tầt cả các nước tham chiến đểu bị thiệt hại nặng nề Đây là tai họa
lớn nhất trong lịch sử do con người gây nên cho tới nay
Trang 33Đ ặc điểm các nề t ế I 37
Ra khỏi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước tư bản tiến
hành khôi phục kinh tế Mặc dù trực tiếp tham chiến nhưng chiến
tranh không nô ra trên đất Mỹ nên kinh tế Mỹ hầu như không bị
thiệt hại, mặt khác, Mỹ có điều kiện bán vũ khí và lương thực cho
các nước khác Mỹ đã giàu lên nhờ chiến tranh
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một loạt nước châu Âu và
châu A thoát ra khỏi hệ thông tư bản chủ nghĩa và hình thành hệ
thông các nước xã hội chủ nghĩa Trước bôi cảnh đó, Mỹ tiến hành
Chiến tranh lạnh với mục đích bao vây Liên Xô, cô lập các nước xã
hội chủ nghĩa và ngăn chặn phong trào xã hội chủ nghĩa đang lan
rộng trên thế giới
Tính đến năm 1951, Mỹ đã viện trợ khối lượng lớn cho các nước
đổng minh ờ Tây Âu (12,5 tỷ đôla) và Nhật Bản (2,3 tỷ đôla) để
khôi phục và phát triển kinh tế Các khoản viện trợ này đã giúp các
nước tư bản khôi phục nhanh nền kinh tế Tâ't nhiên, các khoản
viện trợ này cũng mang lại mối lợi lớn cho nền kinh tế Mỹ khi các
nước đó trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa Mỹ và là nơi cung
cấp nguyên liệu cho nền kinh tế Mỹ Tính đến năm 1950, nền kinh
tế của hầu hết các nước tư bản đều đạt mức trước Chiến tranh thế
giới thứ hai
T
định Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm từ 1953-1962
là 4,8%, 1963-1972 là 5% Trong đó, kinh tế Nhật Bản có tốc độ tăng
cao nhất tương ứng là 8,7% và 10,4%; Đức 6,8% và 4,6%; Pháp 5,1%
và 5,5%; Mỹ là 2,8% và 4%; Anh 2,7% và 2,8%
Công nghiệp có tôc độ tăng bình quân 5,5%/năm, trong đó
ngành cơ khí hóa chất và năng lượng có tốc độ tăng trưởng cao
nhất (5,7% và 8,3%)
Sau Chiên tranh thế giới thứ hai, nông nghiệp của nhiều nước
tư bàn được cơ khí hóa với tốc độ nhanh; nhiều thành tựu kỹ thuật
mới được phát minh và áp dụng trong nông nghiệp như các loại
Trang 3438 I Chương 2
cây giông, con giông mới có năng suất cao, sử dụng phân hóa học;
các loại máy móc nông nghiệp và chế biến nông phâm được sử
dụng rộng rãi Các hình thức tổ chức sản xuất lán trong nông
nghiệp như tô hợp nông - công nghiệp cũng được phát triển, làm
cho sản lượng nông nghiệp tăng đáng kể Bôn nước xuất khẩu nông
sản lớn nhât thế giói là Mỹ, Pháp, Canada, Australia
Cơ cấu kinh tế ngành cũng thay đôi nhanh chóng Tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP giảm, tỷ trọng công nghiệp tăng, tăng cao
nhâ't là lĩnh vực dịch vụ
Trong giai đoạn này, Nhật Bản có bước phát triển kinh tế thần
kỳ và vươn lên trờ thành nên kinh tế thứ 2 thế giới sau Mỹ Các nước
Tây Âu cũng có bước phát triển nhanh chóng, đặc biệt là nền kinh tê'
của Cộng hòa Liên bang Đức, cùng với các nước Pháp, Italia, Hà
Lan, Bi, Luxembourg đã thành lập khôi cộng đổng kinh tế châu Âu
Hệ thông kinh tế tư bản chủ nghĩa đã hình thành ba trung tâm kinh
tế lớn là Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu Đó là ba đầu tàu kinh tế lớn của các
nước tư bản đồng thời cũng cạnh tranh gay gắt với nhau
Những nguyên nhân làm cho nền kinh tế các nước tư bản chủ
nghĩa phát triển nhanh về kinh tế trong giai đoạn này có nhiều,
nhưng có một sô' nguyên nhân chủ yếu như sau:
cách mạng lần thứ nhâ't, cuộc Ccách mạng lẩn này không chỉ dừng
lại ở lĩnh vực kỹ thuật mà mớ rộng hơn lĩnh vực này thành lĩnh vực
công nghệ, vì vậy nó diễn ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực cùa đời
sống kinh tế - xã hội Nó không chi dừng lại ở lĩnh vực công nghệ
mà còn là cuộc cách mạng trong cả lĩnh vực khoa học Khoa học và
công nghệ gắn chặt chẽ với nhau Do vậy, nó đẩy nhanh các hoạt
động nghiên cứu khoa học, đây nhanh sự ra đời của các phát phát
minh khoa học, kỹ thuật, công nghệ và ứng dụng các thành tựu đó
vào nền kinh tế Điều đó dẫn đến sự phát triển vũ bão cùa các
ngành công nghệ cao như: các ngành sử dụng năng lượng hạt
nhân, sản xuâ't vật liệu mới, công nghệ tin học, công nghệ sinh
học Năng suất lao động tăng gấp bội, làm thay đổi cơ câu nền
Trang 35Đ ặc điểm các nên kin h t ẽ I 39
kinh tế, đẩy nông nghiệp, thậm chí cả công nghiệp về phía sau, lĩnh
vực dịch vụ trớ thành lĩnh vực mũi nhọn và chiếm tỷ trọng cao
nhất trong nền kinh tế các nước phát triển
Cách mạng khoa học công nghệ cũng đẩy nhanh quá trình
phân công và hiệp tác quô'c tế, rút ngắn tuổi thọ của các chu kỳ sản
phẩm, làm thay đổi cả các hình thức và phương pháp tổ chức quản
lý nền kinh tế ở các nước
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc ứng dụng học thuyết Keynes
(nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô) được đẩy mạnh thông qua hệ
thông tài chính tiền tệ, tăng cường chi tiêu nhà nước, quân sự hóa
nền kinh tế, chạy đua vũ trang cùng với đó là các nhà nước can
thiệp sâu hơn vào kinh tế, tăng cường kinh tế nhà nước Trong các
nước châu Âu, khu vực kinh tế nhà nước thường chiếm đêh 20-30%
giá trị sản lượng công nghiệp, chiếm khoảng 30% tổng sô' đầu tư
Các nhà nước tư bản xây dựng và nắm trong tay hệ thống kết câu
hạ tầng kinh tế, những lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tê'
chung của đất nước, trợ cấp cho những lĩnh vực dịch vụ công
lao động trong phạm vi thê'giới ngày càng sâu sắc đã làm nảy sinh
quá trình liên kết kinh tê'giữa các nước Trong giai đoạn này các
khôi liên kết kinh tê'giữa các nước tư bán đã ra đời Trước hết là hệ
thô'ng tien tệ quô'c tê', được xác lập năm 1944 tại Hội nghị Bretton
Woods, với việc xác lập chê' độ tỷ giá hối đoái cô' định của đổng
tiền các nước tư bản với đổng đôla Mỹ và giữa đổng đôla với vàng
Tiếp đến là việc thành lập Quỹ Tiên tệ Quô'c tế (IMF) năm 1945 và
Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển năm 1946 (nay là
Ngân hàng Thê' giới - WB) đê thực thi chính sách thanh toán và
chính sách tài chính quốc tế, tạo ra sự ổn định của thị trường tài
chính và tiền tệ quô'c tế, thúc đẩy xuâ't khẩu và đầu tư giữa các
nước thành viên
iiep den la khoi lien ket mang quy mo quoc te cứa các nước tư
bản Đó là Hiệp định chung về thuê' quan và thương mại (GATT)
Trang 3640 I Chươ
được ký kết giữa các nước vào năm 1947, đã có tác dụng làm giảm
hàng rào thuê quan và phi thuê quan, thúc đẩy thương mại phát
triển, tác động rất lớn đến sự mở rộng thị trường, tăng trưởng kinh
tế của các nước thành viên trong khôi
Sự liên kết mang tính châ't khu vực như khôi Cộng đổng Kinh tê'
Châu Âu (EEC) được thành lập năm 1957, gổm 6 nước thành viên là
Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Italia, Hà Lan, Bi, Luxembourg Các
nước này đã ký hiệp định chung về liên minh thuê'quan, loại bỏ mọi
rào cản đôi với vốn, lao động và dịch vụ, thành lập Ngân hàng Đầu
tư Châu Âu và Quỹ Hỗ trợ Châu Âu nhằm hỗ trợ và điều phôi sự
phát trien kinh tếcúa các nước trong khôi
Sự liên kết kinh tê' này đã thúc đẩy sự phân công lao động
mang tính quô'c tê' sâu sắc hơn và làm cho nền kinh tê' của các nước
thành viên có điều kiện phát triển kinh tếnhanh và ổn định hơn
hàng loạt nước trước đây là thuộc địa nay đã giành được độc lập về
chính trị Các nước này có nền kinh tê' chậm và kém phát triển,
nhưng các nước đó lại giàu tài nguyên và lao động Trong bối cảnh
đó, các nước tư bản đẩy mạnh quan hệ kinh tế với các nước này
nhằm mờ rộng thị trường và bổ sung nguồn nguyên liệu cho nền
kinh tế trong nước Quan hệ kinh tê' với các nước này, các nước tư
bản phát triển được cả lợi thê'tương đôi và tuyệt đôi
trớ thành các nước xã hội chủ nghĩa và trớ thành hệ thống các nước
xã hội chủ nghĩa thế giới Đê’ ngăn chặn phong trào này, các nước tư
bản phát triển mà đứng đầu là Mỹ, đã bao vây và cô lập các nước xã
hội chủ nghĩa Sự lớn mạnh và phát triển của các nước xã hội chủ
nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô đã tạo ra một thế cạnh tranh, một sự
chạy đua kinh tế giữa các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội
chủ nghĩa Điều này trở thành động lực để phát triển kinh tế ở các
nước tư bản cũng như các nước xã hội chủ nghĩa
Trang 37Đ ãc điểm các nến kin h I 41
khủng hoàng kinh tê' năm 1974-1975 ờ các nước tư bản chủ nghĩa
Khùng hocáng kinh tế đi liền với khùng hoảng cơ câu, khủng hoảng
năng lượng, khủng hoảng tài chính tiền tệ Nền kinh tế của các
nước tư bản rơi vào tình trạng đình trệ đi liền với thất nghiệp và
lạm phát cao Tôc độ tăng trướng kinh tế trung bình đạt 2,4%, gần
bằng 1/2 so với giai đoạn trước Các chỉ s ố về giá cả, thât nghiệp
tăng cao Đổng đôla Mỹ mất giá, thâm hụt cán cân thương mại, đi
liền với thâm hụt ngân sách và nợ của chính phủ tăng nhanh
Nguyên nhân trước hết do các chính phủ kéo dài việc nới lỏng
chính sách tài khóa để kích cầu đã dân đến thâm hụt ngân sách và
lạm phát đên mức nguy hiểm Tiếp đến do thât nghiệp và lạm phát
cao đã không khuyến khích được đầu tư, đầu tư trong giai đoạn này
giảm sút nghiêm trọng Sau nửa là sự cạnh tranh gay gắt giữa các
nước tư bàn và nhất là ba trung tâm Mỹ-Tây Âu-Nhật Bản Ngoài ra
còn phải kể đến sự phát triển kinh tế và cuộc đâu tranh của các nước
đang phát triển đã thu hẹp lợi thế của các nước phát triển
- Nới lỏng sự can thiệp cùa nhà nước vào kinh tế, tăng cường
yếu tô' tự do kinh tế, bằng cách giảm chi tiêu, đầu tư, giảm cung
tiền của nhà nước
- Kích thích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân bằng
cách cắt giảm thuế thu nhập cá nhân, chuyển trọng tâm sang thực
hiện thuế giá trị gia tăng, cắt giảm trợ câp cho các doanh nghiệp nhà
nước, tiến hành cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước nhằm
kích thích đầu tư và phát triên kinh tê tư nhân
- Điều chỉnh cơ câu kinh tế, giảm những ngành tiêu hao nhiều
năng lượng và lao động giản đơn, phát triển những ngành tiêu hao ít
nguyên liệu và năng lượng, phát triển những ngành có hàm lượng
kỹ thuật cao, giảm các ngành sản xuâ't vật châ't, tăng các ngành dịch
vụ , dịch chuyển các ngành cũ, ô nhiễm môi trường, các ngành có
Trang 38Các biện pháp điều chinh đã làm cho nền kinh tế ở các nước tư bản được phục hổi và tăng trưởng với tôc độ cao hơn giai đoạn trước, cơ câu kinh tế được biến đổi sâu sắc, nền kinh tế có sự phát triển mới.
Nhìn chung, với sự ra đời của quyền tự do cá nhân cùng chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuâ't, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuâ't hiện, thổi luồng gió mới vào nền kinh tế, làm cho kinh tế hàng hóa lần đầu tiên trên thế giới chiếm vị trí thống trị thay thế cho kinh tế
tự nhiên Mặt khác, nhờ mang hình thái kinh tế hàng hóa mà nền kinh tế tư bản được phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng Kinh tế tư bán chủ nghĩa chỉ với vài ba thế ký đã thông trị toàn thế giới Sức mạnh của chủ nghĩa tu bản được lổng vào với sức mạnh của kinh
tế hàng hóa tạo ra một sức mạnh mới - nền kinh tê hàng hóa tư bản chú nghĩa, làm cho sức sản xuất xã hội phát triển như vũ bão, các cuộc cách mạng trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế đã diễn ra, công nghiệp và dịch vụ đã thay thê' vị trí thống trị của nông nghiệp, sở hữu tư bản tư nhân được nới rộng, nền kinh tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực sản xuâ't ra của cải vật chất
mà còn tràn sang cả những vấn để vể môi trường, vấn để công bằng xã hội Quốc tế hóa kinh tế trở thành xu hướng thống trị trong thê'ký XX Xã hội hóa sản xuât khó có thể chứa đựng nổi trong cái
vỏ sở hữu tư nhân tư bàn, nó nhâ't định sẽ vỡ ra và được thay thế bằng hình thức sở hữu phù hợp hơn
Trang 39Đ ặc diêm các nê t ế I 43
2.3 Đ ặc điểm nền kinh tẻ xã hội chủ nghĩa theo mô hình kê
hoạch hóa tập trung
Sang thế ký XX, chú nghĩa xã hội hiện thực đã xuất hiện ở
nhiều nước dưới những hình thức khác nhau, với những con
đường khác nhau và dưới những mức độ khác nhau, tạo ra nền
kinh tế xã hội chú nghĩa cũng mang nhiều hình thức khác nhau
Sau Cách mạng tháng Mười Nga đến giữa thế kỷ XX, hàng loạt
nước ở châu Á, châu Âu đã đi theo con đường xã hội chủ nghĩa
Vào những năm 70, một sô’ nước ở châu A, châu Phi và Mỹ Latinh
cũng tuyên bô' đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hay theo xu
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo thành hệ thông các nước xã hội chủ
nghĩa thế giới trong thế kỷ XX
Sau đây là một sô' đặc điểm cơ bản của nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa theo mô hình kế hoạch hóa tập trung hay còn gọi là mô hình
Xô viết
hình kê hoạch h óa tập trung
Nền kinh tê' xã hội chú nghĩa theo mô hình kế hoạch hóa tập
trung được quan niệm là một nền kinh tế có quan hệ sản xuất xã
hội chú nghĩa (trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan
hệ sản xuất quan trọng nhâ't) với hai hinh thức sờ hữu: toàn dân và
tập thê vê tư liệu sản xuât Quan hệ sản xuât xã hội chủ nghĩa
không tự phát ra đời và phát triển trong lòng nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa Nó chí được ra đòi trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa
nền kinh tế quốc dân Cải tạo nền kinh tê'quốc dân thực châ't là quá
trình chuyển biến chê' độ tư hữu về tư liệu sản xuâ't thành chế độ
công hữu vể tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sờ hữu toàn dân và
sờ hữu tập thể Do vậy, cải tạo nền kinh tế quô'c dân là đặc điểm
quan trọng bậc nhất cùa quá trình ra đời nền kinh tê' xã hội chủ
nghĩa theo mô hình xô viết
Trang 4044 I Chươ
Con đường hình thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo mô hình này được bắt đẩu từ khi giành được chính quyển về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, coi đây là vấn để tiên quyết
đê hình thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
Ngay sau khi giành được chính quyền, chính quyền mới tuyên bô' chủ quyển đôi với tất cả những gì mà chính quyền cũ đã nắm giữ hay quốc hữu hóa các co sở kinh tế của chính quyển cũ, đồng thời quốc hữu hóa các tài sản của tư sản ngoại quốc, tư sản mại bản
và bọn phản quô'c gắn liền với chính quyền cũ Đó là các nguồn lực, tiềm lực kinh tế của quô'c gia củng như một số ngành, cơ sở kinh tế quan trọng của nền kinh tế như: các nguồn tài nguyên quô'c gia, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải, một số lĩnh vực công thương nghiệp quan trọng đối với toàn bộ nển kinh tế quốc dân
Tùy từng nước, với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, quô'c hữu hóa được triển khai dưới những hình thức khác nhau Liên Xô đã tiến hành quô'c hữu hóa dưới hình thức tước đoạt trực tiếp không bổi thường đối với tư sản ngoại quốc, tư sản mại bản và các cơ sở kinh tế của bọn phản quốc Còn hầu hết các nước khác thực hiện bằng phương pháp "chuộc lại trả dần"
Sau khi tiên hành quô'c hữu hóa, cơ sờ kinh tế trực tiếp của chính quyền cũ đã bị thú tiêu, đổng thời cơ sở kinh tế của chính quyền mới xuất hiện - đó là cơ sở quan trọng cho công cuộc cải tạo
và xây dựng xã hội chủ nghĩa
Sau khi thủ tiêu chính quyền cũ và thành lập chính quyền mới, chính quyền cách mạng, việc tuyên bô' chủ quyền đô'i với các nguồn lực của đất nước trong đó có ruộng đất đồng nghĩa với việc quốc hữu hóa ruộng đất, do vậy các nước như Liên Xô, Mông Cổ đã quôc hữu hóa ruộng đất ngay từ đầu, còn đa sô' các nước khác như Trung Quốc, Việt Nam, Ba Lan tiến hành cải cách ruộng đất