tưởng đó thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng qua mọithời kỳ.Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong thời kỳ mới, Nghị quyếthội nghị lần thứ 7 Ban c
Trang 1MỤC TIÊU I/ PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài
2/ Tình hình nghiên cứu của đề tài
3/ Mục đích nghiên cứu của đề tài
4/ Giới hạn đề tài
5/ Kết cấu đề tài
II/ PHẦN NỘI DUNG.
Chương I: Lý luận chung về xây dựng, củng cố phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội
Chương II: Thực trạng và kết quả phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân của Thị Trấn Trà My trong những năm qua
Chương III: Phương hướng giải pháp đề xuất việc phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của Thị Trấn Trà My trong giai
đoạn 2008 - 2012
III/ PHẦN KẾT LUẬN:
Tài liệu tham khảo: Hoàn thành tiểu luận
22444566
12
22
3133
Trang 2I/ PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Đó là chân lý mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết và khái quát truyền thốnglịch sử của dân tộc ta Nhờ có đoàn kết mà 54 dân tộc anh em cùng chung sống trênmảnh đất không rộng lắm, trình độ phát triển về kinh tế còn thấp kém, nhưng đãvượt qua bao gian lao, thử thách, chống chọi được với thiên tai, dịch họa, bảo vệđược giang sơn, bờ cõi, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, và đang chung sức,xây dựng đất nước
Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã trải quanhững khó khăn, thử thách, những khúc quạnh với những ấu trĩ, sai lầm, khuyếtđiểm Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sự đoàn kết và quyết tâm làm tất cảnhững gì có thể làm được để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyếtnhững gì phá hoại, hoặc làm xói mòi, làm suy yếu khối đại đoàn kết này, vì lịch sử
đã cho chúng ta bài học quý giá “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” Điều đó cắt
nghĩa vì sao mọi thế lực thù địch muốn phá hoại sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc
ta, lại nhằm vào tiêu điểm là phủ nhận, xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàndân tộc của nhân dân ta, vì đây chính là cuội nguồn, là bảo đảm cho thắng lợi cáchmạng của nước ta, là một động lực chủ yếu cho sự phát triển của đất nước hôm nay,
và mai sau Đấu tranh để bảo vệ sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân, tức
là đấu tranh làm thất bại về căn bản âm mưu phá hoại công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta được nâng lên ở tầm cao mới trong thờiđại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dântộc Thực tiễn cách mạng nước ta ngót một thế kỷ qua đã chứng minh một cáchhùng hồn sức sống mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại không gì chiến thắng nổi của tưtưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, và Đảng đã quán triệt sâu sắc tư
Trang 3tưởng đó thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng qua mọithời kỳ.
Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong thời kỳ mới, Nghị quyếthội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW khóa IX tiếp tục xác định mục tiêu: “Tăngcường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợpcủa toàn dân tộc giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội” Nhiềuchủ trương chính sách, cơ chế quản lý mới thông thoáng hơn đã được Đảng,
Nhà nước ta ban hành và đang không ngừng hoàn thiện, có tác dụng giảiphóng lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới tương ứng Chủtrương đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau về tưliệu sản xuất đã khuyến khích và tạo điều kiện sản xuất kinh doanh Các chính sách
xã hội mới đã góp phần khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại Nhữngngăn cách do chiến tranh để lại đã được dần dần khắc phục, làm cho tầng lớp xã hộixích lại gần nhau hơn Những tiến bộ trong sinh hoạt dân chủ trong xã hội, nhất lànhững kết quả bước đầu của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, cải tiến sinhhoạt dân chủ của HĐND các cấp và Quốc hội là những tiến bộ, đã có tác dụngtích cực nhất định đối với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
Những thành tựu của 20 năm đổi mới là to lớn mang ý nghĩa lịch sử, là niềm
tự hào chính đáng của nhân dân ta, nó vừa là tiền đề, điều kiện, vừa là kết quả củaviệc tăng cường mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, vẫn còn nhữngvấn đề làm cho các tầng lớp nhân dân băn khoăn, no lắng, đó là tăng trưởng kinh tếchưa vững chắc và chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước, chất lượng tăngtrưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp do chưa có kế hoạchlâu dài để phát huy nội lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước còn hạn chế, nhiều vấn
đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt, tình trạng phân hóa giàu nghèo ngàycàng ngay gắt,cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cuộc cải cách hành chínhchưa đem lại kết quả như mong muốn, cuộc đất tranh phòng chống tham nhũngkém kết quả một số hạn chế trong việc thực hiện chính sách đối với thành phần
Trang 4kinh tế với một số vấn đề xã hội đều là những yếu tố tác động nhất định đến việcxây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Thị trấn Trà My là trung tâm Chính trị, kinh tế xã hội của Huyện Bắc Trà My,trong những năm qua tình hình đã có nhiều đổi mới và khởi sắc, an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội, được giữ vững ổn định Đảng bộ đã triển khai và tổ chức thựchiện Nghị quyết TW 7 (khóa IX) của Đảng sâu rộng trong cán bộ, đảng viên vànhân dân thị trấn Từ đó, sự đoàn kết, đồng thuận của nhân dân thị trấn đã đượcnâng lên, sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đã được thể hiện rõ nét, Mặt trận
và các đoàn thể nhân dân đã phát huy mạnh mẽ vai trò của mình, chính quyền đã tổchức, điều hành thực hiện hoàn thành và vượt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốcphòng - an ninh của cấp trên giao hằng năm
Bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt được, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
đã được phát huy, thị trấn Trà My vẫn còn một số tồn tại hạn chế như: Định hướngphát triển kinh tế - xã hội chậm đổi mới, đội ngũ cán bộ trẻ năng lực còn hạnchế do đó chưa khai thác hiệu quả mọi nguồn lực của địa phương để phát triểntương xứng với điều kiện, khả năng các nguồn lực của địa bàn trung tâm
Nhận thức rõ tầm quan trọng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sựnghiệp đổi mới của dân tộc, của đất nước nói chung, của thị trấn Trà My nói riêng
là đòi hỏi và lý do cấp thiết mà bản thân tôi chọn đề tài: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” để làm đề tài tốt nghiệp của khóa học.
2/Tình hình nghiên cứu đề tài:
“Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một đề tài mang tính truyềnthống và lịch sử của đất nước ta, Chủ Tịch Hồ Chí minh và Đảng ta nghiên cứu,tổng kết, đánh giá ở tầm vĩ mô Đối với thị trấn Trà My, trong 5 năm trở lại đây có
19 đồng chí đã học Trung cấp lý luận Chính trị tại Trường Chính trị Quảng Namnhưng có rất ít đồng chí đề cập nghiên cứu đề tài này, bản thân với cương vị PhóThị Đội thị trấn Trà My, phương diện là một học viên Trung cấp lý luận chính trị,xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài này nhằm tổng kết lý luận và đưa ra những giải
Trang 5pháp thiết thực để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở thị trấn Trà My, đồng thờirút kinh nghiệm nâng cao nhận thức và góp phần xây dựng địa phương theo mục
tiêu Đại hội X đã đề ra “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
3/Mục đích nghiên cứu đề tài:
Xuất phát từ thực tiễn và quan điểm của Đảng ta qua các kỳ Đại hội, gần đây
nhất là Đại hội X, Đảng ta đã xác định: “đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị ” Như vậy vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc đã
được nâng lên một tầm cao mới, rộng lớn và toàn diện hơn, có ý nghĩa cực kỳ quantrọng thúc đẩy công cuộc đổi mới, trở thành động lực chủ yếu để phát triển đấtnước
Do vậy, thông qua những vần đề lý luận đã học để làm cơ sở nghiên cứu vàthuyết minh ở phần lý luận chung của đề tài, đồng thời nghiên cứu phân tích, khảosát đánh giá tình hình thực tiễn của địa phương để rút ra ưu điểm, khuyết điểm vàbài học kinh nghiệm để phân tích đề tài, qua đó, nêu ra những phương hướng, giảipháp, những kiến nghị về vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của thị trấnTrà My để tham mưu và cùng với lãnh đạo địa phương xem xét, vận dụng có hiệuquả trong thời gian đến
4/ Giới hạn đề tài:
Đề tài phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chủ nghĩa xãhội là một vấn đề rộng lớn, toàn diện và bao trùm trên mọi lĩnh vực đời sống của xãhội, nhưng do khuôn khổ của một tiểu luận, do điều kiện thời gian và năng lực cógiới hạn, bản thân tập trung nghiên cứu lý luận về phát huy sức mạnh đại đoàn kếttoàn dân vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội gắn với thực tiễn của thị trấn Trà My
Trang 6Chương II: Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân của thị trấn Trà My trong 5 năm qua.
Chương III: Phương hướng, giải pháp và đề xuất việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân của thị trấn Trà My.
I/ PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG, CỦNG CỐ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN VÌ MỤC TIÊU CHỦ NGHĨA XÃ HỘI I/ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ VẦN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC:
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ rõ: Quần chúng nhân dân là lực lượng quyết địnhlịch sử, bởi quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất, bảo đảm
Trang 7sự tồn tại và phát triển xã hội; quần chúng nhân dân là nguồn duy nhất và vô tậncủa mọi của cải, tinh thần nhân loại; quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản củamọi cuộc cách mạng xã hội.
Trong lịch sử xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội vớinhững cuộc cách mạng đấu tranh giai cấp để phát triển Trong các giai cấp tầng lớpnhân dân thì giai cấp công nhân là lực lượng tiên tiến nhất có vai trò quyết địnhnhất đối với sự tồn tại và phát triển xã hội
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã chỉ ra rằng: Quần chúng nhân dân là cộng đồngngười hình thành và phát triển cùng với lịch sử của một dân tộc, một quốc gia, vấn
đề dân tộc phụ thuộc vào giai cấp, lập trường của giai cấp quy định sự phát triểncủa dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc, vấn đề dân tộc có tầm quan trọng đặc biệtgiải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc đấutranh giai cấp của giai cấp công nhân lợi ích của giai cấp công nhân là thông nhấtvới lợi ích dân tộc, giai cấp công nhân vừa là bản chất quốc tế, vừa có bản chất dântộc để cuộc đấu tranh giai cấp công nhân thành công thì giai cấp công nhân phải cóchính Đảng lãnh đạo đó là Đảng cộng sản với đường lối đúng đắn để tập hợp đoànkết các giai cấp, các tầng lớp nhân dân của dân tộc tạo nên một sức mạnh tổng hợpcủa cách mạng, đồng thời biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thờiđại để làm cuộc cách mạng vô sản
II/ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT:
Kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đồng thời kết tinh, tinhhoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã khẳng định: “Dân là tối thượng”, “Cách mạng là việc chung cả dân chúngchứ không phải việc một hai người” Người luôn quan tâm đến vấn đề đoàn kết, vìđoàn kết là sức mạnh của cách mạng và đoàn kết là truyền thống quý báu của Đảng
và dân tộc ta
Trang 8Đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là sự thống nhất đồng tâm, hiệp lựctạo thành một sức mạnh vô địch để thực hiện ý chí, mục đích và lý tưởng chung,muốn đoàn kết thì phải có tổ chức chỉ huy, do đó Người chỉ rõ:
“Việt minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta trong lúc này,hãy ra nhập Việt minh, ủng hộ Việt minh, làm cho Việt minh rộng lớn mạnh mẽ”
Để tập hợp lực lượng sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, người kêu gọi: “Đồngbào kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Nai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và cácdân tộc tiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng tasống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”
Về phương pháp đoàn kết Người nói:
“Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, năm ngón tay cũng cóngón ngăn ngón dài Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệungười có có người thế này hay thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõicủa tổ tiên ta, nên ta phải khoan hồng đại độ ta phải nhận rằng đã là con cháu lạchồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc Đối với những người đồngbào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình nhân ái mà cảm hóa họ, có như thế mớithành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”
Để thực hiện mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng và của cả dân tộc Ngườikhuyên cần phải mở rộng và củng cố hơn nữa lực lượng đoàn kết, đoàn kết dân tộc,đoàn kết nhiều tầng lớp nhân dân, đoàn kết quốc tế Người khẳng định:
“ Về mặt trận dân tộc thống nhất, chúng ta cần mở rộng và củng cố hơn nữa,
từ Nam đến Bắc, ai là người tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thìchúng ta sẵn sàng đoàn kết với họ dù từ trước đến nay họ đã theo phe nào
Đoàn kết là lực lượng vô địch
Lực lượng đoàn kết đã giúp cách mạng tháng Tám thành công
Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi
Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh để thựchiện hòa bình, thống nhất độc lập, dân chủ trong cả nước”
Tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã trở thànhchiến lược của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới và ngày càng ngời sáng như ánh mặttrời
Trang 9III/ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ XÂY DỰNG CỦNG CỐ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC:
1/Quan điểm của Đảng ta về xây dựng củng cố phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập:
Ngay từ khi mới thành lập Đảng ta đã xác định vai trò tiên phong lãnh đạo giaicấp vô sản Đồng thời phải thu phục lãnh đạo cho được đại đa số dân cày để làmthổ địa cách mạng đánh trúc bọn đai địa chủ và phong kiến, bên cạnh đó, Đảng phảihết sức liêm lạc với tiểu tư sản, trí thức trung nông, lợi dụng tầng lớp phú nông,trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam chưa rõ mặt phản cách mạng, đồng thời tuyêntruyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới đóchính là quan điểm đầu tiên của Đảng về tập hợp lực lượng đoàn kết để đấu tranhchống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc
Tiếp thu và phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê nin và vai trò sứ mệnh lịch
sử của quần chúng, trong thời kỳ này Đảng đã thành lập Mặt trận dân tộc thốngnhất Việt Nam để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Qua các giai đoạn của cáchmạng Đảng đã chủ trương thay đổi tên gọi của Mặt trận cho phù hợp với tình hình,đồng thời có những hình thức về biện pháp mới về tổ chức để tập hợp, đoàn kếtrộng rãi các tầng lớp nhân dân, liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòabình thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
2 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ đổi mới:
Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đại hội VI củaĐảng tổng kết thành bài học lịch sử trong đó nổi bật là 2 bài học lớn: Lấy dân làmgốc và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, thực hiện đoàn kếtquốc tế, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc đã được nâng lên một tầng cao mới.Đến Đại hội VII, Đảng ta chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết, trước hết là
mở rộng nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm công nhân, nông dân,trí thức đặt lợi ích dân tộc và lợi ích con người lên hàng đầu, coi đó là xuất phátđiểm của các chính sách, là cơ sở xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dântrong thời kỳ mới
Trang 10Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta tiếp tục khẳng định những quan điểm trên,đồng thời đề ra các chính sách cụ thể đối với các dân tộc trong nước, nhằm tạo ranhững động lực mới thúc đẩy phong trào cách mạng của nhân dân.
Tiếp tục cụ thể hóa và nâng cao hơn tầm vóc của chủ trương đại đoàn kết Đạihội IX của Đảng ta đã khẳng định chủ trương và mở rộng biên độ của đại đoàn kếttoàn dân tộc, bao gồm các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế,mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoàiĐảng, người đang công tác và người về hưu, mọi thành viên trong mọi gia đình dântộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài
Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu Chủ nghĩa xã hội, Hội nghị lần thứ 7 Banchấp hành TW khóa IX đề ra bốn quan điểm như sau:
Một là: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lốichiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và lànhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Hai là: Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất
của Tổ quốc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làmđiểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thànhphần, giai cấp xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tươnglai
Ba là: Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăn no lợi ích thiết thực,
chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hòa lợiích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn liền với giữgìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, không ngừng bồi dưỡng,nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần
tự lực, tự cường xây dựng đất nước; xem đó là động lực củng cố và phát triển khốiđại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 11Bốn là: Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng được thực hiện bằng nhiều biện pháp,hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước có
ý nghĩa quan trọng hàng đầu
Tiếp tục cụ thể hóa và làm rõ hơn nữa biện pháp, hình thức chủ trương, chínhsách đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, Đại hội X của Đảng ta đề ra các quan điểm như sau:
Một là: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lốichiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và lànhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Hai là: Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp,hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhànước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu
Ba là: Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối và chính
sách, liên hệ mật thiết với nhân dân
Bốn là: Thực hiện đồng bộ các chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm phát
huy dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồngdân cư) và giữ vững kỷ cương trong xã hội
* Một số kinh nghiệm về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân ở một số địa phương:
- Kinh nghiệm thứ nhất: Thực trạng và kết quả hoạt động của Ban công tác
Mặt trận ở Thạch Thất - Hà Tây
Trong những năm qua, Ban công tác Mặt trận của 168 thôn đã đảm bảo tăngcường mối đại đoàn kết trong cộng đồng tính đến cuối năm 2006 đã thu hút được75,72% số quần chúng tham gia các mô hình câu lạc bộ, tổ tự nguyện, tổ tiết kiệm,duy trì và phát huy hiệu quả 359 câu lạc bộ các loại; 453 tổ tiết kiệm với số tiền đã
Trang 12huy động được là 3.988 tỷ đồng, đứng ra tín chấp với Ngân hàng chính sách, Ngânhàng phát triển nông thôn và vay các dự án với số tiền 58.298 tỷ đồng, hoạt độngcủa Mặt trận đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện.(Theo thông tin công tác Mặt trận số 49 tháng 7/2007 của ủy Ban TW MTTQViệt Nam).
- Kinh nghiệm thứ hai: Khi mạch sống văn hóa làng quê tuôn chảy.
Với sức mạnh của một vùng quê ruộng đồng, sông nước, 300 nghìn người dânHải Hậu đã đồng lòng phát triển mô hình văn hóa làng, xã đáng kinh ngạc, mộthuyện bé nhỏ mà đã “kỷ lục” với 460 tổ đội văn nghệ quần chúng, 800 hạt nhânvăn nghệ, 62 đội kèn đồng, 45 đàn nhạc dân tộc, hệ thống nhà văn hóa khang trang
từ 400 - 900 chỗ ngồi mà cả 36 xã đều có, “Văn hóa” đã trở thành máu thịt vớingười dân nơi đây, đến mức bí thư Đảng ủy khi nói chuyện cũng toàn nói có vần,Hội Phó phụ nữ cũng sáng tác kịch ngắn, hình mục cũng viết nhạc làm thơ, nhà sưcũng hát chèo chẳng kém ai, đam mê đến mức ngày lễ huyện không tổ chức vănnghệ thì dân chúng kéo lên kiến nghị, khát vọng tình yêu văn hóa của người dâncùng với sự nỗ lực của chính quyền ở Hải Hậu đủ để thành mơ ước, thành tấmgương cho nhiều vùng quê trên cả nước
( Theo báo nhân dân cuối tuần sô 38 (660)ngày 23 - 9 - 2001)
- Kinh nghiệm thứ ba: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở thị trấn Gò
Quao tỉnh Kiên Giang
Ủy Ban MTTQ thị trấn (Kiên Giang) luôn coi trọng phát huy dân chủ bằng cảhai hình thức: Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
Thời gian qua, việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở thị trấn Gò Quaođược thể hiện rõ nét trong quá trình huy động sức dân phát triển KT - VH - XH; giữvững ANQP trong đó tiêu là công tác xây dựng cơ sở hạ tầng; điện; đường, trường,trạm đến nay hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn 6 ấp đã được làm bằngvật liệu cứng với tổng chiều dài khoảng 37.000m nối liền thị trần Gò Quao với các
xã lân cận đảm bảo cho xe hai bánh giao thông trong cả mùa mưa Có trên 98% hộdân sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất, sinh hoạt và 100% hộ dân sửdụng nước hợp vệ sinh, hệ thống trường học đã được xây dựng kiên cố Năm 2006
Trang 13đã cất mới 14 căn nhà đại đoàn kết, tổng trị giá 14.70.000đ, trong đó nguồn vốnhuy động trong dân là 27 triệu đồng Thị trấn Gò Quao có một trạm y tế với đội ngũcán bộ 3 y sĩ, 4 y tá hằng năm đã làm tốt chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh banđầu cho nhân dân.
Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết XDĐS văn hóa ở khu dân cư”6/6 ấp đã xây dựng được quy ước hoạt động; 83,3% số ấp và 100% NDTQ giữvững danh hiệu đơn vị văn hóa 100% đơn vị đạt danh hiệu đơn vị vănminh ;91,37% số hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa
(Theo thông tin công tác mặt trận số 57 tháng 3/2008 của Ủy Ban TW MTTQViệt Nam)
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN CỦA THỊ TRẤN TRÀ MY TRONG NHỮNG NĂM QUA
Trang 14I/ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC MẶT TRẬN THỊ TRẤN TRÀ MY TRONG NHỮNG NĂM QUA:
1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của thị trấn Trà My:
Thị trấn Trà My là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội của huyện Bắc trà Mytỉnh Quảng Nam
Phía Đông giáp xã Trà Giang
Phía Nam giáp xã Trà Sơn
Phía Tây giáp xã Tiên Hiệp huyện Tiên Phước
Phía Bắc giáp xã Trà Dương
Tổng diện tích tự nhiên 1.700 ha đất canh tác nông lâm nghiệp 1.115 ha trong
đó đất trồng lúa nước 92 ha, rất phong phú về đất nông nghiệp (trên 1.000 ha)
Địa hình chạy dọc theo quốc lộ 616 cách tỉnh lỵ 50 km về hướng Tây Nam hệthống giao thông trên địa bàn có nhiều thuận lợi, đường nội thị được bê tông hóa,sắp đến đường vào thủy điện Sông Tranh II, chạy dọc theo hướng Tây thị trấn,đường Trần Thị Lê Xuân nối quốc lộ 616 tại ngã tư bưu điện đi Trà Bồng QuảngNgãi, làm cho giao thông thêm thuận lợi hơn
Dân số 8.282 khẩu với trên 1.636 hộ, mật độ dân số 98 người/1km2, có 4.790lao động trong đó người dân tộc thiểu số có 118 hộ và 588 khẩu gồm các dân tộcanh em sinh sống như: Kinh, Ca zông, Xê Đăng, Mường, Tày, Kor , đồng bàotheo đạo giáo có 165 hộ,790 khẩu gồm có Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành vàĐạo cao đài, thị trấn Trà My sau khi chia tách thành hai đơn vị hành chính theoNĐ33/CP ngày 08/03/2007 toàn thị trấn có 09 tổ dân phố 42 tổ đoàn kết trong đó tổdân phố Mậu Cà Là 06 tổ; tổ Minh Đông 03 tổ; Tổ Đàng Bộ 06 tổ; tổ Đàng Nước
05 tổ; tổ Trung Thị 04 tổ;Tổ Đồng Bàu 06 tổ; tổ Đồng Trường I 04 tổ; tổ ĐồngTrường II 04 tổ; tổ Trấn Dương 04 tổ
BẢNG THỐNG KÊ
Trang 15TÌNH HÌNH DÂN SỐ, DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO THỊ TRẤN TRÀ MY
Tính đến tháng 05/2008 (Bảng biểu thu thập từ văn phòng HĐND - UBND)
- Tình hình kinh tế xã hội địa phương có xu hướng phát triển tốt kể từ khi thủyđiện Sông Tranh II được khởi công xây dựng và một số công trình của TW đầu tưtrên địa bàn huyện, cụ thể là:
Trang 16- Về lâm nghiệp: Trồng rừng đã đạt 900ha, hiện nay trồng mới mỗi năm
khoảng từ 100 ha trở lên chủ yếu cây keo lai và khai thác khoảng 500ha/năm chothu nhập khoảng 1,5 tỷ đồng
b/ Về văn hóa xã hội
Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt, 95% hộ dân có 85% hộ dân có xemáy, nhà mới xây liên tiếp được hoàn thành, đến nay 9/9 tổ dân số phát động xâydựng thôn văn hóa, trong đó có 02 tổ đạt thôn văn hóa cấp huyện
Công tác giáo dục học sinh ra lớp đạt tỷ lệ 100% kết quả dạy và học hằng nămđạt kết quả khá trở lên, đã có 2/3 trường đạt chuẩn quốc gia, phấn đấu hết năm
2008 phổ cập xong bậc trung học cơ sở, công tác y tế được quan tâm đúng mức,công tác đền ơn đáp nghĩa “Ngày vì người nghèo” được quan tâm thường xuyên và
có kết quả tốt, đường giao thông nông thôn phần lớn đã được bê tông hóa, tỷ lệ hộnghèo 24,1% giảm so với năm 2007cơ sở hạ tầng đã đi vào xây dựng cơ bản, đờisống nhân dân đang từng ngày khởi sắc
2/ Những thuận lợi và khó khăn về công tác Mặt trận của thị trấn Trà My trong những năm qua:
a/ Thuận lợi:
Công tác mặt trận của thị trấn Trà My trong những năm qua được Đảng bộquan tâm lãnh chỉ đạo bằng Nghị quyết hằng năm, 06 tháng quý và hằng tháng, đặcbiệt là kế hoạch của Đảng bộ triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết TW 7 khóa
IX và tăng cường sự lãnh đạo về công tác Dân vận của Đảng thì hoạt động công tácMặt trận ở cơ sở thực sự chuyển biến
Ban công tác Mặt trận các khu dân cư đã được củng cố với đội ngũ cán bộ cónhiệt huyết, có kinh nghiệm, có uy tín, công tác tổ chức tiến hành thực hiện chungtương đối đồng đều Ban thường trực UBMTTQ Việt Nam thị trấn được cơ cấu trẻ,năng động, tổ chức thành viên được mở rộng thêm các gương điển hình tiêu biểutrong sản xuất kinh doanh, hoạt động UBMT được duy trì đều đặn và có hiệu quả
Trang 17Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Vì môi trường sống”, an toàn giao thông v.v đã trở thành chìa khóa mở ra những
hành động thiết thực nhất đối với mọi người, đối với cộng đồng, và Mặt trận là cơ
sở để tập hợp, vận động tổ chức thực hiện
Các chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước đã tác động tích cực đến phát triển
KT - XH của địa phương, nhân dân tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, tinhthần đoàn kết cộng đồng khi dân cư ngày càng được nâng lên, kinh phí của trên hỗtrợ cho các khu dân cư sinh hoạt văn hóa, sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng củaMặt trận - Đoàn thể với chính quyền đã tạo cho không khí dân chủ ở cơ sở đã tạothành một động lực phong trào tiến lên tự giác
Trang 18’b/ Khó khăn:
Trình độ của đội ngũ cán bộ mới trẻ hóa, (nhiều đồng chí vừa đi học nâng caotrình độ vừa đi làm) do đó kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, đặc biệt là cán bộ chínhquyền phụ trách các lĩnh vực đất đai, chính sách xã hội, Công an, quản lý đô thị giải quyết công việc chưa thấu tình hợp lý, gây phiền hà cho dân đã làm ảnh hưởngđến niền tin của dân đối với chính sách của Đảng, Nhà nước
Một số ý kiến, kiến nghị, tâm tư nguyện vọng của một số bộ phận cử tri đềnghị với chính quyền nhiều lần, nhiều năm không được giải quyết đã gây tâm lýhoài nghi dẫn đến nhân dân tham gia hội họp thiếu tập trung, không thống nhất nhưtrường hợp đường đi làm đồng và mương rẫy của nhân dân tổ Trấn Dương, Khi xâydựng trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện đã bịt mất lối đi của bà con, nhân dânkiến nghị nhiều năm nhưng chưa được giải quyết Trường hợp nhân dân 4 tổ đóngtiền xây dựng đường điện thắp sáng, năm 2002 sở điện lực thanh toán 60% tiềnđóng góp, 40% còn lại chưa được thanh toán, nhân dân kiến nghị thì tỉnh và huyệntrả lời không rõ ràng và chưa được giải quyết
II/ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VỀ XÂY DỰNG, CỦNG CỐ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN CỦA THỊ TRẤN TRÀ MY TRONG NHỮNG NĂM QUA:
1/ Chủ trương và giải pháp thực hiện:
Quyết triệt Nghị quyết TW 7 (khóa IX) và chương trình hành động số 03/CT
-HU ngày 25/9/2003của Ban chấp hành Đảng bộ huyện về phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Ngay sau khi huyện ủy tổ chức quát triệt, Ban thường vụ Đảng ủy
đã xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết đến tận cán bộ đảng viên và toàn thểnhân dân trên địa bàn thị trấn, đồng thời xây dựng chương trình hành động cụ thể
để tổ chức thực hiện
Qua 5 năm tổ chức thực hiện, Đảng ủy đã có các Nghị quyết chuyên đề về
“Trồng cỏ chăn nuôi bò”, “Trồng nấm rơm”, “Xóa nhà tạm”, “Phát triển kinh tế rừng”và chương trình hành động về “Phát triển nông nghiệp nông thôn”, “Làm đường giáo thông nông thôn”, “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”và các chủ trương cụ thể khác, trong đó chú trọng đổi mới nội
Trang 19dung và phương thức tập hợp vận động quần chúng của hệ thống Chính trị, nâng
cao vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Mặt trận và các Hội đoàn thể, xây dựng sự tin
tưởng tuyệt đối của nhân dân vào đường lối chủ trương của Đảng, tạo nên sứcmạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương
2/ Kết quả đạt được:
Sau khi thực hiện Nghị quyết TW 7 (khóa IX) của TW Đảng, tinh thần thái độcủa cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thị trấn đã có nhiều đổi mới, tintưởng vào đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tíchcực thi đua sản xuất đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau, giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luônđược giữ vững ổn định
a/ Về mặt trận Tổ quốc:
Thường xuyên kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận cótinh thần trách nhiệm cao, có năng lực đổi mới phương thực hoạt động, tập hợpđược sự đoàn kết và nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân.Mặt trận thường xuyên phối hợp với các tổ chức thành viên tuyên truyền quántriệt và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách, chỉ thị, Nghị quyếtcủa Đảng, của Mặt trận cấp trên đề ra Bên cạnh việc tổ chức học tập, phát độngnhân dân thực hiện các phong trào thi đua yêu nước nhằm đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh các hoạt
động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo” xây
dựng nhà đoàn kết an toàn giao thông, phát huy dân chủ ở cơ sở, giữ gìn kỷ cương,chấp hành pháp luật, thực hiện giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểudân cư, cán bộ, đảng viên, công chức ở khu dân cư Hoạt động của Ban công tácMặt trận và khu dân cư được duy trì đều đặn và đi vào chiều sâu, phong trào vănnghệ, thể thao được duy trì thường xuyên, các ý kiến, kiến nghị chính đáng củanhân dân đã được phản ánh kịp thời, công tác hòa giải đã có nhiều tiến triển
Trang 20Mặt đã thực sự trở thành chỗ dựa trụ cột của chính quyền, góp phần xây dựngĐảng bộ liên tục đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh nhiều năm liền.
b/ Về Hội nông dân:
Giai cấp nông dân thị trấn là lực lượng đông đảo chủ yếu trực tiếp lao độngsản xuất góp phần quan trọng vào lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, laođộng nông nghiệp hiện nay chiếm 42,5% tổng số hội viên năm 2008 là 567 hội viên(từ năm 2004 - 2008 phát triển được 153 hội viên mới) Hội đã trú trọng công táctập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất (đã tổ chức 6 lớp 320 hội viêntham gia), phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, điển hình tiên tiến đãđược nhân rộng, nhiều hội viên đã trở thành chủ trang trại hiện Hội nông dân thịtrấn có 44 tổ vay vốn với số tiền 2.767 tỷ đồng để phát triển sản xuất chăn nuôi,Hội đã góp phần thực hiện tích cực vào phát triển kinh tế, xóa đói giám nghèo,củng cố khối đại đoàn kết ở địa phương
c/ Về Hội phụ nữ:
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền vận động và thông qua nhiều hoạt độngphong trào thiết thực, Hội đã thu hút nhiều chị em tham gia (Năm 2004 có 937 hộiviên, đến nay có 1.262 hội viên) công tác đào tạo, bố trí cán bộ nữ được quan tâm(Hiện cán bộ nữ trong cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận đoàn thể thị trấn chiến34,6%) có 19 cán bộ nữ đã cử đi đào tạo, một số giữ chức danh chủ chốt, trong 5năm đã phát triển được 21 đảng viên nữ, số lượng đại biểu HĐND nữ là 9/29 đạibiểu (chiếm 31,3%), các phong trào thi đua yêu nước đã được Hội đẩy mạnh như
phong trào xây dựng gia đình “Ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”Phong trào
“Giúp nhau làm kinh tế” Hội đã thành lập được 12 tổ quay vòng vốn với số tiền là
78 triệu đồng, tín chấp cho 350 chị em vay vốn gần 03 tỷ đồng, hầu hết số vốn vayđược chi em sự dụng đúng mục đích Hội phụ nữ đã góp phần lớn xây dựng vàcủng cố khối đại đại đoàn kết toàn dân thị trấn Trà My
d/ Về đoàn thanh niên:
Là mái trường XHCN Đoàn thanh niên thị trân thường xuyên tổ chức các hoạtđộng sôi nổi, thiết thực, phù hợp với giới trẻ nên có sức hút tập trung đông đảothanh niên vào tổ chức Đoàn (thanh niên từ 15-35 tuổi là 2.958 chiếm 33% dân số)