Để có được một hệ thống thông tin hỗ trợ doanh nghiệp mang lại hiệu suất cao nhất thì ta cần có một mô hình đặc tả hệ thống doanh nghiệp chặt chẽ, logic, toàn diện, chi tiết làm rõ mối t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Quang Thụy, bộ môn Hệ thống thông tin, khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy là người thầy dạy, là cố vấn học tập đã luôn quan tâm giúp đỡ, dạy
dỗ và định hướng cho tôi trong suốt những năm tôi theo học ở trường Thầy cũng chính là giảng viên hướng dẫn, đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn NCS Vũ Ngọc Trình đã có những giúp đỡ, góp ý trong quá trình tôi thực hiện khóa luận này
Tôi chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học làm nền tảng cho tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này cũng như cho nghiên cứu và nghề nghiệp tương lai
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, các anh, chị, em và các bạn trong Phòng thí nghiệm công nghệ tri thức (KTLab) – khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Công nghệ đã đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng xin được cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè tôi đã luôn bên cạnh động viên và ủng hộ tôi suốt thời gian qua
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Phan Văn Chương
Trang 2TÓM TẮT
Tóm tắt: Các tổ chức doanh nghiệp đều ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động
của họ bởi vì “máy tính có thể tính toán bất cứ thứ gì miễn là người dùng cung cấp đủ dữ liệu
để nó làm việc” (Joop de Jong [11]) Để có được một hệ thống thông tin hỗ trợ doanh nghiệp mang lại hiệu suất cao nhất thì ta cần có một mô hình đặc tả hệ thống doanh nghiệp chặt chẽ, logic, toàn diện, chi tiết làm rõ mối tương quan giữa các yếu tố trong một tổ chức doanh nghiệp và các yếu tổ trong mô hình hệ thống doanh nghiệp và được gọi là mô hình ontology doanh nghiệp (Enterprise Ontology)
Khóa luận này tập trung nghiên cứu lý thuyết về mô hình tổ chức với ba mức là mức B (Business: kinh doanh), mức I (Information: thông tin) và mức D (Data: dữ liệu) và ứng dụng của lý thuyết này để xây dựng ontology của tổ chức Khóa luận cũng đề nghị một mô hình áp dụng phương pháp vào hệ thống quản lý ngữ nghĩa khách hàng của FPT Telecom Trên cơ sở nghiên cứu của Joop de Jong, 2013 [11], khóa luận thi hành ba mô đun chương trình chuyển hóa giữa các tác nhân thuộc mô hình tổ chức mức I với tác nhân thuộc mô hình tổ chức mức
D Thực nghiệm trên hai mô đun chương trình nói trên cho kết quả phù hợp
Từ khóa: ontology, doanh nghiệp, tổ chức, hệ thống thông tin, mô hình
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Hà Quang Thụy và giảng viên đồng hướng dẫn NCS Vũ Ngọc Trình
Tất cả những tham khảo từ các nghiên cứu liên quan đều được nêu nguồn gốc một cách rõ ràng từ danh mục tài liệu tham khảo trong khóa luận Trong khóa luận, không có việc sử dụng tài liệu, công trình nghiên cứu của người khác mà không chỉ rõ
về tài liệu tham khảo Các chương trình thực nghiệm đều là do tôi thực hiện mà có được, không sao chép từ bất cứ nguồn nào
Hà Nội ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Phan Văn Chương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ONTOLOGY TRONG DOANH NGHIỆP 3
1.1 Tổng quan về ontology 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Các thành phần của ontology 4
1.1.3 Các bước xây dựng ontology 5
1.2 Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp 6
1.2.1 Điều khiển quy trình kinh doanh trong doanh nghiệp 6
1.2.2 Mối quan hệ giữa kinh doanh và CNTT 7
1.2.3 Vai trò của hệ thống thông tin 8
1.3 Ontology doanh nghiệp 9
1.3.1 Khái quát 9
1.3.2 Vai trò của ontology doanh nghiệp 9
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ONTOLOGY DOANH NGHIỆP DỰA TRÊN CÁC LÝ THUYẾT VỀ TỔ CHỨC 11
2.1 Các lý thuyết về tổ chức 11
2.1.1 Lý thuyết 11
2.1.2 Lý thuyết 13
2.1.3 Lý thuyết 16
2.2 Mô hình hóa tổ chức dựa trên các lý thuyết về tổ chức 19
2.2.1 Giới thiệu 19
2.2.2 Mô hình tổ chức 20
2.2.3 Mô hình hóa tổ chức B 25
2.2.4 Xây dựng mô hình tổ chức I từ tổ chức B 26
2.2.4.1 Áp dụng mô hình GSDP 26
Trang 52.2.4.2 Các loại giao dịch giữa tổ chức B và tổ chức I 28
2.2.4.3 Mô hình IAM của tổ chức I 30
2.2.4.3.1 Ghi nhớ sự các sự kiện 30
2.2.4.3.2 Tái tạo các sự kiện 31
2.2.5 Xây dựng mô hình tổ chức D từ tổ chức I 32
2.2.5.1 Áp dụng mô hình GSDP 32
2.2.5.2 Các loại giao dịch giữa tổ chức I và tổ chức D 34
2.2.5.3 Mô hình IAM của tổ chức D 35
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG MÔ HÌNH VỚI DỊCH VỤ TIẾP NHẬN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI CỦA FPT TELECOM 40
3.1 Giới thiệu tổ chức 40
3.2 Ngữ cảnh của dịch vụ khiếu nại 41
3.3 Xây dựng mô hình tổ chức I 42
3.3.1 Tác nhân OA-01 43
3.3.2 Tác nhân OA-02 44
3.4 Xây dựng tổ chức D 45
CHƯƠNG 4 THỰC NGHIỆM 48
4.1 Giới thiệu 48
4.2 Chương trình hỗ trợ tác nhân I 48
4.3 Chương trình hỗ trợ tác nhân D 50
KẾT LUẬN 58
Trang 6BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2-1: Bảng kết quả giao dịch (TRT) 22 Bảng 2-2: Bảng nội dung ngân hàng (BCT) 22 Bảng 3-1: Quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại của FPT Telecom [15] 41
Trang 8DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1: Phân tích ý nghĩa của khái niệm về ontology [2] 3
Hình 1.2: Mô phỏng quan hệ giữa các thành viên trong một công ty [1] 4
Hình 2.1: Tam giác ký hiệu học [5] 11
Hình 2.2: Hình bình hành ontology [5][11] 12
Hình 2.3: Tam giác mô hình [11] 13
Hình 2.4: Quy trình phát triển một tổ chức tổng quát (GSDP) [5] 15
Hình 2.5: Mẫu giao dịch chuẩn (Dietz) [5][6][11] 17
Hình 2.6: Kí hiệu giao dịch chuẩn trong mô hình DEMO [11] 18
Hình 2.7: Ba tổ chức khía cạnh của một tổ chức [7] 19
Hình 2.8: Mô hình CM của RAC [7] 21
Hình 2.9: Mô hình PM của RAC [7] 23
Hình 2.10: Mô hình sự kiện (FM) của RAC [7] 24
Hình 2.11: Mô hình CM của quầy bán bánh pizza [11] 25
Hình 2.12: Mô hình CM của tổ chức B của quầy bán bánh pizza [11] 26
Hình 2.13: Xây dựng tổ chức I từ tổ chức B [11] 27
Hình 2.14: Các loại tác nhân kết hợp giữa tổ chức B và tổ chức I [8] 29
Hình 2.15: Mô hình IAM ghi nhớ sự kiện của tổ chức I [11] 30
Hình 2.16: Mô hình IAM tái tạo sự kiện 32
Hình 2.17: Xây dựng tổ chức D từ tổ chức I [11] 33
Hình 2.18: Các loại tác nhân kết hợp giữa tổ chức I và tổ chức D [8] 34
Hình 2.19: Lưu trữ sự kiện P [8] 36
Hình 2.20: Cung cấp các sự kiện có nguồn gốc [8] 37
Hình 2.21: Cung cấp các sự kiện bên ngoài [8] 39
Hình 3.1: Mô hình cấu trúc tổ chức giải quyết khiếu nại 42
Hình 3.2: Tổ chức I cho việc thực hiện vai trò tác nhân O-A01 43
Trang 9Hình 3.3: Tổ chức I cho việc thực hiện vai trò của tác nhân O-A02 45
Hình 3.4: Mô hình tổ chức D cho việc lưu trữ và cung cấp dữ liệu sự kiện 46
Hình 4.1: Một mẫu sự kiện 48
Hình 4.2: Chức năng ghi nhớ và gửi dữ liệu sự kiện đi lưu trữ 49
Hình 4.3: Chức năng yêu cầu tái tạo một sự kiện biết trước các tham số 50
Hình 4.4: Gửi lại sự kiện cho tác nhân I 51
Hình 4.5: Dữ liệu về sự kiện được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu 52
Hình 4.6: Chức năng lưu dữ liệu sự kiện 53
Hình 4.7: Văn bản gốc trước khi được mã hóa 54
Hình 4.8: Giao diện của chức năng mã hóa văn bản 55
Hình 4.9: Thông báo mã hóa thành công của chương trình 55
Hình 4.10: Văn bản sau khi được mã hóa 56
Hình 4.11: Chọn file cần giải mã và lưu vào file mới 56
Hình 4.12: Giải mã thành công 57
Hình 4.13: Kết quả giải mã 57
Trang 10MỞ ĐẦU
Hệ thống thông tin đã là một trong các tài nguyên cốt lõi của mọi tổ chức trong
kỷ nguyên thông tin của nhân loại Tuy nhiên, không ít các dự án triển khai hệ thống thông tin cho doanh nghiệp đã gặp phải thất bại Có nhiều nguyên nhân được các nhà nghiên cứu tìm ra, chẳng hạn là do thiếu sự liên kết giữa các hoạt động kinh doanh và CNTT (Henderson và Venkatraman), hoặc việc mô hình hóa quy trình kinh doanh vào
mô hình hóa hệ thống thông tin chưa chính xác (Reijswoud van và Mulder),… [11] Tóm lại là việc ánh xạ tổ chức doanh nghiệp vào hệ thống thông tin còn nhiều bất cập
do chưa đầy đủ, chưa đúng bản chất,…
Ontology cho phép chúng ta mô hình hóa thế giới tổ chức vào một mô hình hệ thống tổ chức với đầy đủ các thành phần và quan hệ giữa chúng, qua đó ta có một cái nhìn tổng quan nhưng đầy đủ về tổ chức Và dựa trên mô hình tổ chức đó, việc thiết
kế, xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp sẽ trở nên dễ dàng và chính xác hơn
Dựa trên các kết quả nghiên cứu liên quan tới chủ đề này [5,6,7,8,11], đặc biệt
là nghiên cứu của Joop de Jong [11, khóa luận này trình bày các cơ sở lý thuyết dựa trên đó sẽ đưa ra cách để ánh xạ thế giới thực của một tổ chức vào mô hình ontology của nó Đồng thời, khóa luận cũng đưa ra mô hình áp dụng một trường hợp thực tiễn tại FPT Telecom để minh chứng cho phương pháp
Nội dung khóa luận này gồm 4 chương
Chương 1 Ontology trong doanh nghiệp Chương này sẽ trình bày các khái niệm về
ontology, về hệ thống thông tin trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chúng, và tại sao chúng ta cần xây dựng ontology doanh nghiệp
Chương 2 Phương pháp xây dựng ontology doanh nghiệp dựa trên các lý thuyết
về tổ chức Chương này sẽ đi tìm hiểu các lý thuyết về tổ chức để khảo sát mối liên
quan hệ giữa các thành phần trong một tổ chức và trên cơ sở đó sẽ xây dựng phương pháp
Chương 3 Áp dụng mô hình với tổ chức tiếp nhận và giải quyết khiếu nại của FPT Telecom Trên cơ sở quy trình tiếp nhận tổ chức khiếu nai của FPT Telecom
[15], dựa trên phương pháp đã xây dựng ở các chương trước, chương này trình bày một áp dụng thực tiễn dựa trên một quy trình kinh doanh sẵn có Khóa luận đề nghị một mô hình cấu trúc tổ chức giải quyết khiếu nại với các mô hình thành phần liên quan tới các mô hình tổ chức I và D cho các tác nhân A01 và A02 trong quy trình kinh doanh nói trên
Trang 11Chương 4 Thực nghiệm và đánh giá Chương 4 tiến hành xây dựng ba mô đun
chương trình hỗ trợ hai tác nhân OA1 và OA2 thực hiện vai trò của mình trong việc lưu trữ và cung cấp dữ liệu
Trang 12Chương 1 Ontology trong doanh nghiệp
1.1 Tổng quan về ontology
1.1.1 Khái niệm
Trên phương diện khoa học máy tính, Ontology được nhắc đến như một kiểu đặc biệt của các đối tượng thông tin Theo thời gian, nhiều định nghĩa về Ontology được các nhà khoa học đưa ra dựa trên những đặc trưng mà nó biểu thị Năm 1993, Gruber định nghĩa khái niệm một Ontology như một “đặc tả rõ ràng của một khái niệm” Còn theo Borst, ông định nghĩa một Ontology như là một “đặc tả hình thức của một khái niệm được chia sẻ” Khái niệm này mở rộng hơn một điều là các khái niệm phải được trình bày với mức chia sẻ giữa các thành phần tham gia Năm 1998, Studer cùng các cộng sự trong một nghiên cứu đã gộp hai định nghĩa này lại thành định nghĩa: “Một Ontology là một hình thức, đặc tả rõ ràng của một khái niệm được chia sẻ” [1] Trong một nghiên cứu khác, B Swartout và các cộng sự định nghĩa “Một Ontology là một cấu trúc phân cấp của một tập các thuật ngữ mô tả một miền mà có thể được sử dụng như một nền tảng khung xương cho cơ sở tri thức” [2] Hình 1.1 phân tích ý nghĩa của khái niệm về Ontology của Studer:
Hình 1.1: Phân tích ý nghĩa của khái niệm về ontology [2]
Nói tóm lại, đứng trên góc độ khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo, ta có thể hiểu một Ontology là một mô tả về một miền ứng dụng nhất định, nó bao gồm các khái niệm, thuộc tính, các thực thể, các mối quan hệ giữa khái niệm, thực thể; ngoài ra
nó còn giải thích ý nghĩa của các khái niệm, mô tả chi tiết về các đặc điểm, tính chất
Trang 13cũng như mối quan hệ giữa các khái niệm trong miền ứng dụng đó Ontology thể hiện một góc nhìn về thế giới
Kỹ thuật Ontology phân tích các thực thể có liên quan trong một miền thế giới thực và tổ chức chúng vào các khái niệm và các mối quan hệ Hay nói cách khác là kỹ thuật Ontology mô hình hóa, trừu tượng hóa thế giới thực vào một mô hình bao gồm các thành phần phân cấp có liên quan và các mối quan hệ giữa chúng Có thể xét một
ví dụ về tổ chức con người trong một công ty Trong miền này có các khái niệm là con người, quản lý, chuyên gia là các thành phần có liên quan Trong đó khái niệm thứ nhất là khái niệm cha của hai khái niệm còn lại Và cộng tác với có thể xem xét là một
quan hệ có liên quan giữa những con người này [1] Hình 1.2 mô phỏng mối quan hệ giữa các thể hiện trong miền này
Hình 1.2: Mô phỏng quan hệ giữa các thành viên trong một công ty [1]
Trang 14Thể hiện (instance) có thể xem là đại diện của một lớp Thể hiện làm rõ hơn về một lớp và nó là một đối tượng thực nào đó trong tự nhiên Ví dụ Obama, bệnh ung thư,…
Thuộc tính (property) mô tả các khía cạnh, đặc điểm của các lớp và các thể hiện [3] Chẳng hạn như một “bệnh” có thuộc tính là “triệu chứng”, một “người” có các thuộc tính là “năm sinh”, “giới tính”, “quê quán”,… Thuộc tính biểu thị quan hệ nhị phân giữa thể hiện với thể hiện hoặc thể hiện với giá trị
Quan hệ (relation) trong Ontology biểu thị mối quan hệ giữa các lớp hoặc giữa lớp với các thể hiện Có các quan hệ như: “lớp cha của”, “lớp con của”, “một phần của”,…
1.1.3 Các bước xây dựng ontology
Bước 1: Xác định miền và phạm vi của Ontology
Trong bước này cần giải đáp được các câu hỏi chính: “Ontology sẽ bao phủ miền nào?”, “Ontology phục vụ cho những mục đích nào?”, “Những kiểu câu hỏi thông tin
mà ontology có thể cung cấp câu trả lời?”, “Ai là người sử dụng và bảo trì ontology?” Mặc dù câu trả lời có thể thay đổi trong suốt quá trình xây dựng ontology nhưng chúng
sẽ giúp việc phát triển luôn nằm trong phạm vi, không đi quá xa miền cần làm việc [3]
Bước 2: Xem xét việc tái sử dụng các ontology có sẵn
Đây là một bước quan trọng Việc tái sử dụng các ontology có sẵn có liên quan đến miền đang xét giúp người phát triển tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí
Bước 3: Liệt kê các thuật ngữ quan trọng trong ontology
Ở bước này cần xác định các thuật ngữ chính và các thể hiện của chúng Việc viết ra danh sách các thuật ngữ ta muốn đưa vào ontology là rất hữu ích và có thể sử dụng để giải thích với người dùng Chẳng hạn trong ontology về rượu ta có các thuật ngữ chính: wine, grape, winery, location, a wine’s color, body, flavor, sugar content…
Bước 4: Tạo các lớp và phân cấp các lớp
Ở bước này, ta có ba cách tiếp cận khi thực hiện phân cấp các lớp sau khi định nghĩa chúng: hướng tiếp cận top – down, hướng tiếp cận bottom – up, hướng tiếp cận middle – out
Trang 15Hướng tiếp cận top – down được thực hiện bằng việc định nghĩa khái niệm tổng quan nhất của miền và sau đó chuyên biệt hóa (làm mịn) khái niệm này Chẳng hạn ban đầu ta xác định hai lớp tổng quát nhất cho ontology bao gồm Wine và Food Sau
đó, lớp Wine được chuyên biệt bằng cách tạo ra các lớp con của nó: White wine, Red wine, Rosé wine [3]…
Ngược lại với hướng tiếp cận top – down, hướng tiếp cận bottom – up được thực hiện bằng việc thiết lập các lớp cụ thể nhất, sau đó xây dựng các lớp cha của các lớp này bằng cách nhóm các lớp nhỏ này thành các lớp lớn hơn dựa theo đặc điểm chung Kết hợp hai hướng tiếp cận top – down và bottom – up ta có một hướng tiếp cận khác là middle – out Hướng này được thực hiện bằng cách định nghĩa các các thuật ngữ có cấp độ trung tâm, sau đó tiến hành tổng quát hóa và chuyên biệt hóa chúng bằng cách gộp thành các lớp cha và định nghĩa các lớp con của chúng
Bước 5: Định nghĩa các thuộc tính cho lớp
Ở bước này công việc chính là mô tả cấu trúc nội tại của các khái niệm Hay nói các khác là cung cấp đầy đủ thông tin để trả lời các câu hỏi năng lực trong bước 1 [3]
Bước 6: Định nghĩa các khía cạnh cho các thuộc tính
Thuộc tính có các khía cạnh khác nhau mô tả kiểu giá trị (xâu, số nguyên, số thực,…), giá trị cho phép, số lượng của giá trị, Chẳng hạn thuộc tính “name” trong ontology về rượu có kiểu là String [3]
Bước 7: Định nghĩa các thể hiện
Bước cuối cùng của việc phát triển ontology là việc tạo các thực thể thể hiện trong cây phân cấp Để thực hiện được điều này, ta cần làm theo ba bước: (1) chọn một lớp, (2) tạo các thực thể thể hiện cho lớp, (3) điền các giá trị thuộc tính [3] Chẳng hạn như trong ontology về rượu ta tạo ra một thể hiện có tên là A, màu Trắng, giá 90$,…
1.2 Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp
1.2.1 Điều khiển quy trình kinh doanh trong doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được cho mình nhiều tiền thông qua một vài cải tiến nhỏ trong tổ chức [11]
Trong nghiên cứu kinh điển về quản lý có tính khoa học của mình, Taylor đã lập
luận để phản bác quan điểm cho rằng các nhà quản lý không phải lo lắng về động cơ
Trang 16thúc đẩy nhân viên, và chỉ đơn thuần là nhắc nhở nhân viên của mình về nhiệm vụ của
họ là đủ Theo Taylor, nhà tuyển dụng chỉ có thể tìm cách nâng cao hiệu quả công việc nếu chắc chắn được nhân viên của họ được đào tạo thích hợp và có điều kiện làm việc tốt Trong khi đó, theo nghiên cứu cùng thời gian của Fayol, ông đánh giá cao về vai trò của “thiết bị điều khiển” Fayol định nghĩa một thiết bị điều khiển như là một hệ thống quan sát bao gồm hiện tại, quá khứ và tương lai, trong đó sự đóng góp của các thành viên giàu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên, cùng với thông tin từ các nguồn bên ngoài, tạo cơ hội tốt nhất cho hội đồng quản trị để ước lượng những hậu quả có thể
có của quyết định của mình
Trên một phương diện khác, chúng ta biết rằng máy tính có thể tính toán bất cứ thứ gì miễn là người dùng cung cấp đủ dữ liệu để nó làm việc [11] Và máy tính ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các tổ chức nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Việc tận dựng sự ưu việt của máy tính nói chung và các hệ thống nói riêng đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cho doanh nghiệp (giải quyết nhanh, tiết kiệm thời gian, nhân lực, chi phí,…)
Đó là lý do vì sao các doanh nghiệp thường mua một ứng dụng phần mềm gọi là
hệ thống thông tin doanh nghiệp (viết tắt là EIS) như lựa chọn cho mình một cách hoạt động nhằm mang lại hiệu quả cao nhất
1.2.2 Mối quan hệ giữa kinh doanh và CNTT
Mặc dù chúng ta thấy rõ vai trò quan trọng của máy tính và công nghệ thông tin đối với hoạt động của doanh nghiệp, nhưng không phải bài toán áp dụng công nghệ thông tin cho doanh nghiệp nào cũng có lời giải thỏa đáng Henderson và Venkatraman cho rằng sự thiếu liên kết giữa các hoạt động kinh doanh và CNTT gây
ra nhiều khoản đầu tư CNTT thất bại Còn theo Dietz, hiệu quả của các hoạt động của các doanh nghiệp chính là kết quả của việc thiết kế các tổ chức Cũng nghiên cứu về vấn đề này, Reijswoud van và Mulder đánh giá rằng, hiện nay có một khoảng cách giữa cách tiếp cận cho việc mô hình hóa quy trình kinh doanh vào mô hình hóa hệ thống thông tin Do khoảng cách này, các bản dịch của các quy trình kinh doanh vào một hệ thống thông tin (và ngược lại) không chính xác, và do đó sự liên kết của các doanh nghiệp và CNTT đã trở nên khó khăn [11]
Như vậy, cần có một phương pháp luận cho việc tạo ra một hệ thống thông tin hỗ trợ dựa trên thiết kế của việc xây dựng một tổ chức Barjis nhấn mạnh rằng việc thực hành hai thập kỷ qua cho thấy sự thất bại của hệ thống phần mềm, bên cạnh đó ông
Trang 17còn nhấn mạnh nguyên nhân là do sự nghèo nàn của mô hình Các hệ thống này không phải do lỗi kỹ thuật, mà vì họ không hỗ trợ đầy đủ các quy trình kinh doanh cơ bản Ông đề cập đến một cuộc khảo sát do Tập đoàn Standish tiến hành trong quản trị CNTT chỉ ra rằng chỉ có 29% các dự án phần mềm thành công, trong khi 53% bị kiện
và 18% hoàn toàn thất bại Theo các nhà quản trị CNTT, lý do chính cho các dự án phần mềm bị thách thức hoặc thất bại là mô hình khái niệm nghèo [11]
Dietz lập luận rằng một phương pháp để thiết kế một hệ thống thông tin hỗ trợ từ việc thiết kế tổ chức phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng C4E, tức là, nó phải được chặt chẽ, toàn diện, phù hợp, ngắn gọn và thiết yếu [9] Chặt chẽ có nghĩa là quá trình làm việc trong phương pháp này phải tạo thành một tổng thể hợp lý và không thể tách rời Toàn diện là nó phải bao gồm tất cả các khía cạnh liên quan cần thiết để chuyển từ một mô hình tổ chức kinh doanh sang một mô hình tổ chức thông tin và sau đó vào một mô hình của một hệ thống thông tin thực hiện được Phù hợp ở đây được hiểu là phương pháp tiếp cận không được có các bất thường Thiết yếu tức là phương pháp phải được áp dụng phổ biến
1.2.3 Vai trò của hệ thống thông tin
Như mục 2.1 đã nói, hệ thống thông tin doanh nghiệp thường được các tổ chức lựa chọn như một cách hoạt động của mình Tuy nhiên, phải chấp nhận một điều là khi phát triển hệ thống, nhà phát triển ngoài tổ chức ban đầu sẽ không biết được doanh nghiệp hoạt động như thế nào Và vấn đề này được hai bên thống nhất giải quyết trong quá trình triển khai hệ thống Do đó trong quá trình phát triển, hệ thống đôi lúc phải thay đổi nhiều cho phụ hợp với tổ chức Điều này cần hạn chế để đảm bảo về thời gian
và chi phí
Các nhà nghiên cứu thường tự hỏi rằng liệu các công ty có mua đúng phần mềm
mà họ cần thiết hay không Nghĩa là các phần mềm không chỉ cần cho hiện tại, mà còn cần cho tương lai gần Câu hỏi này xuất phát từ thực tế là các doanh nghiệp chỉ thực hiện một phần ứng dụng của phần mềm mà họ đã mua; các doanh nghiệp thi thoảng cũng băn khoăn liệu tổ chức của họ có bị lệch khỏi hệ thống mà họ đã triển khai; và các doanh nghiệp đôi khi thấy rằng hệ thống chính là rào cản đối với sự thay đổi [11] Vậy mối quan hệ giữa một tổ chức với một hệ thống thông tin được hiểu như thế nào? Rõ ràng là một hệ thống thông tin doanh nghiệp sẽ hỗ trợ các nhân viên của công
ty cải thiện hiệu suất làm việc của họ Hệ thống xuất hiện trong tổ chức cho biết cách thức vận hành của tổ chức đến mức độ nào đó tùy thuộc vào việc xây dựng hệ thống
Trang 18Theo Joop de Jong, một hệ thống có các mức độ khác nhau: nó được xem như là một công cụ để vận hành một phần tổ chức kinh doanh Trong doanh nghiệp, hệ thống ngầm xác định mối quan hệ hoạt động của con người trong một tổ chức Nó hỗ trợ các thông tin mà con người cần và ghi nhớ các công việc mới được tạo để làm cho chúng trở thành thông tin sẵn có sau này
Như vậy, điều quan trọng cần xác định khi triển khai hệ thống đó là làm thế nào
để phát triển một hệ thống thông tin doanh nghiệp phù hợp với tổ chức và làm thế nào
để ta có thể biết được một hệ thống thông tin doanh nghiệp cần có những gì mà tổ chức cần?
1.3 Ontology doanh nghiệp
1.3.1 Khái quát
Theo định nghĩa của Dietz, một ontology doanh nghiệp là một đặc tả chính quy
và rõ ràng của một khái niệm hoá chia sẻ giữa một cộng đồng người của một doanh nghiệp (hoặc một phần của nó) [4] Nói cách khác, ontology cung cấp một hiểu biết chung về một miền, tạo điều kiện thông tin liên lạc giữa con người và hệ thống [10] Nói chung, các hoạt động phát triển ontology bao gồm đặc tả, khái niệm, hình thức hóa, thực thi và bảo trì Khái niệm hóa là một trong những hoạt động chính trong quá trình phát triển ontology Các cấu trúc hoạt động khái niệm hóa tri thức miền với các mô hình có ý nghĩa ở mức độ tri thức Mục tiêu của một quá trình khái niệm hóa là
để cung cấp một mô hình miền ít chính thức hơn so với mô hình thực hiện nhưng hơn định nghĩa của mô hình trong ngôn ngữ tự nhiên [10].Trong khóa luận này, ontology được trình bày ở mức mô hình đặc tả
1.3.2 Vai trò của ontology doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp nói riêng và các tổ chức nói chung, mô hình ontology
về tổ chức có vai trò quan trọng Ontology doanh nghiệp tập trung vào bản chất của các hoạt động của một tổ chức, tức là nó hoàn toàn độc lập với sự thực hiện và triển khai của tổ chức Nó cung cấp một góc nhìn khách quan về tổ chức và hỗ trợ doanh nghiệp phân tích, thiết kế và xây dựng hệ thống thông tin cho mình Hay nói cách khác, ontology cung cấp một mô hình khung xương cho việc phân tích, thiết kế và xây dựng một hệ thống thông tin doanh nghiệp
Theo Mike Uschold và các cộng sự [14], Ontology doanh nghiệp như là một phương tiện truyền thông, đặc biệt là giữa:
Trang 19- Những con người với nhau, bao gồm cả người dùng và nhà phát triển
- Con người và các hệ thống tính toán được thực thi
- Các hệ thống khác nhau
Các tác giả cũng nhận định thêm là, tầm quan trọng của ontology doanh nghiệp còn được mở rộng để hỗ trợ:
- Tiếp nhận, biểu diễn và thao tác với tri thức doanh nghiệp;
- Cấu trúc hóa và tổ chức các thư viện của tri thức;
- Giải thích các lý do, đầu vào, đầu ra của các mô-đun của bộ công cụ doanh nghiệp
Trong nghiên cứu của mình, Joop de Jong có nói đến một số vai trò quan trọng của ontology doanh nghiệp Trong đó đáng lưu ý là ba chi tiết sau: Thứ nhất, mô hình ontology của tổ chức thông tin cung cấp một mô hình độc lập với thực hiện để ghi nhớ, phát sinh và cung cấp các sự kiện phối hợp và các sự kiện sản xuất Thứ hai, mô hình ontology của tổ chức dữ liệu cung cấp một mô hình độc lập thực hiện để lưu trữ, chuyển và lấy tài liệu Thứ ba, mô hình ontology của tổ chức vật lý cung cấp mô hình độc lập thực hiện để lưu trữ, sao chép, hủy, truyền tải và lấy các tập tin (tài liệu in) [11]
Tóm lại, sự sẵn có của một mô hình ontology mở rộng của doanh nghiệp là yêu cầu cần thiết cho sự phát triển hoặc lựa chọn một hệ thống thông tin Mô hình ontology cung cấp một góc nhìn khách quan về tổ chức và hỗ trợ chúng ta phân tích, thiết kế và xây dựng hệ thống thông tin cho doanh nghiệp Theo quan điểm của Joop
de Jong, mô hình ontology này phải được coi là điểm khởi đầu cho việc thiết kế các tình huống khác nhau cho hệ thống thông tin được phát triển hoặc lựa chọn
Trang 20Chương 2 Phương pháp xây dựng ontology doanh nghiệp dựa trên các lý thuyết về tổ chức
2.1 Các lý thuyết về tổ chức
2.1.1 Lý thuyết
Lý thuyết φ là một lý thuyết về khái niệm hóa của tri thức thực tế Lý thuyết này
có nguồn gốc từ ký hiệu học, ontology và logic Trong ký hiệu học, tam giác ký hiệu học được biểu diễn trong hình 2.1 [11]:
Hình 2.1: Tam giác ký hiệu học [5]
Trong sơ đồ trên, các biểu tượng được sử dụng như đại diện của các đối tượng để
có thể giao tiếp về các đối tượng mà không cần đến sự hiện diện của đối tượng Các ký
hiệu cơ bản trong sơ đồ là dấu hiệu, đối tượng và khái niệm Trong đó, một khái niệm
có trong tâm trí của một đối tượng con người, dấu hiệu (thuật ngữ hoặc biểu tượng) chỉ định các khái niệm, đối tượng (những thứ thực tế) được gọi bởi các khái niệm và
biểu thị bằng dấu hiệu Đối tượng là một thứ có thể nhận biết được Chẳng hạn như một người, một chiếc xe hơi, hợp đồng cho thuê,…
Joop de Jong nhận định rằng đối tượng không phải lúc nào cũng là một cái gì đó
mà ta có thể nhìn thấy (ta không thể thấy “một hợp đồng cho thuê”) Đối tượng hiện diện trong thế giới chủ quan Nó có thể được phát hiện thông qua thuộc tính của nó Nhưng không có sự hiện diện trong thế giới khách quan, một hình ảnh của đối tượng tồn tại trong tâm trí của người quan sát Hầu hết các giao tiếp giữa con người đề cập
Trang 21đến hình ảnh chung của các đối tượng Một hình ảnh của một đối tượng được lưu giữ trong tâm trí được gọi là khái niệm [11]
Vấn đề cần xem xét ở đây là mối quan hệ giữa các đối tượng và thông tin Thông tin đề cập đến một đối tượng Thông tin có thể được xem như là tính hai mặt không thể tách rời của một dấu hiệu và khái niệm nó chỉ định Các dấu hiệu được gọi là hình thức thông tin và khái niệm được gọi là nội dung của thông tin
Vấn đề thứ hai được đề cập liên quan đến các đối tượng là thuật ngữ “đối tượng” được định nghĩa rất rộng rãi Nó không chỉ bao gồm các đối tượng vật lý (một cây, máy móc, một đồng hồ, một mảnh đồ nội thất,…), mà còn là các đối tượng trừu tượng (hợp đồng thuê, một dự án, một khoản vay, một cuộc hôn nhân,…)
Tam giác ký hiệu học không chỉ áp dụng cho các khái niệm cụ thể mà còn cho những trường hợp tổng quát Theo Dietz: “Một khái niệm tổng quát được gọi là một loại và một đối tượng tổng quát được gọi là một lớp Một lớp là phần mở rộng của một loại, và một loại là nội hàm của một lớp” Mối quan hệ giữa các thành phần này được biểu thị như hình bình hành ontology (hình 2.2)
Hình 2.2: Hình bình hành ontology [5][11]
Hình bình hành ontology sẽ là cơ sở để phát triển các ontology Tại mọi thời điểm, thế giới luôn ở trong một trạng thái đặc biệt và được xác định là một tập hợp các đối tượng Thế giới một tổ chức cũng như thế Và hoạt động của một tổ chức dẫn đến một quá trình chuyển đổi của “thế giới của tổ chức” Một quá trình chuyển đổi được định nghĩa là một sự thay đổi trạng thái của thế giới tại một điểm cụ thể trong thời
Trang 22gian Dietz lập luận, “trạng thái của thế giới đối tượng” phản ánh sự ảnh hưởng của các hành vi sản xuất được hình thành bởi các yếu tố của hệ thống
Chúng ta đều biết rằng một tổ chức là rất phức tạp Do đó cách tốt nhất để kiểm tra một hệ thống phức tạp là xây dựng một mô hình của hệ thống này Theo Apostel thì bất kỳ đối tượng nào sử dụng một hệ thống A trực tiếp hoặc gián tiếp tương tác với một hệ thống B, để có được thông tin về hệ thống B, thì sử dụng A như một mô hình cho B [11] Theo định nghĩa này, một hệ thống được coi là một mô hình nếu hệ thống được sử dụng như một mô hình Dietz phân chia hệ thống thành ba loại: hệ thống cụ thể, hệ thống biểu tượng, và hệ thống khái niệm Mối quan hệ giữa các loại này được thể hiện trong hình 2.3 Hệ thống khái niệm được coi là một mô hình khái niệm của hệ thống cụ thể bằng cách khái niệm hóa Các hệ thống khái niệm được coi là một mô hình khái niệm của hệ thống biểu tượng bằng cách giải thích Ngược lại, hệ thống cụ thể được xem là một mô hình cụ thể của hệ thống khái niệm thông qua việc thực hiện các hệ thống khái niệm Hệ thống biểu tượng được coi là một mô hình biểu tượng của
hệ thống khái niệm sau khi xây dựng hệ thống khái niệm
Hình 2.3: Tam giác mô hình [11]
2.1.2 Lý thuyết
Trong nghiên cứu của mình, Dietz nói rằng, lý thuyết bắt nguồn từ hệ thống học, ontology và lý thuyết thiết kế Theo Joop de Jong, lý thuyết này mô tả quy trình chung của việc phát sinh một hệ thống đối tượng từ một hệ thống đang sử dụng Chẳng hạn, nguồn gốc của các tổ chức thông tin là từ các tổ chức kinh doanh Từ hệ thống đang dùng, các mô hình chức năng của hệ thống đối tượng sẽ được xác định Sau đó
Trang 23mô hình cấu trúc độc lập thực hiện của hệ thống đối tượng, cũng được biết đến như mô hình ontology, được thiết kế từ mô hình chức năng của hệ thống đối tượng Nhiều mô hình thực hiện thay thế có thể được tạo ra từ mô hình ontology
Chúng ta có thể xem đây là một lý thuyết cho phát triển các tổ chức mà đại diện
là các hệ thống Ở đây, phát triển hệ thống được hiểu là việc sinh ra một hệ thống mới hoặc thay đổi hệ thống hiện có Mọi quá trình phát triển đều liên quan đến hai hệ thống, đó là hệ thống đang sử dụng (US) và hệ thống đối tượng (OS) Kể từ đây, hai hệ thống này lần lượt được viết tắt là hệ thống US và hệ thống OS Hệ thống OS là hệ thống sẽ được phát triển Hệ thống US là hệ thống sẽ sử dụng dịch vụ (chức năng) của
hệ thống đối tượng [11]
De Jong chia quá trình phát triển một hệ thống hoàn chỉnh thành ba đoạn lớn: thiết kế, chế tạo và thực hiện
Đầu tiên là giai đoạn thiết kế Giai đoạn này có hai công việc chính là “thiết
kế chức năng” và “thiết kế cấu trúc” Thiết kế chức năng bắt đầu từ cấu trúc của US và kết thúc với chức năng của OS Trong đó chức năng của OS phải được xác định đầy đủ
và chỉ về mặt cấu trúc của US Thiết kế cấu trúc thì ngược lại hoàn toàn Nó bắt đầu với chức năng cụ thể của OS và nó kết thúc với cấu trúc của OS
Đầu vào chính cho việc thiết kế chức năng là tập hợp các yêu cầu chức năng được cung cấp bởi US Các yêu cầu này không nhất thiết phải giống với các đặc tả chức năng như trong mô hình chức năng của OS Thứ nhất, các yêu cầu có thể là không có cơ sở Thứ hai, cả chức năng và đặc biệt là các đặc tả cấu trúc phải có tính khả thi để thực hiện (với công nghệ có sẵn và ngân sách)
Theo De Jong, thiết kế tổng thể của một hệ thống được hiểu là một quá trình các bước phân tích và tổng hợp xen kẽ Trong một bước phân tích, vấn đề được hiểu rõ hơn; một bước tổng hợp là một trong đó giải pháp trở nên rõ ràng hơn Trong “Ghi chú
về các Tổng hợp các mẫu” của mình, Alexander nói rằng quá trình thiết kế thực tế không phải là một bước (lớn) thiết kế chức năng, tiếp theo là một bước (lớn) thiết kế cấu trúc, mà là một chuỗi (nhỏ) các bước phân tích và tổng hợp xen kẽ Trong một bước phân tích, một sự hiểu biết tốt hơn chính là đạt được các yêu cầu của hệ thống người dùng Trong một bước tổng hợp, một sự hiểu biết tốt hơn là đạt được cách mà
hệ thống có thể được tạo ra [11]
Nói chung, việc thiết kế bao hàm đàm phán, để đi đến quả cuối cùng là một sự thỏa hiệp cân bằng giữa yêu cầu (hợp lý) và đặc tả (khả thi) Các yêu cầu cấu trúc
Trang 24được cung cấp bởi US phải được hiểu là đầu vào chính cho giai đoạn này Chúng thường được gọi là yêu cầu phi chức năng
Tiếp theo sẽ thảo luận về chế tạo và thực hiện Trong phần này, Ontology và công nghệ đóng vai trò quan trọng Sau đó, ontology hoặc mô hình ontology của một
hệ thống là một mô hình cấu trúc của nó độc lập hoàn toàn với cách mà hệ thống được được thực hiện Đây chính là mô hình cấu trúc cấp cao nhất của hệ thống [11]
Hình 2.4: Quy trình phát triển một tổ chức tổng quát (GSDP) [5]
Việc chế tạo một hệ thống là hoạt động trong đó một loạt các mô hình cấu trúc được sinh ra Mỗi mô hình hoàn toàn có thể suy ra từ một mô hình trước đó và các đặc
tả có sẵn Trái với thiết kế, kỹ nghệ có đặc tính thủ công hơn là sáng tạo Kỹ nghệ bắt đầu từ mô hình ontology và kết thúc với mô hình thực hiện Do đó, kỹ nghệ cũng được gọi là thiết kế thực thi Việc thực thi một hệ thống được hiểu là sự phân bổ phương tiện kỹ thuật vào các thành phần cấu trúc trong mô hình thực thi Sau khi thực thi một cách chính xác, hệ thống có thể được đưa vào hoạt động
Hình 2.4 trình bày quá trình phát triển một tổ chức tổng quát của Dietz Các tổ chức tồn tại nhằm đóng góp vào mục tiêu của các bên liên quan Sự đóng góp vào mục tiêu của các bên liên quan có thể được tìm thấy trong các mô hình chức năng của OS Thiết kế của mô hình cấu trúc của tổ chức bắt đầu với mô hình chức năng và kết thúc với mô hình cấu trúc độc lập thực thi ở mức cao nhất của tổ chức Từ mô hình
Trang 25ontology này, mô hình thực thi có thể được thiết kế thông qua quá trình thiết kế thực thi
2.1.3 Lý thuyết
Dietz là một nhà nghiên cứu tập trung vào các công trình liên quan đến hệ thống thông tin doanh nghiệp nói chung và ontology doanh nghiệp nói riêng Trong đó ông
sử dụng lý thuyết ψ làm nền tảng cho khái niệm ontology doanh nghiệp Dietz sử dụng
lý thuyết này để xây dựng một phương pháp cung cấp một mô hình ontology của một
tổ chức, đó là một mô hình chặt chẽ, toàn diện, nhất quán và chính xác, và nó chỉ cho thấy bản chất của các hoạt động của một mô hình tổ chức [7]
Theo Diezt thì lý thuyết ψ là một lý thuyết về bản chất của các tổ chức Nó làm
rõ và giải thích việc xây dựng và hoạt động của tổ chức Theo đó, nguyên tắc hoạt động của các doang nghiệp là các tác nhân (nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp) nhập vào và thực hiện các cam kết liên quan đến các sản phẩm (dịch vụ) mà họ sản xuất trong sự hợp tác với nhau Trên lý thuyết này, có thể hiểu doanh nghiệp như một
hệ thống xã hội, trong đó các thành phần con người đóng vai trò như các cá nhân xã hội, có các thẩm quyền thích hợp và các trách nhiệm tương ứng Từ đây, chúng ta có một ý niệm hiệu quả về ontology doanh nghiệp [11]
Như vậy, lý thuyết xem tổ chức như một hệ thống xã hội mà các phần tử và các liên kết tác động giữa các phần tử đại diện cho vai trò của người thực hiện và các giao dịch tương ứng Trong một nghiên cứu năm 2006 của mình, Dietz nói rằng lý thuyết bao gồm bốn tiên đề, đó là tiên đề hoạt động, tiên đề giao dịch, tiên đề thành phần, và các tiên đề phân biệt Bốn tiên đề này cũng như là các định lý về tổ chức Tiên đề hoạt động nói rằng các hoạt động của tổ chức được thiết lập bởi các hoạt động của những người thực hiện trong tổ chức Họ thực hiện hai loại hành vi: hành vi sản xuất, viết tắt là hành vi P, và hành vi phối hợp, viết tắt là hành vi C Những hành động này có kết quả nhất định, đó là sự kiện P và sự kiện C tương ứng Bằng cách thực hiện hành vi P, người thực hiện giúp tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc thông tin hoặc
dữ liệu và những kết quả này được gửi đến người khác Một hành động P có thể là hành động vật chất hoặc phi vật chất Chẳng hạn như hành động sản xuất ra một hàng hóa là hành động vật chất, trong khi đó hành động ra quyết định của ban giám đốc là một hành động phi vật chất
Tiên đề giao dịch cho biết hành vi phối hợp được thực hiện như các bước trong
mô hình phổ quát Các giao dịch này lúc nào cũng liên quan đến hai tác nhân Họ đều
Trang 26nhằm mục đích là đạt được một kết quả cụ thể, đó là sự kiện P Hình 2.5 và 2.6 cho thấy các mô hình giao dịch chuẩn Một giao dịch phát triển theo ba giai đoạn: giai đoạn ra lệnh (giai đoạn O), giai đoạn thực hiện (giai đoạn E), và giai đoạn kết quả (giai đoạn R) Một trong hai tác nhân được gọi là người khởi xướng còn người kia chấp hành của các giao dịch Trong giai đoạn ra lệnh, người khởi xướng và người thực hiện thảo luận để đạt được sự đồng thuận về sự kiện P mà người thực hiện sẽ tạo ra cũng như thời gian dự kiến của công việc này Ở đoạn thực hiện, người thực hiện tạo sự kiện P đã được thảo luận trước đó Trong giai đoạn kết quả, người khởi xướng và người thực hiện thảo luận để đạt được sự đồng thuận về sự kiện P đã thực sự được tạo
ra cũng như thời gian thực tế để làm điều đó Chỉ khi đạt đươc thỏa thuận này thì sự kiện P mới tồn tại Chi tiết về giao dịch giữa hai tác nhân được mô tả như hình dưới bởi Dietz
Hình 2.5: Mẫu giao dịch chuẩn (Dietz) [5][6][11]
Trang 27Hình 2.6: Kí hiệu giao dịch chuẩn trong mô hình DEMO [11]
Trong hình 2.5, trên cùng là giai đoạn ra lệnh Ở giai đoạn này, đầu tiên người khởi xướng sẽ ra một yêu cầu tới người thực hiện (rq) Sau đó người thực hiện xem xét
và có hai hướng giải quyết, một là từ chối (dc) nếu cảm thấy không khả thi, hai là cam kết sẽ làm Nếu người thực hiện từ chối, hai người sẽ thương thảo lại (dc hai vòng tròn) và người ra yêu cầu có hai hướng đi, hoặc là ra yêu cầu lại hoặc là không ra yêu cầu nữa Trong trường hợp người thực hiện cam kết sẽ thực hiện (pm) thì hai người sẽ
đi đến thỏa thuận về lời hứa trên Sau khi cam kết sẽ thực hiện, quy trình chuyển sang giai đoạn xử lý (giai đoạn O) Khi giai đoạn xử lý kết thúc, quy trình chuyển sang giai đoạn kết quả Ở đầu giai đoạn này, người thực hiện tuyên bố về công việc mà mình đã thực hiện (st) với người ra yêu cầu Người ra yêu cầu có hai hướng, một là chấp nhận (ac) kết quả, khi đó quy trình kết thúc, ngược lại là chối bỏ (rj), hai người thảo luận lại (rj hai vòng tròn) về vấn đề và người thực hiện có thể tuyên bố lại hoặc kết thúc (sp) Tiên đề thành phần nói về mối quan hệ của các giao dịch và các sự kiện tạo ra kết quả của chúng Tiên đề này có nội dung là mọi giao dịch đều được bao bọc trong một
số giao dịch khác Có một ví dụ kinh điển được các nhà khoa học lấy làm ví dụ cho tiên đề này đó là xem xét quá trình lắp ráp một chiếc xe đạp Việc tạo nên một chiếc xe đạp không phải chỉ do một hành động mà là sự lắp ráp của một số phần (nguyên tử) Một phần nguyên tử không thể được lắp ráp từ các thành phần khác Một chiếc xe có thể xem xét như là một cấu trúc cây của các phần, cả các phần nguyên tử và các cụm lắp ghép Việc tạo ra mỗi phần là kết quả của một giao dịch hoàn chỉnh Trình tự logic của cấu trúc thành phần sẽ thiết đặt trình tự mà các giao dịch sẽ được thực hiện
Tiền đề khác biệt cho biết có ba khả năng khác nhau của con người trong vai trò người thực hiện công việc, đó là trình diễn, thông tin và theo mẫu Những khả năng này được ghi nhận vào trong cả hai loại hành động mà họ thực hiện
Trang 28Cuối cùng là định lý tổ chức Định lý này phát biểu rằng tổ chức của doanh nghiệp là một hệ thống xã hội được hình thành như là sự tích hợp của ba hệ thống đồng nhất: tổ chức B, tổ chức I và tổ chức D Tác nhân D trong tổ chức D hỗ trợ tác nhân I trong tổ chức I trong khi tác nhân I trong tổ chức I hỗ trợ tác nhân B trong tổ chức B
Trước đây ta chưa từng nói đến một tác nhân B là một tác nhân O, một tác nhân I hay là một tác nhân D Các nhà nghiên cứu xem xét trong nghiên cứu của mình tổ chức B là tổ chức chỉ chứa tác nhân O Cả ba hệ thống được gọi là các hệ thống khía cạnh của tổ chức tổng thể của doanh nghiệp Một hệ thống có thể được nhìn nhận từ hai quan điểm khác nhau, đó là quan điểm chức năng hoặc quan điểm cấu trúc Do đó chức năng của hệ thống hỗ trợ (chẳng hạn tổ chức I) là cung cấp cấu trúc của hệ thống được hỗ trợ (chẳng hạn tổ chức B) Sự tích hợp giữa ba tổ chức được hình thành thông qua sự gắn kết thống nhất của con người Cụ thể, lấy tổ chức I làm điểm khởi đầu, theo quan điểm chức năng, tổ chức I cung cấp dịch vụ thông tin cho tổ chức B, tức là các tác nhân O Tuy nhiên, làm thế nào để một tác nhân O thực sự nhận được thông tin từ một tác nhân I? Điều này cần đến tiên đề khác biệt [11]
2.2 Mô hình hóa tổ chức dựa trên các lý thuyết về tổ chức
2.2.1 Giới thiệu
Phần này tập trung vào cách thông thường để mô hình hóa bản chất của một tổ chức trong miền kỹ thuật doanh nghiệp Phương pháp được sử dụng ở đây là DEMO, viết tắt của Design and Engineering Methodology for Organization Tổ chức của một doanh nghiệp được hiểu như là một tổ chức xã hội và được tích hợp từ ba tổ chức khía cạnh là tổ chức B, tổ chức I và tổ chức D [7]
Hình 2.7: Ba tổ chức khía cạnh của một tổ chức [7]
Trang 29Ba tổ chức khía cạnh của một tổ chức được Dietz mô hình hóa như tháp tam giác trong hình 2.7 Trong tháp này, các tổ chức tầng dưới hỗ trợ cho tầng trên Việc xây dựng các mô hình ontology cho tổ chức I và tổ chức D được gọi là nhận thức rõ về tổ
chức [11] Phần tiếp theo sẽ tập trung vào vấn đề nhận thức rõ về tổ chức (realizing the
organization) Trong đó tổ chức có thể hiểu là một doanh nghiệp, một phần của doanh nghiệp hoặc vượt quá phạm vi của một doanh nghiệp
xe có thể được thuê bởi một người đặt hàng trước hoặc bởi một người vào thuê đột xuất Một hợp đồng cho thuê ghi rõ ngày bắt đầu và kết thúc của dịch vụ cho thuê Chi nhánh nơi bắt đầu cho thuê được gọi là chi nhánh pick-up, chi nhánh nơi kết thúc dịch
vụ thuê gọi là chi nhánh drop-off Một dịch vụ cho thuê có thời hạn cho thuê rõ ràng Người thuê xe được gọi là người thuê Người sẽ lái xe được gọi là lái xe Một dịch vụ thuê chỉ được bắt đầu nếu người lái xe có bằng lái xe hợp lệ Ngoài ra, một chiếc xe của loại được yêu cầu (hoặc một sự thay thế) phải có sẵn Ngay sau khi xe của một dịch vụ thuê được đưa đến chi nhánh drop-off, việc cho thuê có thể được kết thúc, với điều kiện là phí phát sinh đã được thanh toán Khoản phí này có thể bao gồm một số yếu tố Trước tiên, có phí cơ bản (số lần ngày tỷ lệ mỗi ngày) Tiếp theo, có thể có một khoản phí phạt vì vượt quá thời gian này (số ngày thêm lần mức hình phạt trở lại muộn) Cuối cùng, một phí khác phải trả nếu xe được trả tại một chi nhánh khác so với thoả thuận (phí này phụ thuộc vào khoảng cách giữa các chi nhánh)
Mô hình thứ nhất là mô hình cấu trúc (Construction Model – CM), quy định cụ thể các loại giao dịch được định nghĩa và các vai trò tác nhân được kết hợp, cũng như các đường liên kết thông tin giữa các vai trò tác nhân và các ngân hàng thông tin; nghĩa là, CM quy định cụ thể cấu trúc của một tổ chức Đây là mô hình súc tích nhất
Mô hình CM được chia thành hai phần: IAM (Interaction Model) và ISM (Interstriction Model) IAM mô tả các loại giao dịch và các vai trò tác nhân được thừa
Trang 30nhận tham gia vào như là người khởi tạo hoặc người thực thi Các loại giao dịch cùng với các loại kết quả được kết hợp được định nghĩa trong bảng kết quả giao dịch (Transaction Result Table – TRT) ISM thì khác, nó cho biết các liên kết thông tin giữa các vai trò tác nhân và các ngân hàng Nội dung của các ngân hàng được định nghĩa bởi các bảng nội dung ngân hàng (Bank Contents Table – BCT)
Hình 2.8: Mô hình CM của RAC [7]
Hình trên mô tả về mô hình CM của tổ chức thực hiện dịch vụ cho thuê xe RAC nói trên Đầu tiên tác nhân B-CA01 khởi tạo một dịch vụ và yêu cầu đến quản lý B-A01 Hai người này thực hiện giao dịch B-T01 B-A01 sử dụng hai ngân hàng là ngân hàng dữ liệu RAC (B-APB01) và ngân hàng về dữ liệu khách hàng (B-APB02) để kiểm tra điều kiện cho dịch vụ Nếu các thông tin và tài nguyên đáp ứng được yêu cầu thì tác nhân B-AC03 yêu cầu đến B-CA03 để xử lý cho thuê xe (nhận xe tại chi nhánh này) và hai người thực hiện giao dịch B-T03 Tương tự thì các tác nhân B-CA04 và B-CA05 cũng được yêu cầu để thực hiện các giao dịch B-T04 và B-T05 tương ứng Đó là nhận xe và thanh toán Cuối cùng, B-A01 và A-CA02 thực hiện giao dịch B-T02 để kết thúc dịch vụ
Dưới đây là bảng kết quả của các giao dịch được thực hiện trong mô hình và bảng nội dung ngân hàng (BCT) [7]
Trang 31Bảng 2-1: Bảng kết quả giao dịch (TRT)
Bảng 2-2: Bảng nội dung ngân hàng (BCT)
Mô hình khía cạnh thứ hai là mô hình quy trình (PM) PM đặc tả không gian trạng thái và không gian giao dịch của sự kết hợp trong tổ chức Ngoài ra PM còn chứa nguyên nhân và các mối quan hệ điều kiện giữa các giao dịch Một tập các giao dịch
có liên quan đến nguyên nhân được gọi là một quy trình kinh doanh Hình dưới đây
mô tả mô hình PM của dịch vụ cho thuê xe của công ty RAC Mô hình PM như một cấu trúc cây của quy trình thực hiện dịch vụ cho thuê Trong đó có thể hiện rằng có thể
có giao dịch nằm trong một giao dịch khác Chẳng hạn như giao dịch rental payment nằm trong giao dịch rental end Các đường nét đứt biểu thị sự chờ đợi thông tin Các ô
Trang 32vuông nhỏ màu xám thể hiện sự phối hợp Những hình đĩa kéo dài thể hiện có một khoảng thời gian ở các trạng thái
Hình 2.9: Mô hình PM của RAC [7]
Mô hình khía cạnh thứ ba, mô hình hoạt động (AM), quy định cụ thể các quy tắc hoạt động có trách nhiệm như là hướng dẫn cho các tác nhân trong việc giải quyết công việc cần phải làm của họ AM chứa một hoặc nhiều quy tắc hoạt động cho tất cả các loại công việc phải làm AM là mô hình khía cạnh toàn diện nhất và chi tiết nhất
Ở mức ontology của sự trừu tượng hóa, không có gì bên dưới mô hình hoạt động nữa Nghĩa là, đây là mô hình chi tiết nhất Dưới đây là mô hình AM của tác nhân B-A01 [7]
Trang 33Mô hình khía cạnh thứ tư là mô hình sự kiện (FM) Dưới đây là FM của RAC [7]
Hình 2.10: Mô hình sự kiện (FM) của RAC [7]
Trang 34Mô hình sự kiện quy định không gian trạng thái và không gian giao dịch của một thế giới sản xuất: các lớp đối tượng và các loại sự kiện, các loại kết quả, và các quy tắc cùng tồn tại của ontology FM có thể xem như là chi tiết hóa của một phần của CM, cụ thể là nội dung của ngân hàng thông tin (đặc biệt là các ngân hàng sản xuất)
2.2.3 Mô hình hóa tổ chức B
Theo Joop de Jong, từ mô hình CM của tổ chức, phần tương tác của mô hình CM của tổ chức B được suy ra Theo đó, mô hình mới không chứa các đường liên kết thông tin Các đường liên kết thông tin được thể hiện trong mô hình được tích hợp từ
tổ chức B và tổ chức I như các giao dịch thông tin Bên cạnh đó, mô hình PM và mô hình FM cũng không có sự thay đổi giữa mô hình bản chất tổ chức và mô hình tổ chức
B Chẳng hạn, ta có mô hình CM của một quầy bán pizza như sau [11]:
Hình 2.11: Mô hình CM của quầy bán bánh pizza [11]
Từ mô hình CM trên, mô hình CM của tổ chức B được sinh ra như hình dưới trong đó các đường liên kết thông tin đã được bỏ đi (hình 2.12)