Trong dạy học toán những bài trình chiếu đa phần chỉ mang tính minhhọa người học chỉ xem và tiếp nhận tri thức chứ chưa tương tác với máy tính.Những mô hình dạy học toán tích cực được th
Trang 1DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt, ký hiệu Ý nghĩa chữ viết tắt, ký hiệu
Trang 2tế và đó là một xu thế của giáo dục thế giới.
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một nhiệm vụ quan trọng củatoàn ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Để đào tạo ra nhữngcon người phát triển toàn diện đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Hiện nay, vai trò của CNTT đối với giáo dục trên thế giới đã đượckhẳng định Ở nước ta việc sử dụng CNTT trong việc dạy học tại trường phổthông tuy đã phát triển, nhưng trên thực tế cho thấy để thực sự việc ứng dụngCNTT đi vào chiều sâu và phát triển hiệu quả thì trong quá trình dạy và họcphải khai thác tối đa được các tính năng của công nghệ truyền thông
Trong dạy học toán những bài trình chiếu đa phần chỉ mang tính minhhọa người học chỉ xem và tiếp nhận tri thức chứ chưa tương tác với máy tính.Những mô hình dạy học toán tích cực được thiết kế bằng phần mềm động trênmáy tính cung cấp những hình ảnh trực quan về các ý tưởng toán học, thúcđẩy việc sắp xếp và phân tích các dữ liệu, tính toán một cách chính xác vàtrong quá trình tương tác với máy tính học sinh (HS) có thể tập trung vào việcđưa ra quyết định, phản ánh để giải quyết vấn đề
Nghiên cứu của các chuyên gia trên thế giới đã chỉ ra rằng: HS có thểhọc toán được nhiều hơn, sâu hơn với việc sử dụng mô hình toán tích cực Hơnnữa giáo viên (GV) không dừng lại ở mức minh họa cho HS hiểu mà còn có thểkhai thác tương tác với phần mềm toán nhằm hình thành những ý tưởng mới
Trang 3Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Thiết kế một
Trang 4số bài giảng giúp HS giải bài tập hình học phẳng ở trường Trung học phổ thông (THPT) với sự hỗ trợ của phần mềm Vi thế giới”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu khả năng tương tác với phần mềm Vi thế giới để vận dụngvào dạy học giải một số bài tập hình học phẳng theo hướng thiết kế kịch bảnhướng dẫn HS tương tác với phần mềm để chiếm lĩnh tri thức
3 Giả thiết khoa học
Nếu thiết kế được các kịch bản sư phạm để HS tương tác với phần mềm
Vi thế giới thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải bài tập hình họcphẳng, góp phần đổi mới PPDH
4 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những tài liệu về PPDH giải bài tập môn toán, các tài liệuliên quan đến bài tập hình học phẳng trong bậc phổ thông
Nghiên cứu việc lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học giải một sốbài tập hình học phẳng với sự hỗ trợ của phần mềm Vi thế giới về mặt mụctiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
Thiết lập môi trường có dụng ý sư phạm thông qua đó người học cóthể học tập trong hoạt động (HĐ) Tìm hiểu thông tin về các trang WEB, diễnđàn dạy học toán trên mạng về giải một số bài tập hình học phẳng với sự hỗtrợ của phần mềm Vi thế giới
+ Phương pháp điều tra quan sát
Quan sát, điều tra kết quả quá trình vận dụng dạy học giải một số bàitập hình học phẳng ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của phần mềm Vi thếgiới
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Giảng dạy một số giáo án dạy bài tập hình học phẳng ở trường phổthông được thiết kế với sự hỗ trợ của phần mềm Vi thế để kiểm tra tính khả
Trang 5thi và hiệu quả của phương án đề ra tại trường THPT Cô Tô Huyện Cô Tô
+ Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu điều tra thu được
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II Thiết kế các phương án dạy học hình học phẳng với sự hỗtrợ của phần mềm Vi thế giới
Chương III Thực nghiệm sư phạm (TNSP)
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Định hướng đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường THPT
Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập đangđòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Mục tiêu giáodục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiếnthức, kỹ năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡngcho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Trong quá trình dạyhọc, cùng với những thay đổi về mục tiêu, nội dung, cần có những thay đổicăn bản về PPDH (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả hình thức, phương tiện, kiểmtra và đánh giá) Thực trạng của PPDH hiện nay là GV thường cung cấp cho
HS những tri thức dưới dạng có sẵn, thiếu tính tìm tòi, phát hiện; việc GV dạychay, áp đặt kiến thức khiến HS thụ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.Đây là những lý do dẫn đến nhu cầu đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêu cầuđào tạo con người lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Các nhà khoa học giáo dục nước ta đã khẳng định hướng đổi mớiPPDH trong giai đoạn hiện nay là: “PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho
HS học tập trong HĐ và bằng HĐ tự giác, tích cực và sáng tạo được thực hiệnđộc lập hoặc trong giao lưu” [11, tr.389] Định hướng trên có những hàm ýsau đây:
- Xác lập vị trí chủ thể của HS, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo củaHS
- Quá trình dạy học là xây dựng những tình huống có dụng ý sư phạm cho HShọc tập trong HĐ và bằng HĐ, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
- Chế tạo và khai thác những phương tiện phục vụ quá trình dạy học
Trang 7- Tạo niềm lạc quan trong học tập dựa trên quá trình lao động và thành quả của
HS trong quá trình lao động
- Xác định vai trò mới của GV với tư cách người thiết kế, ủy thác, điều khiển
và cụ thể hóa
Dạy học giải bài tập
Vai trò của bài tập trong quá trình dạy học
Trong dạy học toán, Bài tập có vai trò giá mang HĐ học tập của HS.Thông qua giải bài tập, HS phải thực hiện những HĐ nhất định bao gồm cảnhận dạng và thể hiện định nghĩa, định lý, quy tắc hay phương pháp, những
HĐ toán học phức hợp, những HĐ trí tuệ phổ biến trong toán học, những HĐtrí tuệ chung và những HĐ ngôn ngữ Vai trò của bài tập toán học được thểhiện trên ba bình diện:
+ Xét về bình diện về mục tiêu dạy học: Bài tập toán học ở trường phổthông là giá mang những HĐ mà việc thực hiện các HĐ đó thể hiện mức độđạt mục tiêu
+ Xét về bình diện về nội dung dạy học: Những bài tập toán học là giámang HĐ liên hệ với những nội dung nhất định, một phương tiện để cài đặtnội dung để hoàn chỉnh hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trìnhbày trong phần lý thuyết
+ Xét về bình diện về PPDH: Bài tập toán học là giá mang HĐ đểngười học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở đó thực hiện cácmục tiêu dạy học khác Khai thác tốt những bài tập như vậy sẽ góp phần tổchức cho HS học tập trong HĐ và bằng HĐ tự giác, tích cực, chủ động vàsáng tạo được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
Trong thực tiễn dạy học, bài tập được sử dụng với những dụng ý khácnhau về PPDH: Đảm bảo trình độ xuất phát, gợi động cơ, làm việc với nộidung mới, củng cố hoặc kiểm tra,… Đặc biệt là về mặt kiểm tra, bài tập là
Trang 8phương tiện để đánh giá mức độ, kết quả dạy và học, khả năng làm việc độc lập và trình độ phát triển của HS.[11, tr.388-398].
Các yêu cầu đối với lời giải bài tập toán
- Kết quả đúng, kể cả các bước trung gian Như vậy, lời giải không thể chứa những sai lầm tính toán, vẽ hình, biến đổi biểu thức,…
- Lập luận chặt chẽ tức luận đề phải nhất quán, luận cứ phải đúng, luận chứng phải hợp lôgic
- Lời giải đầy đủ có nghĩa là lời giải không được bỏ sót một trường hợp nào
- Ngôn ngữ chính xác
- Trình bày rõ ràng, đảm bảo tính mỹ thuật
- Tìm ra nhiều cách giải, chọn cách giải ngắn gọn, hợp lý nhất
- Nghiên cứu giải những bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn đề ,
…
Định hướng dạy học giải bài tập toán
* Phương pháp chung để giải bài toán
Không có một thuật giải tổng quát để giải mọi bài toán, tuy nhiên, trang
bị những hướng dẫn chung, gợi ý các suy nghĩ tìm tòi, phát hiện cách giải bàitoán là cần thiết Dựa trên tư tưởng tổng quát cùng với những gợi ý chi tiếtcủa Polya (1975) về cách thức giải bài toán đã được kiểm nghiệm trong thựctiễn dạy học có thể nêu ra phương pháp chung để giải bài toán như sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài
- Phát biểu đề bài dưới những dạng thức khác nhau để hiểu rõ nội dung bài toán;
- Phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải chứng minh;
- Có thể dùng công thức, ký hiệu, hình vẽ để hỗ trợ việc diễn tả đề bài
Trong bước một, cần lưu ý:
Trang 9+ Đâu là cái phải tìm? Đâu là cái đã cho? Cái phải tìm có thể thỏa mãn các điều kiện cho trước hay không? Hay chưa đủ? Hay thừa? Hay có mâu thuẫn?
Trang 10+ Hãy vẽ hình, hãy sử dụng ký hiệu sao cho thích hợp.
+ Phân biệt các phần khác nhau của điều kiện Có thể diễn tả các điềukiện đó thành công thức hay không?
Bước 2: Tìm cách giải
- Tìm tòi, phát hiện cách giải nhờ những suy nghĩ có tính chất tìm đoán: biếnđổi cái đã cho, biến đổi cái phải tìm hay phải chứng minh, liên hệ cái đã chohoặc cái phải tìm với những tri thức đã biết, liên hệ bài toán cần giải với mộtbài toán cũ tương tự, một trường hợp riêng, một bài toán tổng quát hơn, haymột bài toán nào đó có liên quan, sử dụng những phương pháp đặc thù vớitừng dạng toán như chứng minh phản chứng, quy nạp toán học, toán dựnghình, toán quỹ tích,…
- Kiểm tra lời giải bằng cách xem lại kỹ từng bước thực hiện hoặc đặc biệt hóakết quả tìm được hoặc đối chiếu kết quả với một số tri thức có liên quan
- Tìm tòi những cách giải khác, so sánh chúng để chọn được cách giải hợp lýnhất
Ở bước 2, GV có thể sử dụng câu hỏi nêu vấn đề chẳng hạn:
+ Bạn đã gặp bài toán này lần nào chưa? Hay đã gặp bài toán này ởmột dạng hơi khác nào chưa?
+ Hãy xem kỹ cái chưa biết và thử nhớ lại một bài toán quen thuộc cócùng cái chưa biết hay có cái chưa biết tương tự?
+ Bạn có biết một bài toán nào có liên quan không? Có thể áp dụngmột định lý nào đó không?
+ Thấy được một bài toán có liên quan mà bạn đã có lần giải rồi, có thể
sử dụng nó không? Có thể sử dụng kết quả của nó không? Hãy sử dụngphương pháp giải bài toán đó Có cần phải đưa thêm một số yếu tố phụ thìmới áp dụng được bài toán đó hay không?
+ Có thể phát biểu bài toán một cách khác hay không? Một cách khác nữa?
Trang 11+ Nếu bạn chưa giải được bài toán đã đề ra thì hãy giải một bài toán cóliên quan và dễ hơn hay không? Một bài toán tổng quát hơn? Có thể thay đổicái phải tìm hay cái đã cho, hay cả hai nếu cần thiết, sao cho cái phải tìm mới
và cái đã cho mới được gần nhau hơn không?
+ Bài toán đã sử dụng mọi cái đã cho hay chưa? Đã sử dụng hết cácđiều kiện hay chưa? Đã để ý một khái niệm chủ yếu trong bài toán chưa?
+ Bạn có thể kiểm tra lại kết quả? Có thể kiểm tra từng bước, thấy mỗibước đều đúng? Bạn có thể kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải bài toán haykhông?
+ Có thể tìm được kết quả một cách khác không? Có thể thấy trực tiếpkết quả hay không?
Bước 3: Trình bày lời giải
+ Từ cách giải đã phát hiện, sắp xếp các việc phải làm thành mộtchương trình gồm các bước theo một trình tự thích hợp và thực hiện các bướcđó
+ Nắm lại toàn bộ cách giải đã tìm ra trong quá trình suy nghĩ
+ Trình bày lại lời giải sau khi đã lược bỏ những yếu tố dự đoán, pháthiện, những yếu tố lệch lạc nhất thời, đã điều chỉnh những chỗ cần thiết
+ Thông qua việc giải những bài toán cụ thể, cần nhấn mạnh để HSnắm được phương pháp chung để giải bài toán và có ý thức vận dụng phươngpháp chung này trong quá trình giải bài toán
Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải
+ Nghiên cứu khả năng ứng dụng kết quả lời giải
+ Nghiên cứu giải những bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn đề.+ Có thể sử dụng kết quả hay phương pháp đó cho một bài toán tương
tự, một bài toán tổng quát hơn hay một bài toán nào khác hay không?
Trang 12+ Cũng thông qua việc giải những bài toán cụ thể, cần đặt cho HSnhững câu hỏi gợi ý đúng tình huống để HS dần dần biết sử dụng những câuhỏi này như những phương tiện kích thích suy nghĩ tìm tòi, dự đoán, phát hiện
Trang 13để thực hiện từng bước phương pháp chung giải toán Những câu hỏi này lúcđầu là do GV nêu ra để hỗ trợ cho HS nhưng dần dần biến thành vũ khí củabản thân HS, được HS tự nêu ra đúng lúc, đúng chỗ để gợi ý cho từng bước đicủa mình trong quá trình giải toán.
Tóm lại, Quá trình HS học phương pháp chung để giải toán là một quá
trình biến những tri thức phương pháp tổng quát thành kinh nghiệm giải toáncủa bản thân HS thông qua việc giải hàng loạt bài toán cụ thể Từ phươngpháp chung giải toán đi tới cách giải một bài toán cụ thể còn là cả một chặngđường đòi hỏi lao động tích cực của người HS, trong đó có nhiều yếu tố sángtạo “Tìm được cách giải một bài toán là một phát minh”.[11, tr.398]
Ứng dụng CNTT trong dạy học toán
Vấn đề khai thác và sử dụng CNTT trong dạy học toán
- Cùng với sự phát triển như vũ bão của CNTT việc nghiên cứu và phát triểncác thế mạnh của CNTT nhằm hỗ trợ quá trình dạy học được nhiều quốc gia
và các nhà giáo dục quan tâm
- Việc sử dụng CNTT trong dạy học toán cho phép tạo ra một môi trường dạyhọc toán hoàn toàn mới với các đặc trưng cơ bản sau:
+ Học tập dựa trên thông tin ngược: CNTT có khả năng cung cấpnhanh và chính xác các thông tin phản hồi dưới góc độ khách quan Từ nhữngthông tin phản hồi cho phép người học đưa ra sự ước đoán của mình và từ đó
có thể thử nghiệm, thay đổi những ý tưởng của người học
+ Quan sát các mô hình: Với khả năng và tốc độ xử lý của CNTT giúpngười học đưa ra nhiều ví dụ khi khám phá các vấn đề trong toán học CNTT
sẽ trợ giúp người học quan sát, xử lý các mô hình, từ đó đưa ra lời chứngminh cho trường hợp tổng quát
+ Phát hiện các mối quan hệ trong toán học: CNTT cho phép tính toánbảng biểu, xử lý đồ họa một cách chính xác và liên kết chúng với nhau Việc
Trang 14cho thay đổi một vài thành phần và quan sát sự thay đổi trong các thành phần còn lại đã giúp người học phát hiện ra các mối tương quan giữa các đại lượng.
+ Thao tác với các hình động: Người học có thể sử dụng CNTT để biểudiễn các biểu đồ một cách sinh động Việc đó đã giúp người học hình dung racác mô hình hình học một cách tổng quát từ hình ảnh của máy tính
+ Khai thác, tìm kiếm thông tin: CNTT cho phép người học làm việctrực tiếp với các dữ liệu thực, từ đó hình dung ra sự đa dạng của nó và sửdụng nó để phân tích hay làm sáng tỏ một vấn đề toán học
+ Dạy học với máy tính: Khi người học thiết kế thuật toán để sử dụngCNTT giúp tìm ra kết quả thì người học hoàn thành dãy các chỉ thị mệnh lệnhmột cách rõ ràng, chính xác Họ đã sắp đặt các suy nghĩ của mình cũng nhưcác ý tưởng một cách rõ ràng
- Theo Colette, một nhà nghiên cứu về dạy học môn toán người Pháp, thì máytính điện tử (MTĐT) có khả năng tạo ra môi trường giải quyết vấn đề(problem sloving environment) cho HS và môi trường đó có vai trò to lớntrong việc kích thích HS tìm tòi, khám phá và từ đó hình thành kiến thức mới.Theo thuyết kiến tạo thì kiến thức HS được tạo nên khi HĐ trong môi trườngtoán học Trong môi trường CNTT HS tiếp thu được bằng chính HĐ thựchành của mình (learning by doing) John Mason (tác giả người Anh) năm
1992 cho rằng các phần mềm máy vi tính về toán có khả năng sử dụng để giảitoán và nghiên cứu khái quát để đi đến việc tìm ra các tính chất toán học.Rosamund Suntherland nghiên cứu về dạy học toán với phần mềm logo kếtluận rằng: “Điều quan trọng nhất khi HS sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu máy tính
là đã có khả năng khái quát hóa toán học”
- Toán học là một môn khoa học trừu tượng, do đó khai thác và sử dụng CNTTtrong dạy và học toán có những đặc thù riêng Ngoài mục tiêu trợ giúp HSchiếm lĩnh kiến thức, thì vấn đề phát triển tư duy suy luận lôgic, óc tưởngtượng sáng tạo toán học và đặc biệt là khả năng tự tìm tòi chiếm lĩnh kiếnthức là một mục tiêu rất quan trọng
Trang 15Sản phẩm của môi trường học tập với sự hỗ trợ của CNTT là những HS
có năng lực tư duy sáng tạo toán học, có năng lực giải quyết các vấn đề vànăng lực tự học một cách sáng tạo Như vậy, việc tổ chức dạy và học với sự
hỗ trợ của CNTT nhằm xây dựng một môi trường dạy - học với ba đặc tínhsau:
+ Tạo ra một môi trường học tập hoàn toàn mới mà trong môi trường này tính chủ động, sáng tạo của HS được phát triển tối đa Người học có điều kiện phát huy khả năng phân tích, suy đoán và xử lý thông tin một cách có hiệu quả.
+ Cung cấp một môi trường cho phép đa dạng hóa mối quan hệ tương tác hai chiều giữa GV và HS.
+ Tạo ra một trường dạy học linh hoạt, có tính mở và cá thể hóa cao
độ Điều khác biệt so với các hình thức dạy học truyền thống là quá trình truyền đạt, phân tích, xử lý thông tin và kiểm tra đánh giá kết quả được GV,
HS thực hiện có sự trợ giúp của CNTT.
Tổ chức dạy học toán trong môi trường CNTT
Sơ đồ số 1.1: Sơ đồ sử dụng MTĐT trong dạy học định lý
Quan sát trực quan,
sinh động
Dự đoán đưa ra nhận định
GV thao tác, HS quan sát
Sử dụng công cụ MTĐT
Suy luận, chứng minh làm sáng tỏ
Trang 16Tổ chức HĐ học “cộng tác” theo nhóm nhỏ:
HS được chia thành các nhóm nhỏ Trang bị tối thiểu mỗi nhóm có mộtmáy tính Nếu các máy tính được nối mạng thì các nhóm có thể chia sẻ thôngtin cho nhau
- Hình thức này có các đặc điểm sau:
+ GV giao nhiệm vụ cho nhóm thông qua định hướng gợi mở hoặc cácphiếu học tập
+ Mỗi nhóm sử dụng chung một máy tính, có trách nhiệm cộng tác,chia sẻ những ý tưởng của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm cũngnhư của bản thân
- Hình thức làm việc theo nhóm có những ưu điểm sau:
+ HS có nhiều cơ hội để thể hiện, trao đổi những suy nghĩ của bản thân.Thay vì chỉ một mình GV thao tác, trình bày, ở hình thức này, mỗi người trongnhóm đều có thể trực tiếp làm việc với các đối tượng toán học và cả nhóm luônsẵn sàng đón nhận những nhận định, phán đoán của mỗi thành viên
+ Mỗi cá nhân ngoài việc làm việc trực tiếp với phần mềm, còn có khả năng nhận được sự hỗ trợ không chỉ ở GV mà của cả nhóm, qua đó làm tăng hiệu quả học tập của cả HS được giúp đỡ và HS giúp đỡ bạn khác, khả năng thành công của mỗi nhóm đều tăng
+ Những HS kém có khả năng, cơ hội bày tỏ và học hỏi nhiều hơn ở chính các thành viên trong nhóm Ví dụ, trong dạy học định lý, có thể tổ chức các HĐ học tập như sau:
Nhóm cùng làm việc, thảo luận giúp đỡ lẫn nhau,
GV điều khiển
M ôi trường ICT
Suy luận chứng minh, làm sáng tỏ
Sơ đồ số1.2: Sơ đồ sử dụng MTĐT dạy học định lý trong lớp chia nhóm
Quan sát trực quan,
sinh động
Dự đoán đưa ra nhận định
Trang 17Hình thức này có các đặc điểm chính như sau:
+ HS có điều kiện phát huy khả năng của bản thân
+ Trong một thời điểm có thể giải quyết được nhiều bài toán khác nhau.+ Phù hợp với khả năng nhận thức của HS trong một lớp Tùy năng lực của bản thân mà HS đảm nhận những nhiệm vụ vừa sức
+ Đòi hỏi trình độ phân tích, tổng hợp vấn đề của GV ở mức độ cao.d.
Sử dụng phương tiện ICT dạy một nội dung ngắn:
Quỹ thời gian sử dụng phương tiện ICT chỉ khoảng 1 đến 3 phút nhằm mục đích đưa ra tình huống có vấn đề, gợi mở, kiểm chứng những suy đoán nhận định trong quá trình tìm lời giải hoặc minh họa kết quả lời giải Hình thức này thường được tổ chức trong lớp học với số đông GV có thể cho một vài HS trực tiếp thao tác với máy tính Hình thức này tận dụng được thời gian lên lớp và đặc biệt phù hợp hơn cả là các tiết dạy nội dung mới
e.
Sử dụng phương tiện ICT để dạy trọn vẹn một phần của bài học:
Với mục đích sử dụng phần mềm để giải quyết trọn vẹn một nội dung cụthể trong tiết học nên quỹ thời gian sử dụng phương tiện có thể kéo dài từ 5đến 10 phút Qua việc thao tác với phần mềm, HS phát hiện và giải quyết trọnvẹn một vấn đề Hình thức này có thể sử dụng với lớp học số đông hoặc học tậptheo nhóm HĐ sử dụng, khai thác phần mềm được tiến hành đan xen với HĐkhác nên giờ học sẽ sinh động phù hợp với tâm lý lứa tuổi HS
f.
Sử dụng phương tiện CNTT dạy trọn vẹn một tiết học :
Trong hình thức này, bài giảng được thiết kế thành một hệ thống liên kết chặt chẽ phối hợp đan xen các HĐ của GV và HS để đạt được mục đích
Trang 18của giờ giảng Điều đặc biệt là bài giảng được thiết kế nhằm khai thác tối
đa sự hỗ trợ của phần mềm và MTĐT Với hình thức này, thời lượng sửdụng bảng đen sẽ không như các giờ học khác vì một phần nội dung kiếnthức được thiết kế sẵn trong các slide và GV chiếu lên màn hình thay choviết bảng
g.
Sử dụng ICT trong kiểm tra đánh giá:
HĐ chính của nội dung này là sử dụng MTĐT trợ giúp HS giải bài tập,kiểm tra nhận thức của HS, cụ thể:
+ Giao cho mỗi nhóm HS hoặc mỗi HS một máy tính HS tự sử dụngphần mềm để tìm tòi cách giải quyết vấn đề và hoàn thành nhiệm vụ được giao
+ Kiểm tra nhận thức của HS bằng ngân hàng điện tử: Toàn bộ câu hỏi
và đáp án được thiết kế nạp sẵn trong máy Mỗi HS được phát ngẫu nhiên mộtphiếu kiểm tra HS sẽ chọn phương án trả lời bằng cách sử dụng chuột hoặcbàn phím đánh dấu câu trả lời mà HS cho là đúng Kết quả chấm điểm đượcmáy tính tự động cập nhật và thông báo kết quả ra màn hình
h.
Trợ giúp HS tự học:
Trong điều kiện nhiều HS được trang bị máy tính tại nhà riêng thì đây
là hình thức cần được khuyến khích và khai thác sử dụng vì thời lượng HS tựhọc ở ngoài là rất lớn, mặt khác nó không trói buộc HS về mặt thời gian, địađiểm, cụ thể:
+ GV giao nhiệm vụ, HS sử dụng phần mềm độc lập tìm tòi và đưa racách giải quyết vấn đề GV kiểm tra, nhận định lại kết quả
+ GV thiết kế nhiệm vụ học tập ghi trong các tệp tin HS mở tệp tin,theo hướng dẫn và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ GV có thể thiết kế nhiệm vụtheo từng liều để HS có thể tự học theo chu trình rẽ nhánh
+ Sử dụng các bài giảng “Gia sư điện tử”- toàn bộ nội dung kiến thức
HS lần lượt kích chọn những nội dung cần học và tìm hiểu nội dung đó qua
Trang 19các ví dụ đi kèm Kết thúc mỗi mục có bài tập cho HS tự kiểm tra đánh giánhận thức của mình Sau khi giải xong bài tập hoặc có khó khăn, HS có thể
mở lời giải hoặc hướng dẫn để tham khảo
Như vậy hiệu quả của quá trình này phụ thuộc hoàn toàn vào tính chủđộng, tích cực và sự hướng đích của HS
Quy trình dạy học toán với sự hỗ trợ của ICT
Trong các giờ lên lớp, HĐ của GV và HS có tích hợp với một số HĐthành phần có sử dụng ICT, như vậy quy trình chuẩn bị trước giờ lên lớp vàthực hiện lên lớp có những nét đặc thù riêng Quy trình tích hợp ICT vào dạyhọc có thể tiến hành theo hai cách sau:
* Quy trình tuần tự, độc lập (thực hiện lần lượt các công đoạn)
Bước 1 : Tiến hành soạn giáo án “nền”: GV xác định mục đích, yêu
cầu, nội dung cụ thể của giờ dạy và tiến hành soạn giáo án “nền” Giáo án
“nền” là giáo án dùng cho giờ dạy theo hình thức thông thường
Bước 2: Lựa chọn các HĐ có thể tích hợp với việc sử dụng CNTT: GV
tìm tòi phát hiện các HĐ có thể khai thác thế mạnh CNTT để tăng cường tínhtích cực hóa quá trình nhận thức trong HĐ học tập của HS
Bước 3: Tin học hóa nội dung bài giảng: Tìm hiểu các phần các phần
mềm và phương tiện kỹ thuật để thiết kế các modul phù hợp với các nội dung
đã lựa chọn để tích hợp vào giờ dạy
Bước 4: Hoàn chỉnh soạn lại giáo án tích hợp: Soạn lại giáo án, xác
định mục đích yêu cầu đối với HĐ học của HS trong từng modul nhỏ và thểchế hóa các HĐ của HS thông qua các phiếu học tập
Bước 5 : Tổ chức dạy học: Chuẩn bị phương tiện kỹ thuật, bố trí chỗ
ngồi trong lớp Hướng dẫn HS chuẩn bị các kiến thức liên quan trước giờ học.Tiến hành giờ dạy theo giáo án đã chuẩn bị
Trang 20Lựa chọn các HĐ sử dụng ICT
Sử dụng phần mềm thiết kế các modul
Tích hợp các modul và giáo án
Tổ chức dạy học với giáo án TH- ICT
Xử lý các thông tin phản hồi Xác định mục đích, yêu cầu, nội dung bài học
Bước 6 : Đánh giá kết quả: Kiểm tra kết quả nhận thức của HS thông
qua bài kiểm tra và các thông tin phản hồi để quay lại bước 1 điều chỉnh chophù hợp
Như vậy nét đặc trưng trong mô hình này là từng công đoạn gần nhưđộc lập với nhau, sau khi hoàn thành công đoạn này mới chuyển sang côngđoạn sau
* Quy trình “kế tiếp không tuần tự”
Đặc trưng khác biệt và cũng là thể hiện rõ tính “công nghệ” là các giaiđoạn không tiến hành độc lập với nhau Trong khi thực hiện một bước nào đó,thấy ở bước trước đó có gì chưa phù hợp hoặc phát hiện ra phương án “tốiưu” hơn thì ta quay lại điều chỉnh cho phù hợp
Trong quy trình này từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 là công đoạn “khó khăn” của người soạn giáo án, vì đây là giai đoạn phải tin học hóa các liều lượng kiến thức Nội dung kiến thức được “mã hóa” dưới dạng các đối tượng
mà máy tính có thể hiểu và thực hiện được
Sơ đồ số1.3: Quy trình kế tiếp không tuần tự có hỗ trợ của ICT
Trang 21* Phiếu học tập - một yếu tố quan trọng trong mô hình dạy học với
+ Nhiệm vụ mà HS phải đạt được sau khi xử lý thông tin
- Thời gian để HS hoàn chỉnh phiếu học tập là một yếu tố cần phải quan tâm.Khối lượng công việc trong mỗi phiếu học tập phải mang tính vừa sức đa số
HS trong lớp có thể hoàn thành đúng thời hạn
- Hệ thống câu hỏi trong mỗi phiếu học tập thường có 3 mức độ:
+ Mức độ 1: Là hệ thống các câu hỏi cụ thể, đơn giản, chủ yếu yêu
cầu HS tái hiện các tri thức cũ hoặc phản ánh trung thực khách quan các sựkiện, đối tượng toán học mà mình đang thao tác hay quan sát
+ Mức độ 2: Là hệ thống các câu hỏi đòi hỏi HS phải biết vận dụng các
kiến thức đã biết vào các tình huống phức tạp hơn hoặc phải biết khám phánhững thuộc tính đang còn ẩn bên trong các đối tượng, sự kiện toán học mà
HS đang khám phá
+ Mức độ 3: Là hệ thống các câu hỏi hướng dẫn HS tự rút ra được các
tri thức thông qua quá trình làm việc với tri thức và các đối tượng toán học
Để trả lời được các câu hỏi này đòi hỏi ở HS khả năng phân tích, tổng hợp,khái quát hóa nhất định
Ví dụ, Phiếu học tập hướng dẫn HS giải bài tập: Cho nửa đường tròn
đường kính AB = 2R Lấy điểm C di động trên nửa đường tròn Đường tròn
Trang 22tâm (C; CA) cắt tia BC tại điểm M không thuộc đoạn BC Tìm tập hợp điểmM?
Trang 23Những HĐ HS cần thực hiện Kết quả làm việc của HS Mức độ câu hỏi
HĐ 1: Tìm hiểu nội dung
đề bài
Hãy mở tệp 1.1
[?] Hãy xác định bài toán?
Phân tích đầu bài
[?] Hãy xác định yếu tố cố
định, yếu tố không cố định của
bài toán khi thay đổi vị trí
điểm C trên nửa đường tròn?
Thay đổi vị trí điểm C thay
trên nửa đường tròn (O; AB )
M chạy trên cung tròn
∆ACM vuông cân
Mức độ 2
Trang 24vị tự V(A; 2 ).
Tập hợp điểm M là nửađường tròn (O1) là ảnh củacung BCA qua phépquay Q(A;450) và phép
vị tự
V(A; 2 ), O1 là trung điểm
Mức độ 2Mức độ 1
Mức độ 2
Mức độ 2
HĐ 3: Trình bày lời giải
[?] Hãy trình bày chi tiết lời giải ? Mức độ 2
Vì ∆CAM vuông cân tại C nên CAM = 450; AM = 2
AC
Vậy M là ảnh của C qua hai phép biến hình liên tiếp là
phép quay Q(A;450) và phép vị tự V(A; 2 ) Do C chạy trên
nửa đường tròn, A cố định nên tập hợp điểm M là nửa
đường tròn tâm O1 là ảnh của cung BCA qua phép
đồng
dạng H với O1 là ảnh của O qua phép đồng dạng H
Mức độ 1Cho điểm C di chuyển và quan sát quỹ tích do máy tính
đưa ra
HĐ 4: Nghiên cứu sâu lời giải
[?] Thay đổi vị trí điểm C dần đến điểm B, hãy nhận xét tập
hợp M có đi qua điểm đối xứng của A qua O1?
Không Vì khi B ≡C tia BC không tồn tại
Mức độ 2
Trang 25[?] Nhận xét gì về tập hợp điểm M khi C chạy trên đường
tròn (O;AB )?
2
Tập hợp điểm M là hai nửa đường tròn
Hãy cho điểm C chạy để minh họa kết quả
Trong giờ học phiếu học tập được phát cho từng cá nhân hoặc từngnhóm HĐ sử dụng phiếu học tập được thực hiện xen kẽ trong quá trình lênlớp GV căn cứ vào nhiệm vụ ghi trong phiếu học tập mà phân phối thời gianhợp lý để đa số HS hoàn thành nhiệm vụ Khi cần kiểm tra lại nhận thức của
HS một cách chi tiết thì GV có thể yêu cầu HS ghi tên vào phiếu học tâp vànộp lại cho GV
- Nếu sử dụng hợp lý phiếu học tập trong dạy học sẽ mang lại hiệu quả vì:+ Việc xác định mục tiêu bài học rất rõ ràng, cụ thể Với phiếu học tập
GV có thể định ngay ra từ đầu những kiến thức, kỹ năng mà HS phải đạt đượctrong giờ học Qua phiếu học tập GV có điều kiện đầu tư hơn cho việc xâydựng ở HS phương pháp học tập và đặc biệt là phương pháp tự học
+ Bằng các phiếu học tập, HĐ chủ đạo trong mỗi tiết học chuyển từ HĐcủa GV sang HĐ của HS Qua HĐ giao tiếp của các thành viên trong một nhóm để cùng hoàn thành nhiệm vụ quy định trong phiếu học tập đã kích thíchcác HĐ giao tiếp giữa HS với HS, giữa HS với GV và giữa các nhóm HS
Trang 26+ Thông qua phiếu học tập, GV có thể tăng thêm liều lượng trong cáccâu hỏi để yêu cầu HS tăng cường khả năng tư duy một cách tích cực sángtạo.
Một vấn đề mang tính đặc trưng ở đây là HĐ của HS trong quá trìnhthực hiện phiếu học tập có sử dụng sự hỗ trợ của ICT Theo hướng dẫn ghitrong phiếu, HS có thể mở các modul đã được GV thiết kế sẵn để nghiên cứu,tìm tòi, khám phá Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, để nhấn mạnh nhữngyếu tố toán học ẩn chứa trong những thông tin ban đầu, GV cho HS tự mìnhthiết kế nên các modul trong máy tính
Nhận định
Việc khai thác có hiệu quả sự hỗ trợ của ICT sẽ tác động một cách tíchcực tới các HĐ dạy và học bởi các yếu tố sau:
- Tính linh động, mềm dẻo: Người học bị thu hút bởi những thông tin và quá
trình xử lý thông tin trên máy tính, từ đó truy tìm nguyên nhân vấn đề
- Tính hệ thống: Người học có thể điều chỉnh nhận thức của mình trong hệ
thống kiến thức để nắm được vấn đề, điều hòa mâu thuẫn giữa bế tắc bối rốitrước vấn đề mới và tính tò mò ham muốn tìm hiểu khám phá
- Tính kết hợp: Người học được làm việc trong nhóm nên khai thác được những
ưu điểm và động viên sự đóng góp tối đa của từng cá nhân
- Tính mục đích: Người học cố gắng, tích cực tập trung cao độ vào các HĐ tìm
hiểu, khám phá, nhận thức cho được tri thức
- Tính đàm thoại: Học là một HĐ xã hội, quá trình đối thoại giữa người học với
nhau sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc nắm bắt được kiến thức không chỉ trong mà cảngoài trường học
- Tính ngữ cảnh: HĐ học được đặt ở vị trí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
các HĐ của thế giới thực hoặc đóng vai HS môi trường cơ sở, do đó tạo ra được một ngữ cảnh mang tính tích cực thúc đẩy việc học của HS
Trang 27- Tính phản ảnh: Với sự hỗ trợ của các công cụ, người học kết nối lại những gì
họ được học và thu nhận những phản ánh trong các quá trình từ máy tính để
đi đến những quyết định đúng đắn.[5, tr.6-17]
Thực trạng việc dạy học giải bài tập hình học phẳng ở trường
THPT
Các dạng bài tập hình học phẳng trong chương trình toán THPT
Dạng 1: Các bài toán về đường thẳng
- Phương trình đường thẳng
- Chuyển dạng phương trình đường thẳng
- Lập phương trình đường thẳng
- Vị trí tương đối của điểm và đường thẳng, của hai đường thẳng
- Điểm - Quỹ tích điểm
- Đường cong cố định tiếp xúc với họ đường thẳng Dạng
2: Các bài toán về đường tròn
- Phương trình đường tròn
- Lập phương trình đường tròn
- Vị trí tương đối của điểm và đường tròn, đường thẳng và đường tròn, hai đường tròn
- Tiếp tuyến của đường tròn, tiếp tuyến chung của hai đường tròn
- Điểm và quỹ tích điểm liên quan đến đường tròn Dạng
3: Các bài toán về ba đường côníc
- Lập phương trình chính tắc và các thuộc tính của một đường Côníc
- Lập phương trình một đường Côníc
- Vị trí tương đối của điểm, đường thẳng và một đường Côníc
- Điểm - Quỹ tích điểm liên quan đến một đường Côníc
- Tiếp tuyến của ba đường Côníc
- Khoảng cách từ một điểm, đường thẳng tới một Côníc
Trang 28Dạng 4: Các bài toán về phép biến hình
- Phép dời hình: Phép đối xứng trục, Phép tịnh tiến, Phép quay
- Các điểm thuộc đường tròn và các đường tròn đồng quy
- Chứng minh song song và vuông góc
- Chứng minh thẳng hàng và đồng quy
- Các bài toán tổng hợp: điều kiện cần và đủ phương pháp phản chứng, chứng minh một đại lượng không đổi,
Một số khó khăn của HS khi giải bài tập hình học phẳng
Để tìm hiểu khó khăn trong việc giải bài tập hình học phẳng ở trường THPT vùng Quảng Ninh, chúng tôi đã tiến hành:
- Phát phiếu điều tra, tìm hiểu về khó khăn trong việc học giải bài tập ở 5trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh: Trường THPT Cô Tô QuảngNinh; Trường THPT Ba Chẽ Quảng Ninh; Trường THPT Hải Đảo QuảngNinh; Trường THPT Bình Liêu Quảng Ninh; Trường THPT Đầm Hà QuảngNinh
- Trực tiếp trao đổi với đồng môn và HS tại các trường đã đến điều tra
Trang 29- Phân tích kết quả học tập của các em HS qua các bài kiểm tra hình học phẳng theo định kỳ.
Trang 30- Trao đổi, hỏi thăm ý kiến của các chuyên gia và các cựu GV bộ môn toán.
Kết quả thu được cho thấy, các khó khăn cụ thể của HS khi giải bài tập
hình học phẳng như sau:
a.
Các bài toán về phương pháp tọa độ trong mặt phẳng :
- Đối với bài tập phương trình, lập phương trình, chuyển dạng phương trình, vịtrí tương đối, khoảng cách của các đối tượng hình học, tiếp tuyến của đườngtròn và đường cônic: Khó khăn chủ yếu là việc số lượng công thức nhiều,
HS có thể phác họa ra ngay phương hướng làm bài nhưng việc áp dụng côngthức hay bị nhầm lẫn dẫn đến kết quả sai lệch
- Đối với bài tập về điểm - tập hợp điểm, quỹ tích điểm: Khó khăn chủ yếu của
HS là việc tìm mối liên hệ giữa các yếu tố cố định và yếu tố không cố định,việc nhận định tập hợp điểm, quỹ tích điểm thuộc đường thẳng hay cung tròn
mà đường thì thuộc đường nào và cung tròn thì thuộc cung nào
b.
Các bài toán về phép biến hình, phép dời hình:
- Đối với các bài tập về việc xác định ảnh của điểm của hình qua phép biếnhình, phép đồng dạng Xác định phép biến hình, phép đồng dạng biến điểm,hình thành điểm hình: Khó khăn của HS là rất khó xác định ảnh và tạo ảnhcủa các điểm, các hình
- Đối với các bài tập về tìm tập hợp, quỹ tích của điểm của hình qua phép biếnhình: Khó khăn của HS là xác định mối liên hệ của yếu tố cố định với yếukhông cố định Để xác định phép biến hình nào, phép đồng dạng nào biến điểmliên quan đến yếu tố cố định thành điểm liên quan đến yếu tố không cố định
c.
Các bài toán về vectơ:
- Đối với các bài tập về chứng minh đẳng thức vectơ, phân tích một vectơ theo nhiều vectơ: HS gặp khó khăn trong việc phân tích ngược tức là cách tách một vectơ thành nhiều vectơ
Trang 31- Đối với các bài tập về vectơ thường chứa đựng nhiều yếu tố trừu tượng cao,khó khăn về tư duy hình học cho HS.
d.
Các bài toán về chứng minh đẳng thức, bất đẳng thức, cực trị hình
học, chứng minh quan hệ song song, quan hệ vuông góc, :
Khó khăn là có một khối lượng kiến thức lớn được học trong chươngtrình trung học cơ sở
Ngoài ra quá trình tìm hiểu còn cho thấy:
- Có không nhiều HS đam mê và yêu thích môn hình học vì đòi hỏi các em phải
có óc tư duy, trí tưởng tượng và khả năng suy luận logic cao
- Nhiều HS đưa ra phương án học hình học là phải học thuộc tất cả lý thuyết sau
đó mới làm tới bài tập mà không nghĩ là học qua lý thuyết, làm bài tập thật dễ(dễ đến bất ngờ) để củng cố lý thuyết, sau đó sẽ làm bài tập khó hơn
- Khả năng vẽ hình và dựng hình của HS yếu mà rất nhiều dạng bài khi làmphải yêu cầu vẽ đúng hình theo giả thiết đầu bài cho thì mới có cơ hội làmđúng
- Một yếu tố không kém phần quan trọng là người GV lên lớp đối với nhữngdạng bài hình học khó như tìm quỹ tích, xác định tập hợp điểm thì đườngbước rõ ràng nhưng dài dòng, khó phân tích, ít xuất hiện trong các kỳ thi tốtnghiệp hoặc tuyển sinh Dẫn đến GV do dạy theo xu thế ra đề thi nên có thểchữa qua loa hoặc bỏ qua một số bước coi là hiển nhiên làm HS rất lúng túngkhi gặp các dạng toán đó
- Một yếu tố gây nhiều khó khăn cho HS khi làm bài toán tìm quỹ tích, xácđịnh tập hợp điểm đó là việc tìm mối liên hệ giữa các yếu tố cố định và yếu tốkhông cố định Mà đối với dạng bài toán này thì việc phân tích ngược thườnggặp nhiều khó khăn Còn phân tích xuôi thì chỉ thích hợp với GV vì nó nhưcon đường mòn mà người GV đã qua nhiều còn HS thì chưa qua
Trang 32Trước kết quả điều tra các nhà trường, tổ bộ môn toán nơi khảo sát đãđưa ra một vài biện pháp để khắc phục những tồn tại trong dạy học giải bàitập hình học phẳng như sau:
- Lên kế hoạch xây dựng một hệ thống các bài tập phù hợp trong chương trình
từ dễ đến khó để HS có thể đánh giá đúng thực lực của mình
- Tổ bộ môn lên kế hoạch chi tiết việc ra các câu hỏi và bài tập: Bài tập dễ thìđặt ra ngay trên lớp trong giờ lý thuyết nhằm củng cố kiến thức vừa học vàgiảm tải số lượng bài tập trong giờ bài tập Bài tập khó hơn một chút của bàihọc trước thì có thể kiểm tra trên lớp vào mười lăm phút đầu giờ của tiết họcmới Bài tập khó hơn thì có thể cho HS trình bày lời giải vào tiết luyện tậphoặc các tiết tự chọn trong chương trình
- Phát huy và quan tâm hơn đến việc ứng dụng ICT để hỗ trợ quá trình giảngdạy được hiệu quả hơn
1.4.5 Tìm hiểu phân tích thực trạng việc dạy học giải bài tập hình học phẳng ở trường THPT với sự hỗ trợ của phần mềm
Để tìm hiểu thực trạng việc dạy và học giải bài tập hình học phẳng ởtrường THPT với sự hỗ trợ của phần mềm chúng tôi đã tiến hành:
- Phát phiếu điều tra, tìm hiểu về thực trạng việc dạy học giải bài tập hình họcphẳng với sự hỗ trợ của phần mềm ở 5 trường trường THPT trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh gồm: Trường THPT Cô Tô tỉnh Quảng Ninh; Trường THPT BaChẽ tỉnh Quảng Ninh; Trường THPT Hải Đảo tỉnh Quảng Ninh; TrườngTHPT Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh; Trường THPT Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh
- Trực tiếp trao đổi với đồng môn và HS tại các trường đã đến điều tra
Trang 33về việc dạy học giải bài tập hình học phẳng ở trường THPT với sự hỗ trợ của phần mềm toán.
- Trao đổi, hỏi thăm ý kiến của các chuyên gia CNTT và các cựu bộ môn toán
về thực trạng việc dạy học giải bài tập hình học phẳng ở trường THPT với sự
hỗ trợ của phần mềm
Kết quả thu đƣợc:
- Về trang thiết bị cơ sở vật chất:
Về trang thiết bị cơ sở vật chất cả 5 trường mà chúng tôi tìm hiểu đều
đã được trang bị từ 1 đến 3 phòng máy tính trung bình khoảng 20 đến 26 máytính trên phòng Các máy tính đều được kết nối mạng Lan và nối mạngInternet phục vụ dạy học Mỗi trường có từ một đến hai phòng trang bị hệthống máy chiếu dùng chung cho cả trường Nhưng đa phần các phòng máytính sắp xếp chưa hợp lý cho việc học toán Không có phòng máy trang bị tốtnhư phòng máy HI CLASS V…
Như vậy, về trang thiết bị phòng máy cơ bản đảm bảo Vấn đề cầnquan tâm là việc ứng dụng ICT được GV và HS tiếp nhận như thế nào
Để tìm hiểu sâu vào vấn đề đó, trước tiên chúng tôi tiến hành điềutra thực trạng việc ứng dụng ICT vào dạy và học giải bài tập toán hìnhhọc phẳng
Qua tọa đàm, trao đổi cho thấy các cấp quản lý giáo dục đã đánh giáviệc ứng dụng ICT trong dạy học là quan trọng và cần thiết Tất cả các trườngđều đưa ra chỉ tiêu về số tiết học ứng dụng ICT trong một tháng, một học kỳ
để tất cả các GV đều phải nỗ lực tiếp cận việc ứng dụng ICT trong dạy học.Các trường đều đã tổ chức các đợt tập huấn về phần mềm dạy học cho GV.Kết quả về khả năng ứng dụng ICT của GV các trường như sau:
Trang 34Mức độ
Nội dung
Tổng số phiếu điều tra
Tổng số phiếu trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
3 Sử dụng phần mềm trong dạy học 25 phiếu 3 15 7
Bảng số1.1:Bảng điều tra về khả năng ứng dụng ICT trong dạy học của
GV toán ở một số trường THPT.
Qua bảng số liệu cho thấy phần nhiều GV toán ở các trường THPT đếnđiều tra đều đã tiếp cận và sử dụng ICT trong dạy học Số GV sử dụng bàigiảng điện tử nhiều Tuy nhiên, các hình thức ứng dụng ICT trong dạy họcnhư sử dụng phần mềm trong dạy học còn ít Chủ yếu vẫn dừng lại ở mứctrình diễn thay cho viết bảng
Để làm rõ thông tin về nguyên nhân sử dụng phần mềm dạy học cònchưa phổ biến chúng tôi điều tra về kỹ năng sử dụng phần mềm đối với các
GV, HS, kết quả như sau:
STT
Mức độ
Sử dụng phần mềm
Tổng số phiếu điều tra
Tổng số phiếu trả lời SD
thành thạo
chưa thành thạo
Chưa bao giờ SD
5 Sử dụng ít nhất một loại phần
Bảng số 1.2: Bảng điều tra về kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học
của GV toán ở một số trường THPT
Trang 35STT Điều tra việc học tập có
sự hỗ trợ của ICT
Số phiếuđiều tra
Số phiếu trả lờiThường
xuyên
Thỉnhthoảng
Chưa bao giờ
Nhận xét: Từ số liệu trên cho thấy kỹ năng sử dụng phần mềm dạy
học đối với các GV toán ở các trường THPT đã điều tra còn hạn chế Nhiều
GV chưa sử dụng bất kỳ một phần mềm dạy học toán nào Kết quả đó chothấy số GV sử dụng thành thạo một trong các phần mềm hỗ trợ dạy học môntoán còn chưa nhiều Số GV chưa biết sử dụng bất kỳ một phần mềm toán nàocòn chiếm con số đáng kể Có thể nói việc ứng dụng ICT trong dạy học ở cáctrường THPT mới chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạt thông tin, chưa thực sựphát huy được sự tương tác của HS với nội dung bài dạy HS phổ thông có tưduy phát triển, năng động, dễ dàng tiếp cận với cái mới, cái tiến bộ Sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong đó CNTT đã ảnh hưởng lớn đếntâm lý của HS Qua thực tế thăm dò cho thấy đa số học đều có tâm lý sẵn sàngđón nhận việc ứng dụng ICT trong học tập Với các giờ học có ứng dụng ICT
HS tỏ ra hào hứng, thích thú
Bảng số 1.3 trên sơ bộ cho thấy HS đã tiếp cận với ICT Tuy nhiên cònnhiều HS chưa coi ICT là phương tiện học tập hữu ích Nếu định hướng tốtcho các em thì việc tự học của các em có sử dụng ICT sẽ có nhiều triển vọng
Trang 36Như vậy, mặc dù số GV phổ thông khai thác và sử dụng một loại phầnmềm toán còn ít nhưng hầu hết GV ở phổ thông đã được tiếp cận với ICT.Điều đó cũng cho thấy việc đổi mới PPDH theo hướng ứng dụng ICT đã làmthay đổi nhanh chóng phong cách làm việc của GV ở các trường THPT đãđiều tra.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày về định hướng đổi mới PPDH toán ở trườngTHPT Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học giải bài tập nhưvai trò của việc giải bài tập trong quá trình dạy học, các yêu cầu với lời giảicủa bài tập Ứng dụng ICT và những tác động của nó trong đổi mới PPDH.Đồng thời đưa ra thực trạng việc dạy học giải bài tập hình học phẳng có sự hỗtrợ của phần mềm toán ở một số trường THPT
Chương 1 cũng đã trình bày tổng quan về tổ chức dạy học toán trongmôi trường CNTT và quy trình dạy học toán với sự hỗ trợ của ICT để làm cơ
sở nghiên cứu việc thiết kế, xây dựng mô hình bài giảng giúp HS giải bài tậphình học phẳng với sự hỗ trợ của phần mềm Vi thế giới nhằm đổi mới PPDH
và nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường THPT
Từ đây cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu việc thiết kế bài giảnggiúp HS giải bài tập hình học phẳng THPT với sự hỗ trợ của phần mềm Vi thếgiới
Trang 37CHƯƠNG II: THIẾT KẾ CÁC PHƯƠNG ÁN DẠY HỌC BÀI TẬP HÌNH HỌC PHẲNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM VI THẾ GIỚI
Bài giảng điện tử - Giáo án điện tử
Bài giảng điện tử là tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức theomột kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng cho HS mộtcách hiệu quả thông qua sự trợ giúp của các phần mềm quản lý học tập Bàigiảng điện tử bắt buộc phải có các học liệu điện tử đa phương tiện đạt tốithiểu từ 20% đến 30% thời lượng môn học tính theo số tiết Bài giảng điện tửtương ứng với một học phần hoặc một môn học
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ
kế hoạch HĐ dạy học được chương trình hóa do GV điều khiển thông quamôi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Bài giảng điện tử không phảiđơn thuần là các kiến thức mà HS ghi vào vở mà đó là toàn bộ HĐ dạy vàhọc, tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiếnthức của HS Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế
“bảng đen và phấn trắng” mà phải đóng vai HS định hướng trong tất cả các
HĐ trên lớp Các đơn vị của bài học phải được multimedia một cách chi tiết,
cụ thể Multimedia được hiểu là sự lắp ráp có tổ chức các phương tiện truyềnthông khác nhau để chuyển tiếp các thông tin có hiệu quả và hấp dẫn,… Dạyhọc “đa phương tiện” đã phá vỡ bước đầu tính chất “đường thẳng, tuyến tính”của các kiến thức trình bày theo tuần tự của các trang sách in, giáo trình, mở
ra khả năng đa dạng hoá các kênh thông tin được truyền dưới dạng: văn bản(text), đồ hoạ (graphics), hình ảnh động (animation), hình ảnh tĩnh (image),
âm thanh (audio), tư liệu và phim video (video clip) Lúc đó, chỉ bằng cú nhấpchuột cho phép ta đến ngay bất cứ tư liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh nào,thành tựu kỹ thuật vĩ đại này được coi là cơ sở quan trọng nhất của việc ứngdụng CNTT vào dạy học Máy vi tính và các thiết bị ngoại vi là phương tiện
Trang 38thực hiện các ứng dụng đó.
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch HĐ của GV
trên giờ lên lớp, toàn bộ HĐ dạy học đó đã được multimedia hoá một cách chitiết, có cấu trúc một cách chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bàihọc Giáo án điện tử là một sản phẩm của HĐ thiết kế bài dạy được thể hiệnbằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính làbản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử haythiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một HĐ cụ thể để cóđược bài giảng điện tử
Nếu chuẩn bị tốt giáo án điện tử thì bài giảng điện tử sẽ thành công.Qua bài giảng điện tử sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để khắc phục những tồntại của giáo án điện tử
Giáo án điện tử mang đến cho HS một phương tiện học tập rất lý thú,sinh động, giúp giải quyết khâu chính trong học tập là hiểu bài, tăng cườngcủng cố, khắc sâu kiến thức bằng nhiều thủ thuật ấn tượng, đặc biệt là rèn khảnăng tư duy sáng tạo, rèn luyện khả năng phát huy tính tích cực chủ động,….Dạy học bằng giáo án điện tử là cách hiệu quả để thực hiện đổi mới giáo dục.Tuy nhiên, giáo án điện tử chỉ là công cụ - một công cụ tốt, còn việc sử dụngsao cho có hiệu quả là hoàn toàn phụ thuộc vào người GV đứng lớp Phảithiết kế giáo án điện tử sao cho phù hợp với đối tượng giảng dạy, thực hiệnđúng phương châm giáo dục, gắn giáo án điện tử với các PTDH khác mộtcách hợp lý (cần tránh xu hướng loại bỏ đồ dùng dạy học trực quan, thựcnghiệm thực tế khi dùng giáo án điện tử) Dùng giáo án điện tử như “cây đũathần” phục vụ đắc lực cho các PPDH khác
Các kịch bản sử dụng, khai thác CNTT
Hiện nay, bài giảng điện tử đang có khuynh hướng sử dụng ngày càngnhiều các phương tiện CNTT, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả Trước đây
Trang 39để minh hoạ cho nội dung một bài giảng, GV chỉ có thể sử dụng lời nói giàuhình tượng, gợi cảm kèm theo những cử chỉ điệu bộ diễn tả nội tâm hoặc cóthêm bộ tranh giáo khoa hỗ trợ Ngày nay, có cả một loạt phương tiện để GVlựa chọn sử dụng như: máy chiếu, băng ghi âm, đĩa CD, phần mềm máytính, Tiến tới mọi GV phải có khả năng soạn bài trên máy tính được nốimạng, biết sử dụng đầu máy đa năng để thực hiện bài giảng của mình mộtcách sinh động hiệu quả, phát huy cao nhất tính tích cực học tập của HS Đểphát huy khả năng tự học của HS người GV cần thiết kế bài giảng với nộidung tổng kết, hướng dẫn HS giải bài tập một cách có hiệu quả như:
- Khai thác yếu tố tích cực trong các PPDH truyền thống:
+ Trình bày kiểu nêu vấn đề
+ Thuyết trình kiểu thuật truyện
+ Thuyết trình kiểu mô tả phân tích
+ Thuyết trình kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết
+ Kịch bản 2: Linh hoạt (tuyến tính hoặc không tuyến tính)
GV xác định giao nhiệm vụ cho HS, HS chủ động thực hiện dưới sự cốvấn của GV GV hướng dẫn HS cách tìm và xử lý thông tin Kịch bản dạy họcthiết kế theo kiểu phân nhánh Tương tác giữa người học và máy tính được
Trang 40thiết kế chủ yếu với siêu liên kết Hyperlink Bài giảng được thiết kế dưới hìnhthức một trang web Nội dung được thiết kế theo hình cây người GV Graphhoá nội dung bài học có rẽ nhánh Cả GV và HS cùng sử dụng máy tính, HSphải thành thạo máy tính Trong quá trình giải quyết vấn đề chính HS đưa racâu hỏi rồi cùng nhau trao đổi.
+ Kịch bản 3: Khám phá dưới sự hướng dẫn
GV giao nhiệm vụ cho HS tự khám phá tri thức người GV chỉ tư vấnphương pháp cách thức thực hiện và khai thác nguồn tài nguyên mở Đòi hỏingười GV phải đầu tư nhiều thời gian cho kịch bản dạy học và người học cóđiều kiện truy cập mạng GV tạo ra tương tác ẩn chứa dưới vấn đề giao choHS
+ Kịch bản 4: Các sản phẩm từ Mutlimedia
Sản phẩm có vai trò cung cấp thông tin một cách có dụng ý sư phạm
và người học tự rút ra kết luận của bài học trong thông tin đó
Theo định hướng đổi mới PPDH việc tạo ra các tương tác trong mộtgiờ dạy nó là khởi nguồn, là môi trường tạo ra điều kiện tổ chức dạy học
Quy trình xây dựng một bài giảng điện tử có sử dụng phần mềm dạy học
Hiện nay, việc ứng dụng ICT vào đổi mới quá trình dạy học đang pháttriển mạnh mẽ và đã đạt được những hiệu quả giáo dục rất to lớn Một trongnhững yếu tố thành công là xuất hiện những phần mềm dạy học có chất lượngcao Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển những phần mềm này còn có nhiềukhó khăn và chưa đạt được hiệu quả cao Quy trình xây dựng phần mềm dạyhọc từ nội dung giáo trình đến bản thiết kế và cài đặt được tách biệt thành haigiai đoạn, giai đoạn đầu được thực hiện bởi những GV có kinh nghiệm sưphạm, sản phẩm của giai đoạn này là các bản thiết kế của phần mềm Giaiđoạn tiếp theo chuyên gia CNTT chuyển bản thiết kế thành chương trình