1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

190 799 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 310,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHINGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂNCHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Tình hình sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1 : CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ

ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆNNGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN TÍN HIỆU HỌCMột số vấn đề lí thuyết có liên quan

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ nhìn từ phương diện cái biểu hiện (tức mặt hình thức của tín hiệu)

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ nhìn từ phương diện cái được biểu hiện (tức mặt nội dung của tín hiệu)

Chương 2: CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ

ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆNNGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ DỤNGHỌC

Một số vấn đề lí thuyết có liên quan

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ xét từ phương diện thể hiện hành động ngôn trung (hành vi ở lời)

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ xét từ phương diện chủ thể sử dụngPhương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ xét từ phương diện hoàn cảnh sử dụng

Trang 2

Vai trò của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp

Trang 3

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI

NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂNCHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Tình hình sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong một sốtác phẩm văn chương Việt Nam hiện đại

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ góp phần thể hiện tính chân thực vàsinh động cho cuộc thoại của các nhân vật

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ góp phần khắc họa tính cách nhânvật

Người ta đã gọi những phương tiện giao tiếp ngoài ngôn ngữ như

trên bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như ngôn ngữ cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể (body languague), tín hiệu kèm ngôn ngữ, ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, các

phương tiện á ngữ học,… Sau đây xin được gọi chúng là các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (PTGTPNN) và sẽ luận giải tên gọi này rõ hơn ở

phần sau

Trang 4

Các PTGTPNN được sử dụng đồng thời với phương tiện ngôn ngữbằng lời trong giao tiếp là hiện tượng có thật, hơn nữa còn rất phổ biến và

có vai trò quan trọng trong giao tiếp xã hội Về mức độ phổ biến củaPTGTPNN, nhà tâm lý học người Anh, Michael Archil đã quan sát và nhậnthấy rằng trong một giờ trò chuyện, một người Phần Lan chỉ sử dụng điệu

bộ có 1 lần, trong khi đó người Italia dùng đến 80 lần, người Pháp 120 lần

và người Mêhicô 180 lần Về vai trò của PTGTPNN, Birdwhistell đã pháthiện ra trong một cuộc trò chuyện trực diện thì yếu tố lời nói chiếm chưađến 35% còn trên 65% là giao tiếp không lời Albert Maerabian, một nhànghiên cứu tiên phong về ngôn ngữ cơ thể vào thập niên 50 của thế kỉ 20,

đã nghiên cứu và cũng đưa ra những số liệu đáng lưu tâm: trao đổi thôngtin diễn ra qua các phương tiện bằng lời (chỉ bằng lời) chiếm có 7%, qua cácphương tiện âm thanh (bao gồm giọng nói, ngữ điệu và các âm thanh khác)chiếm 38%, còn qua các phương tiện không lời thì chiếm tới 55% (Dẫntheo Allan và Barbara Pease [17])

Trang 5

Biểu đồ 1

PTGTPNN, do vậy, là vấn đề rất đáng được quan tâm và đi sâu nghiên cứu

Sở dĩ PTGTPNN không thể trở thành phương tiện giao tiếp chung của nhân loạibởi nhiều lý do, trong đó có một lý do quan trọng là bởi chúng chịu sự chi phối củayếu tố văn hóa Cùng một cử chỉ, điệu bộ,… nhưng ở các dân tộc khác nhau nó cóthể được gán cho những ý nghĩa biểu hiện khác nhau Nghiên cứu PTGTPNNtrong hoạt động giao tiếp của người Việt và tìm hiểu những dấu ấn văn hóa ViệtNam trong các phương tiện giao tiếp đặc biệt này là một công việc đầy hứng thú

và cũng rất hữu ích Đây là lí do quan trọng khiến chúng tôi lựa chọn đề tài này để

đi sâu tìm hiểu

Lẽ ra luận văn cần quan sát ghi lại hoặc sao chụp các cuộc giao tiếp tự nhiêndiễn ra trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp khác nhau để làm tư liệu nghiên cứu Tuynhiên, công việc đó quả thật vô cùng khó khăn và phức tạp Hơn nữa, rải rác trongmột vài công trình, các nhà nghiên cứu đã tiến hành công việc này Là một giáoviên dạy văn ở trường phổ thông, tác giả đề tài mong muốn gắn những kiến thứchọc được từ ngôn ngữ học với tác phẩm văn chương nên đã tìm hiểu vềPTGTPNN thông qua các cuộc hội thoại của các nhân vật trong tác phẩm đượcnhà văn miêu tả Bởi một mặt, việc làm này vẫn đáp ứng được mục đích tìm hiểuPTGTPNN trong hoạt động giao tiếp và những dấu ấn văn hóa Việt Nam trong cácphương tiện ấy Mặt khác, cũng bởi ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm vănchương chính là sự ánh xạ ngôn ngữ đời thường Nghiên cứu cử chỉ, điệu bộ…của

Phương tiên không lời (55%)

Phương tiện bằng lời (7%)

Phương tiện âm thanh (38%)

Trang 6

nhân vật trong tác phẩm văn chương còn giúp thấy được vai trò của loại phươngtiện giao tiếp đặc

biệt này trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật của các nhà văn

Trang 7

Với những lí do trên, chọn đề tài “Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

được sử dụng trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam hiện đại” để

nghiên cứu thiết nghĩ là một công việc cần thiết và nên làm

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Như đã nói, PTGTPNN có vai trò vô cùng to lớn trong đời sống con người.Lời nói bắt đầu được phát triển cách đây khoảng 500.000 đến 2 triệu năm, làkhoảng thời gian mà kích cỡ não bộ con người tăng gấp ba Trước đó, PTGTPNN

và những âm phát ra từ cổ họng là các phương tiện chủ yếu để chuyển tải cảm xúc,tình cảm Điều đó có nghĩa, PTGTPNN là phương tiện giao tiếp cổ xưa nhất củaloài người Tuy nhiên, sự nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc, mang tính hệ thống,khoa học về loại phương tiện này cũng mới chỉ được tiến hành vài chục năm trởlại đây (kể từ thập niên 50 của thế kỉ 20) trong một số giáo trình và bài báo khoahọc, và đa số công chúng biết đến sự tồn tại của loại phương tiện này chỉ mới từ

năm 1978, thời điểm Allan Pease xuất bản cuốn sách Ngôn ngữ cơ thể.

Có thể điểm qua một số công trình, các bài nghiên cứu của tác giả trong vàngoài nước về đối tượng nghiên cứu này

Các công trình, các bài nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước

a Trong các giáo trình phong cách học tiếng Việt, hầu hết các nhà nghiên

cứu đã đề cập đến sự phân biệt giữa nói và viết, cho rằng nói và viết là “hai phongcách ngôn ngữ”- phong cách nói và phong cách viết (Hồ Lê), hay “hai dạng của lờinói” - dạng nói và dạng viết (Định Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa), hoặc gọi là

“những hình thức truyền tin” (Cù Đình Tú) Dù gọi nói và viết bằng thuật ngữ nào

Trang 8

thì các nhà phong cách học, về cơ bản, đều thống nhất phân biệt hình thức nói và viết trước hết là ở phương tiện biểu hiện:

Bảng 1

nhân vật giao tiếp

hướng vào sự tri giác và phản ứng trực tiếp cuả người nhận

không hướng vào sự tri giác

và phản ứng trực tiếp của người nhận.

phương tiện

biểu hiện

có thể dùng âm thanh, ngữ điệu gắn liền với vẻ mặt, cử chỉ, dáng điệu của người nói

dùng văn tự, do đó không có khả năng sử dụng các PTGTPNN

Như vậy, đề cập đến các phương tiện biểu hiện của phong cách nói, các nhàphong cách học thừa nhận có loại phương tiện là vẻ mặt, cử chỉ, dáng điệu, –PTGTPNN Không chỉ thừa nhận sự tồn tại của PTGTPNN, các nhà phong cáchhọc còn nhấn mạnh đến ý nghĩa và vai trò quan trọng của loại phương tiện nàytrong hoạt động giao tiếp

Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa: “Muốn nói tốt, không những phải biếtsuy nghĩ tốt mà còn phải biết cách sử dụng lời nói với cách phát âm đúng và rõ kếthợp với ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu để người nghe có thể hiểu ngay, hiểuhết ý tứ mình Còn muốn nghe tốt thì cần phải biết tổng hợp ý nghĩa của lời nói vớisắc thái cảm xúc, bình giá thông qua ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu củangười nói để có thể hiểu hết ngay, hiểu hết tình ý của người nói” [7,tr.45]

Hồ Lê: “Ngôn hiệu (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…) là yếu tố không thểthiếu trong phong cách nói”, “Ngôn hiệu có tác dụng phối hợp với lời để diễn đạt ýnghĩa ( ) Nó cũng sẽ góp phần tạo ra phong cách nói của từng người”, “Nếu lạmdụng ngôn hiệu sẽ không tránh khỏi sự thái quá, thậm chí sự lố bịch Song nếukhông biết sử dụng ngôn hiệu để đến nỗi lúc nào cũng chỉ “nói chay” thì sẽ dễ bịrơi vào tình trạng nói đều đều, kém sinh động và kém hiệu quả” [8,tr.465]

Trang 9

b Trong tài liệu về lí thuyết hội thoại, về hoạt động giao tiếp hay hoạt động

ngôn giao (hoạt động giao tiếp bằng lời) - thuộc lĩnh vực nghiên cứu của ngữ dụnghọc, các nhà nghiên cứu cũng bàn đến PTGTPNN và thừa nhận chúng là loạiphương tiện giao tiếp phổ biến, quan trọng trong hoạt động giao tiếp, bên cạnh

ngôn ngữ.

Trong giáo trình “Đại cương về ngôn ngữ học” - Tập 2 - Ngữ dụng học [1],

ở phần chương V - Lí thuyết hội thoại, tác giả Đỗ Hữu Châu bàn về các vận độnghội thoại như sau:

Trong số các vận động hội thoại có vận động trao lời, vận động trao đáp vàtương tác hội thoại

Vận động trao lời: Là vận động của người nói A nói ra và hướng lời nói của

mình về phía B A có những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hướng tới

người nhận hoặc tự hướng về mình để bổ sung cho lời nói.

Vận động trao đáp: Người nói B đáp lời người nói A, B có thể hồi đáp bằng

những yếu tố kèm ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, …

Cũng trong giáo trình này, Đỗ Hữu Châu đã dẫn ra ý kiến của Arbercrombiebàn về sự có mặt của cử chỉ (hành vi kèm ngôn ngữ) trong hội thoại và sự cần thiếtphải nghiên cứu chúng: “Chúng ta nói bằng các cơ quan cấu âm nhưng chúng tacũng hội thoại với cả cơ thể chúng ta Những sự kiện kèm ngôn ngữ xuất hiện vớingôn ngữ nói, hòa lẫn vào ngôn ngữ và cùng với ngôn ngữ nói hình thành nên một

hệ thống giao tiếp trọn vẹn ( ) Nghiên cứu về các hành vi kèm ngôn ngữ là một

bộ phận của sự nghiên cứu về ngôn ngữ cần được chú ý đầy đủ” [1,tr.223]

Trong giáo trình “Quy luật ngôn ngữ” - Quyển II - Tính quy luật của cơ chế

ngôn giao [8], phần bàn về cơ chế ngôn giao, tác giả Hồ Lê cũng phát biểu rằng:Những cử chỉ điệu bộ và những phương tiện phi ngôn ngữ nói chung kèm theo lời

được gọi là ngôn hiệu, là 1 trong 7 thành tố của ngữ huống phát ngôn Trong quá

trình tương tác hội thoại những người đối thoại có thể tác động lẫn nhau bằng lời,

Trang 10

bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, bằng thái độ khi nói năng và bằng bối cảnh - điềukiện, không khí đƣợc tạo ra cho sự đối thoại Trong số này, nội dung của lời

Trang 11

thường được coi là phương tiện/công cụ tương tác quan trọng nhất Nhưng trongthực tế không nhất thiết luôn luôn như thế Mà có khi, những phương tiện/công cụ

khác lại tỏ ra quan trọng hơn Thí dụ, cũng là câu nói “Mời anh sang nhà tôi chơi”

nhưng kết hợp với cử chỉ, điệu bộ, nét mặt có ý mỉa mai hay không chân thành thìnội dung câu nói tất bị hiểu khác hẳn [8,tr.112, 113]

Do vậy, Hồ Lê khẳng định: “Văn hóa giao tiếp – mà phép lịch sự trong giaotiếp là một biểu hiện – đòi hỏi sự nhất quán giữa nội dung của lời và các phươngtiện/công cụ khác đi kèm theo Nếu không có sự nhất quán đó, thậm chí có sựngược chiều nhau, thì nội dung hàm ẩn của lời được phát ra sẽ khác hay sẽ tráingược hẳn với nội dung hiển hiện của lời Lúc ấy, văn hóa giao tiếp sẽ bị vi phạm”[ 8,tr.114]

Tiếp tục bàn về nghi thức ngôn giao, Hồ Lê còn nói rõ thêm: “Cử chỉ, điệu

bộ, nét mặt có khả năng biểu hiện trực tiếp nghi thức ngôn giao Nhìn vào cử chỉ,điệu bộ, nét mặt người ta thấy ngay nghi thức ngôn giao mà những người giao tiếp

đã sử dụng với nhau ngụ ý điều gì Coi trọng hay coi thường, lễ độ với nhau hay xấcxược, yêu mến hay ghét bỏ, thành thật hay mỉa mai, châm biếm” [8,tr 260, 261]

Như vậy, trong các giáo trình nghiên cứu về ngôn ngữ học đã dẫn,PTGTPNN chính thức được thừa nhận và bước đầu được xem xét về ý nghĩa, vaitrò của chúng Đây là cơ sở khoa học quan trọng để tiến hành nghiên cứu về loạiphương tiện giao tiếp này

PTGTPNN được bàn đến trong các bài báo khoa học và trong các công trìnhnghiên cứu về văn hóa giao tiếp

Sau đây xin được giới thiệu một cách sơ lược thành tựu nghiên cứu vềPTGTPNN trong một số bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu tiêu biểu

a Trong bài viết “Thử tìm hiểu về ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ” [5], Phi

Tuyết Hinh đã bàn về ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ, điệu mặt (thuật ngữ được tácgiả sử dụng) trên các phương diện sau:

Trang 12

- Về vai trò: Tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của một loạiPTGTPNN là điệu bộ, cử chỉ “Trong giao tiếp không lời, cử chỉ điệu bộ và điệu

Trang 13

mặt có vai trò quan trọng hơn cả Cử chỉ điệu bộ là những yếu tố tự nhiên tronghành vi giao tiếp của con người ( ) Thật khó tưởng tượng được rằng con người

có thể giao tiếp mà không cử động, không ra hiệu, không thay đổi nét mặt”

- Về chức năng: Tác giả cũng đã chỉ ra chức năng của ngôn ngữ cử chỉ điệu

bộ trong mối quan hệ với ngôn ngữ âm thanh Theo tác giả, cử chỉ điệu bộ có haichức năng cơ bản:

+ Chức năng thay lời: Nói đến chức năng thay lời của ngôn ngữ cử chỉ

là nói tới khả năng làm công cụ giao tiếp một cách độc lập của cử chỉ điệu bộ tronghoàn cảnh giao tiếp đặc biệt (hoàn cảnh giao tiếp mà người ta không có khả năngnói hay không được phép nói) và cả trong hoàn cảnh giao tiếp bình thường (vìkhông tiện nói, không muốn nói hay để truyền đạt có hiệu quả hơn điều cần nói)

Ví dụ thay vì nói “Tôi đồng ý”, “Tôi bằng lòng”, người ta có thể gật đầu.

+ Chức năng kèm lời: Khi cử chỉ điệu bộ, ánh mắt, điệu mặt đi kèmvới lời nói, nó có tác dụng bổ sung cho lời, tác động qua lại với lời nhằm đạt đượchiệu quả cao nhất trong giao tiếp Cụ thể, cử chỉ điệu bộ có thể lặp lại thông tin (ví

dụ vừa nói “Tôi đồng ý” vừa gật đầu), nhấn mạnh thông tin (ví dụ vừa khẳng định vừa đập tay xuống bàn hay đặt tay lên ngực), dự báo thông tin (khi chưa tìm được

cách diễn đạt ý tứ bằng lời, người ta dùng cử chỉ để mô phỏng), phủ định thông tin

(ví dụ lời nói là “Đi đi!” nhưng đôi mắt lại tha thiết mời gọi thì cần hiểu là “Xin

hãy ở lại!”), để đạt tới tính một nghĩa trong giao tiếp (khi lời nói đa nghĩa), và để

truyền đạt thông tin đến đối tượng khác (nói với người này nhưng lại nháy mắt

với người kia)

Bên cạnh những vai trò trên, ở chức năng kèm lời, tác giả đã phân tích thêm:

Cử chỉ điệu bộ còn có vai trò liên kết hành động giao tiếp (bổ sung hay giải thíchcác thời điểm im lặng trong cuộc thoại), duy trì mối quan hệ giữa những người

tham gia hội thoại, điều chỉnh dòng ngữ lưu để phân đoạn thông báo (ví dụ vung

tay để tách thông báo thành từng điểm riêng biệt) và gánh tải lượng lớn tình thái và

cảm xúc của người nói

Trang 14

- Về bản chất: Cũng giống như ngôn ngữ, theo tác giả, cử chỉ điệu bộ mangbản chất tín hiệu, có hai mặt hình thức và nội dung – ý nghĩa Mối quan hệ giữa haimặt này có thể là 1:1 nhưng cũng có khi không phải như vậy Cử chỉ điệu bộ cũng

có tính đồng nghĩa (nhiều cử chỉ điệu bộ cùng biểu thị một nội dung ý nghĩa) và đanghĩa (một cử chỉ điệu bộ có thể biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau)

- Về đặc tính văn hoá: Tác giả cũng chú ý tới đặc tính văn hóa của cử chỉđiệu bộ và lưu ý mọi người hãy chú ý sử dụng cử chỉ điệu bộ sao cho bảo đảmđược tính văn hóa, và phải phù hợp với văn hóa giao tiếp của từng cộng đồng ngônngữ khác nhau

b Đồng quan điểm với Phi Tuyết Hinh, Thục Khánh trong bài viết “Bước

đầu tìm hiểu giá trị thông báo của cử chỉ điệu bộ của người Việt trong giao tiếp”

[6] cũng khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của loại phương tiện giao tiếp cửchỉ điệu bộ: “Ngoài ngôn ngữ âm thanh, con người còn dùng nhiều hệ thống tín

hiệu phi lời hay còn gọi là ngôn ngữ không lời (neverbal’nyj jazyk) (silent

languague) để tiến hành hoạt động giao tiếp của mình Trong nói năng, đặc biệt làtrong đối thoại, ngôn ngữ và cử chỉ điệu bộ như hai mặt của một chỉnh thể giaotiếp”

Tác giả Thục Khánh cũng đề cập đến hai chức năng cơ bản của cử chỉ điệu

bộ là chức năng thay lời và chức năng trợ lời.

Trong bài viết, Thục Khánh đi sâu phân tích loạt cử chỉ điệu bộ biểu thị hành

vi tán đồng và hành vi không tán đồng của người Việt rồi khẳng định: Nhiều khingười ta không sử dụng riêng rẽ một cử chỉ điệu bộ nào đó mà phối hợp sử dụngnhiều cử chỉ điệu bộ để biểu thị các cung bậc khác nhau của trạng thái tình cảm.Đồng thời cũng như Phi Tuyết Hinh, Thục Khánh cũng đi đến kết luận về tính đanghĩa của cử chỉ điệu bộ và cả khả năng đồng nghĩa hay trái nghĩa của chúng

c Trong cuốn sách “Nỗi oan thì, là, mà” [3], Nguyễn Đức Dân cũng dành

một phần để nói về “Cử chỉ: Thứ ngôn ngữ không lời” Tác giả khẳng định cử chỉ

Trang 15

là một công cụ để giao tiếp Có những cử chỉ là bẩm sinh, vô thức, và có nhiều cửchỉ là do học hỏi, do được giáo dục mà hình thành ở người nói.

Trang 16

Về ý nghĩa của cử chỉ điệu bộ: Nguyễn Đức Dân cũng nói đến tính đa nghĩa

và đồng nghĩa của chúng Tác giả khẳng định: “Cùng một cử chỉ có thể biểu hiệnnhững ý nghĩa khác nhau” [3,tr.224], và “có thể dùng những cử chỉ khác nhau đểbiểu hiện cùng một ý nghĩa” [3,tr.225]

Đóng góp đáng chú ý của Nguyễn Đức Dân khi bàn về ngôn ngữ cử chỉ(thuật ngữ được tác giả sử dụng) là đã bước đầu chỉ ra những yếu tố ảnh hưởngđến cử chỉ với tư cách là phương tiện giao tiếp, đó là:

- Cử chỉ mang đậm nét đặc thù dân tộc và phụ thuộc từng nền văn hóa Bêncạnh những cử chỉ giao tiếp chính và vô thức hầu như không khác nhau trên toànthế giới, mỗi dân tộc còn có những quy ước riêng về hệ thống kí hiệu cử chỉ

- Cử chỉ phụ thuộc vào vị thế, nghề nghiệp và uy tín xã hội của một người.Người có vị thế cao hay có tri thức rộng, ngôn từ phong phú thì cử chỉ thườngchậm rãi, ít bộc lộ Ngược lại, một người ít học, vị thế xã hội thấp thường phải sửdụng cử chỉ để diễn đạt rõ hơn lời nói của mình Cử chỉ của họ thường phong phúhơn Những nhà ngoại giao, chính trị, luật sư,…thường biết sử dụng cử chỉ cóhiệu quả và biết che giấu những cử chỉ không có lợi,…

- Cử chỉ và mức độ rõ ràng của chúng thường cũng phụ thuộc vào tuổi tác

và khí chất cá nhân

- Khoảng cách trong giao tiếp – một đặc điểm của ngôn ngữ cử chỉ, thuộcphạm trù “không gian cá nhân” - phụ thuộc vào tuổi tác (ví dụ người lớn có thểxoa đầu một em bé vì lãnh địa của em bé còn nhỏ, nhưng dù là cán bộ cao cấp thìcũng không thể xoa đầu một cụ già 80 tuổi), phụ thuộc vị thế xã hội (vị thế xã hộicàng cao thì lãnh địa càng lớn), phụ thuộc quan hệ thân sơ giữa những người đốithoại, phụ thuộc địa phương và văn hóa của từng dân tộc (khoảng cách trong giaotiếp của người châu Á khác với người châu Âu,…)

d Năm 2005, tác giả Trần Thị Nga đã tiến hành một đề tài khoa học nghiên

cứu một cách khá hệ thống về một lọai PTGTPNN mà tác giả gọi là ngôn ngữ cử

Trang 17

chỉ, đó là “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người Việt” [9].

Trong công trình này, tác giả đã tìm hiểu ngôn ngữ cử chỉ dưới lí thuyết của tín

Trang 18

hiệu học, lí thuyết giao tiếp và ngữ dụng học để thấy được bản chất tín hiệu củangôn ngữ cử chỉ, tính đồng nghĩa, đa nghĩa, đơn nghĩa của cử chỉ; thấy được ýnghĩa cử chỉ trong việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ Đóng góp lớn của đề tài là

đã mô tả và thiết lập được hệ thống danh sách ngôn ngữ cử chỉ của người Việt dựatrên những quan sát trong thực tiễn hoạt động giao tiếp và dựa trên những cứ liệutrong các tác phẩm văn học, đồng thời so sánh khái quát sự tương đồng và dị biệtgiữa cử chỉ của người Việt với người Anh, người Nga

Những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học nước ta về PTGTPNNrất đáng trân trọng, đã tạo tiền đề lí thuyết cơ bản cho luận văn tiếp tục tìm hiểu vềvấn đề này

Các tác giả nước ngoài.

Có khá nhiều tác giả nước ngoài quan tâm đến PTGTPNN là cử chỉ điệu bộ,

đã trình bày những ý tưởng của mình trong các bài báo khoa học hay các côngtrình viết về ngôn ngữ cơ thể - ngôn ngữ cử chỉ trong văn hóa giao tiếp

a J.Vendryes (1990) cho rằng: “Có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất

cho ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu”, và “nên hiểu kí hiệu là bất kìphù hiệu nào mà con người có thể dùng để giao tiếp qua lại với nhau” Do vậy,

“mọi giác quan đều có thể là cơ sở để tạo ra ngôn ngữ Có ngôn ngữ khứu giác vàngôn ngữ xúc giác, ngôn ngữ thính giác và ngôn ngữ thị giác Chúng ta nói đếnngôn ngữ khi hai cá thể quy ước gán cho một hành động nào đó một nghĩa nhấtđịnh và thực hiện hành động này nhằm mục đích giao tiếp qua lại với nhau” [20].Trong số đó, ngôn ngữ thính giác (ngôn ngữ phát âm) là quan trọng nhất, chiếm ưuthế hơn về các hình thái biểu đạt Ngôn ngữ thính giác đôi khi đi kèm hoặc thườngđược thay thế bằng ngôn ngữ thị giác (cử chỉ, điệu bộ, điệu mặt, )

J.Vendryes khẳng định cử chỉ, điệu bộ cũng là một loại ngôn ngữ nếu hiểu

“ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu” Và do vậy, mối quan hệ giữa nội dung và ýnghĩa của cử chỉ điệu bộ là một sự quy ước

Trang 19

b F.de.Saussure (1973) cũng viết: “Mọi phương tiện được chấp nhận trong

một xã hội về nguyên tắc mà nói, đều dựa trên thói quen tập thể, hoặc – chung quy

Trang 20

cũng vẫn thế – trên sự quy ước Nghĩa là những dấu hiệu để tỏ lễ độ chẳng hạn,thường có một tính biểu hiện tự nhiên nhất định (Ta hay nghĩ đến người TrungQuốc chào vua bằng cách sụp lạy chín lần sát đất) Song những dấu hiệu ấy thật ravẫn do một quy tắc ấn định; chính các quy tắc ấy buộc ta phải dùng nó chứ khôngphải cái giá trị nội tại của bản thân nó” [19,tr.123].

c K.A.Pshenko trong bài “Huấn luyện các phương tiện á ngữ học ở các

khóa tiếng Nga ngắn hạn” đã sử dụng thuật ngữ “phương tiện á ngữ học” để chỉ

loại phương tiện không lời, ngôn ngữ cử chỉ - điệu mặt: “Xuất phát từ quan điểm

ký hiệu học, cần thừa nhận rằng toàn bộ cử chỉ và các phương tiện biểu cảm quađiệu mặt được sử dụng trong quá trình giao tiếp chính là các đơn vị kí hiệu quyước Ngôn ngữ tự nhiên liên quan chặt chẽ (và thậm chí đôi khi hòa lẫn với một hệthống kí hiệu khác gần gũi với nó – đó là hệ thống các cử chỉ điệu bộ )”

d Bài viết “Ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ” của Atenla Alenikova cũng bàn đến

vai trò, nguồn gốc của cử chỉ điệu bộ và khẳng định đặc tính dân tộc của loạiphương tiện giao tiếp này

Bên cạnh những bài viết trên còn có những cuốn sách bàn sâu hơn về ýnghĩa, cách thức, tính văn hóa của các cử chỉ điệu bộ khi giao tiếp như:

Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (2008)- Allan và Barbara Pease.

Cử chỉ - những điều nên làm và nên tránh trong ngôn ngữ chỉ khắp thế giới–

Roger E.Axtell

Ngôn ngữ cơ thể - Julias Fast.

Đánh giá kết quả nghiên cứu của những người đi trước và những vấn đề còn bỏ ngỏ

Tuy mới được quan tâm nghiên cứu vài chục năm gần đây song nhữngnghiên cứu về ngôn ngữ cử chỉ cũng rất đáng kể Có thể tóm tắt như sau:

- Các tác giả đều thừa nhận có sự tồn tại thường xuyên của loại PTGTPNN(ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ không lời, ngôn ngữ thị giác,…) bên cạnhngôn ngữ trong giao tiếp

Trang 21

- Bước đầu chỉ ra chức năng cơ bản của PTGTPNN trong hoạt động giaotiếp cũng như vai trò thông tin của nó.

- Phân tích được bản chất tín hiệu của PTGTPNN, những yếu tố ảnh hưởng,chi phối việc sử dụng loại phương tiện giao tiếp này trong hoạt động giao tiếp

- Thiết lập được hệ thống danh sách ngôn ngữ cử chỉ của người Việt Bướcđầu chỉ ra ý nghĩa biểu hiện của chúng trên phương diện tín hiệu học và ngữ dụnghọc

- Phần nào chỉ ra được sự khác nhau giữa các PTGTPNN dùng trong mỗiquốc gia, dân tộc, mỗi nền văn hóa

Một số vấn đề chưa được xem xét hoặc xem xét chưa kĩ như sau:

- Các tác giả chủ yếu xem xét PTGTPNN là các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt –

mà chưa quan tâm nhiều đến các yếu tố như sự thay đổi không gian tương tácgiữa các nhân vật giao tiếp, các hành động nhân vật sử dụng trong quá trình giaotiếp, cũng có giá trị thông tin và chức năng trợ lời

- Các tác giả chưa đặt những PTGTPNN là cử chỉ, điệu bộ,… vào nhữnghoàn cảnh giao tiếp cụ thể để chỉ ra những sắc thái biểu cảm và nội dung thông tintinh tế của chúng

- Các tác giả đã chỉ ra vai trò của PTGTPNN song chưa thực sự đầy đủ vàsâu sắc

- Chưa có công trình nào nghiên cứu về PTGTPNN với tư cách là mộtphương tiện thể hiện những dụng ý nghệ thuật của nhà văn trong tác phẩm văn họcViệt Nam

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các PTGTPNN được các nhân vật sửdụng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, được nhà văn miêu tả trong tác phẩmvăn chương Các tác phẩm được chọn khảo sát là một số tiểu thuyết và truyệnngắn Việt Nam hiện đại mà trong đó các nhà văn thường chú trọng miêu tả

Trang 22

PTGTPNN nhân vật sử dụng trong quá trình giao tiếp Những tác phẩm này sẽcho luận văn

Trang 23

một nguồn tư liệu phong phú để tìm hiểu vấn đề Thêm nữa, luận văn cũng có ýchọn những tác phẩm gần gũi với nhà trường phổ thông, được chọn giảng hoặcđược nhắc đến nhiều trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông nhằmhướng tới một mục đích của luận văn là để phục vụ cho quá trình giảng dạy Cụthể các tác phẩm được chọn khảo sát gồm:

9.

10. Đám cưới không có giấy giá thú tiểu thuyết 1988

Châu Chiếc thuyền ngoài xa truyện ngắn 1987

(Xuất xứ tác phẩm: xin xem thư mục tham khảo)

Phạm vi nghiên cứu

Dựa trên tư liệu là các PTGTPNN được các nhân vật sử dụng và nhà vănmiêu tả lại trong các tác phẩm văn chương, luận văn sẽ xem xét PTGTPNN trênbình diện tín hiệu học – cái biểu hiện (mặt hình thức vật chất) và cái được biểuhiện (ngữ nghĩa) cùng một số bình diện thuộc dụng học như chủ thể sử dụng, hoàncảnh sử dụng, đích giao tiếp… Khác với các nghiên cứu trước đây, PTGTPNN sẽ

Trang 24

được đặt vào những tình huống giao tiếp cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn chương để phân tích.

Từ việc nghiên cứu PTGTPNN với tư cách là phương tiện giao tiếp, luậnvăn tìm hiểu những dụng ý nghệ thuật cuả nhà văn khi tập trung miêu tả cử chỉ,điệu bộ, hành động,… của các nhân vật trong quá trình giao tiếp

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu

Luận văn sẽ chỉ ra những đặc tính, ý nghĩa của PTGTPNN được miêu tảtrong các tác phẩm văn học và từ đó phát hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn khi

“gán cho” nhân vật các PTGTPNN ở những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những khía cạnh lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài và xác địnhđối tượng nghiên cứu

- Chỉ ra các biểu hiện của PTGTPNN được sử dụng trong các tiểu thuyết vàtruyện ngắn Việt Nam hiện đại đã được chọn là đối tượng nghiên cứu

- Miêu tả, phân tích, đánh giá những biểu hiện của PTGTPNN đã thu thậpđược

- Chỉ ra những dụng ý nghệ thuật chính của các nhà văn khi miêu tả cácPTGTPNN của nhân vật trong tác phẩm của mình

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp miêu tả: Việc phân tích và tổng hợp nhằm chỉ ra các đặctrưng trong sử dụng PTGTPNN ở tác phẩm văn chương

- Phương pháp thống kê – phân loại: Phân loại PTGTPNN theo tiêu chínhất định, thống kê cụ thể các PTGTPNN trong một số trường hợp cần thiết phục

vụ cho mục đích nghiên cứu

6 DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Về mặt lí luận:

Trang 25

Luận văn khẳng định thêm về sự phong phú, đa dạng và hiệu quả sử dụngcủa PTGTPNN Góp phần làm sáng tỏ hơn nữa PTGTPNN của người Việt vềphương diện lí thuyết cũng như thực hành.

- Về mặt thực tiễn:

+ Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu

về PTGTPNN, giúp mọi người khi tham gia giao tiếp biết nên sử dụng những cửchỉ, điệu bộ nào và tránh những cử chỉ điệu bộ không đẹp mắt, không phù hợp vớihoàn cảnh giao tiếp

+ Luận văn có thể làm cơ sở cho phân tích cử chỉ, hành động,…củanhân vật trong tác phẩm văn chương

7 CẤU TRÖC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tư liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm

3 chương:

- Chương 1: Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trongmột số tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam hiện đại nhìn từ bình diện Tín hiệuhọc

- Chương 2: Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trongmột số tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam hiện đại nhìn từ bình diện Ngữ dụnghọc

- Chương 3: Vai trò của các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn chương

Trang 26

Chương 1

CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ ĐƯỢC

SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN TÍN HIỆU HỌCMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN

Về khái niệm “phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ”

Hiện đã có nhiều công trình, bài viết tìm hiểu về loại phương tiện giao tiếp là cửchỉ, điệu bộ, song nhìn chung chưa thấy có một định nghĩa cụ thể, đầy đủ về loạiphương tiện giao tiếp này Các tác giả mới chỉ nêu ra các tên gọi “cử chỉ điệu bộ”,

“ngôn ngữ cử chỉ”, “ngôn ngữ cơ thể”, “ngôn hiệu”, “hệ thống tín hiệu phi lời”,

“phương tiện á ngữ học”, …và chỉ ra những gì thuộc về loại phương tiện giao tiếpnày (như điệu bộ, vận động của tay, chân, nét mặt, tư thế, khoảng cách,…) chứchưa đưa ra một sự xác định đủ rõ cho khái niệm này

Trong cuốn “Đại cương về ngôn ngữ học” [1], ở phần “Ngữ dụng học” Đỗ

Hữu Châu quan niệm “yếu tố kèm lời” và “yếu tố phi lời” là những tín hiệuthường xuất hiện cùng yếu tố ngôn ngữ trong những cuộc đối thoại và hiểu chúngnhư sau:

- Yếu tố kèm lời (paraverbal) là những yếu tố siêu đoạn tính nhưng đi kèmvới yếu tố đoạn tính, đó là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài,đỉnh giọng

- Yếu tố phi lời (non verbal) là những yếu tố không phải là những yếu tố kèmlời được dùng trong đối thoại mặt đối mặt, đó là những yếu tố cử chỉ, khoảngkhông gian tương tác, những tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể, định hướng cơ thể, vẻ

Trang 27

mặt, ánh mắt,… Đó còn là những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xôghế, tiếng huýt sáo, tiếng còi,… Những yếu tố trang phục, không gian thoại trường

Trang 28

cũng thuộc những yếu tố phi lời Tác giả còn gọi đây là những “tín hiệu phi lời” và nói rõ thêm:

+ Các yếu tố cơ thể - vận động được tiếp nhận bằng thị giác là những tínhiệu xuất hiện trong hội thoại như: sự thay đổi cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, sự thay đổikhoảng cách (không gian tương tác), tư thế của những người trò chuyện trong quátrình giao tiếp

+ Các yếu tố tĩnh như diện mạo, trang phục…cung cấp thông tin về giớitính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội, tính cách (“trông mặt mà bắt hình dong”)của người đối thoại Những thông tin này bước đầu tạo ra thiện cảm hay gây áccảm ở người đối thoại Những tín hiệu cung cấp thông tin về thoại trường làmthành điều kiện tiên khởi cho hội thoại

Theo Đỗ Hữu Châu, những yếu tố phi lời cũng là một loại tín hiệu cómặt trong các cuộc đối thoại, dùng làm phương tiện giao tiếp, bên cạnh tín hiệungôn ngữ

Trong công trình “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người

Việt”, Trần Thị Nga có đưa ra một định nghĩa về ngôn ngữ cử chỉ như sau:

“Thuộc về ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của con người là tất cả những điệu bộ, cửchỉ mà con người đã dùng một cách cố ý hay không cố ý trong khi giao tiếp vớingười khác Do tính độc lập và hiệu quả mạnh của phương tiện này, nên khác vớicác phương tiện đi kèm khác trong giao tiếp, trong nhiều điều kiện cụ thể của giaotiếp, cử chỉ, điệu bộ có thể dùng độc lập không có ngôn ngữ bằng lời đi kèm nhưngvẫn có nội dung tương tự khi phải hiển ngôn hóa bằng lời Chúng là những phùhiệu trong hoạt động giao tiếp và luôn gắn liền với ngôn ngữ bằng lời.” [9,tr.19]

Cử chỉ, điệu bộ mang tính văn hóa, tạo thành hệ thống và được xác lập, đượcquy ước hóa cao

Theo mục đích nghiên cứu của công trình trên thì có thể xem đây là một địnhnghĩa tương đối đầy đủ và phù hợp, bởi dựa vào định nghĩa có thể nhận diện được

Trang 29

ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ với những đặc điểm phản ánh được bản chất của loạiphương tiện giao tiếp này như sau:

Trang 30

- Là tất cả những điệu bộ, cử chỉ được con người dùng một cách cố ý hay không cố ý trong khi giao tiếp với người khác.

- Cử chỉ, điệu bộ có thể dùng kèm ngôn ngữ hay có thể dùng độc lập, không

có ngôn ngữ bằng lời đi kèm nhưng vẫn có nội dung tương đương một phát ngôn

- Có tính phù hiệu (được quy ước hóa cao)

- Mang tính văn hóa

- Tạo thành hệ thống

Tham khảo cách định nghĩa khái niệm của người đi trước, dựa vào cách hiểu vềyếu tố phi lời (tín hiệu phi lời) của Đỗ Hữu Châu, căn cứ vào mục đích nghiên cứu

riêng của đề tài, trong luận văn này xin được dùng khái niệm “phương tiện giao

tiếp phi ngôn ngữ” với cách hiểu như sau:

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ là các tín hiệu cơ thể - vận động có thể

tiếp nhận được bằng thị giác, thính giác, xúc giác, thường xuất hiện trong quátrình hội thoại, do con người cố ý hay không cố ý tạo ra, có tác dụng mang lại chongười tiếp nhận một giá trị thông báo thay lời hoặc một giá trị thông báo bổ sung,kèm lời

Xin được làm rõ định nghĩa trên như sau:

a Các tín hiệu cơ thể - vận động (xin được gọi sự thay đổi các cử chỉ, điệu

bộ, tư thế, khoảng cách, nhân vật tạo ra trong quá trình giao tiếp là các tín hiệuhay các yếu tố cơ thể - vận động như cách gọi của Đỗ Hữu Châu) được hiểu lànhững vận động do các bộ phận cơ thể con người tạo ra trong quá trình giao tiếp,

có thể được tiếp nhận bằng thị giác, thính giác hay xúc giác Tóm lại, đây là loạiphương tiện xét trong sự đối lập với ngôn ngữ lời nói Đó có thể là:

+ Những cử chỉ, điệu bộ, hành động, động tác con người tạo ra trong

quá trình hội thoại như: nháy mắt, cười, cau mày, nhăn trán, vỗ tay, vung tay,

đánh, đấm, tát,…

Trang 31

+ Những sự thay đổi về khoảng cách, tư thế của người tham gia hội

thoại - những yếu tố thuộc về không gian tương tác như: đang ngồi bỗng đứng

phắt dậy, đang nằm bỗng bật dậy, tiến lại gần/lùi ra xa người đối thoại,

Trang 32

b Các yếu tố cơ thể - vận động ấy có thể do con người cố ý hoặc không cố

ý tạo ra trong quá trình giao tiếp nhưng có giá trị bổ sung cho lời

Như vậy khái niệm PTGTPNN ở đây được quan niệm rộng, gồm cả những

tín hiệu cơ thể - vận động do con người chủ động (cố ý) tạo ra để làm phương tiện

giao tiếp, chẳng hạn như gật đầu (đồng ý), lắc đầu (không đồng ý), bĩu môi (mỉa

mai), – ý nghĩa của chúng được nhận ra ngay cả khi không có lời nói đi kèm, và

cả những yếu tố cơ thể - vận động vô ý thức của nhân vật nhưng mang lại chongười tiếp nhận (người đối thoại) một giá trị thông báo nào đó Giá trị thông báo

ấy được người nghe suy ra từ thói quen, kinh nghiệm giao tiếp và bằng sự am hiểu

về văn hoá giao tiếp của cộng đồng Cũng được xem xét là cả những yếu tố cơ thể

- vận động vô ý thức bởi nghiên cứu trên tư liệu là các tác phẩm văn chương thìnhững cử chỉ, điệu bộ, hành động ấy có thể là vô ý thức với nhân vật - chủ thể củahành động nhưng không vô thức với nhà văn, và nhà văn miêu tả chúng trong tácphẩm thì không phải không có ý đồ nghệ thuật nào

c Khái niệm PTGTPNN được quan niệm có chỗ hẹp hơn khái niệm tín hiệu

phi lời của Đỗ Hữu Châu Tín hiệu phi lời còn gồm các yếu tố tĩnh như diện mạo,trang phục, của người đối thoại và cả các tín hiệu vật chất như màu sắc, âmthanh, Những tín hiệu này cũng coi là phương tiện giao tiếp không phải là ngônngữ, song ở đây chưa có điều kiện tìm hiểu Thêm nữa, loại phương tiện này trongcác tác phẩm văn chương nhìn chung hiếm gặp

d Những yếu tố cơ thể - vận động có thể được con người tạo ra một cách cố

ý hoặc không cố ý (cử chỉ vô thức – ngoài ý thức của con người) theo thói quen

Việc sử dụng các cử chỉ trong giao tiếp phần lớn là cố ý song người sử dụngkhông cần thiết phải suy nghĩ lựa chọn lâu, cũng không ý thức thật nhiều về nó.Các cử chỉ như vậy dần xuất hiện trong quá trình con người tham gia giao tiếp,sau trở nên quen thuộc đến mức trở thành phản xạ tự nhiên Người sử dụng biết ởtrường hợp này, tình huống giao tiếp này, để diễn tả nội dung ý nghĩa này thì phải/

Trang 33

nên sử dụng cử chỉ này chứ không phải/không nên sử dụng cử chỉ kia Thao tác lựachọn ấy diễn ra rất nhanh chóng, gần nhƣ đồng thời với phản xạ lời nói.

Trang 34

VD1: “- Khoan, chưa hết – Lý xua tay, tranh lời Phượng – (…)”[29,tr.15]

Cử chỉ xua tay trong ví dụ trên là nhân vật cố ý tạo ra

VD2: “- Có tin tức gì mới không, bác?

Luận cố làm cho ông già ra khỏi mặc cảm Ông gãi cái cái cổ mướt mồ hôi:

- Dạ, chỉ có tin tức về giá cả thôi ạ (…)” [29,tr.261]

VD3: “- Mời thủ trưởng uống bia ạ.

Ông thường trực lại vào, đặt một cốc chè tươi nữa lên bàn, mời ông Tổng

biên tập, rồi lại gãi gãi đầu đi ra” [29,tr.262]

Ở ví dụ 2, 3, cử chỉ gãi đầu, gãi cổ của ông thường trực không phải là cố ý,

mà là do thói quen, trong lúc bối rối, thiếu tự tin vì bị bắt gặp làm việc không chínhđáng người ta thường một cách vô thức, sử dụng cử chỉ này Nhờ cử chỉ này mànhân vật Luận “đọc” được tâm trạng bối rối, thái độ ngượng ngùng của ông khi bịLuận bắt gặp đánh máy thuê trong giờ làm việc

Việc phân biệt các cử chỉ, điệu bộ là do cố ý hay không cố ý tạo ra đôi lúckhông phải là dễ dàng Cần nắm vững hoàn cảnh giao tiếp và thói quen giao tiếp,tính cách nhân vật giao tiếp mới phân biệt được những cử chỉ điệu bộ này

e Thiết nghĩ, việc phân biệt các yếu tố cơ thể - vận động là cố ý hay không

không thật quan trọng bằng việc xét xem chúng có tạo ra được một giá trị thông

báo nào đó cho người tiếp nhận hay không Khả năng đem lại giá trị thông báo là

đặc tính quan trọng khiến các yếu tố cơ thể - vận động có thể trở thành phương tiện giao tiếp Giá trị thông báo của PTGTPNN này có thể là do người nói cố tình

gửi tới người nghe, hoặc cũng có thể do người nói vô tình biểu lộ qua các cử chỉđiệu bộ của mình Giá trị thông báo đó có thể là thay lời hoặc bổ sung cho lời

VD4: “- Thôi thì ác cũng được! Anh cứ trả lời thế đi!

San bàn như vậy bằng một giọng đùa Thứ lắc đầu, cười Cả hai cùng cho

rằng chẳng khi nào họ hèn đến nỗi dám dùng cái lối vừa bàn” [32,tr.227]

Cử chỉ lắc đầu, cười của nhân vật Thứ có giá trị thay lời Đó là một lời từ

chối đề nghị của San, đồng thời Thứ cũng hiểu ý đồ đùa cợt của bạn

Trang 35

VD5: “Phượng ra sân, nhìn Đông, nhỏ nhẻ mời Đông gãi cái gáy rậm, ngập

ngừng:

- Ông đi chơi hội bên Bắc Ninh sáng nay (…) Tôi …tôi ăn rồi

- Anh ăn lúc nào! Thôi, vào ăn với em cho vui

đi Lại gãi gãi gáy, mặt Đông ngô nghê hẳn đi:

- Phiền quá nhỉ? À, nhưng mà cô có nấu cơm tôi đâu” [29,tr.162]

Cử chỉ gãi gãi gáy nói trên không phải do nhân vật Đông cố ý tạo ra mà do

thói quen, bản tính của nhân vật (sẽ phân tích sau) Nhờ cử chỉ ấy mà Phượng biếtrằng Đông đang nói dối và ngại ngần, nửa muốn ăn, nửa lại ngại làm phiềnPhượng

Chính ý nghĩa quan trọng của các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt cùng khả năngdiễn đạt tinh tế của chúng đã khiến người ta ngày càng phải quan tâm nghiên cứunhiều hơn về loại PTGTPNN này Đặc biệt, trong nghiệp vụ điều tra, xét hỏi tộiphạm, các nhà chức trách thường chú ý đến những PTGTPNN được tạo ra mộtcách cố ý hay vô thức này để thu nhận được những thông tin quý báu

Các PTGTPNN ở các ví dụ trên có thể đối chiếu theo các tiêu chí nhận diện

ở khái niệm như Bảng 2 dưới đây:

VD PTGTPNN giác quan tiêp nhận

cơ sở tạo lập (cố ý/ko cố

VD

kèm lời và phụ họa nội dung ở lời, là dấu hiệu cắt ngang lời người đối thoại

VD

2,3

gãi cổ

kèm lời - bối rối, thiếu

tự tin, ngượng ngùng VD

Trang 36

Với quan niệm như trên về PTGTPNN, luận văn sẽ tiến hành khảo sát, nhậndiện và nghiên cứu về loại phương tiện giao tiếp này trên hai bình diện tín hiệu học

và ngữ dụng học

Bản chất tín hiệu của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

● Khái niệm “tín hiệu”

Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” [2], các tác giả Mai Ngọc

Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến đã giới thuyết về tín hiệu:

Tín hiệu là một sự vật (hay một thuộc tính vật chất, một hiện tượng) kích

thích vào giác quan của con người, làm cho người ta tri giác được và lí giải, suydiễn tới một cái gì đó ngoài sự vật ấy

Theo đó, một sự vật được gọi là tín hiệu nếu thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Phải có thuộc tính vật chất để có thể cảm nhận được bằng giác quan củacon người Nói cách khác, cái biểu hiện - mặt hình thức của tín hiệu phải là vậtchất và con người có thể cảm nhận được nó bằng các giác quan

- Phải đại diện cho một cái gì đó, gợi ra một cái gì đó không phải là chínhnó

- Phải nằm trong hệ thống để được xác định tư cách tín hiệu của mình cùngvới các tín hiệu khác

Ví dụ: Đèn đỏ trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông xanh – vàng – đỏ làmột tín hiệu bởi nó thỏa mãn 3 yêu cầu trên: có thuộc tính vật chất, được conngười cảm nhận bằng thị giác; đại diện cho “một cái gì đó” không phải là chính nó

- ở đây là thông điệp “dừng lại”, nằm trong hệ thống

Cái quan trọng nhất của tín hiệu là phải có hai mặt: hình thức vật chất – cáibiểu hiện, và nội dung ý nghĩa – cái được biểu hiện (cái mà nó gợi ra, đại diệncho) Giữa hai mặt của tín hiệu có mối quan hệ võ đoán - dựa trên sự qui ước

chung của tập thể người sử dụng tín hiệu Nói như Saussure: “…mọi phương tiện

biểu hiện được chấp nhận trong một xã hội, về nguyên tắc mà nói, đều dựa trên

thói quen tập thể hoặc – chung quy cũng vẫn thế - trên sự quy ước” [19,tr.123]

Trang 37

Một sự vật, hiện tượng nào đó có thuộc tính vật chất muốn trở thànhphương tiện dùng để giao tiếp chung trong xã hội thì phải được cộng đồng sửdụng hiểu và chấp nhận Nói cách khác, phải là một tín hiệu và phải mang bản chấttín hiệu Phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người là ngôn ngữ, nóinhư J.Vendryes: “Chúng ta nói đến ngôn ngữ khi hai cá thể quy ước gán cho mộthành động nào đó một ý nghĩa nhất định và thực hiện hành động này nhằm mụcđích giao tiếp qua lại với nhau”[20] Căn cứ vào điều này thì cử chỉ, điệu bộ, nét

mặt cũng là một loại ngôn ngữ đặc biệt - ngôn ngữ thị giác (J.Vendryes)

● Bản chất tín hiệu của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

Là một công cụ, thường là để hỗ trợ ngôn ngữ bằng lời trong hoạt động giaotiếp, PTGTPNN mang bản chất tín hiệu, bởi nó đáp ứng được cả 3 yêu cầu cần cócủa một tín hiệu, đó là:

- Mặt hình thức – cái biểu hiện của PTGTPNN – hoàn toàn cảm nhận được

bằng các giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác Ví dụ như lắc đầu (thị giác),

cười (thị giác, thính giác), bắt tay, ôm hôn (thị giác, xúc giác), …

- Đằng sau cái biểu hiện của PTGTPNN là cái được biểu hiện Mỗi động tác

cơ thể được dùng trong giao tiếp có thể diễn tả một nội dung ý nghĩa ngoài nó Ví

dụ lắc đầu biểu thị ý nghĩa “không tán đồng”, cười có thể biểu thị ý nghĩa “tán đồng” hoặc diễn tả cảm xúc “vui vẻ”, bắt tay biểu thị sự “thân thiện” khi gặp gỡ…

Xin được đi sâu phân tích cái biểu hiện và cái được biểu hiện củaPTGTPNN ở các phần sau của luận văn

- PTGTPNN cũng có tính hệ thống, tuy nó không chặt chẽ và phức tạp nhưcác hệ thống ngôn ngữ bằng lời Mỗi PTGTPNN cũng chỉ xác định ý nghĩa và tư

cách tín hiệu của mình khi đứng trong hệ thống Ví dụ cử chỉ gật đầu chẳng hạn, chỉ mang tư cách là tín hiệu giao tiếp với ý nghĩa “đồng ý”, “tán thành” trong

hoạt động giao tiếp của người Việt ở một tình huống giao tiếp cụ thể, bên cạnh các

tín hiệu giao tiếp không lời khác như lắc đầu, cau mày, nghiến răng, cười… Nó có

thể không mang ý nghĩa này trong hệ thống PTGTPNN của cộng đồng nói năng

Trang 38

khác (chẳng hạn với người Bungari thì gật đầu lại có nghĩa là “không đồng ý”) Nó

cũng

Trang 39

không mang ý nghĩa nói trên khi đặt bên cạnh các động tác khác của một bài tập thể dục (cúi gập đầu có thể là một tư thế tập của đầu và cổ).

Nguyễn Đức Dân đã viết: “Một cử chỉ đặt bên cạnh hàng loạt cử chỉ khác vàđặt trong những tình huống cụ thể mới có thể lộ rõ ý nghĩa của cử chỉ đó Mộtchiều mùa đông lạnh lẽo, trên ghế chờ ở một bến xe buýt có một người ngồi haichân bắt chéo và đầu hơi cúi xuống: Người đó bị lạnh Nhưng trong một cuộcthương lượng làm ăn buôn bán, một người cũng tư thế như vậy: Người này cóthái độ phòng vệ, thận trọng và nói chung là tiêu cực với vấn đề đang thảo luận”[3,tr.222]

Tác giả Trần Thị Nga [9] thì cho rằng các cử chỉ điệu bộ tạo nên tính hệthống theo hai cách khác nhau:

Một mặt, cơ thể con người là một khối thống nhất, những biểu hiện ở trênmột phần cơ thể bao giờ cũng tìm được những phản ánh phù hợp và tương ứng ởnhững phần còn lại Sự tương hợp như vậy tạo nên tính nhất thể của cử chỉ điệu bộ

được sử dụng như một đơn vị tín hiệu (Ví dụ sự tương hợp của cử chỉ cau mày với nghiến răng và nắm chặt bàn tay; sự tương hợp của các cử chỉ cười - chắp tay

– cúi đầu,… - LTMN)

Mặt khác, nội dung ý nghĩa của các điệu bộ này lại là những phát ngôn,những ý nhất thể không có khả năng phân nhỏ hơn, gọi là tính nguyên thể của ý

nghĩa điệu bộ cử chỉ (ví dụ không thể tách cử chỉ cau mày - nghiến răng - nắm

chặt bàn tay để xem chúng tương ứng với phần nào của phát ngôn “Câm ngay, đồ khốn!”, hay cũng không thể chia nhỏ các cử chỉ cười - chắp tay - cúi đầu để xem

mỗi cử chỉ tương ứng với phần nào của phát ngôn“Con chào cụ ạ!”).

Các yếu tố cơ thể - vận động được dùng trong giao tiếp rõ ràng là có mốiquan hệ với nhau, thiết lập nên hệ thống tạo thành hệ thống PTGTPNN, gắn bó mậtthiết và hỗ trợ tích cực cho hệ thống phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ bằng lời

Do mục đích nghiên cứu, luận văn không đi sâu vào tìm hiểu tính hệ thống của

Trang 40

PTGTPNN mà tập trung vào mặt cái biểu hiện (hình thức của tín hiệu) và cái

được

Ngày đăng: 19/07/2016, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1992), Đại cương về Ngôn ngữ học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về Ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1992
2. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2007), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
3. Nguyễn Đức Dân (2002), Nỗi oan thì, là, mà, Nxb Trẻ, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi oan thì, là, mà
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
5. Phi Tuyết Hinh (1996), “Thử tìm hiểu ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ”, Tạp chí Ngôn ngữ - Viện Ngôn ngữ học, (số 4, 1/1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Phi Tuyết Hinh
Năm: 1996
6. Thục Khánh (1990), “Bước đầu tìm hiểu giá trị thông báo của cử chỉ, điệu bộ ở người Việt trong giao tiếp”, Tạp chí Ngôn ngữ - Viện Ngôn ngữ học, (số 3, 1/1990) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu giá trị thông báo của cử chỉ, điệu bộ ở người Việt trong giao tiếp”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Thục Khánh
Năm: 1990
7. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà (1998), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
8. Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ, Quyển hai – Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, Nxb Khoa học – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật ngôn ngữ", Quyển hai – "Tính quy luật của cơ chế ngôn giao
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học – Xã hội
Năm: 1996
9. Trần Thị Nga (2005), Nghiên cứu đặc điểm văn hoá ngôn ngữ cử chỉ của người Việt, Đề tài NCKH cấp ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm văn hoá ngôn ngữ cử chỉ của người Việt
Tác giả: Trần Thị Nga
Năm: 2005
10. Hoàng Phê chủ biên (1992), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê chủ biên
Năm: 1992
11. Nhiều tác giả (1997), Almanach – Những nền văn minh thế giới, Nxb VH- TT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Almanach – Những nền văn minh thế giới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb VH- TT
Năm: 1997
12.Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
13.Tạ Văn Thông ( 2009), “Con mắt liếc lại”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống – Hội Ngôn ngữ học Việt Nam (số 5 /2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt liếc lại”, "Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống
14.Hoàng Tuệ (1984), “Lời chào với cái bắt tay và nụ cười”, Tạp chí Ngôn ngữ - Viện Ngôn ngữ học, (số phụ, 2/1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời chào với cái bắt tay và nụ cười”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Tuệ
Năm: 1984
15. Việt Văn Books biên soạn (2006), Vận dụng khoa học nhân dạng trong cuộc sống, Nxb Lao Động, Hà Nội.B. Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng khoa học nhân dạng trong cuộc sống
Tác giả: Việt Văn Books biên soạn
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2006
16.(Không rõ tên tác giả )(Nguyễn Thu Hằng dịch), “Ngôn ngữ cử chỉ”, thuộc cuốn Ngôn ngữ và nền văn hoá (Không rõ Nxb và năm xuất bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ cử chỉ”, thuộc cuốn "Ngôn ngữ và nền văn hoá
Nhà XB: Nxb và năm xuất bản)
17. Allan & Barbara Pease (Lê Huy Lâm dịch) (2008), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (The Definitive book of body languague), Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể
Tác giả: Allan & Barbara Pease (Lê Huy Lâm dịch)
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
18. Atenla Alenikova (Đặng Công Toại dịch), “Ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ”, Tạp chí Sputnik (số tháng 3/1986) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ”, "Tạp chí Sputnik
19. Fecdinand de Saussure (1973), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (dịch theo bản tiếng Pháp), Nxb Khoa học - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Fecdinand de Saussure
Nhà XB: Nxb Khoa học - Xã hội
Năm: 1973
20.J. Vendryes (1990)(Nguyễn Thục Khánh dịch), “Về Ngôn ngữ thính giác và thị giác”, trong cuốn Funosemanticheskie idei v zarubezhnom jazykoznanii, LGU, L Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Ngôn ngữ thính giác và thị giác”, trong cuốn "Funosemanticheskie idei v zarubezhnom jazykoznanii
Tác giả: J. Vendryes
Năm: 1990
21.Julius Fast (Phạm Anh Tuấn biên dịch) (không có năm xuất bản), Ngôn ngữ của cơ thể, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ của cơ thể
Nhà XB: Nxb Trẻ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w